1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI

5 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 76,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh đã đạt những thành tựu nhất định với quy mô học sinh, mạng lưới trường lớp có sự tăng trưởng đáng kể; công tác phổ cập

Trang 1

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI

LẦN THỨ X (NHIỆM KỲ 2015 - 2020)

*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Biên Hòa, ngày tháng 9 năm 2015

THAM LUẬN Giải pháp tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, vận dụng các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội

đầu tư phát triển cơ sở mầm non, mẫu giáo, thực hiện mục tiêu

phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

–––––––––––––––––––––––

Huỳnh Lệ Giang (*)

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Trong thời gian qua, phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh đã đạt những thành tựu nhất định với quy mô học sinh, mạng lưới trường lớp có sự tăng trưởng đáng kể; công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt kết quả khả quan, trình độ đội ngũ giáo viên mầm non được nâng cao, cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị giáo dục được quan tâm đầu tư đã tạo điều kiện cho chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục ngày càng tốt hơn, trẻ đến trường được hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1 Tuy nhiên, mức độ phát triển của giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội; những tồn tại, hạn chế về mạng lưới trường, lớp, bất cập trong chế độ hỗ trợ của tỉnh cho giáo viên, nhân viên mầm non và một số vấn đề khác cần được quan tâm, hỗ trợ của các cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp để ngành học này phát triển tốt hơn trong thời gian tới

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã khẳng định “Đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”, “Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới

5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo

dục” Vì vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai cần phải có các Giải pháp tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, vận dụng các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển cơ sở mầm non, mẫu giáo, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

1 Thực trạng phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn tỉnh

a) Những kết quả đạt được

Đến hết năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 272 trường mầm non (công lập gồm

220 trường, trong đó có 57 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia) Huy động học sinh

(*) TUV, Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo

Trang 2

ra lớp trong độ tuổi nhà trẻ đạt 27,4%, huy động ra lớp trong tuổi mẫu giáo đạt 94,8% Triển khai đầu tư, mua sắm thiết bị dạy học và đồ chơi trẻ em cho các trường mầm non nhằm thực hiện Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

Cùng với việc phát triển nhanh trường học đạt chuẩn và đầu tư trang thiết bị cho mầm non là việc quan tâm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên mầm non Cán bộ quản

lý giáo dục các cơ sở giáo dục mầm non đạt trình độ đào tạo trên chuẩn là 94,8% Giáo viên các cơ sở giáo dục mầm non có trình độ đào tạo trên chuẩn là 59,77% Tổng số giáo viên mầm non hiện có so với quy chuẩn số giáo viên mẫu giáo đã cơ bản đảm bảo số lượng quy định, đối với giáo viên nhà trẻ còn thiếu (quy định: 08 trẻ/giáo viên)

Bậc học mầm non là bậc học thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đã huy động được nhiều nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non, đến cuối năm 2014 có 52 trường mầm non ngoài công lập và 877 nhóm tư thục, tỉ lệ trẻ nhà trẻ ngoài công lập chiếm tỷ lệ 61,26%, tỷ lệ trẻ mẫu giáo ngoài công lập chiếm tỷ lệ 47,49% so với tổng số học sinh; trong đó thành phố Biên Hòa

là địa phương có tỷ lệ học sinh mầm non ngoài công lập cao nhất

Thông qua xã hội hóa giáo dục, mô hình xây dựng cơ sở giáo dục mầm non được các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đầu tư xây dựng cho con em công nhân học tập bước đầu được quan tâm, phát triển lan tỏa như trường mẫu giáo Đông Phương ở khu công nghiệp Sông Mây (huyện Trảng Bom) của Tập đoàn Phong Thái, trường mầm non Thế Giới Xanh (Công ty Pouchen VN, Hóa An - TP Biên Hòa), trường mẫu giáo của Công ty Pousung Vina (huyện Trảng Bom) và trường mẫu giáo của Công ty Changshin (huyện Vĩnh Cửu) Hiện đang xây dựng trường mầm non của Công ty Teakwang Vina (khu công nghiệp Biên Hòa 2)

Về chế độ chính sách cho ngành học mầm non được thực hiện kịp thời như Chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo trực tiếp giảng dạy theo Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo theo Nghị định số 54/2011/NĐ-CP của Chính phủ Ngoài ra, tỉnh đã có chủ trương

hỗ trợ tăng giờ cho giáo viên mầm non dạy bán trú và nhân viên cấp dưỡng Thực hiện tốt việc miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các học sinh đúng theo qui định; thực hiện kịp thời, đúng đối tượng chế độ hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ 3 – 4 tuổi, trẻ 5 tuổi theo quy định

b) Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển giáo dục mầm non vẫn còn khó khăn, hạn chế sau:

Tuy tỉnh, các địa phương đã có quan tâm đầu tư nhưng mạng lưới trường lớp mầm non trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân nên

tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ ra lớp khá thấp so với mặt bằng chung của cả nước Tổng kinh phí đầu tư cho giáo dục thuộc địa phương quản lý bình quân chỉ đạt tỷ lệ 18,7% Hiện cơ sở vật chất mầm non vẫn còn 109 phòng học nhờ, học tạm

Lương và chế độ hỗ trợ cho đội ngũ giáo viên mầm non và nhân viên cấp

Trang 3

Tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp so với mục tiêu đề ra Loại hình nhà nhóm ngoài công lập chiếm tỷ trọng đáng kể ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của bậc học mầm non Cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư, phát triển giáo dục mầm non còn hạn chế nên chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp quan tâm xây dựng các trường mầm non tư thục có quy mô lớn, đúng chuẩn

2 Một số mục tiêu cụ thể

a) Về quy mô phát triển

Đến 2020, trẻ dưới 03 tuổi được huy động ra lớp đạt 50%; trẻ từ 03 - 05 tuổi đến lớp đạt 100%, trong đó, trẻ 05 tuổi đến lớp đạt tỉ lệ 100%

b) Chất lượng giáo dục

Đến năm 2020, tỉ lệ trẻ mầm non suy dinh dưỡng cân nặng không quá 6% và suy dinh dưỡng chiều cao không quá 8%; tỉ lệ trẻ được học bán trú lên 95%; tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 50%; củng cố, duy trì kết quả phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi

c) Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập

Phấn đấu tỉ lệ học sinh ngoài công lập ở nhà trẻ đạt 60%, mẫu giáo đạt 55%; kêu gọi đầu tư 15 công trình mầm non ngoài công lập

d) Các điều kiện đảm bảo phát triển

Về mạng lưới trường lớp: Đảm bảo tất cả các xã, phường, thị trấn đều có trường mầm non công lập; chú trọng phát triển mạng lưới trường lớp ở địa bàn các khu công nghiệp

Về đội ngũ: Đảm bảo đội ngũ nuôi dạy trẻ đạt về số lượng theo quy định và đạt chuẩn giảng dạy; phấn đấu tỷ lệ giáo viên mầm non đạt trình độ trên chuẩn đạt

80 - 85%

Về tăng cường trang thiết bị: Đảm bảo 100% trường mẫu giáo, mầm non có

đủ các thiết bị, đồ dùng đồ chơi theo quy định về Tiêu chuẩn kỹ thuật Đồ dùng

-Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành

Về chế độ chính sách: Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Trung ương, chế độ hỗ trợ của tỉnh đối với ngành học mầm non

3 Các giải pháp thực hiện

a) Các giải pháp chung:

Ngành Giáo dục xác định, GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ ba tháng đến sáu tuổi; nhằm giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một Tuyển dụng đủ giáo viên mầm non đã khó, để giữ chân đội ngũ này gắn bó với trường, lớp lại càng khó hơn Đứng trước những yêu cầu và thách thức trên đòi hỏi Ngành Giáo dục phải đảm bảo việc:

Trang 4

- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương về tầm quan trọng trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em và vai trò của giáo dục mầm non trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với ngành học mầm non, phát huy tính chủ động, trách nhiệm của địa phương và cơ sở giải quyết những vấn đề bức xúc của ngành học

- Nâng cao vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã trong xã hội hóa giáo dục mầm non Huy động mọi nguồn lực của hệ thống chính trị, đầu tư, chăm lo cho

sự nghiệp giáo dục mầm non đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và toàn dân có nhận thức đầy đủ về giáo dục mầm non, vận động trẻ em trong độ tuổi đến lớp mầm non

b) Giải pháp cụ thể:

* Đối với công tác đào tạo đội ngũ giáo viên:

Không thể phủ nhận vai trò của người giáo viên đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ, nhất là độ tuổi mầm non thì thầy cô là người người gần gũi, thân quen và tiếp xúc với trẻ nhiều nhất Vì thế công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên là hết sức cần thiết, với những việc làm cụ thể như:

- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, đảm bảo đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 05 tuổi, thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới Tập trung chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho các cơ sở mầm non ở những vùng khó khăn

- Chú trọng công tác bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới Đối với các trường ngoài công lập, hỗ trợ kinh phí bồi dưỡng chuyên môn nghiệp

vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cấp dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp

- Liên kết với trường ĐH Đồng Nai trong đào tạo (theo nhu cầu từng địa phương); bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhân viên cấp dưỡng nhằm tạo điều kiện cho đội ngũ đáp ứng chuẩn; Đồng thời, hỗ trợ giáo sinh sau khi ra trường có việc làm ổn định

- Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về đổi mới phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp; đổi mới nội dung, hình thức bồi dưỡng nhằm đảm bảo giáo viên có đủ năng lực, chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với trẻ theo chương trình giáo dục mầm non

Qua đó, thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục mầm non mới ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm non, trong đó đảm bảo có 95% số nhóm/lớp trở lên được thực hiện chương trình này Mở rộng việc thực hiện bộ chuẩn phát triển trẻ 05 tuổi (bộ chỉ số dùng để đánh giá học sinh mầm non 5 tuổi hoàn thành chương trình) nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non

Trang 5

* Đối với công tác vận dụng các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển cơ sở mầm non, mẫu giáo, thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi:

Xác định mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi là nhiệm vụ trọng tâm của Ngành Giáo dục đến hết năm 2015 Việc tập trung các nguồn lực để hoàn thành mục tiêu này là việc làm tất yếu Cụ thể:

- Chỉ đạo Ngành Giáo dục các địa phương tham mưu quy hoạch, dành quỹ đất cho đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp mầm non trên địa bàn đạt chuẩn theo quy định Phối hợp với các đơn vị quốc phòng đóng trên địa bàn tỉnh có đông con em quân nhân nhằm có được sự hỗ trợ quỹ đất cho phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn

- Tăng cường cung cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ đổi mới nội dung phương pháp giáo dục mầm non, khuyến khích phong trào làm đồ dùng đồ chơi tự tạo, thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non, bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng khai thác, sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ

- Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo chủ trương tại Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án hỗ trợ, phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục ở khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020

- Chú trọng đầu tư mạng lưới trường lớp mầm non ở các khu công nghiệp có

áp lực về nhu cầu gửi trẻ mầm non cao như Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom ; các khu nhà ở công nhân theo dạng hộ gia đình cần quy hoạch, đầu

tư mạng lưới trường lớp mầm non kèm theo để thuận lợi cho việc gửi trẻ của con

em hộ gia đình công nhân sinh sống tại đây

- Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ các công ty, xí nghiệp đầu tư phát triển trường mầm non theo các mô hình: doanh nghiệp xây dựng và trực tiếp quản lý; doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư nhưng thuê đơn vị khác quản lý; doanh nghiệp xây dựng cơ sở vật chất hoàn chỉnh và giao cho địa phương quản lý …

- Thực hiện các chính sách ưu đãi về đất đai, về tín dụng, về thuế, để khuyến khích phát triển trường, lớp mầm non ngoài công lập, đặc biệt là các khu công nghiệp và những nơi tập trung đông dân cư

- Tăng cường công tác kiểm tra, cấp phép hoạt động cho các nhà, nhóm trẻ

tư thục để thuận tiện trong công tác quản lý và đảm bảo các cơ sở này hoạt động tuân thủ đúng điều kiện quy định

Trên đây là nội dung báo cáo tham luận của Sở Giáo dục và Đào tạo về các giải pháp phát triển giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi trên địa tỉnh Đồng Nai Qua đó, đề nghị Đại hội quan tâm xem xét để có sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước kịp thời, hiệu quả trong thời gian tới./

Ngày đăng: 12/05/2018, 10:06

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w