1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển tiểu thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

111 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 776,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển tiểu, thủ công nghiệp trên cơ sở kết hợp một cách hợp lý các công nghệ truyền thống với ứng dụng công nghệ mới tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc điểm từng ngành nghề, từng l

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này làtrung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào; các thông tin trích dẫn

trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Huế, ngày 12 tháng 07 năm 2013

Tác giả luận văn

Hà Thị Trúc Mai

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

giáo, T.S Trần Xuân Châu - người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt kiến

thức cho tôi hoàn thành tốt đề tài này.

Tôi xin cảm ơn chánh văn phòng Uỷ ban Nhân dân thị xã Hương Trà, đặc biệt các anh chị trong Phòng Kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong quá trình thực tập tại đơn vị và hoàn thành đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn những tình cảm, sự động viên và giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần của gia đình, người thân và bạn bè trong suốt thời gian học tập

cũng như trong thời gian hoàn thành đề tài này.

Tuy có nhiều cố gắng nhưng trong đề tài này không tránh khỏi sự thiếu sót

và hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô giáo, các bạn sinh viên và những người

quan tâm đến đề tài tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.

Huế, tháng 08 năm 2013

Học viên

Hà Thị Trúc MaiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ Học viên thực hiện: Hà Thị Trúc Mai

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số: 60 31 01 02

Niên khóa: 2011 - 2013

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Xuân Châu

Tên đề tài: PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ,

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu:

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế đề tài đưa ra các định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển

TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian sắp tới

- Đối tượng nghiên cứu:

Phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp thống kê kinh tế

3 Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:

- Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu thấy được thực trạng phát triển tiểu, thủcông nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế Đưa ra các giải pháp có tính

khả thi cao

- Kết luận: Muốn phát triển tiểu, thủ công nghiệp thì các giải pháp đưa raphải được thực hiện đồng bộ, cùng với sự trợ giúp của các cấp chính quyền nhân

dân trên địa bàn thị xã Hương Trà

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 6

1.1 QUAN NIỆM VÀ VAI TRÒ VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 6 1.1.1 Quan niệm về phát triển tiểu, thủ công nghiệp 6

1.1.1.1 Tiền đề ra đời tiểu, thủ công nghiệp 6

1.1.1.2 Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp 8

1.1.1.3 Quan niệm về phát triển tiểu, thủ công nghiệp 12

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của các ngành tiểu, thủ công nghiệp 14

1.1.2.1 Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp mang tính đa dạng 14

1.1.2.2 Các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp thường có mối liên hệ chặt chẽ, trực tiếp với khách hàng và người lao động 14

1.1.2.3 Các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt trong sản xuất, kinh doanh 15

1.1.2.4 Hạn chế trong tiếp cận các nguồn vốn chính thức nhưng lại rất linh hoạt trong tiếp cận các nguồn vốn không chính thức 15

1.1.2.5 Tính chất chuyên môn hoá thấp trong quản lý sản xuất kinh doanh 16

1.1.3 Vai trò của phát triển tiểu, thủ công nghiệp 16

1.1.3.1 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở NT 16

1.1.3.2 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp đẩy mạnh việc phát huy các tiềm năng và lợi thế của địa phương 17

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

1.1.3.3 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong

dân cư 17

1.1.3.4 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH 18

1.1.3.5 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển du lịch 19

1.1.4 Các loại hình tiểu, thủ công nghiệp 20

1.1.5 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển tiểu, thủ công nghiệp 21

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 23

1.2.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên 23

1.2.2 Những nhân tố về kinh tế 24

1.2.3 Những nhân tố về văn hóa, xã hội 26

1.2.4 Những nhân tố về môi trường chính sách, chính trị và pháp luật 28

1.3 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP 28

1.3.1 Kinh nghiệm thế giới 28

1.3.1.1 Cộng hoà liên bang Đức 29

1.3.1.2 Cộng hòa Pháp 29

1.3.1.3 Nhật Bản 30

1.3.1.4.Ấn Độ 30

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 30

1.3.2.1 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng 30

1.3.2.2 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 31

1.3.2.3 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa 32

1.3.2.4 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc 33

1.3.2.5 Ở Hà Nội 33

1.3.2.6 Ở tỉnh Hải Dương 33

1.3.3 Kinh nghiệm có thể học hỏi trong quá trình phát triển tiểu, thủ công nghiệp cho thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 36

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 38

2.1.2.1 Dân số 38

2.1.2.2 Đất đai 40

2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội 41

2.1.2.4 Tình hình sản xuất kinh doanh 42

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 43

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 45

2.2.1 Kết quả sản xuất tiểu, thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 45

2.2.1.1 Về TTCN 45

2.2.1.2 Về làng nghề 49

2.2.2 Cơ cấu ngành nghề sản xuất và sản phẩm TTCN 50

2.2.3 Tình hình tổ chức sản xuất TTCN 56

2.2.3.1 Mô hình sản xuất hộ gia đình 57

2.2.3.2 Mô hình sản xuất HTX 57

2.2.3.3 Mô hình sản xuất doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH 58

2.2.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm TTCN 59

2.2.5 Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiểu, thủ công nghiệp 62

2.2.6 Tình hình môi trường ở các làng nghề sản xuất tiểu, thủ công nghiệp 63

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 65

2.3.1 Những thành tựu đạt được 65

2.3.2 Những tồn tại và khó khăn 65

2.3.3 Nguyên nhân của tồn tại và khó khăn 66

2.3.4 Những vấn đề cấp bách đặt ra cho phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 67

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 71

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ

HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 71

3.1.1 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp theo hướng đa dạng hóa ngành nghề và gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, NT ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế 71

3.1.2 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp theo hướng đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất 73

3.1.3 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp gắn liền với phát triển NT và bảo vệ môi trường sinh thái 75

3.1.4 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp trên cơ sở kết hợp một cách hợp lý các công nghệ truyền thống với ứng dụng công nghệ mới tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc điểm từng ngành nghề, từng loại sản phẩm 76

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 77

3.2.1 Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực vốn 77

3.2.2 Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến 79

3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 80

3.2.4 Phát triển thị trường và vùng nguyên liệu cho sản xuất tiểu, thủ công nghiệp .82

3.2.5 Đổi mới về cơ chế chính sách 84

3.2.6 Gắn kết phát triển tiểu, thủ công nghiệp với bảo vệ môi trường 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Dân số và lao động của thị xã Hương Trà giai đoạn 2009-2011 39

Bảng 2.2 : Diện tích và cơ cấu diện tích các loại đất của thị xã Hương Trà 40

Bảng 2.3: Số lượng doanh nghiệp/cơ sở sản xuất công nghiệp - TTCN và lao động

phân theo thành phần kinh tế 46Bảng 2.4 : Tổng hợp chung tình hình sản xuất công nghiệp - TTCN trên địa bàn thị

xã từ năm 2007 - 2011 47Bảng 2.5 : Danh mục các địa phương có làng nghề 49

Bảng 2.6: GTSX công nghiệp - TTCN trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo

ngành công nghiệp 51Bảng 2.7 Một số sản phẩm TTCN đặc trưng ở thị xã Hương Trà 52

Bảng 2.8 Các làng nghề chế biến thực phẩm chủ yếu ở thị xã Hương Trà 54

Bảng 2.9 Số lượng các loại hình tổ chức sản xuất TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh

Thừa Thiên Huế 56Bảng 2.10: Nguồn vốn của các doanh nghiệp sản xuất TTCN trên địa bàn 58

Bảng 2.11 Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất TTCN trên địa bàn.58

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với nước ta, việc phát triển tiểu, thủ công nghiệp (TTCN) có vai trò rấtquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội (KT - XH) Lịch sử đã chứng

minh rằng tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp là giai đoạn đầu hình thành và phát

triển của nền kinh tế trước khi bước sang một nền công nghiệp hiện đại

Quá trình phát triển TTCN đã thu hút được nhiều lao động, tạo ra công ănviệc làm, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi ven biển, tận dụng thời gian nhàn

rỗi, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại

hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn (NN, NT) nói riêng và góp phần vào sự

nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung Điều đặc

biệt quan trọng, việc phát triển TTCN giúp chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng

“ly nông bất ly hương” góp phần phát triển nông thôn bền vững.

Trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và quá trình phát triển các ngànhnghề TTCN nói riêng đã trải qua những bước thăng trầm: Có nhiều ngành nghề,

làng nghề duy trì và phát triển sâu rộng, đồng thời mở rộng thêm các ngành nghề

mới Nhưng ngược lại, có những ngành nghề, làng nghề phát triển chậm, không ổn

định, gặp nhiều khó khăn, đang bị mai một hoặc mất hẳn đi Chính vì thế, việc định

hướng và tìm ra các giải pháp nhằm phát triển TTCN là một yêu cầu cần thiết đối

với kinh tế NN, NT ở nước ta trong giai đoạn này, nhất là gắn với yêu cầu xây dựng

nông thôn mới hiện nay

Hương Trà là một trong chín huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Thừa ThiênHuế, với những đặc điểm thuận lợi: nằm trong tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây,

có tuyến quốc lộ 1A và tuyến dường sắt Bắc - Nam đi qua với chiều dài 12km

Ngày 15/11/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 99/NQ-CP về việc thành

lập thị xã Hương Trà và thành lập các phường thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa

Trang 11

một số cơ sở sản xuất công nghiệp, TTCN có hiệu quả, giải quyết việc làm cho hơn

5000 lao động tại chỗ tạo ra động lực mới cho sự phát triển, góp phần đẩy nhanh

quá trình CNH, HĐH NN, NT ở địa phương nói riêng và tạo điều kiện cho sự phát

triển KT - XH của toàn tỉnh nói chung Vì thế, đời sống của người dân đã có sự thay

đổi đáng kể, cơ cấu kinh tế nông thôn của thị xã đã có sự chuyển dịch tích cực

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả mà thị xã đã đạt được, sự phát triểnTTCN của tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và thị xã Hương Trà nói riêng còn tồn tại

nhiều vấn đề bất cập: cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu vì thế hạn chế khả năng thu

hút đầu tư, mở rộng và phát triển sản xuất; chất lượng sản phẩm còn hạn chế, thiếu

thị trường tiêu thụ Quá trình sản xuất TTCN, ngành nghề NT phát triển tự phát,

thiếu tính quy hoạch và định hướng của các cấp quản lý cho từng ngành nghề vì thế

dẫn đến đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ người thất nghiệp

còn cao, nhất là lao động NN nhàn rỗi Vì vậy, phát triển TTCN có vai trò hết sức

quan trọng đối với việc phát triển kinh tế (KT) ở thị xã Hương Trà trong quá trình

nông thôn mới; làm thế nào để phát huy hết tiềm năng của TTCN ở thị xã Hương

Trà trong giai đoạn hiện nay Vấn đề đặt ra là một yêu cầu bức thiết đòi hỏi phải

nghiên cứu nhằm đưa ra những định hướng và những giải pháp đúng đắn cho sự

phát triển TTCN ở thị xã

Một số công trình nhằm bảo tồn và phát huy các nghề TTCN, giải quyết việclàm cho lực lượng lao động dư thừa, tăng thu nhập cho khu vực NT chủ yếu còn tập

trung vào những vùng có quy mô sản xuất TTCN lớn, việc nghiên cứu hoạt động

sản xuất TTCN ở những vùng có quy mô sản xuất nhỏ, đặc biệt ở thị xã Hương Trà

chưa thực sự được quan tâm Với quan điểm đẩy mạnh phát triển TTCN trên cơ sở

khôi phục, mở rộng ngành nghề truyền thống và phát triển thêm một số ngành nghề

mới phù hợp với địa phương đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Do đó cần có định hướng và các giải pháp kinh tế thiết thực nhằm phát triển TTCN

ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế phù hợp với xu hướng phát triển của đất

nước cũng như thế giới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển tiểu thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển TTCN

- Đánh giá thực trạng việc phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh ThừaThiên Huế

- Đề xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển TTCN ở thị xã HươngTrà trong thời gian sắp tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứuPhát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

nhân tố tác động ảnh hưởng đến sự phát triển TTCN và các tiêu chí đánh giá sự phát

triển TTCN, để từ đó đánh giá thực trạng phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh

Thừa Thiên Huế, định hướng và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển TTCN ở thị

xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận tổng thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đềtài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp phân tích tổng hợp

Đây là một trong những phương pháp tiền đề, cơ bản đối với bất cứ nghiêncứu nào Các tài liệu cần thu thập gồm các đề tài nghiên cứu và các thông tin liên

quan đến khu vực nghiên cứu Việc thu thập đầy đủ các số liệu không chỉ là cơ sở

cho việc tiến hành nghiên cứu được thuận lợi mà còn giúp người nghiên cứu định

hướng rõ ràng những nội dung cần làm rõ về đề tài Công việc này được tiến hành

trong giai đoạn đầu tiên của luận văn và được bổ sung trong suốt quá trình nghiên

cứu

Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết hàng năm từ năm 2006

- 2011 tại phòng Kinh tế, phòng Thống kê của thị xã Hương Trà; Niên giám thống

kê; các công trình khoa học, các báo cáo, tạp chí chuyên ngành và các tài liệu khác

liên quan đến vấn đề phát triển TTCN

+ Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp này được thực hiện qua việc chọn mẫu, phát phiếu điều tra

Phương pháp này rất quan trọng vì nó giúp thị sát tình hình thực tế, có cái nhìn

khách quan khi tiến hành nghiên cứu Đồng thời bổ sung được những nội dung,

những thông tin mà các nghiên cứu trên tài liệu có thể chưa phản ánh được hết

Ngay cả sau khi đưa ra kết quả vẫn cần đến khâu thực địa, khảo sát thực tế để kiểm

chứng những kết quả đó

Với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tài liệu sơ cấp được tác giả tiến hànhđiều tra tình hình phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế bằng

phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn Cụ thể, trong quá trình nghiên cứu địa bàn, tác

giả đã tiến hành khảo sát ở 7 phường, xã ; mỗi phường, xã gồm 20 cơ sở sản xuất

TTCN Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, số liệu sơ cấp thu thập là căn cứ cho

việc đánh giá việc phát triển TTCN ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

+ Phương pháp thống kê kinh tế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa và phân tích số liệu điều tra,

từ đó lượng hóa được thực trạng vấn đề nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp thống kế, mô tảphân tích thực trạng phát triển TTCN từ số liệu sơ cấp thu được

+ Một số phương pháp khác: phương pháp chuyên gia, phỏng vấn nhanh, tìmhiểu hiểu thông tin qua những nghệ nhân,

5 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

- Góp phần hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển TTCN

- Phân tích và đánh giá được tình hình phát triển các nghề TTCN ở thị xãHương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong phát

triển các nghề TTCN của thị xã

- Đề xuất được những giải pháp chung, giải pháp cơ bản, mô hình tổ chứcsản xuất nhằm phát huy những lợi thế của địa phương để phát triển mạnh TTCN ở

thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển tiểu, thủ công nghiệp

Chương 2: Thực trạng phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở thị xã Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển tiểu, thủ công nghiệp

ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU,

THỦ CÔNG NGHIỆP

1.1 QUAN NIỆM VÀ VAI TRÒ VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP

1.1.1 Quan niệm về phát triển tiểu, thủ công nghiệp

1.1.1.1 Tiền đề ra đời tiểu, thủ công nghiệp

Trong lịch sử, thủ công nghiệp (TCN) trở thành ngành kinh tế (KT) độc lập

từ thời cổ đại ở Hy lạp, Ai cập, Trung Quốc, Ấn Độ…Nguyên nhân TCN ra đời là

do sự phát triển của phân công lao động xã hội Lịch sử xã hội loài người đã qua

bốn lần phân công lao động xã hội lớn điển hình, theo đó lực lượng sản xuất xã hội

có những bước phát triển vượt bậc so với trước đó; trong đó từ sự phân công lao

động xã hội lần thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp (NN), nghề TCN trở

thành một nghề riêng biệt, một ngành có tính chất độc lập so với NN

Trong sự phân công lao động lớn thứ nhất, nghề chăn nuôi tách khỏi trồngtrọt, chưa có nền sản xuất hàng hoá thật sự, nhưng bắt đầu hình thành trao đổi sản

phẩm giữa những người sản xuất Nhà kinh tế học C.Mác có viết “Dĩ nhiên, những

người thợ thủ công ở thành thị từ đầu đã buộc phải sản xuất để trao đổi” [3,378].

Trong sự phân công lao động lớn lần thứ hai, diễn ra kết quả “thủ công nghiệp đã

tách khỏi NN” [4,250- 253].

Vì nền sản xuất bị tách ra làm hai ngành chính, NN và TCN, đã ra đời nềnsản xuất hàng hoá, sự trao đổi giữa những người sản xuất riêng biệt đã trở thành tất

yếu của xã hội

“Thủ công nghiệp” là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệpdựa trên quy mô nhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léo

của bàn tay người thợ thủ công Khi khoa học - kỹ thuật phát triển, khái niệm “thủ

công nghiệp” có những nội dung khác so với trước đây Người thợ thủ công hiện

đại có thể sử dụng máy móc để phát lực, truyền lực, máy công tác và kết hợp với

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

đôi bàn tay khéo léo để tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính nhân tạo, có giá trị

thẩm mỹ cao

Khái niệm “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” hiện nay vẫn còn gâynhiều tranh cãi V.I Lênin khi phê phán sai lầm của những nhà KT học dân tuý đưa ra

khái niệm về tiểu công nghiệp [23,393-395] Để phân biệt “thủ công nghiệp" với "tiểu

công nghiệp", Lênin đã viện dẫn ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản công

nghiệp ở Nga: “đặc điểm của tiểu sản xuất hàng hoá là kỹ thuật thủ công hoàn toàn

nguyên thủy, từ xưa đến nay kỹ thuật ấy vẫn không thay đổi Người làm nghề thủ công

vẫn là nông dân, họ chế biến nguyên liệu theo phương pháp truyền thống Công trường

thủ công (CTTC) dựa trên phân công lao động, do đó kỹ thuật được cải biến căn bản,

nông dân biến thành thợ bạn, thành công nhân bộ phận” [24,685-687] Đặc trưng của

tiểu sản xuất hàng hoá và CTTC là các xí nghiệp nhỏ chiếm ưu thế Tính chất của sản

xuất cũng khác nhau trong các giai đoạn phát triển Trong các nghề thủ công nhỏ, thị

trường và quy mô sản xuất nhỏ hẹp dễ thích hợp với nhu cầu địa phương; sản xuất ở

giai đoạn này ổn định cao nhất, nhưng tình trạng kỹ thuật bị đình đốn CTTC sản

xuất cho thị trường lớn, có khi thị trường toàn quốc, nên sản xuất của nó có tính ổn

định, tính chất này thể hiện cao nhất trong sản xuất công xưởng tư bản chủ nghĩa

Như vậy giai đoạn phát triển CTTC gần với khái niệm "tiểu công nghiệp", sựkhác nhau giữa chúng chỉ là ở trình độ phân công lao động, tiến bộ kỹ thuật, thị

trường tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu, quy mô tổ chức sản xuất phân tán hay tập

trung “Tiểu công nghiệp” là hình thức công nghiệp sử dụng công cụ lao động nửa

cơ khí để chế biến nguyên liệu Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ nhất

khởi đầu ở nước Anh thế kỷ 18, máy móc thay thế công cụ thủ công, sự phát minh

và ứng dụng máy hơi nước có tác dụng then chốt trong sản xuất lớn TBCN Máy

móc ban đầu là sự kết hợp của ba bộ phận công tác, phát lực và truyền lực, sau đó

có thêm bộ phận điều khiển tự động, sử dụng rộng rãi sức điện và vật liệu mới

Nhưng nếu vẫn sử dụng sức người thay cho máy phát lực, thì lao động bằng máy

công tác đó là lao động nửa cơ khí

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

1.1.1.2 Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp

* Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp của các nhà kinh tế học thế giới:

Ngày nay có hai quan niệm về TTCN: một là, tiểu công nghiệp; hai là, thủcông nghiệp:

Về “tiểu công nghiệp”, mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về "tiểu công

nghiệp" có tính chất hành chính, pháp lý, để phân biệt với “đại hay trung công

nghiệp” Khái niệm này làm cơ sở cho việc thi hành các chính sách riêng khu vực

"tiểu công nghiệp" Mỗi quốc gia, trong các thời kỳ khác nhau, có chính sách khác

nhau trong ưu tiên về tín dụng, nguyên liệu, cố vấn kỹ thuật, trên cơ sở yêu cầu phát

triển kinh tế, xã hội (KT – XH) khác nhau, vì thế khái niệm về tiểu công nghiệp

cũng khác nhau:

- Ở Nhật Bản, luật ban hành năm 1957 quy định: các xí nghiệp sử dụng dưới

300 công nhân, mức vốn dưới 10 triệu yên, được thừa nhận hợp pháp là "tiểu công

nghiệp", được hưởng những chính sách tài trợ về tiểu công nghiệp

- Ở Mỹ có quy định: dưới 250 công nhân được xem là "tiểu công nghiệp", và

"tiểu công nghiệp" còn được phân biệt theo bộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước

Trong ngành công nghiệp chế tạo vẫn lấy số lượng công nhân làm cơ sở, nhưng

ngành dịch vụ chủ yếu lấy số bán ra hay số thu hàng năm làm tiêu chuẩn

- Ở Ấn Độ khái niệm về "tiểu công nghiệp", trước năm 1960 mức quy định làdưới 100 công nhân nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sử

dụng năng lượng; đến năm 1960 quy định chủ yếu căn cứ vào mức vốn “không quá

500.000 ru pi hay 1 triệu ru pi trong một số trường hợp đặc biệt” [14, 9-10].

Do có sự xác định khác nhau, nên năm 1952 Uỷ ban KT của Liên hiệp quốcđưa ra định nghĩa để chuẩn hoá các thuật ngữ được sử dụng Theo đó, công nghiệp

sản xuất quy mô nhỏ là loại xí nghiệp chủ yếu sử dụng nhân công được trả lương,

số lượng không quá 50 người ở mọi cơ sở sản xuất không dùng động lực hay dùng

không quá 20 người trong một xí nghiệp có dùng động lực [14, 11].

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

Vì để có một khái niệm "tiểu công nghiệp" dùng chung cho các nước là rấtkhó, nên người ta dùng một loại “khái niệm phân tích” nêu bật các đặc điểm cơ bản

về số lượng, chức năng, tính chất, cơ cấu…của doanh nghiệp, với 4 đặc trưng sau:

- Sự chuyên môn hoá ở mức độ thấp về quản lý và lãnh đạo xí nghiệp

- Vai trò cá nhân chủ xí nghiệp về những mối liên hệ tiếp xúc chặt chẽ vớikhách hàng, tính mềm dẻo trong sản xuất hoặc giao dịch, quan hệ chủ với thợ; tính

linh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp

- Những điểm mạnh, yếu về phương diện vốn và tín dụng như: khó vay vốn

ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bà con hay bạn bè để

thành lập, phát triển sản xuất

- Tính chất đa dạng của nền sản xuất TTCN, cần áp dụng mềm dẻo các biện pháp,chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt

Về “thủ công nghiệp”, người ta vẫn coi TCN là một thành phần, một dạng

thức, một loại “tiểu công nghiệp” Hai loại định nghĩa về tiểu công nghiệp và TCN

bổ sung cho nhau, nhưng không thể sử dụng toàn cầu Để nghiên cứu sâu các vấn đề

về "tiểu công nghiệp" và TCN, cần một mốc chuẩn nào đó [14,14]

* Quan niệm về tiểu, thủ công nghiệp ở Việt Nam

Về khái niệm “thủ công nghiệp”: thủ công nghiệp hay nghề thủ công được

hiểu là một hình thức công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay, để chế biến nguyên

liệu ra sản phẩm Hình thức nguyên thủy của nó là sự tác động của tay hoặc chân

người lao động lên đối tượng lao động thông qua công cụ lao động Đặc trưng của

thủ công nghiệp là công cụ cầm tay hay cải tiến

Về “tiểu công nghiệp”: tiểu công nghiệp có thể hiểu, bao gồm những đơn vị

sản xuất công nghiệp có trang bị kỹ thuật tương đối cao hơn thủ công nghiệp Ở một

số khâu, bộ phận chủ yếu trong dây chuyền sản xuất có thể được trang bị máy móc

hiện đại, được chuyên môn hoá để sản xuất ra các chi tiết, bộ phận, sản phẩm hoàn

chỉnh Sự khác nhau căn bản giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là ở trình độ

kỹ thuật của tư liệu sản xuất Giữa chúng có điểm giống nhau dựa trên quy mô sản

xuất nhỏ, đã tồn tại một nền ĐCN, và chúng là bộ phận công nghiệp phụ trợ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Để phân biệt với ĐCN, trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển nhanhchóng như hiện nay, khái niệm tiểu công nghiệp không chỉ dựa vào hai chỉ tiêu về

vốn và lao động; mà cần bổ sung thêm 2 chỉ tiêu: độ phức tạp của quản lý, hiệu quả

sản xuất kinh doanh; để làm rõ danh giới giữa tiểu công nghiệp và đại công nghiệp

- Về độ phức tạp của quản lý có 5 yếu tố: quy mô vốn sản xuất kinh doanh,doanh thu và thu nhập khác, đầu mối quản lý, trình độ công nghệ sản xuất (cao,

hạng: từ hạng I đến hạng III với quy mô nhỏ dần

- Việc xếp hạng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như: phânloại, chọn chỉ tiêu, xác định tỷ trọng và cho điểm dựa theo ngành KT - kỹ thuật, bảo

đảm tương quan hợp lý trong xếp hạng

- Theo đó quy mô các doanh nghiệp hạng III, doanh nghiệp thành lập theo luậtcông ty, luật doanh nghiệp tư nhân tương ứng với quy mô xí nghiệp trung, tiểu ở

một số nước khác nhau trên thế giới

Tóm lại, định nghĩa “tiểu công nghiệp” được đề cập ở trên và theo Nghị định

số 90/2001/NĐ-CP [29], đó là doanh nghiệp vừa và nhỏ, là các cơ sở sản xuất, kinh

doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký

không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người,

và là doanh nghiệp được xếp hạng III tuỳ theo ngành nghề Điểm xếp hạng, ranh

giới giữa doanh nghiệp hạng III với các hạng khác quy định theo đặc điểm của các

ngành đó

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

Ở các nước đang phát triển, các ngành nghề TTCN thường gắn với tính chấttruyền thống và có các tính chất sau:

Một là, “làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đây

không nhất thiết cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người làm nghề thủ công

nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyên

môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng hoá truyền thống

ngay tại quê của mình” [25,13]

Hai là, nghề thủ công truyền thống là những nghề TCN ra đời trong lịch sử,

được truyền từ đời này sang đời khác, tồn tại đến ngày nay, trong đó có những nghề

đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để sản xuất, nhưng vẫn

tuân thủ công nghệ truyền thống, kết hợp với bàn tay tài hoa của người thợ tạo ra

sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị, tính văn hoá cao

Ba là, đặc trưng cơ bản của nghề "thủ công" truyền thống là sử dụng công cụ,

kỹ thuật và công nghệ sản xuất truyền thống độc đáo, với đội ngũ nghệ nhân và thợ

lành nghề

Từ những điều trên, có thể hiểu khái niệm “thủ công nghiệp”, “tiểu công

nghiệp”, và “thủ công nghiệp truyền thống” như sau:

Thủ công nghiệp: hình thức sản xuất công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay,với phương pháp thủ công tác động lên đối tượng lao động; đặc trưng kỹ thuật là

công cụ cầm tay thô sơ hoặc cải tiến, con người làm chức năng phát lực, truyền lực,

điều khiển công cụ; đặc điểm chủ yếu: nhiều ngành, nghề, từ sản xuất đến dịch vụ;

gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất với tiêu dùng tại địa phương; có quy mô nhỏ, linh

hoạt và tiết kiệm chi phí quản lý; có khả năng huy động vốn tự có của gia đình; có

nhiều loại hình sản xuất; cơ cấu sản xuất đa dạng; tính chất sản xuất: tự sản tự tiêu,

tự cung tự cấp và kết hợp sản xuất hàng hoá [21, 272]

Tiểu công nghiệp: gồm những cơ sở sản xuất nhỏ, có trình độ trang bị kỹthuật cơ khí, nửa cơ khí, hoặc kỹ thuật tinh xảo; đa dạng hình thức sở hữu, với đa số

quy mô nhỏ và trình độ khác nhau; xu hướng tồn tại và phát triển lâu dài trong nền

KT hiện đại; đặc điểm: vốn ít, máy móc thiết bị và mặt bằng sản xuất nhỏ; cơ cấu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

sản xuất đa dạng, linh hoạt cao; tổ chức quản lý gọn nhẹ, kết hợp chặt chẽ sản xuất

thủ công và cơ giới; cơ cấu sản xuất đa dạng: khai thác và chế biến tài nguyên, gia

công cơ khí, điện tử, may mặc, giày da; sản xuất các mặt hàng truyền thống (gốm,

mỹ nghệ, nữ trang, đồ gỗ) [21,407]

Trên thực tế, các ngành nghề và mặt hàng TTCN thường gắn với hộ gia đình,

tổ chức quy mô nhỏ, cho nên còn gọi là công nghiệp gia đình "Công nghiệp gia

đình" là loại hình công nghiệp tồn tại từ lâu, trong phạm vi từng gia đình, sản xuất công

nghiệp tại nhà thường là thủ công hoặc có thể là cơ khí, nó chỉ là “phương diện hình

thái tổ chức lao động” của TCN mà thôi và nó là sản xuất tiểu công nghiệp không có

tính chất nhà máy [14,19]

1.1.1.3 Quan ni ệm về phát triển tiểu, thủ công nghiệp

Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật:

hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, Nhưng nếu

hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản

thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là

tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện Ý nghĩa của nguyên lý này đòi

hỏi: trong khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải tôn trọng nguyên tắc phát

triển của chúng, không được thành kiến, định kiến, Luôn lạc quan tin tưởng vào

khuynh hướng vận động của sự vật, tạo mọi điều kiện để sự vật phát triển [1,345]

Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởngkinh tế và công bằng xã hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết

và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội, công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu

của nhân loại, vừa là động lực của sự phát triển Mức độ công bằng xã hội càng cao

thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng có cơ sở bền vững

Tăng trưởng KT là điều kiện cần để phát triển KT Ở những nước đang pháttriển, đặc biệt là những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người

thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều

năm, thì khó có điều kiện KT để cải thiện mọi mặt của đời sống KT - XH Tuy

nhiên tăng trưởng KT chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

KT Tăng trưởng KT có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do

đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Nếu phương thức tăng trưởng KT

không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu KT xã hội theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng,

mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền KT, sẽ không thể tạo ra sự

phát triển KT Nếu phương thức tăng trưởng KT chỉ đem lại lợi ích KT cho nhóm

dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm

dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng KT như vậy sẽ khoét sâu vào bất bình đẳng

xã hội Những phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục, cũng chỉ là kết quả ngắn

hạn, không những không thúc đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể

tồn tại được lâu dài [30]

Về quan niệm “tiểu, thủ công nghiệp”: Tiểu, thủ công nghiệp là những hoạtđộng sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ trên địa bàn nông thôn (NT), trong quá trình

sản xuất, kinh doanh sử dụng công cụ lao động thủ công, công cụ bán cơ khí và

trong một chừng mực nhất định sử dụng công cụ cơ khí và máy móc hiện đại cùng

các nguồn lực ở NT để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu

khác nhau của xã hội hoặc để khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu

dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt

Từ khái niệm “phát triển” và quan niệm “TTCN” thì “phát triển TTCN”

được quan niệm như sau: Phát triển TTCN là sự tăng trưởng trong ngành KT thuộc

lĩnh vực sản xuất vật chất - một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội,

tồn tại khách quan trong các phương thức sản xuất của xã hội và nằm trong hệ thống

công nghiệp, là một nền công nghiệp có quy mô nhỏ, kỹ thuật và công nghệ sản

xuất có sự kết hợp đa dạng giữa lao động thủ công, lao động cơ khí, phương tiện và

máy móc hiện đại gắn liền với nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công

bằng xã hội Trong quá trình hoạt động, các nguồn lực ở NT như: lao động, vốn, tài

nguyên… được sử dụng để sản xuất ra nhiều loại hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu

dùng của xã hội và sản xuất của nhiều ngành KT khác nhau Các chủ thể tham gia

sản xuất trong các ngành TTCN là hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX), doanh

nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

Với những tính chất trên, phát triển TTCN bao hàm các nội dung cụ thể là:

+ Mức tăng trưởng và mối quan hệ giữa tăng trưởng các ngành nghề TTCNphải phù hợp với mức tăng dân số

+ Sự tăng trưởng trong các ngành nghề TTCN phải dựa trên cơ cấu kinh tếhợp lý, tiến bộ để đảm bảo tăng trưởng bền vững

+ Tăng trưởng trong các ngành nghề TTCN phải đi đôi với công bằng xã hội,tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong đóng góp và hưởng thụ kết

quả của sự tăng trưởng này

+ Chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phù hợp với sự biến đổi nhu cầu củacon người và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của các ngành tiểu, thủ công nghiệp

1.1.2.1 S ản xuất tiểu, thủ công nghiệp mang tính đa dạng

Sự tồn tại và phát triển ngành TTCN rất đa dạng và phong phú, với nhiềuloại hình hoạt động và ngành nghề như: Ngành khai thác, ngành chế biến nông sản

thực phẩm, ngành thủ công mỹ nghệ, ngành chế tác kim loại Các sản phẩm ngành

nghề TTCN có thể được sản xuất tại hộ gia đình, sử dụng lao động gia đình, có thuê

thêm lao động và được sản xuất tại các cơ sở sản xuất như HTX, doanh nghiệp tư

nhân, công ty TNHH các công nghệ sản xuất được sử dụng từ thủ công, bán cơ khí,

cơ khí và máy móc hiện đại Có lợi thế về địa điểm sản xuất và khai thác các nguồn

lực tại chỗ, nhất là nguồn nguyên liệu không tập trung, nằm rải rác khắp nơi, những

nguyên liệu không bảo quản lâu được nên giảm nhiều chi phí sản xuất

1.1.2.2 C ác cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp thường có mối liên hệ chặt chẽ,

tr ực tiếp với khách hàng và người lao động

Với vai trò cá nhân, người chủ trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh TTCN,các cơ sở này dễ duy trì được những mối liên hệ chặt chẽ với khách hàng Điều này

tạo nên một lợi thế, một ưu điểm đặc biệt của sản xuất TTCN Mặt khác, giữa chủ

cơ sở TTCN với người lao động thường có mối quan hệ quen biết, thân tình nên

giúp cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt được hiệu quả tối đa trong sản xuất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

Tất nhiên, khi các cơ sở này được mở rộng thì nét đặc biệt này dần bị xoá đi.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một điểm yếu của các cơ sở sản xuất, kinh doanh TTCN

là tính chất gia trưởng trong quan hệ sản xuất hay là thái độ bảo thủ, chậm cải tiến

tổ chức, đổi mới kỹ thuật

1.1.2.3 Các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp thể hiện tính mềm dẻo, linh

ho ạt trong sản xuất, kinh doanh

Hoạt động sản xuất ở quy mô công nghiệp nhỏ, các cơ sở sản xuất TTCN cótính mềm dẻo, linh hoạt cao trong các khâu sản xuất hay giao dịch, nên có thể đáp

ứng kịp thời những yêu cầu cụ thể của khách hàng, nhanh chóng “bắt lấy” thời cơ

kinh doanh, dễ dàng tìm kiếm những phân đoạn thị trường mới, lấp chỗ trống mới

xuất hiện trong thị trường khi thấy có lợi và cũng dễ dàng rút khỏi thị trường khi sản

xuất, kinh doanh gặp khó khăn, kém hiệu quả và dễ chuyển hướng sang sản xuất sản

phẩm khác cùng Tiểu ngành nghề hoặc sang các ngành dịch vụ sửa chữa Ở quy mô

nhỏ, các cơ sở sản xuất TTCN dễ ứng phó với sự thay đổi trong môi trường kinh

doanh có nhiều biến động, sáng tạo sản phẩm mới và tìm kiếm nhu cầu mới từ thị

trường Do đó, cần có một thái độ linh hoạt trong các chính sách đối với TTCN, tránh

những quy định rườm rà về thủ tục hành chính, nếu không sẽ làm triệt tiêu khả năng

thích ứng nhanh, mềm dẻo và linh hoạt của các cơ sở sản xuất TTCN

1.1.2.4 H ạn chế trong tiếp cận các nguồn vốn chính thức nhưng lại rất linh hoạt

trong ti ếp cận các nguồn vốn không chính thức

Các cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh TTCN khó vay vốn ở các ngân hàng hơn

so với các xí nghiệp trong ngành công nghiệp có quy mô lớn, và khi tình hình tài

chính có sự biến động thì dễ bị cắt giảm tài chính và càng khó vay vốn Đây là điểm

hạn chế của các cơ sở sản xuất, kinh doanh TTCN về nguồn vay tín dụng ở các

ngân hàng

Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành TTCN lại có được khả nănghuy động vốn dễ dàng từ gia đình, người thân và bạn bè để thành lập, mở rộng sản

xuất, nhanh chóng đi vào hoạt động và không bỏ lỡ các cơ hội sản xuất, kinh doanh

Đây là lợi thế chung của các cơ sở sản xuất, kinh doanh TTCN ở Việt Nam hiện nay

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

cũng như nhiều nước trên thế giới, nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,

Singapo, Ấn Độ, mà các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn không có Vì vậy, lợi thế

này cần được phát huy trong phát triển sản xuất, kinh doanh các ngành TTCN

1.1.2.5 Tính ch ất chuyên môn hoá thấp trong quản lý sản xuất kinh doanh

Ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề TTCN trong NT, chức năngquản lý và lãnh đạo thường chưa phân định rõ Người chủ các cơ sở sản xuất tiểu,

thủ công nghiệp thường kiêm nhiệm mọi khâu trong quá trình tổ chức quản lý sản

xuất, kinh doanh Đặc điểm này thể hiện rõ nét ở các hộ sản xuất, kinh doanh TTCN

Qui mô càng mở rộng thì nhu cầu phân công chuyên môn hoá mới được đặt ra

Thông thuờng, ở quy mô trên dưới 100 công nhân, sự chuyên môn hoá trong quản

lý mới trở nên quan trọng

1.1.3 Vai trò của phát triển tiểu, thủ công nghiệp

1.1.3.1 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu

n hập cho người lao động ở NT

Khu vực NT là nơi chiếm phần đông dân số của tỉnh Thừa Thiên Huế nóichung và thị xã Hương Trà nói riêng; nguyên nhân chủ yếu là: Tốc độ tăng dân số ở

NT quá nhanh do trình độ dân trí và nặng về phong tục tập quán, ngoài ra trong

điều kiện đất đai canh tác hạn chế: chủ yếu dùng cho việc phục vụ các lĩnh vực như

xây dựng công trình công cộng, nhà ở, công trình giao thông đã thực sự là một

thách thức lớn đối với sự phát triển KT ở khu vực NT nói riêng và sự phát triển KT

ở toàn bộ khu vực nói chung Để giải quyết vấn đề này thì việc chuyển đổi cơ cấu

ngành kinh tế là hết sức hợp lý, phát triển TTCN sẽ cho phép xen kẻ thời gian nhàn

rỗi trong năm của khu vực sản xuất NN Trong những năm gần đây, hoạt động

ngành nghề công nghiệp - TTCN ở NT đã thu hút được số lượng lao động lớn tham

gia sản xuất trong các làng có nghề Cụ thể như sau:

Phát triển TTCN sẽ thu hút lao động dôi dư từ NN, giải quyết vấn đề laođộng nông nhàn và tình trạng di dân tự do đối với người dân NT Qua đó, nó góp

phần làm tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo và ổn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

định an ninh, xã hội ở NT Nói cách khác nghề thủ công giúp cải thiện đời sống nhân

dân, góp phần xây dựng NT mới

Phát triển TTCN cung cấp sản phẩm tiêu dùng và công cụ, dụng cụ cho cho khuvực NN, hỗ trợ cho NN phát triển Đồng thời, nó làm cho thu nhập từ các ngành phi NN

trong dân cư tăng, kích thích nông dân đầu tư vốn vào mở xưởng Với đặc điểm mức

đầu tư không quá lớn, nên nghề thủ công dễ huy động các khoản vốn nhỏ nhàn rỗi

trong dân, của hộ gia đình, trong họ hàng, và đi vay từ các tổ chức tín dụng

Chính vì thế việc phát triển TTCN sẽ mở ra một cơ hội cho việc giải quyếtviệc làm ở thành thị và NT, từ đó có thể giải quyết tốt vấn đề di cư tự do từ NT ra

thành thị

1.1.3.2 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp đẩy mạnh việc phát huy các tiềm năng và

lợi thế của địa phương

Phát triển TTCN cho phép khai thác triệt để hơn các nguồn lực ở địa phương,

cụ thể là nguồn lao động, nguyên vật liệu, tiền vốn Làng nghề truyền thống có thể

làm được điều này vì nó có nhiều loại quy mô, dễ dàng chuyển hướng kinh doanh

Một khi các nghề TTCN ở NT phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũ laođộng có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Chính thông qua lực lượng này để tiếp

thu những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất, làm cho sản

phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn

Như vậy, các nghề TTCN càng phát triển mạnh nó càng có điều kiện để đầu tư xây

dựng kết cấu hạ tầng ở NT Hơn nữa khi cơ sở vật chất được tăng cường và hiện

đại, chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong

công nghiệp, nâng cao tính tổ chức kỷ luật Đồng thời, trình độ văn hóa của người

lao động ngày càng được nâng cao, lại là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa

học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng

nghề

1.1.3.3 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi

trong dân cư

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Trong giai đoạn đầu của CNH, khi ĐCN chưa chiếm ưu thế, TTCN phát huy

ưu thế, hỗ trợ, bổ khuyết cho ĐCN Trong tình trạng nền KT phát triển thấp, TCN

sử dụng nguồn tài nguyên, lao động dồi dào ở NT, khai thác nguồn vốn tự có trong

dân, mở rộng sản xuất nhiều sản phẩm với giá cạnh tranh Có thể nói vốn là một

trong những yếu tố quan trọng giúp phát triển TTCN; các chủ xí nghiệp có thể kêu

gọi các nguồn vốn từ các tổ chức khác nhau, nhưng điều đó còn rất khó khăn vì việc

hoạt động của các ngành nghề TTCN còn gặp nhiều hạn chế; điều đặc biệt phát

triển TTCN lại có thể góp phần thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư Chủ xí

nghiệp có nguồn vốn đó từ những người thân, từ những người muốn góp vốn, từ

đó làm cho TCN phát triển mạnh ở những ngành, nghề, khu vực chưa hoặc không

thể cơ khí hoá được; như những ngành nghề gia công, chế biến kim loại, chế tạo

công cụ thường, công cụ cải tiến, chế tạo máy móc nhỏ để phục vụ trực tiếp cho NT

hoặc cả ĐCN Đặc biệt phát triển những ngành nghề chế biến nông sản, thực phẩm,

hoa quả phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Nhờ vậy, giải quyết được công ăn việc làm

cho người lao động và tích luỹ vốn cho CNH - HĐH

1.1.3.4 Phá t triển tiểu, thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

theo hướng CNH, HĐH

Phát triển TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH HĐH; mà việc trọng tâm là cần chuyển dịch cơ cấu KT NT, cũng có nghĩa đưa KT

-NT phát triển cả về chất lượng và số lượng Đó là làm thay đổi cơ cấu sản xuất, lao

động, sản phẩm, thu nhập…trong NN TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu KT NN,

NT vì các lý do sau đây:

Một là, sự phát triển của các nghề TTCN truyền thống, mở ra nghề mới làm

cho tỷ trọng công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp tăng dần trong GDP Như vậy, có

thể xoá bỏ tình trạng độc canh cây lúa hoặc KT thuần nông ở từng địa phương; làm

tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hoá cho tiêu dùng, xuất khẩu, tăng thu nhập

cho các tầng lớp dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo ở NT

Hai là, phát triển TTCN cung cấp số lượng lớn sản phẩm cho khu vực NT, NN,

đồng thời tạo vốn, phát triển ngành nghề Phát triển TTCN cung ứng nhiều sản phẩm cho

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

thị trường và thu được lợi nhuận cao TTCN phát triển làm cho thu nhập từ các ngành

phi NN trong dân cư tăng nhanh Từ đó kích thích nông dân đầu tư vốn vào mở xưởng

để làm TCN Khi khối lượng sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng nhanh, thị trường mở

rộng thì KT dịch vụ phát triển

Như vậy, phát triển TTCN đã tác động mạnh mẽ và góp phần làm cho cơ cấu KT

ở NT chuyển dịch theo hướng tích cực, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theo hướng CNH

phẩm mang đậm dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, văn minh dân tộc Trong đó,

nhiều nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công

lao động khá cao; có những nghề được lưu giữ và phát triển cho đến nay, có những

nghề mới ra đời nhưng cũng có những làng nghề bị mai một hoặc mất hẳn Nhiều

sản phẩm ngành nghề TTCN là kết tinh của sự giao lưu và phát triển các giá trị văn

hoá, văn minh lâu đời của mỗi dân tộc Nhiều sản phẩm ngành nghề TTCN mang

tính nghệ thuật cao, với những đặc tính riêng, sắc thái riêng của mỗi dân tộc không

những có giá trị hàng hoá cao mà còn trở thành những sản phẩm văn hoá đặc sắc và

là biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân tộc

Bên cạnh đó, phát triển TTCN còn giúp cho lĩnh vực du lịch được phát triển

Ngành nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, là di sản

quý giá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, lưu giữ những tinh hoa nghệ thuật và kỹ

thuật truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hun đúc nên từ các thế hệ nghệ nhân tài

ba Đồng thời, nét văn hóa dân tộc đặc sắc, làng nghề truyền thống cũng có sức hút

đặc biệt đối với du khách bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ

thống di tích lịch sử, văn hóa Đến với làng nghề du khách không chỉ được ngắm

cảnh quan mà còn được tham quan nơi sản xuất, trực tiếp được tiếp xúc với những

người thợ thủ công, thậm chí còn được trực tiếp tham gia làm ra sản phẩm Vì vậy,

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

phát triển làng nghề kết hợp với du lịch góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa tại

chỗ, tạo thêm việc làm và thu nhập Hơn nữa phát triển làng nghề còn giúp cho

ngành du lịch quảng bá được hình ảnh của đất nước ra nước ngoài thông qua các

sản phẩm của các làng nghề truyền thống

Do đó, bảo tồn giữ gìn và phát triển ngành nghề TTCN truyền thống trong

NT tại các làng, xã là góp phần vào việc bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hoá của dân

tộc trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá NN, NT trong thời gian tới

1.1.4 Các loại hình tiểu, thủ công nghiệp

Hoạt động sản xuất TTCN có thể dựa trên các tiêu chí:

+ Tiêu chí phân loại: Có thể sử dụng những tiêu chí khác nhau để phân loại

các hoạt động TTCN trong NT Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí phân loại nào là

tuỳ theo mục đích của việc phân loại Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề

tài, chúng tôi lựa chọn tiêu chí phân loại dựa trên những đặc trưng sau đây của các

- Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau

+ Các Tiểu ngành nghề TTCN: Căn cứ vào 3 đặc trưng cơ bản trên chúng tôi

phân loại các hoạt động TTCN trong NT thành các Tiểu ngành nghề như sau:

Trang 30

Ngoài ra có thể phân loại các loại hình TTCN như sau:

+ Phân chia các ngành nghề TTCN thành các nhóm chính là:

- Các ngành nghề SX các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm sứ mỹ nghệ,sơn mài, thêu ren, thảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, mây

lợi thế của các ngành TTCN trong phát triển KT - XH NT

1.1.5 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển tiểu, thủ công nghiệp

* Cơ cấu kinh tế - xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ

Sự hình thành và phát triển của các ngành nghề TTCN có vai trò rất quantrọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế NT theo hướng CNH - HĐH, làm

cho cơ cấu kinh tế - xã hội thay đổi theo hướng tỷ trọng của NN ngày càng giảm, tỷ

trọng của công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Đồng thời nó còn đóng vai trò

tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự cấp tự

túc sang sản xuất hàng hóa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Với sự phát triển theo từng nấc thang từ hộ gia đình sản xuất nhỏ lên cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, sau đó là các doanh nghiệp lớn, phát triển TTCN sẽ là

cầu nối giữa công nghiệp lớn, hiện đại với NN phi tập trung, là bước trung gian

chuyển từ NT thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn, hiện đại và đô thị

hoá Phát triển TTCN sẽ là điểm thực hiện tốt việc phân công lao động tại chỗ, là

nơi tạo ra sự kết hợp giữa NN – công nghiệp có hiệu quả Sự phát triển của các

ngành nghề TTCN là một trong những hướng rất quan trọng để chuyển dịch cơ cấu

KT NT theo hướng CNH, HĐH Vì vậy, phát triển TTCN một cách bền vững sẽ

giúp cho cơ cấu KT - XH thay đổi theo hướng tiến bộ

* Sự phát triển TTCN phải xuất phát từ động lực nội tại: tiến bộ công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nguồn vốn

Những nhân tố quan trọng gắn liền với địa phương phát triển các ngành nghềTTCN như: tiến bộ công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nguồn vốn tại

địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất LĐ và chất lượng sản phẩm

Trước đây, ngành nghề TTCN là ngành nghề chủ yếu dựa vào công nghệ truyền

thống và kinh nghiệm SX được truyền qua nhiều thế hệ, chất lượng nguồn nhân lực

không qua lớp đào tạo dạy nghề cộng theo nguồn vốn hạn chế cho nên sản phẩm

làm ra số lượng còn thấp, chất lượng kém và giá thành cao, khả năng cạnh tranh còn

hạn chế Vì vậy, trong xu thế CNH - HĐH đất nước như hiện nay thì việc ứng dụng

công nghệ mới vào sản xuất là một tất yếu; đội ngũ lao động tại địa phương cần

được đào tạo bài bản; sự hỗ trợ về nguồn vốn được nhân rộng để nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học - công nghệ mới vào SX

cần phải kết hợp với công nghệ truyền thống để không làm mất đi nét văn hoá

truyền thống kết tinh trong mỗi sản phẩm

* Đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của dân cư

Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư là một trong những tiêu chí đánhgiá phát triển TTCN Sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của dân cư sẽ giúp

cho các chính sách của nhà nước được thực hiện một cách hiệu quả chẳng hạn như:

phát triển sự nghiệp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa;

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

đảm bảo cho mọi người dân, nhất là người nghèo, người cao tuổi, trẻ em dưới 6 tuổi

và đối tượng chính sách xã hội khác được hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức

khỏe ban đầu nhằm giảm tỷ lệ bệnh tật, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực; đồng thời đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao và rèn luyện thân thể, xây

dựng nếp sống có lợi cho sức khỏe, đảm bảo an toàn cộng đồng, thực hiện dinh

dưỡng hợp lý và vệ sinh an toàn thực phẩm

* Chất lượng sản phẩm ngày càng cao

Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt của thị trường nói chung và thịtrường các sản phẩm TTCN nói riêng; nhu cầu của con người đối với hàng hóa ngày

càng tăng không những về số lượng mà còn chất lượng Để thỏa mãn nhu cầu của

người tiêu dùng; các cơ sở sản xuất TTCN phải nổ lực, cố gắng tìm kiếm các

phương pháp tối ưu nhất để sản xuất và cung ứng sản phẩm có chất lượng cao nhất

và giá thành hợp lý nhất Đó chính là con đường chủ yếu để các cơ sở sản xuất

TTCN tồn tại và phát triển lâu dài Chất lượng sản phẩm thực sự trở thành tiêu chí

cơ bản quyết định sự phát triển TTCN cũng như sự thành công hay sự tụt hậu của

nền kinh tế đất nước Đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm đối với

các cơ sở sản xuất TTCN là yêu cầu khách quan góp phần thúc đầy phát triển

TTCN, đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đời sống của dân cư tại địa phương

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP

1.2.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên

Các nhân tố về điều kiện tự nhiên bao gồm: đất đai, khí hậu, các nguồn tàinguyên thiên nhiên (gồm khoáng sản, lâm sản, hải sản…) là những yếu tố quan

trọng và là cơ sở của lợi thế so sánh của mỗi vùng và của đất nước

Các yếu tố này có thể trở thành đối tượng lao động để phát triển các ngànhTTCN khai thác và chế biến, hoặc có thể trở thành điều kiện để xây dựng và phát

triển các ngành TTCN Tài nguyên thiên nhiên phong phú, trữ lượng lớn, điều kiện

khai thác thuận lợi sẽ cho phép phát triển nhiều ngành TTCN với cơ cấu hợp lý Các

nguồn lực tự nhiên nêu trên có loại ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển các ngành

nghề TTCN, có loại ảnh hưởng gián tiếp đến cơ cấu các ngành TTCN qua sự ảnh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

hưởng đến phát triển các ngành KT như công nghiệp, nông, lâm nghiệp, kết cấu hạ

tầng kỹ thuật…Vị trí địa lý là một điều kiện quan trọng có ảnh hưởng lớn tới sự

phát triển và cơ cấu các ngành TTCN, nhất là trong điều kiện xây dựng nền KT mở,

tăng cường và mở rộng các quan hệ hợp tác, hội nhập KT khu vực và thế giới Vị trí

địa lý thuận lợi cho sự giao lưu KT tạo thành một lợi thế quan trọng cho sự phát

triển các ngành TTCN ở mỗi địa phương Vì vậy, yếu tố này có vai trò hết sức quan

trọng, có ảnh hưởng đến sự phát triển TTCN

1.2.2 Những nhân tố về kinh tế

* Nhân tố lao động và phân công lao động xã hội

Khi nói đến lao động, đây là nhân tố không thể thiếu trong quá trình pháttriển TTCN nói riêng và phát triển kinh tế nói chung Trước tiên, về số lượng, tỷ lệ

dân số ở thị trường địa phương mà các ngành nghề TTCN sản xuất hàng tiêu dùng

phải phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu Tiếp theo, về chất lượng của người lao

động, bao gồm trình độ dân trí, trình độ tay nghề của người lao động, khả năng tiếp

thu ứng dụng và vận hành kỹ thuật mới của lao động tạo thành cơ sở quan trọng để

phát triển các ngành TTCN có kỹ thuật cao Bên cạnh đó, các ngành nghề TTCN

cần có những nghệ nhân tinh xảo, khéo léo và một lực lượng lao động có tay nghề

cao nắm rõ yếu tố văn hoá truyền thống, biết kết hợp yếu tố truyền thống với hiện

đại vào quá trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm truyền thống có giá trị về văn hoá

và mang những nét hiện đại Do đó, nhân tố lao động là một nhân tố ảnh hưởng sâu

sắc và rộng rãi đến sự phát triển TTCN trong giai đoạn hiện nay

* Nhân tố vốn

Vốn đầu tư là nguồn lực quan trọng đầu tiên, khởi đầu cho quá trình sản xuấtkinh doanh; sự phát triển TTCN cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó Cùng với

lao động, nguồn vốn đầu tư là hai nguồn lực tất yếu của mỗi quá trình sản xuất Các

Mác chỉ rõ: nền sản xuất hàng hoá TBCN giả định phải có những khối lượng lớn tư

bản và sức lao động trong tay những người sản xuất hàng hoá [5, 255] Vốn đầu tư

được chủ doanh nghiệp sử dụng để thuê mặt bằng, đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua

máy móc thiết bị, đầu tư cho công nghệ, đầu tư cho kết cấu hạ tầng, thuê mướn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

nhân công…để tiến hành sản xuất kinh doanh theo ngành nghề đã đăng ký Một thời

gian dài ta coi nghề "thủ công nghiệp" như một nghề phụ của ngành NN, nguồn vốn

tự có của các hộ rất nhỏ bé và khó khăn Do đó Nhà nước đang có những chính sách

phù hợp để thu hút, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư, hoặc đầu tư vào kết cấu hạ

tầng KT - XH, để hỗ trợ TTCN phát triển mạnh và bền vững

* Thị trường

Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, việc sản xuất cái gì,cho ai, bằng cách nào? quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Có nghĩa là thị

trường tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển các ngành TTCN, cụ thể là các

hộ và các cơ sở sản xuất kinh doanh Chỉ có trên cơ sở trao đổi được sản phẩm

TTCN, thì tái sản xuất mở rộng mới có thể thực hiện được, và thực hiện tái sản xuất

mở rộng trong sản xuất TTCN là yêu cầu khách quan Sản xuất TTCN ngày nay

chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, của quy luật giá trị Thị trường tác động đến

cả đầu vào và đầu ra của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Không chỉ có thị trường

hàng hoá, dịch vụ mà các loại thị trường khác như: thị trường lao động, thị trường

khoa học - công nghệ, thị trường tài chính… cũng đều có ảnh hưởng đến sự phát

triển của các ngành TTCN Vì vậy những ngành nghề TTCN thích ứng với cơ chế

thị trường thì sẽ phát triển nhanh và ngược lại Do đó động lực thúc đẩy TTCN phát

triển chính là yếu tố thị trường cho sản xuất

* Nguyên vật liệu

Yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong bất kỳ quátrình sản xuất công nghiệp nào, kể cả các ngành TTCN Chất lượng, giá thành của

sản phẩm cũng như lợi nhuận của các đơn vị sản xuất phụ thuộc vào số lượng, chất

lượng, chủng loại nguyên vật liệu và khoảng cách giữa nguồn và nơi sản xuất Do

đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các ngành TTCN thường chú ý đến nguồn

nguyên vật liệu Hiện nay, ở nhiều nơi nguồn nguyên vật liệu tại chỗ dần bị cạn kiệt,

phải mua từ nơi khác về, điều kiện khai thác, vận chuyển từ nơi khác có ảnh hưởng

đáng kể tới việc đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành TTCN hoạt động Vì

vậy, vấn đề lựa chọn sử dụng các loại nguyên vật liệu hợp lý, theo hướng đa dạng,

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

giá rẻ, phù hợp với quy trình sản xuất, đảm bảo cho sản phẩm có chất lượng cao, giá

thành hạ là điều cần phải quan tâm hiện nay

* Kỹ thuật và công nghệ

Sự phát triển các ngành nghề TTCN phụ thuộc phần nhiều vào trình độ kỹthuật và công nghệ sản xuất, cụ thể là năng suất lao động, chất lượng và giá thành sản

phẩm Ngoài ra, trình độ kỹ thuật và công nghệ còn ảnh hưởng đến năng lực cạnh

tranh của các sản phẩm TTCN trên thị trường và quyết định sự tồn tại hay suy vong

của một cơ sở sản xuất TTCN Vì vậy, trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển

mạnh mẽ như hiện nay thì các cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh các ngành TTCN phải

ứng dụng công nghệ mới vào SX là một tất yếu để nâng cao năng suất và chất lượng

sản phẩm Do đó, nhân tố kỹ thuật - công nghệ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển

các ngành TTCN Vì vậy, Nhà nước cần đưa ra các chính sách khoa học, công nghệ

để áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất TTCN

* Kết cấu hạ tầng

Đối với phát triển TTCN, nhân tố không thể thiếu đó là kết cấu hạ tầng baogồm: hệ thống giao thông vận tải, điện, viễn thông, trong đó giao thông vận tải,

thông tin liên lạc là quan trọng nhất Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của

các ngành TTCN truyền thống, có thể thấy, các cơ sở sản xuất TTCN chủ yếu nằm

trên các đầu mối giao thông thủy, bộ khá thuận lợi Ngày nay, khi giao lưu KT phát

triển, khi thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương mà vươn tới các thị

trường rộng lớn khác, khi nguồn nguyên liệu tại chỗ cạn kiệt dần phải vận chuyển

từ nơi xa về, thì yêu cầu về hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận lợi đối với

các ngành TTCN là rất quan trọng Bên cạnh đó, bưu chính viễn thông sẽ giúp cho

các chủ doanh nghiệp nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về

thị hiếu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, quy cách sản phẩm trên thị trường, để có

những ứng xử thích hợp đáp ứng nhu cầu của thị trường Tóm lại, nếu có hệ thống

kết cấu hạ tầng tốt đặc biệt là giao thông vận tải và bưu chính viễn thông sẽ tạo điều

kiện cho các ngành TTCN phát triển

1.2.3 Những nhân tố về văn hóa, xã hội

* Trình độ học vấn của cộng đồng dân cư

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Trình độ học vấn không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển TTCN ở NT, màcòn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của toàn bộ xã hội nói chung Nếu trình độ

học vấn của cộng đồng dân cư đồng đều sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi trong

kinh doanh và giúp cho người dân tiếp thu các tiến bộ khoa học - công nghệ một

cách dễ dàng, tạo ra năng lực sáng tạo mới và sự năng động trong quá trình hoạt

động sản xuất, kinh doanh Trình độ học vấn cao của cộng đồng dân cư là nền tảng

để người dân nhận thức đúng và thực hiện các chính sách, luật pháp của Nhà nước

Là bước nhảy giúp cho các ngành nghề TTCN ở NT phát triển nói riêng và toàn bộ

nền kinh tế nói chung

* Nhân tố truyền thống

Yếu tố truyền thống trong các ngành nghề TTCN chi phối đến hoạt động SX

và tiêu dùng của người dân Nó có tác dụng bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa

của từng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm có tính độc đáo và có giá trị cao Bên

cạnh đó, để có các sản phẩm hoàn hảo nhằm đảm bảo tính cạnh tranh như chất

lượng cao, giá thành hạ, thì phải kết hợp với khoa học và công nghệ hiện đại, phải

có những con người có đầu óc kinh doanh năng động, sáng tạo Trong điều kiện

hiện nay, yếu tố truyền thống lại có tác dụng hai mặt tích cực và tiêu cực: đó là bảo

tồn những nét đặc trưng văn hoá của ngành nghề và của dân tộc; làm cho sản phẩm

có tính độc đáo và giá trị KT cao, tạo cơ sở cho sự tồn tại bền vững của các ngành

TTCN trước những biến động của cơ chế thị trường; mặt khác, nhân tố văn hoá

truyền thống được hình thành trên cơ sở của nền sản xuất tiểu nông nên đã làm nẩy

sinh tính cách thụ động, ngại thay đổi Vì vậy, phát triển TTCN cần phải tận dụng

những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của yếu tố này

* Nhân tố xã hội

Trong công cuộc CNH - HĐH, sự phát triển TTCN không những chịu ảnhhưởng của nhiều nhân tố: về điều kiện tự nhiên, về kinh tế, mà nó còn chịu ảnh

hưởng bởi thái độ của xã hội, cụ thể là sự nhận thức về vai trò của các ngành TTCN

trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động NT và những đóng góp vào công

cuộc xây dựng NT mới Tầm quan trọng của sự thừa nhận, ủng hộ của xã hội đối với

sự tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất TTCN trong NT là sự biểu hiện rõ ràng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

của nhân tố văn hóa Trước hết là thừa nhận và ủng hộ sự tồn tại của các cơ sở sản xuất,

kinh doanh, khuyến khích đầu tư phát triển các ngành TTCN

1.2.4 Những nhân tố về môi trường chính sách, chính trị và pháp luật

Môi trường chính sách, chính trị và pháp luật của Nhà nước có ảnh hưởng rấtlớn đến sự hình thành, tồn tại, phát triển hay suy vong của các nghề TTCN Sự ổn định

chính trị xã hội sẽ là môi trường thuận lợi, kích thích mạnh mẽ sự đầu tư trong nước

và thu hút mạnh đầu tư nuớc ngoài Ngoài ra, cơ chế chính sách hợp lý của Nhà

nước còn giúp cho các ngành nghề TTCN phát triển một cách nhanh chóng nói

riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta

đã đưa ra nhiều chính sách để khuyến khích phát triển các ngành nghề NT, như việc

đưa ra Nghị định số 132/2000/QĐ-TT ngày 24/11/2000 của Chính phủ về "Khuyến

khích phát triển ngành nghề NT", Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về

"Phát triển ngành nghề NT", Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) đã đưa ra

những giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề NN, nông dân, NT trong điều kiện mới,

trong đó phát triển TTCN là một trong những giải pháp quan trọng trong việc xây

dựng và phát triển NT hiện nay

Mặc khác, trong điều kiện cơ chế thị trường thì sự can thiệp của Nhà nướcvào hoạt động sản xuất, kinh doanh TTCN là một tất yếu khách quan Vai trò hệ

thống chính sách của Nhà nước được thể hiện trên các mặt: Hoạch định chiến lược

và hỗ trợ các ngành TTCN phát triển, sản xuất có hiệu quả và bền vững, tạo môi

trường thể chế thuận lợi khuyến khích và động viên các nguồn lực vào phát triển

các ngành TTCN

Vì vậy, Nhà nước cần có các cơ chế chính sách phát triển hợp lý đối với sựkết hợp giữa ĐCN và TTCN thì các làng nghề mới có các điều kiện thuận lợi đề

phát triển

1.3 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP

1.3.1 Kinh nghiệm thế giới

Kinh nghiệm về bảo tồn, phát triển nghề thủ công ở châu Âu cho thấy: cácnghề thủ công cổ truyền rất phát triển, được tổ chức tốt từ trước cuộc cách mạng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

công nghiệp Chúng cung cấp cho ta những mẫu mực cổ điển về truyền thống, ý

thức nghề nghiệp, về một số hình thức tổ chức của nghề thủ công như các phường

hội, hội xã

1.3.1.1 C ộng hoà liên bang Đức

CHLB Đức có truyền thống lâu đời về nghề thủ công Luật pháp Đức bắtbuộc người thợ thủ công đăng ký vào các ngành nghề ở địa phương; các tổ chức này

có chức năng ban hành ra quy tắc thể lệ, nghiên cứu, đào tạo nghề, cải tiến và phát

triển ngành nghề Ở Đức số lượng thợ thủ công gia tăng lên không ngừng về quy

mô, cùng với việc giảm số lượng các cơ sở thủ công Năm 1895 có 23 cơ sở thủ

công, năm 1960 chỉ còn 14; năm 1895 chỉ có 45 thợ thủ công cho 1.000 người dân,

thì năm 1961 có đến 74 Các hoạt động thủ công mới có tầm quan trọng hơn so với

cũ Một số ngành thủ công phát triển mạnh mẽ như: bảo trì radiô, ti-vi, sửa chữa

ô-tô, bảo trì máy văn phòng, làm đường sá…một số ngành phát triển chậm hơn: đóng

xe, thợ may đồ nam, làm đồ yên cương… Thực tế “nghề thủ công có thể và cần hoạt

động phối hợp với ngành công nghiệp” từ cạnh tranh dữ dội, tiến tới quan hệ xâm

nhập qua lại và bổ sung lẫn cho nhau [14, 42- 43]

1.3.1.2 C ộng hòa Pháp

Tại Pháp, năm 1952, cứ 100 công nhân công nghiệp có khoảng 30 công nhâncủa xí nghiệp thủ công; năm 1961, tỷ lệ 40 trên 100 và chiếm từ 8,4 đến 10% dân số

Khả năng thích ứng, cải biến của một số ngành nghề, tạo nên sức sống cho nghề thủ

công, và sự tăng lên của tầng lớp xã hội trung lưu Vị trí một số nghề thủ công hiện

đại: nghề dệt, may mặc chiếm 18,8% các xí nghiệp công nghiệp; nghề kim khí, máy

móc 18,5%; nhà cửa, vật liệu xây dựng 17,8%; đồ gỗ 12% Một số nghề chính ở

các khu vực thu hút trên 10.000 thợ: nghề khâu đầm, thợ may, thợ giặt, sửa chữa

nông cụ, thợ rèn, thợ sửa ô tô, thợ làm đồ kim loại… Nghề phát đạt hơn cả là nghề

cung ứng sản phẩm hàng hoá và các dịch vụ chiếm 70% các cơ sở thủ công và 80%

nhân công TCN; chỉ nghề thủ công nào hoạt động bổ sung cùng công nghiệp nhà

máy sẽ dần phát triển mặt kỹ thuật Ở NT nghề thủ công kết hợp sản xuất với sửa

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

chữa, bán với sửa chữa rất phát triển, có 130 nghề, chiếm 2% số cơ sở sản xuất [14,

40-43]

1.3.1.3 Nh ật Bản

Nhật Bản là sự thích nghi điển hình của TCN với CNH, theo mô hình Châu

Âu Cùng với sự phát triển ngoại thương, có một số ngành TCN biến mất, một số

lớn ngành nghề cũ tìm được nguồn tiêu thụ mới, thành những ngành có khả năng

xuất khẩu lớn nhất Đó là: nghề tằm tơ, nghề dệt các mặt hàng tơ lụa theo thị hiếu,

đồ sơn và chiếu hoa…nhiều hoạt động thủ công mới mẻ như làm giày dép, chụp ảnh,

giặt ủi, làm dù, làm đồ da, làm đồ kim loại quý, mạ kim loại quý, đồ thuỷ tinh,

nhuộm da…[14,45] Nhật Bản ưu tiên phát triển các nhà máy nhỏ, chế biến kim loại

theo hướng chuyên môn hoá Các cơ sở này sơ chế, xử lý trung gian kim loại, sản

phẩm là thép dát mỏng, thanh thép và dây thép…Chính phủ Nhật ban hành luật

khuyến khích ngành công nghiệp cơ khí, nhiều khoản tín dụng với lãi xuất ưu đãi

cấp cho các nhà "tiểu công nghiệp" đầu tư đẩy mạnh sản xuất hàng loạt, với năng

suất cao, khối lượng sản phẩm lớn, gia tăng sử dụng công nhân

1.3.1.4 Ấn Độ

Ấn Độ có những ngành cơ khí nhẹ thành đạt, những xí nghiệp nhỏ chuyênmôn hoá trong sản xuất các dụng cụ cơ khí nhẹ, phát triển mạnh vào những năm

1950 Đến năm 1960, nó cung cấp 49% sản phẩm kim khí và 30% dụng cụ cơ khí,

bao gồm các sản phẩm: các bộ phận rời đổ khuôn, rèn bằng sắt, bằng thép, các quả

cân, dao, khoá, dây thép, dây thép gai, ốc vít, bù loong, đinh tán, các bộ phận rời và

phụ tùng của dụng cụ trong ngành dệt, các dụng cụ khoa học, mô tơ điện dưới

10CV; các máy cái như: máy tiện, trục máy tiện chạy bằng băng chuyền, máy khoan,

máy ép chạy bằng điện và bằng tay Chính phủ phối hợp với các hiệp hội nghề

nghiệp khuyến khích nhằm đơn giản hoá, chuyên môn hoá và tiêu chuẩn hoá sản

xuất sản phẩm và sử dụng cố vấn kỹ thuật [14, 120- 121]

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

1.3.2.1 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

Với các nghề như: đan bèo, bóc tách hạt điều, may thổ cẩm, sơ chế nôngsản…, nhiều lao động nữ trên địa bàn huyện Cát Tiên đã có được việc làm phù hợp

với sức khỏe, lại có điều kiện gần gũi chăm sóc gia đình và có thu nhập khá ổn định

với mức thu nhập trên, dưới 2 triệu đồng/1 tháng Hiện nay, huyện Cát Tiên có trên

1.950 cơ sở hoạt động ở các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương

mại, dịch vụ, góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho khoảng 3

nghìn lao động trên địa bàn Trong những năm vừa qua, với các chính sách hỗ trợ

của Nhà nước, huyện Cát Tiên đã đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo nghề và giải

quyết việc làm cho lao động NT gắn với khuyến khích các cơ sở công nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp phát triển, nhằm tạo việc làm ổn định cho lao động tại địa phương

Vì vậy, các lớp dạy nghề đan bèo, đan mây tre, sửa chữa máy NN… đã thu hút hàng

trăm lao động tham gia học nghề mỗi năm Theo thống kê năm 2012, huyện Cát

Tiên hiện có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề chiếm khoảng 12% Nhiều cơ sở

sản xuất tiểu thủ công nghiệp được hình thành và đi vào sản xuất tại địa phương đã

góp phần giải quyết một phần lao động dôi dư ở NT và tạo điều kiện cho nhiều lao

động không phải đi tìm việc làm ở nơi xa, nhất là đối với phụ nữ NT Vì vậy, để đẩy

mạnh giảm nghèo bền vững, gắn với xây dựng NT mới và sớm đưa huyện thoát

khỏi tình trạng chậm phát triển, bên cạnh những giải pháp về phát triển sản xuất NN

theo hướng hàng hóa, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa - xã hội, thì

các giải pháp thúc đẩy các ngành tiểu thủ công nghiệp phát triển đa dạng và phong

phú cũng được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương huyện Cát Tiên quan tâm,

chú trọng Bởi đây chính là những ngành nghề giúp giải quyết có hiệu quả, tạo việc

làm cho người lao động; từ đó, góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập cho người

dân [31]

1.3.2.2 Phát triển tiểu, thủ công nghiệp ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn huyện Vị Xuyên có tổng số 1.123 đơn

vị hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, xây

dựng cơ bản, thủy điện, chế biến nông - lâm sản Trong đó có 21 công ty, 2 doanh

nghiệp, 62 HTX hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực CN - TTCN, với tổng số vốn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 11/05/2018, 19:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w