Thực tế cho thấy việc vay vốn NHNo&PTNT của các hộ nông dân huyện Quảng Trạch đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, nhằm đề xuất được những định hướng và giải phát nâng cao hi
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI
Trong quá trình phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế, vốn luôn được coi làmột trong những nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định đến sự vận động của nền
kinh tế Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta chưa đánh giá được hết
vai trò thiết yếu của nó, nên đã dẫn đến việc sử dụng vốn còn nhiều hạn chế Hiện
nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới Đẩy nhanh CNH, HĐH đất
nước, vấn đề tạo nguồn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả càng trở nên cấp thiết đối
với mọi cấp, mọi ngành từ Trung ương đến địa phương
Huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là huyện nông nghiệp, có dân số đông vàdiện tích rộng nhất tỉnh, dân số ở nông thôn chiếm tỷ lệ còn cao so với các huyện khác,
nguồn lực lao động và tiềm năng nông nghiệp còn dồi dào và chưa khai thác hết Trong
những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện từng bước chuyển dịch theo hướng CNH,
HĐH Các nguồn lực được khai thác và sử dụng đặc biệt là nguồn vốn vay
NHNo&PTNT của các hộ nông dân đạt những kết quả nhất định
Tuy nhiên, việc tạo nguồn vốn và sử dụng vốn cho phát triển KT – XH trên địabàn huyện còn nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả thấp Thực tế cho thấy việc vay vốn
NHNo&PTNT của các hộ nông dân huyện Quảng Trạch đã và đang nảy sinh nhiều vấn
đề cần giải quyết, nhằm đề xuất được những định hướng và giải phát nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn của nguồn vốn vay trong thời gian tới
Xuất phát từ những vấn đề trên và tính cấp thiết thực tiễn của vấn đề, tác giả lựachọn đề tài nghiên cứu: “Hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh
Quảng Bình” làm luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng vốn vay NHNo&PTNT của các hộnông dân trên địa bàn huyện Quảng Trạch, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp
tục nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay trong thời gian tới
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộnông dân
- Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng vốn vay NHNo&PTNT của các hộnông dân huyện Quảng Trạch
- Đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng vốn vay NHNo&PTNT của các hộ nông dân huyện Quảng Trạch
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân có vay vốn của Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn và một số hộ không sử dụng vốn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: Số liệu và những thông tin được lấy để phân tích trong đề tài từ
các năm 2005, 2006, 2007, 2008, số liệu khảo sát cấp hộ nông dân năm 2008
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu
Bởi hiện tượng kinh tế nói chung đều chịu sự tác động của nhiều yếu tố, mỗi yếu tố lại
đặt trong mối liên hệ ràng buộc với các yếu tố khác có tác động lẫn nhau Vì vậy,
nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân phải đặt chúng trong mối liên hệ
của nhiều yếu tố vĩ mô lẫn vi mô như: vốn, tài sản, lao động, trình độ, tuổi tác, đặc
điểm của hộ nông dân ở các vùng, chính sách thị trường đầu ra và các yếu tố đầu vào
Mặt khác, cần xem xét trong nhiều năm để xác định các chỉ tiêu ở mức độ bình quân,
từ đó rút ra những kết luận khoa học và toàn diện phục vụ cho quá trình dự báo
4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp (các số liệu đã công bố):
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3+ Các báo cáo tình hình hoạt động của ngân hàng qua các năm 2005 – 2008, cácbáo cáo của các tạp chí về ngân hàng, tạp chí về chuyên đề “đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn”, các tài liệu, luận văn và sách nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân
+ Các thông tin, số liệu thu thập từ các xã, ban ngành và các phòng chức năngliên quan đến vấn đề nghiên cứu
+ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình và huyện Quảng Trạch 2005 – 2008+ Các bản đồ, sơ đồ của huyện Quảng Trạch và tỉnh Quảng Bình
- Thu thập tài liệu sơ cấp:
+ Thu nhập số liệu sơ cấp thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
Phân loại 3 vùng và địa bàn sản xuất có một số đặc điểm sinh thái khác nhau để tiến
hành điều tra
+ Phỏng vấn bảng hỏi đã được chuẩn hóa:
Tiến hành điều tra 225 hộ trên 8 xã không đồng nhất về đặc điểm tự nhiên củavùng, trong đó 180 hộ có sử dụng vốn vay NHNo&PTNT và 35 hộ không sử dụng vốn
vay chia thành 3 vùng, mỗi vùng chọn ngẫu nhiêu 75 hộ
Dùng phương pháp phỏng vấn trực tiếp có sự tham gia của người dân, đồng thờihọc hỏi nhanh ở người dân địa phương có kinh nghiệm hoặc các trưởng thôn, các
trưởng nhóm tín dụng để thu nhập nhanh thông tin và xác minh lại thông tin của người
được điều tra
4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Phân tổ thống kê: Sử dụng hóa tài liệu điều tra theo tiêu thức khác nhau phù hợpvới mục đích và yêu cầu nghiên cứu
- Phân tích tài liệu: Sử dụng các phương pháp phân tích định tính và định lượng
để tìm hiểu bản chất và quy luật vốn có của đơn vị nghiên cứu; kết hợp nghiên cứu các
hiện tượng số lớn với hiện tượng nghiên cứu cá biệt; sử dụng các phương pháp phân
tích thống kê; phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp mô hình toán kinh tế
- Phân tích hồi quy: Các yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất (mức TNHH bìnhquân) của hộ có sử dụng vốn vay; tác động đến hiệu quả sản xuất (TNHH) theo loại
hình sản xuất; tác động đến hiệu quả sản xuất (TNHH) theo các vùng sinh thái; tác
động đến hiệu quả sản xuất (TNHH) theo mục đích sản xuất
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4- Sử dụng hàm sản xuất tuyến tính để phân tích tác động của vốn vay đến thunhập của các hộ nghiên cứu Phương pháp này nhằm mục đích làm rõ được sự khác
nhau giữa hiệu quả sử dụng vốn vay theo các tiêu thức nghiên cứu
4.4 Phương pháp phân tích đánh giá
+ So sánh theo địa bàn nghiên cứu: dự báo có sự khác biệt về thu nhập hỗn hợpcủa các hộ sử dụng vốn giữa 3 vùng nghiên cứu
+ So sánh theo loại hộ sản xuất: Dự báo có sự khác biệt về thu nhập hỗn hợpcủa các hộ sử dụng vốn giữa 2 loại hộ sản xuất (hộ thuần nông, hộ kiêm nông)
+ So sánh mục đích sử dụng vốn của các hộ nông dân: dự báo sự khác biệt vềthu nhập hỗn hợp của các hộ nông dân theo mục đích sử dụng vốn (trồng trọt, chăn
4.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin
từ các chuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm có quan tâm đến
lĩnh vực kinh tế hộ nông dân nhằm có những luận cứ cơ bản, làm cơ sở tiền đề thuyết
phục về mặt khoa học và thực tiễn của địa phương để đề xuất được những giải pháp
phù hợp với thực tế của địa phương và có tính khả thi cao
5 DỰ KIẾN CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay NHNo&PTNT củacác hộ nông dân huyện Quảng Trạch Hiệu quả có sự khác biệt khi có tác động đầu
vào lượng vốn vay theo vùng sản xuất, theo mục đích sử dụng vốn và theo loại hộ sản
Trang 56 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung của luận văn gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ
nông dân
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn của các hộ nông dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn vay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn của các hộ nông dân huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN VAY CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
VAY CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
1.1.1 Khái niệm vốn, vốn vay và hiệu quả sử dụng vốn vay
1.1.1.1 Khái niệm về vốn
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia Việt Nam là nước đang phát triển có
nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước Vì vậy,
nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn là tiền đề thúc đẩy việc khai thác có
hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế - xã hội nói chung và
kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng Trong lịch sử kinh tế, vốn được tiếp cận
dưới nhiều góc độ khác nhau:
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đíchkiếm lời Số tiền đó được sử dụng muôn hình, muôn vẻ, nhưng suy cho cùng là để
mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hoàn thành công
việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn
số tiền ban đầu [33]
Các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác nghiên cứu vốn
thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế, do yêu cầu
cao của sự phát triển, vốn là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất các nước
đang phát triển và kém phát triển Phạm trù vốn trong phát triển kinh tế được các
nhà kinh tế học nghiên cứu và tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau
Dưới góc độ tài chính – tiền tệ: trong ấn phẩm “Chú giải thuật kế toán Mỹ”,tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng: vốn là “tổng số tiền biểu hiện
nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập
và lợi tức” [19]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7Dưới góc độ tài sản, cuốn Từ điển Kinh tế của Penguin Reference, do PhạmĐăng Bình và Nguyễn Văn Lập dịch, lại đưa ra khái niệm: “Vốn là những tài sản có
khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra” [29]
Dưới góc độ yếu tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế, I.Đ
Uđanxốp và F.I Pôlianxki kết luận: Vốn là “một trong ba yếu tố đầu vào phục cho
sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo
để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, cộng cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành
phẩm hoặc bán thành phẩm)” [18]
Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học cũng chỉ ra:
“vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lợi”[38]
Như vậy, “vốn bao gồm bất cứ thứ gì đưa lại luồng thu nhập qua thời gian”,
“sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của sự tích lũy vốn” [19]
Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, nhiều vẻ về hìnhthái tồn tại của vốn Vốn có thể là tiền hay tài sản được giá trị hóa Mặt khác, với tư
cách là vốn thì tiền hay tài sản được đầu tư vào hoạt động sản xuất – kinh doanh để
tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn
luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của vốn, cần nhận thức đầy đủ các nội dungsau:
- Thứ nhất, các hình thái biểu hiện của vốn
+ Xét về mặt trừu tượng, vốn là hình thái giá trị, giá trị đó được ứng ra đểchuyển hóa thành các yếu tố cấu thành quá trình sản xuất; trải qua quá trình sản
xuất, giá trị đó lớn lên không ngừng
+ Xét về mặt cụ thể, vốn được biểu hiện rất phong phú, đa dạng bao gồm: tàisản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính Tài sản này tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đồng
thời làm tăng giá trị Nói cách khác, vốn là giá trị thực của tài sản hữu hình, tài sản
vô hình và tài sản tài chính đưa vào đầu tư để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
nhằm mục tiêu lợi nhuận
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8- Thư hai, vốn là hàng hóa đặc biệt
Tính chất đặc biệt của “hàng hóa vốn” thể hiện ở chỗ: “Vốn có khả năng sinhlời Quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn tách rời nhau Chủ sở hữu vốn sẽ nhận
được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử
dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư) Nhà đầu khi mua quyền sử dụng vốn
phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn) trả cho chủ sở và
nhận về mình quyền sử dụng vốn Nhờ tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng
vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời”
- Thứ ba, vốn có mối quan hệ mật thiết với thời gian
C Mác viết: “tiền chỉ được đem nhượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay
trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là, nó sẽ quay trở về điểm đó
với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi thực hiện được cái giá trị của nó,
thực hiện được các khả năng của nó là tạo ra giá trị thặng dư” [18]
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu vốn là tổng giá trị của những tài sản(tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai
1.1.1.2 Khái niệm vốn vay
Căn cứ vào tiêu thức khác nhau có thể phân chia vốn thành nhiều loại như:
Vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn vay (huy động từ bên ngoài)
Vốn vay là vốn huy động được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng lượng vốn
của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất
Vốn vay có thể huy động từ nguồn vay trong nước và vay nước ngoài
Người vay vốn là người có nhu cầu bổ sung vật chất và tài sản vào quá trình
sản xuất, kinh doanh Họ mua quyền sử dụng vốn bằng cách trả cho chủ sở hữu vốn
một khoản dưới dạng lãi suất cho vay, lãi suất cho vay tùy thuộc vào nhu cầu lượng
vốn vay và lãi suất huy động vốn
Trong điều kiện hiện nay, nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi phươngthức sản xuất, đổi mới công nghệ với mục đích tăng năng suất lao động, tăng sức
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9sản xuất của các nguồn lực nhằm mục đích phát huy khả năng và lợi thế sản xuất
của mỗi vùng Vì thế, nguồn vốn vay là công cụ cần thiết để giải quyết nhu cầu này
1.1.1.3 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn vay
- Quan điểm hiệu quả
Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào của đơn vị, cá nhân đều đưa yếu tốhiệu quả làm đầu Bởi nó quyết định sự tồn tại của đơn vị sản xuất Trong sản xuất
kinh doanh, hiệu quả được xem xét trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất của các hoạt động
sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và
tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực xã hội ngày càng khan hiếm Việc
nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
Hiệu quả trong kinh tế là một khái niệm mang tính tương đối, được đánh giá thông
qua việc so sánh hai yếu tố trung gian khác Vì hiệu quả mà các nhà sản xuất kinh
doanh phải cân đối, tính toán và tìm cách phối hợp các yếu tố đầu vào một cách hợp
lý để có một kết quả cao nhất Nói một cách cụ thể thì hiệu quả kinh tế được đưa ra
để chỉ mối liên hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra cho quá trình sản xuất đó
Hiệu quả trước hết phải là một phạm trù kinh tế phản ánh khả năng, trình độ bảo
đảm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế đặt ra với mức chi phí thấp nhất Tuy nhiên kết
quả sản xuất chưa phải là hiệu quả sản xuất [32][34]
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh về mặt xã hội như: tạo công ăn việc
làm, tạo thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội trong cộng đồng, cải thiện đời sống
ở nông thôn, xoá đói giảm nghèo v.v Nói chung đó là một sự biến đổi về chất của
quá trình phát triển [8][34]
Thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, trong đó hiệu quả kinh
tế được xem là khái quát nhất
Có quan điểm cho rằng (quan điểm của Adam Smith): “Hiệu quả kinh doanh
là hiệu quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá” Quan
điểm này xem xét hiệu quả kinh doanh là doanh thu tiêu thụ hàng hoá, doanh thu là
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10chỉ tiêu duy nhất đánh giá hiệu quả kinh doanh Trên thực tế, quan niệm này không
phù hợp vì một doanh nghiệp không phải quan tâm tới doanh thu mà còn phải quan
tâm tới chi phí Nếu doanh nghiệp đạt được mức doanh thu cao nhưng chi phí bỏ ra
lại quá cao thì không thể coi doanh nghiệp đó đạt hiệu quả kinh doanh cao
Quan điểm khác lại cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần
tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” [32] Quan điểm này sử dụng
chỉ tiêu tương đối để phân tích và cho rằng để đạt hiệu quả phải sử dụng các chi phí
hợp lý nhất, giảm những chi phí không cần thiết Tuy vậy, chỉ tiêu này chỉ có ý
nghĩa so sánh với các kỳ kinh doanh trước mà không chỉ ra được hiệu quả kinh
doanh của chính kỳ kinh doanh hiện tại Cho nên quan điểm này chưa phản ánh
đúng bản chất của hiệu quả kinh doanh
Với bản chất của hiệu quả sản xuất trên đã phân tích, hiệu quả được xét trênhai phương diện:
+ Mặt chất: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực+ Mặt lượng: phản ánh mối tương quan của kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
CHay : Hiệu quả = Kết quả thu được – Chi phí bỏ ra
Trong đó: H: Hiệu quả ; K: Kết quả thu được; C: Chi phí bỏ ra.
Như vậy, có thể hiểu: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích thuđược từ các chi phí bỏ ra để tiến hành một quá trình sản xuất hay kinh doanh phù hợp
với mục đích đặt ra Hiệu quả cũng được phản ánh thông qua các kết quả đạt được
(sản phẩm đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) của một quá trình sản xuất
- Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn
+ Quan điểm thứ nhất: “Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp (người sản xuất) để đạt được kết quả
cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất” [18]
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, người ta sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau:
Đối với doanh nghiệp gồm các chỉ tiêu (quay vòng vốn, hiệu suất sử dụng vốn, mức
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11sinh lời bình quân của lao động, hiệu suất tiền lương, lợi nhuận trên 1 đồng vốn….),
đối với các hộ sản xuất thường sử dụng thu nhập hỗn hợp trên một đồng vốn, vòng
quay của vốn trong một chu kỳ sản xuất…
+ Quan điểm thứ hai: Hiệu quả sử dụng vốn là sự biểu hiện mối quan hệ giữa
kết quả lượng sản phẩm thu được với lượng vốn đã bỏ ra Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn biểu hiện ở mỗi đơn vị vốn bỏ ra nhận được kết quả lớn hơn hoặc với
lượng kết quả như thế nhưng cần một lượng vốn ít hơn trước Biểu hiện của nó
thông qua mối quan hệ của lượng sản phẩm thu được trên một đồng vốn bỏ ra
+ Hiệu quả sử dụng vốn chung: Phản ánh quan hệ giữa lượng giá trị sản
lượng, tổng thu nhập và thu nhập quốc dân thuần túy, thu nhập hỗn hợp, tổng giá trị
sản xuất, giá trị gia tăng so với nguồn vốn bỏ ra… Ngoài ra còn xem xét khía cạnh
phần tăng thêm của giá trị sản lượng, phần tăng thêm của thu nhập hỗn hợp, giá trị
sản xuất, giá trị gia tăng, phần tăng thêm giá trị sản lượng trên một đồng vốn bỏ ra
Hiệu quả so sánh là phản ánh hiệu quả của phương án này so với phương án khác,
giá trị sản lượng của một đồng vốn tạo ra của vùng này so với vùng khác, của từng
trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản, lâm nghiệp hoặc ngành nghề
sản xuất khác có sử dụng vốn vay của ngân hàng phụ thuộc vào tổng giá trị sản xuất
(GTSX) của giá trị sản phẩm tạo ra và giá trị sản phẩm đem tiêu dùng cho gia đình
Được biểu hiện đối với từng loại hình sản xuất, từng vùng và từng ngành nghề đầu
Trang 12Tổng giá trị sản xuất của các hộ nông dân có sử dụng vốn vay bao gồm: Sảnlượng sản xuất ra đem bán trực tiếp với giá bán trên thị trường Tổng GTSX là yếu
tố quyết định tỷ lệ thuận với thu nhập, có tổng GTSX thì mới có thu nhập, tổng
GTXS ngày càng cao thì thu nhập mang lại càng nhiều
+ Chi phí sản xuất của hộ (C): là toàn bộ chi phí bằng tiền của hộ để tiến hànhSXKD, bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp (TT) cộng với lãi tiền vay ngân hàng (i)
và khấu hao tài sản cố định (De): C = TT + i + De [40]
+ Chi phí trực tiếp (TT): là chi phí toàn bộ bằng tiền để phục vụ hoạt độngSXKD
+ i: lãi suất+ De: Khấu hao tài sản, dùng cho các tài sản có giá trị sử dụng trên 1 năm
Sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp (MI), chỉ tiêu này là điều kiện để tích lũytái sản xuất sức lao động của các hộ nông dân
Thu nhập của hộ nông dân được tích lũy từ các nguồn chính:
+ Trồng trọt+ Chăn nuôi+ Thủy hải sản+ Lâm nghiệp+.v.v…
Theo thống kê kinh tế, thu nhập có từ hộ gia đình thực chất là thu nhập hỗnhợp (MI – Mix Income), là một bộ phận của giá trị tăng thêm thuần sau khi đã trừ
đi thuế sản xuất, được biểu hiện mối quan hệ theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13Thu nhập hỗn hợp được xem là tổng thu nhập lao động của gia đình và lãi gộpsau khi đã nộp thuế sản xuất, được tính theo công thức như sau:
1.1.2 Cơ cấu nguồn vốn và phương thức huy động vốn của các hộ nông dân
1.1.2.1 Quan niệm hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân, đặc điểm và vai trò của
kinh tế hộ nông dân
- Quan điểm hộ nông dân
Hộ bao gồm tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà, cùng chunghuyết tộc và cùng làm chung, ăn chung Nói cách khác, hộ gồm những người sống
chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung, làm chung và có chung một ngân quỹ [40]
Hộ nông dân là hình thức kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, ra đời rất sớmtrong lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xã hội Kinh
tế hộ nông dân được nhiều tổ chức, cá nhân nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Dưới góc độ vai trò và đặc thù của hộ nhiều đại biểu tham dự Hội Thảo Quốc
tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), cho rằng, “Hộ là một đơn vị kinh
tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã
hội khác” Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là hộ nông dân, gắn liền với
canh tác nông nghiệp
Dưới góc độ sản xuất, nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889 - 1939), chorằng “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định”, HND là phương tiện tuyệt vời để
tăng trưởng và phát triển sản xuất nông nghiệp”
Ý kiến khác cho rằng, hộ nông dân chủ yếu sống theo từng thôn, làng và laođộng sản xuất trong nông nghiệp và phát triển nông thôn (NNo&PTNT) chủ yếu
bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản, lâm nghiệp…
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14Từ một số quan điểm trên, có thể hiểu hộ nông dân là một nhóm người cùnghuyết tộc hay không cùng huyết tộc liên hệ với nhau bằng hôn nhân hoặc huyết
thống, cùng chung sống trong một mái nhà, trong đó thu nhập từ nông nghiệp do lao
động sử dụng đất đai mang lại
- Đặc điểm của hộ nông dân
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế - xã hội ở nông thôn Hộ nông dân có quy
mô sản xuất nhỏ, vốn và ruộng đất ít, trang bị kỹ thuật lạc hậu chỉ cho phép sản xuất
ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng
hóa còn thấp
Hộ nông dân có doanh thu (lợi nhuận) thấp, phần lớn sản phẩm của họ bán rachỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất Vì vậy, mức độ tích lũy để mở rộng sản
xuất không đáng kể Các HND thường sản xuất độc canh, thuần nông, thời gian lao
động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra
được việc làm tại chỗ
Cơ cấu kinh tế HDN khá đa dạng theo nhiều ngành nghề khác nhau Tổ chứcphân công lao động trong hộ linh hoạt, vừa chuyên môn hóa lại vừa có khả năng
theo hướng kinh doanh tổng hợp Kinh tế HND vừa có tính ổn định tương đối cao
vừa có khả năng điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với thời tiết, nhu cầu xã hội và
diễn biến bất thường của mùa vụ hay thị trường
HND gắn với nông nghiệp và nông thôn, gặp nhiều khó khăn trong ứng dụngtiến bộ kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất và đời sống, đồng thời còn mang nhiều đặc
điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch
sử Những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (làng nghề truyền thống, văn
hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh…), vừa gây ra không ít trở
ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ nông dân
- Kinh tế hộ nông dân + Biểu hiện của kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế độc lập – tự chủ trong mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh nông nghiệp theo cơ chế thị trường Nguồn thu nhập mang lại chủ yếu là
từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản, lâm nghiệp…
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15Kinh tế hộ nông dân có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về mặt tài sản tàichính Những người chung sống trong một gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm với
sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên phải có nghĩa vụ đóng góp vào quá
trình xây dựng, phát triển của hộ và có trách nhiệm với kết quả sản xuất được Phần
lớn các thành viên trong gia đình nông dân cùng làm tất cả các công việc và tất cả
các khâu trong công việc nào đó
Theo giáo sư Frank Ellis (1988), trường Đại học Cambridge, đặc trưng đểphân biệt đơn vị kinh tế hộ gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trường biểu hiện ở các điểm sau đây [10]:
Thứ nhất là đất đai: Đặc điểm này phân biệt người nông dân và người lao
động không có đất đai hay công nhân đô thị Người nông dân với ruộng đất chính là
yếu tố hơn hẳn yếu tố khác vì giá trị của nó, nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống
của gia đình nông dân trước những thiên tai và là một bộ phận về vị trí xã hội của
gia đình trong phạm vi làng xã hay cộng đồng
Thứ hai là lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là đặc điểm
kinh tế nổi bật của người nông dân Nền sản xuất tư bản được xác định bởi việc làm
của người lao động được trả công và sự tước đoạt quyền sở hữu phương tiện sản
xuất của người lao động
Thứ ba là tiền vốn: Làm chủ vốn đầu tư và tích lũy là một đặc điểm chủ yếu
của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng
lợi nhuận Thiếu một phạm trù có hệ thống về tính toán tỷ lệ hoàn vốn làm tăng sự
phân biệt giữa gia đình nông dân với các xí nghiệp tư bản Giữa hộ nông dân không
có sự phân biệt giữa lợi nhuận từ doanh thu với tiền công lao động gia đình, điều
này đã làm nên bản chất hai mặt của sản xuất và tiêu dùng của hộ nông dân không
thể tách riêng được
Thứ tư là sự tiêu dùng: Có lẽ đặc trưng phổ biến nhất của người nông dân
được các nhà kinh tế xác định cuộc sống cơ bản của họ do tự cung tự cấp Có nghĩa
là sản phẩm trực tiếp làm ra để tiêu dùng chứ không phải để bán ra thị trường
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16+ Ưu thế của kinh tế hộ nông dân so với các loại hình kinh tế khác Một là, các thành viên trong hộ nông dân thống nhất với nhau về lợi ích Tất cả
mọi người đều tự giác tham gia lao động sản xuất ra nhiều chủng loại sản phẩm
nhằm tạo thu nhập cho hộ
Hai là, do tính ổn định của cơ cấu hộ là tài sản gắn với trách nhiệm với của các
thành viên cùng với sự hiểu biết đặc tính sử dụng từng loại tài sản của hộ nông dân
như ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất, càng giúp cho các thành viên trong hộ
nông dân biết giữ gìn, chăm sóc và sử dụng tài sản một cách tối ưu nhất
Ba là, HND là người quản lý hoạt động sản xuất đồng thời cũng là người trực
tiếp sản xuất nên hộ nông dân nắm bắt được thông tin kịp thời, nhanh nhạy từ đó
điều chỉnh có phương thức sử dụng hợp lý, kịp thời và hiệu quả
Bốn là, Các mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nông dân được giải quyết ổn
thỏa mà không cần có sự can thiệp của bên ngoài
Năm là, ưu thế của kinh tế hộ nông dân còn thể hiện ở tính đặc thù của sản
xuất nông nghiệp so với các ngành sản xuất khác Sản xuất nông nghiệp là ngành
sản xuất vật chất tạo ra sản phẩm thiết yếu cần thiết cho con người [37][40]
+ Vai trò của kinh tế hộ nông dân Thứ nhất, kinh tế hộ nông dân bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế và chính
hoạt động sản xuất kinh doanh của HND lại làm cho HND khác biệt với các đơn vị
sản xuất khác trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Kinh tế hộ nông dân
đóng vai trò là tiền đề và điều kiện cho sự phát triển
Thứ hai, kinh tế HND là đơn vị kinh tế - xã hội ở nông thôn, có thể sản xuất kinh
doanh độc lập hoặc tham gia các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết sản xuất nhằm
phát triển kinh tế hộ Hoạt động kinh tế của HND mang tính độc lập, tự chủ trong quá
trình sản xuất, có khả năng linh hoạt, động cơ trong việc chuyển hướng kinh doanh,
phù hợp với mùa vụ, điều kiện tự nhiên và nhu cầu của kinh tế thị trường
Thứ ba, kinh tế HND bao gồm toàn bộ tư liêu tiêu dùng bảo đảm cuộc sống
các thành viên trong gia đình và những tư liệu sản xuất hoặc vốn bằng tiền mà các
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17thành viên trong hộ sử dụng để đem lại thu nhập, trong đó có thu nhập từ hoạt động
kinh doanh nông nghiệp
Sự phát triển hay trì trệ của hộ nông dân ảnh hưởng lớn đến nhiều quốc giađang phát triển mà nông nghiệp đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân, “hình
ảnh” HND làm ăn phát đạt có thể được xem là hình mẫu tiêu biểu cho quá trình
chống những hậu quả tiêu cực của quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã hội
[37][40]
1.1.2.2 Nhu cầu vay vốn đối với hộ nông dân
Nguồn vốn đi vay của các hộ nông dân rất phong phú, đa dạng từ nhiều nguồnkhác nhau, dưới nhiều dạng khác nhau và các hình thức vay khác nhau Các nguồn
vốn cung cấp cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chủ yếu từ các tổ chức Chính
phủ, phi Chính phủ, các tổ chức từ thiện “xóa đói giảm nghèo” Tuy nhiên, để phát
triển sản xuất kinh tế hộ nông dân không thể trông chờ vào các nguồn vốn hỗ trợ, từ
thiện mà phải chủ động đi vay từ Ngân hàng chính sách, Ngân hàng nông nghiệp,
các tổ chức tín dụng nông thôn Nhu cầu vốn vay của các hộ nông dân là rất phong
phú được phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, học tập, sản xuất, kinh doanh…Nhu cầu
vay vốn cũng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, quy mô tái sản xuất, nhu cầu thị trường
của sản phẩm, tiềm năng tiêu dùng sản phẩm, lãi suất, thời hạn cho vay, công tác
phục vụ của người sở hữu vốn…
1.1.2.3 Cơ cấu nguồn vốn vay và phương thức huy động nguồn vốn vay của các
hộ nông dân
- Cơ cấu nguồn vốn vay
Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng,
để tiến hành đầu tư phát triển, nguồn vốn huy động chủ yếu từ hai nguồn: trong
nước và ngoài nước Tuy nhiên, ở mỗi nước có những định hướng, chiến lược và
quan điểm huy động nguồn vốn vay khác nhau, có những nước hoàn toàn dựa vào
“ngoại lực”, nhưng có những nước thì quyết tâm phát huy sức mạnh nội lực Nguồn
vay từ các hình thức sau:
+ Nguồn vay chủ yếu từ NHNo&PTNT và các tổ chức tín dụng nông thônĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18+ Từ các tổ chức khác, từ bạn bè+ Từ nguồn tiết kiệm của các hộ nông dân khác…
Đối với các tổ chức tín dụng cũng như các ngân hàng thương mại kinh doanhtiền tệ, nguồn vốn huy động để cho vay là từ tiết kiệm của các doanh nghiệp, của
dân cư, tiết kiệm từ các tổ chức, cá thể, đoàn thể nước ngoài gửi về nước và tiết
kiệm từ ngân sách của Chính phủ…
Ở Việt Nam nguồn huy động chính của các tổ chức tín dụng và ngân hàngkinh doanh tiền tiền tệ là:
+ Từ các khu vực doanh nghiệp có thu nhập cuối cùng đã vượt tiêu dùng, phầnvốn tiết kiệm của doanh nghiệp chiếm khoảng 20% thu nhập cuối cùng [2][7][19]
+ Tiết kiệm của dân cư, là phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của hộ giađình Thu nhập của dân cư được hình thành từ kết quả lao động sản xuất kinh doanh
dịch vụ của hộ gia đình, cá thể, thừa kế và các loại thu nhập bất thường khác mà
chưa sử dụng đến Theo tính toán của một số nhà kinh tế, khu vực hộ gia đình và
các tổ chức phi lợi nhuận (cá thể, kinh tế hộ gia đình, hiệp hội, các tổ chức xã hội
khác…) phần tiết kiệm đạt trên dưới 12% so với thu nhập cuối cùng [2][7][19]
Các khoản tiết kiệm này sẽ giúp cho người sản xuất có nhu cầu về vốn tiếp tụchuy động và đi vay từ các tổ chức này Điều này đã tạo nên dòng lưu thông tiền tệ
chuyển hóa từ người dư vốn đến người thiếu vốn mà công cụ trung gian để thực
hiện chức năng này là các tổ chức tín dụng và các ngân hàng thương mại Họ tiến
hành tái sản xuất mở rộng theo mục tiêu sản xuất hoặc được các tổ chức tín dụng,
ngân hàng huy động để cho vay trở lại đầu tư lĩnh vực nông nghiệp
- Phương thức huy động vốn phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
Hiện nay, lĩnh vực nông nghiệp đang được xem là lĩnh vực ảnh hưởng lớn đếnkinh tế - chính trị - xã hội của hầu hết các quốc gia đang phát triển Để có đủ vốn
sản xuất và kinh doanh, người nông dân phải huy động nguồn vốn thông qua thị
trường tài chính mà chủ yếu là thị trường tài chính ngắn hạn hay còn gọi là thị
trường tiền tệ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19Thông qua thị trường tài chính, các nguồn tiết kiệm được chuyển hóa thànhvốn đầu tư và phân bổ theo nguyên tắc thị trường (quan hệ cung – cầu tiền tệ) theo
phương thức huy động vốn
Thứ nhất, phương thức huy động của người nông dân, chuyển vốn tiết kiệm
vào ngân hàng khi nguồn vốn nhàn rỗi và huy động vốn từ ngân hàng khi cần đến
nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh Ngân hàng với tư cách là cầu nối trung gian
cho những nông dân thừa vốn và cần huy động vốn
Thứ hai, nông dân huy động vốn bằng cách bán các tài sản dự trữ không cần đến,
dư thừa (lương thực, thực phẩm) để lấy nguồn vốn phục vụ mục đích sản xuất trở lại…
1.1.3 Vai trò của vốn vay đối với kinh tế hộ nông dân
Các nhà kinh tế học từ cổ đại đến hiện đại đều khẳng định: Vốn là nhân tố cơbản của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
Khi nghiên cứu địa tô tư bản chủ nghĩa, C.Mác chỉ rõ vai trò của tư bản (vốn)trong quá trình phát triển nông nghiệp Người viết “… do những quy luật tự nhiên
chi phối trong nông nghiệp, nên việc canh tác đã đạt đến trình độ nhất định và khi
đất đã bị kiệt màu đi một cách tương ứng, thì tư bản trở thành yếu tố quyết định”
Ngày nay, khi nghiên cứu các nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất, các nhàkinh tế học hiện đại vẫn tiếp tục khẳng định, vốn là “chìa khóa” của tăng trưởng và
phát triển kinh tế Hai nhà kinh tế học R.F.Harrod (Anh) và E.Domar (Mỹ) đã lượng
hóa vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế, thông qua mô hình, Ông đã đưa ra
một hàm sản xuất giản đơn: g = s/k (g: tốc độ tăng trưởng kinh tế, s: tỷ lệ tiết
kiệm; k: hệ số vốn đầu tư) [13][15].
Mô hình khẳng định, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với đầu tư (tiếtkiệm) và tỷ lệ nghịch với hệ số vốn (ICOR) Do đó, để tăng trưởng, nền kinh tế cần
phải tiết kiệm đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trưởng, biệnpháp để tăng cường huy động vốn nhằm phát triển đẩy mạnh toàn diện nông – lâm –
ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các ngành, lĩnh vực tác động
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Vai trò của nhân tố vốn đối với phát triển nông
nghiệp ở nước ta hiện nay là rất lớn, thể hiện cụ thể ở các góc độ sau:
- Thứ nhất, vốn làm thay đổi kết cấu hạ tầng theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Kết cấu hạ tầng như công trình thủy lợi, công trình giao thông, bưu chính viễnthông, nhà xưởng, các công trình phục vụ công tác tiếp thị, nhằm mở rộng thị
trường nông sản hàng hóa phục vụ phát triển nông nghiệp Thực tế, nông nghiệp là
ngành chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên nên việc đầu tư kết cấu hạ tầng là
rất cần thiết để hạn chế rủi ro
- Thứ hai, vốn đầu tư cho khoa học công nghệ tạo ra động lực để phát triển
một nền nông nghiệp chất lượng cao và bền vững, gắn với môi trường sinh thái
Đầu tư khoa học công nghệ vào sản xuất cho phép người sản xuất thay đổiphương thức sản xuất, tăng năng suất sản xuất và năng suất lao động Khoa học –
công nghệ phát triển là nguyên nhân thay đổi căn bản nền nông nghiệp truyền thống
thành nền nông nghiệp hiện đại
- Thứ ba, vốn tác động vào hệ thống công nghiệp phục vụ sản xuất nông
nghiệp làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh nông nghiệp
- Thứ tư, huy động đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn sẽ thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hình thành và phát triển những vùng
chuyên canh, vùng kinh tế trọng điểm về nông nghiệp
Do thiếu vốn cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm chạp, trồng trọt chiếm tỷ trọngcao lại tập trung chủ yếu vào trồng lúa, chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất
chính, nghề rừng mới bắt đầu phát triển, dịch vụ nông nghiệp phát triển chưa thực
sự vững chắc…Nền nông nghiệp nước ta vẫn còn mang đậm nét cổ truyền và kém
hiệu quả
- Thứ năm, vốn là nhân tố không thể thiếu trong phát triển nguồn nhân lực
phục vụ nông nghiệp nói riêng, nông thôn nói chung, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21Nông nghiệp nông thôn là khu vực kinh tế có mức thu nhập bình quân đầungười thấp, có tỷ lệ nghèo đói cao hơn các khu vực khác, nhất là vùng sâu, vùng xa,
vùng núi
Vốn của hộ nông dân biểu hiện dưới dạng bằng tiền, tài sản và hiện vật Vốnđược hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các nguồn lực tài chính, nhân lực, tri
thức, tài sản vật chất và các quan hệ đã tích lũy được của cá nhân, hộ gia đình, tổ
chức, doanh nghiệp, quốc gia còn nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu là phần tiềm lực
tài chính – tiền tệ của cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, quốc gia…
Vốn được biểu hiện dưới dạng tiền mặt hoặc tài sản nguồn lực tham gia vàoquá trình sản xuất Vốn phân thành 2 loại: vốn cố định (biểu hiện bằng tiền của tài
sản cố định) và vốn lưu động (biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động)
Vốn của hộ gia đình biểu hiện toàn bộ tài sản có trong gia đình và lượng vốnđầu tư vào các hoạt động sản xuất nhưng sản phẩm đang dỡ dang (chưa hoàn thành
chu kỳ sản xuất) Quá trình sản xuất tạo ra lượng sản phẩm so với chi phí đầu tư, và
tỷ lệ này gọi là hiệu suất sử dụng vốn Tỷ lệ này càng cao thì số lượng sản phẩm tạo
ra trên một đồng vốn đầu tư càng nhiều và hiệu suất sử dụng vốn càng cao Điều
này cho ta nhận định rằng việc sử dụng vốn vào quá trình sản xuất có hiệu quả
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân
1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Trong các nhân tố về điều kiện tự nhiên thì mặt nước, nguồn lợi, khí hậu, thời tiết,địa lý v.v…ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trồng trọt, nuôi trồng và khai thác hải sản,
đây là điều kiện tiên quyết của sản xuất Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp là ngành kinh
tế sinh thái; các khâu của quá trình sản xuất đều gắn bó chặt chẽ với tự nhiên
Đất đai và thủy vực là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng lớn nhất, đây là yếu tốđầu vào không thể thay thế trong quá trình sản xuất nông – lâm – thủy sản Nông
nghiệp là một ngành sản xuất vật chất chịu tác động lớn của điều kiện tự nhiên, tuy
nhiên độ phù sa của đất đai và nguồn thủy vực thuận lợi sẽ tác động đến sản lượng
và thu nhập người nông dân Hiện nay đất đai trong sản xuất nông nghiệp đang dần
bị thu hẹp, thu nhập của hộ nông dân không chỉ từ trồng trọt, chăn nuôi hoặc từ lâm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22nghiệp, thủy sản mà từ rất nhiều nguồn khác nhau, ngoài một trong nhiều ngành
trên thì thu nhập còn phụ thuộc thủ công nghiệp, thợ xây, mộc, rèn, các ngành dịch
vụ khác…Vì thế, phát triển đa dạng ngành nghề phải có nguồn vốn đầu vào đủ lớn
1.1.4.2 Nguồn nhân lực
Lao động là nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ một ngành sản xuất nào.
Quy mô ngành sản xuất lớn hay nhỏ được biểu hiện một phần bởi số lượng và tỷ lệ
lao động tham gia sản xuất trong ngành đó Tuy nhiên ngành sản xuất đó phát triển
hay không, hiệu quả hay không còn chịu ảnh hưởng lớn của chất lượng lao động,
mà chất lượng nguồn lực biểu hiện ở trình độ sản xuất, kỹ thuật sản xuất và khả
năng gắn sản xuất với thị trường
Chất lượng nguồn lực: muốn nâng cao năng lực sản xuất khai thác hải sản mà
chỉ có kỹ thuật – công nghệ chưa đủ, mà còn cần phải phát triển một cách tương
ứng năng lực của con người để sử dụng những phương tiện đó Con người vừa là
mục đích vừa là động lực, là nhân tố trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội nói
chung và lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói riêng Nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
phát triển trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cần có kỹ năng nghề nghiệp, có kiến
thức khoa học công nghệ, am hiểu về thị trường và khả năng ký hợp đồng mua bán
sản phẩm Nước ta có lực lượng lao động dồi dào, lao động chủ yếu là thủ công giản
đơn Đặc biệt là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã ảnh hưởng lớn
trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách có hiệu quả trong khai thác đánh
bắt hải sản Chất lượng nguồn nhân lực là đòn bẩy cho trình độ kết hợp các yếu tố
đầu vào một cách hiệu quả, khả năng sử dụng vốn linh hoạt hơn
1.1.4.3 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
- Hệ thống giao thông, bến cảng, điện, nước, thông tin liên lạc + Giao thông, bến cảng: 33/34 xã, thị trấn có đường ô tô về tận trung tâm xã
và 22 tuyến đường liên xã trong đó bê tông và đổ nhựa hơn 25 km Huyện có 2 cảng
biển lớn (Hòn La, Cảng Gianh) và một số cảng biển nhỏ nằm ở vùng ven biển Tuy
nhiên, một số đường giao thông còn chắp vá và kém chất lượng, mới đưa vào sử
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23dụng đã bị hư hỏng do quá trình đầu tư xây dựng các đường liên xã vốn hạn hẹp cần
sự đóng góp của người dân địa phương nên chỉ làm theo khả năng nhằm đáp ứng
nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt và đời sống
+ Hệ thống điện: Hiện nay hệ thống điện đã về 100% các hộ gia đình, hệ
thống ngày càng được nâng cấp để tăng công suất phục vụ thường xuyên cho các hộ
gia đình, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên, đường điện đến các vùng còn
chắp vá gây tổn thất điện năng bình quân lớn từ 10,5% - 22% tổng công suất Vì
vậy, cần có lượng vốn cung ứng từ bên ngoài để thay dây cáp khắc phục được tình
trạng trên, đảm bảo sử dụng đầy đủ và tránh thất thoát về công suất điện năng
+ Hệ thống nước: Hiện thống nước sạch hiện nay chỉ cung cấp 57% các hộ
trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tập trung ở thị trấn Ba đồn và một số vùng lân cận
như Quảng Thuận, Quảng Long…Nhiều vùng được quy hoạch Thị xã vẫn chưa có
nước sạch Điều này cần có vốn để tiếp tục hoàn thiện hệ thống nước cho toàn địa
bàn vì ảnh hưởng đến đời sống, an toàn vệ sinh của người dân địa bàn Muốn cải
thiện vấn đề này, đòi hỏi phải có lượng vốn đủ lớn từ bên ngoài để thực hiện trang
bị lắp đặt hệ thống nước đảm bảo 100% hộ có nước sạch cho sinh hoạt
+ Mạng lưới thông tin liên lạc: Tuy là một huyện có tiền lực kinh tế của tỉnh,
các hệ thống thông tin được phủ sóng rộng lớn về không gian 2/3 địa bàn nhưng ở
một số vùng sâu, vùng xa phủ sóng rất yếu, khó khăn trong liên lạc và truy cập
thông tin đã ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận thông tin trong nước và quốc tế cũng
như thay đổi của thị trường sản phẩm
- Trang bị tư liệu sản xuất
Trong quá trình phát triển của lĩnh nông nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất đóngvai trò quan trọng Trong những năm qua đã có nhiều đổi mới, tuy nhiên đổi mới
chưa đồng bộ, điều kiện áp dụng khó khăn ảnh hưởng đến năng suất làm việc và
hoạt động của máy nên hiệu quả chưa cao (quỹ đất hẹp, cơ sở hạ tầng và giao thông
nông thôn kém…) thể hiện ở các nét chính sau:
Thúc đẩy nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, dưới tác động của KH –ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24CN, các yếu tố cấu thành sản xuất được cải biến và nâng cao Với công nghệ hiện
đại cho phép con người sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả hơn, khoa học, hợp lý
và hiệu suất cao đồng thời mở rộng khả năng khai thác nguồn tài nguyên tiềm ẩn
KH – CN làm biến đổi chất lượng nguồn lực theo hướng tiến bộ, cho phépthay một hay vài yếu tố đầu vào làm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp, lao động trí tuệ với công cụ cơ khí, tự động hóa làm cải thiện
điều kiện lao động, tăng hiệu lực quản lý.v.v…từ đó nâng cao năng suất, sản lượng
của quá trình sản xuất
Cách mạng KH – CN thúc đẩy tăng năng suất lao động và tiến bộ xã hội, KH– CN không chỉ là đối tượng công cụ sản xuất mà còn thể hiện phương pháp và
trình độ của người lao động Thay đổi khoa học – công nghệ do nhu cầu của thị
trường; do sự khan hiếm các nguồn lực sản xuất; do cạnh tranh về sản lượng, chất
lượng sản phẩm và dịch vụ hàng hóa là điều kiện tiên quyết để xác định khả năng
hội nhập vào thị trường nông sản thế giới
TLSX hiện nay, tuy đã được đổi mới và mở rộng phạm vi tiếp cận nhưng chưađồng bộ, hạn chế về khả năng sử dụng công nghệ, điều kiện sử dụng công nghệ
không phù hợp mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn
- Môi trường chính trị - xã hội
Để thúc đẩy phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn nhanh và bềnvững phải định hướng phát triển phù hợp và dựa trên môi trường chính trị - xã hội
và cơ sở pháp lý ổn định, phải có động lực trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích,
phải có hoạt động trật tự, kỷ cương và tạo được sự cân đối giữa các vùng, các lĩnh
vực Đặc biệt hiện nay công nghệ - kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đa dạng đòi hỏi
phải có lựa chọn thích hợp mà chỉ thông qua vai trò của Nhà nước như xây dựng
chiến lược, kế hoạch và xây dựng các chế độ chính sách
+ Giáo dục, y tế, bảo hiểm: Các cơ sở y tế được nâng cấp và hình thành các
trạm xá tại xã nhằm khám chữa bệnh kịp thời cho người dân, một số trường học
được thành lập mới đáp ứng nhu cầu dạy và học cho con em trên địa bàn huyện, đến
2008 đã có 3 trường Trung học phổ thông bán công và 2 trường học cho tiểu học
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Điều này, khẳng định nhu cầu giáo dục và đào tạo ngày càng lớn ở các bậc học, số
lượng học sinh và giáo viên được bổ sung ngày càng hoàn thiện và có chất lượng
Tuy nhiên, cùng với một số trường học dân lập hình thành thì cơ sở vật chất trang bị
cho trường học còn thiếu ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Vậy, cần có nguồn lực
vốn đầu vào nhằm nâng cao chất lượng và bổ sung cơ sở vật chất Bên cạnh đó, các
cơ sở y tế hình thành nhưng công cụ y tế còn thiếu, lạc hậu, có một số thời điểm còn
thiếu giường bệnh cho bệnh nhân
+ Tập quán sản xuất là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sản lượng và thu
nhập của người nông dân Do còn nhiều hạn chế trong vốn đầu tư sản xuất, chậm
đổi mới nên sử dụng nguồn lực còn lãng phí, người nông dân còn sử dụng sản xuất
theo phương thức “con trâu đi trước, cái cày đi sau”, không dám đầu tư, chậm tiến
bộ vì sợ rủi ro, ít am hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm…
1.1.4.4 Vốn đầu tư
Vốn là đầu vào trực tiếp được sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng vớicác yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm hàng hóa đầu ra Có thể hiểu nguồn
vốn, bao gồm vốn tự có của cơ sở sản xuất kinh doanh và vốn khác (vốn vay, vốn
cho mượn dưới hình thức bán sản phẩm…)
Vốn tồn tại dưới hai hình thức là vốn cố định và vốn lưu động Vốn cố định đểmáy móc thiết bị các tài sản có giá trị cao Vốn lưu động dùng để mua các nguyên
nhiên vật liệu đầu vào – các tài sản có thể thay đổi thất thường do thay đổi cơ cấu…
Nếu trong điều kiện năng suất lao động không đổi, việc tăng thêm vốn đầu tư
để sản xuất sẽ làm tăng thêm sản lượng và thu nhập hoặc trong khi tổng số lao động
không thay đổi, tăng vốn bình quân đầu người lao động cũng sẽ làm gia tăng sản
lượng Tất nhiên, trên thực tế sự biến thiên của yếu tố vốn không đơn giản như vậy,
vì nó không còn liên quan đến các yếu tố khác như lao động, kỹ thuật; hơn nữa tốc
độ tăng sản lượng còn phụ thuộc vào trang bị, cơ cấu vốn và trình độ quản lý vốn
Vốn đầu tư và khoa học công nghệ là các yếu tố đầu vào thúc đẩy quá trìnhsản xuất, tác động làm tăng sản lượng và thu nhập của người nông dân Sản xuất
nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26vốn và khoa học công nghệ chỉ có thể hạn chế tính thời vụ và hạn chế khả năng ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên Đầu tư vốn làm tăng các tài sản sản xuất như nguyên
vật liệu, công dụng cụ, máy móc thiết bị… cho phép mở rộng sản xuất, tăng sản
lượng và thu nhập Đầu tư vốn biểu hiện sự tăng lên của tài sản, nhờ thế quá trình
sản xuất được thúc đẩy, tăng sự mở rộng về quy mô, số lượng và chất lượng sản
phẩm, tăng khả năng chuyên môn hóa, mở rộng tiếp cận thị trường và phương thức
sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp
1.1.4.5 Tác động chính sách của nhà nước
Nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực nông nghiệp nông thôn hiệu quả và hướng
sử dụng nguồn lực một cách bền vững, thời gian qua Nhà nước đã có nhiều chính
sách vốn trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay vốn với lãi suất
ưu đãi, chiến lược phát triển mủi nhọn theo thời kỳ thông qua cho vay vốn để phát
triển nông - lâm - ngư nghiệp với một lượng vốn lớn mà không cần thế chấp Thực
hiện triển khai các chương trình dự án đào tạo nguồn nhân lực, kỹ thuật khuyến
nông – khuyến lâm – khuyến ngư…
+ Chính sách thị trường
Lĩnh vực sản xuất nông lâm ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tất yếuphải gắn với thị trường Thị trường là yếu tố xuyên suốt, không thể thiếu trong quá
trình sản xuất Nó vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sản xuất nói chung và sản
xuất nông nghiệp nói riêng Sự tác động của nhân tố thị trường đối với sản xuất
nông nghiệp sẽ làm thay đổi phương thức sản xuất, tăng NSLĐ, tăng tính cạnh tranh
và chất lượng sản phẩm thể hiện ở các khía cạnh sau:
* Thị trường là phạm trù kinh tế, được hình thành do nhu cầu phát triển củanền kinh tế hàng hóa, là nơi để cung và cầu trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hóa
Tham gia vào thị trường sẽ giải quyết một số vấn đề đặt ra trong sản xuất “sản xuất
cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?” Thông qua các chỉ số nhân tố như
quy mô, cơ cấu, chất lượng thị hiếu, giá cả mà nhu cầu có thể chấp nhận
* Thị trường là nơi hình thành các hệ thống thông tin cùng chiều và trái chiềucho người bán và người mua đó là: chủng loại sản phẩm, số lượng sản phẩm, giá cả,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27chất lượng và thị hiếu, tập quán tiêu dùng…giúp người bán và người mua điều
chỉnh hành vi của mình về sản phẩm
* Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chỉ đạt hiệu quả cao khi gắn với thị trường
Để thực hiện phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, thực hiện chiến lược sản xuất
thị trường thì đòi hỏi hỏi phải có lượng vốn lớn đáp ứng được nhu cầu cần thiết, cơ
bản cho người sản xuất
+ Chính sách kinh tế đối ngoại
Hiện nay, kinh tế đối ngoại được xem là nhóm nhân tố vĩ mô, là đòn bẩy pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại thực chất là tranh thủ mọi thời cơ, nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế
trong nước Thông qua cơ cấu kinh tế mở cho phép mỗi quốc gia khai thác và sử
dụng nguồn lực của mình một cách có hiệu quả nhất trên cơ sở phát huy tối đa lợi
thế so sánh; đồng thời tạo ra khả năng và điều kiện để các nước chậm phát triển
tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý của thế giới
Đối với nước ta, giá trị sức cạnh tranh hàng hóa nói chung và mặt hàng nôngsản, thủy sản nói chung vẫn còn hạn chế; do đó, ngoài định hướng các đường lối
chính sách đúng đắn thì phải có kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế để tranh thủ các
yếu tố sản xuất đầu vào từ các nước thực hiện chiến lược hàng hóa mủi nhọn ra thị
trường nước ngoài…Thông qua đối ngoại và tham gia thị trường thế giới sẽ là động
lực thúc đẩy khuyến khích hữu hiệu thay đổi phương thức sản xuất lạc hậu, áp dụng
tiến bộ mới về công nghệ khai thác và phương thức quản lý để cạnh tranh và tồn tại
trong nền kinh tế toàn cầu Đồng thời tranh thủ hỗ trợ và quan hệ thu hút nguồn vốn
bên ngoài vào đầu tư sản xuất Để thực hiện nền kinh tế mở, tranh thủ thị trường
tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài, trong điều kiện của nước ta cần phải có một nguồn
vốn lớn để hình thành những bước đi cơ bản, vững chắc
1.1.4.6 Các nhân tố liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn vay
Trang 28độ ẩm của các vùng đã ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
nhau, ngành nghề sản xuất hình thành là do lợi thế của từng vùng sản xuất, do điều
kiện tự nhiên của vùng
1.2 MÔ HÌNH SẢN XUẤT HÀM COBB – DOUGLAS VÀ HỆ THỐNG CHỈ
TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mô hình sản xuất hàm cobb – douglas
Phương pháp toán kinh tế, được sử dụng trong luận văn để phân tích các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nông dân thông qua hàm
cobb-douglas có dạng như sau:
i
u D D D D D D
e X X X X X X X X e
9 8 7 6 5 4 3 2
Trang 29i u
e X X X X X X X X e
9 8 7 6 5 4 3 2
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln Y
e e X X X X X X X X e
Y 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 3
9 8 7 6 5 4 3 2
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln Y
Ln( )12 ( 2)3 ( 3)4 ( 4)5 ( 5)6 ( 6)7 ( 8)9 ( 9)10 3
+ Mô hình 3: Hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến TNHH bình quân của các
hộ nông dân có tính đến mục đích sử dụng vốn vay
i u D D D
e e e e X X X X X X X X e
Y 1 2 3 4 5 6 7 8 9 11 4 12 5 13 6
9 8 7 6 5 4 3 2
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln X
Ln Y
Ln( )12 ( 2)3 ( 3)4 ( 4)5 ( 5)6 ( 6)7 ( 8)9 ( 9)11 412 513 6
+ Mô hình 4: Hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến TNHH bình quân của các
hộ nông dân có tính đến địa bàn sản xuất
i u D D
e e e X X X X X X X X e
Y 1 2 3 4 5 6 7 8 9 14 1 15 2
9 8 7 6 5 4 3 2
e X X X e
10 9 8
Ln X
Ln X
Ln Y
Số liệu được xử lý bằng excel và chương trình SPSS 10.0
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30Theo kinh nghiệm đánh giá của nhiều nghiên cứu về thu nhập của kinh tế hộgia đình qui mô nhỏ, để đánh giá thực chất, biến phụ thuộc phải là thu nhập hỗn hợp
của hộ gia đình (MI) chứ không phải là tổng giá trị sản xuất Điều này cho phép loại
bỏ được những sai sót trong phân tích
1.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
- Chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị sản xuất (GO) sản lượng sản xuất của hộ nông dân
- Chỉ tiêu phản ánh chi phí trung gian (IC) sản lượng sản xuất ra của hộ
- Chỉ tiêu phản ánh thu nhập hỗn hợp (MI) sản lượng sản xuất ra hộ nông dân
- Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm chung của hộ nông dân
- Chỉ tiêu phản ánh qui mô sử dụng nguồn lực lao động (L) của hộ nông dân
- Các chỉ tiêu đánh giá mức độ đầu tư vốn (K) của hộ nông dân
- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất (MI/Kb/q ; MI/ Lb/q ; MI/GO ; MI/CP)
- Các chỉ tiêu định tính có liên quan phù hợp khác của các hộ nông dân như:
+ Loại hộ (hộ thuần nông và kiêm nông)+ Địa bàn sản xuất (vùng núi, vùng bãi ngang, vùng đồng bằng và ven biển)
+ Mục đích sử dụng vốn vay cho sản xuất : (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản,
ngành nghề khác…)
1.3 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG VỐN VAY CÓ HIỆU QUẢ CỦA CÁC HỘ
NÔNG DÂN Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
- Kinh nghiệm của Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản đã khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn bằngcách thành lập các ngân hàng nông – công nghiệp ở địa phương Vào những năm
1960, Chính phủ Nhật Bản đã có chương trình cho vay để tăng đầu tư cho nông
nghiệp, cho vay để mua sắm tài sản, mở rộng đất trang trại, xây dựng cơ sở hạ tầng
Lãi suất cho vay phát triển nông nghiệp là lãi suất thấp, với thời gian vay dài hạn
Ngân hàng ở Nhật Bản đóng vai trò trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ khu
vực nông nghiệp và nông dân cho các thành phần sản xuất và kinh doanh nông
nghiệp vay
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31Nhật Bản đã xác định vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quantrọng, trong đó xác định ba nhân tố quan trọng trong phát triển và tăng trưởng kinh
tế (lao động, vốn, công nghệ), tuy nhiên để thực hiện đổi mới công nghệ phải có
vốn Nhật Bản đã có nhiều phương pháp huy động vốn bằng cách: khuyến khích tiết
kiệm là nguồn gốc của đầu tư, tăng thuế thu nhập và thuế sản xuất nhằm tăng ngân
sách…đồng thời tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, các hộ sử
dụng vốn sản xuất với tổ chức trung gian cung ứng vốn Vốn vận động đến đâu thì
có người của cơ quan tiền tệ ở đó, việc này đã làm cho đồng vốn ít rủi ro hơn mà
hiệu quả lại cao nhất Các nhà cung ứng vốn luôn nghiên cứu sao cho vừa đáp ứng
nhu cầu về vốn, nhưng hạn chế rủi ro và thiết lập mối quan hệ ràng buộc lâu dài với
khu vực sử dụng vốn.[1][33]
- Kinh nghiệm của Philipin
Hệ thống tín dụng chính thống cho nông nghiệp nông thôn ở philipin bao gồm:
các ngân hàng nông thôn, ngân hàng tiết kiệm, các ngân hàng thương mại và ngân
hàng của Chính phủ Ngân hàng nông thôn là tổ chức tín dụng chính thống nhất,
chuyên cung cấp tín dụng nông nghiệp nông thôn Chính phủ philipin đã có những
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn
Từ năm 1975, Chính phủ đã có các chỉ tiêu bắt buộc các ngân hàng thươngmại phải dành tối thiểu 25% cho vay ngân hàng nông nghiệp Từ năm 1986 trở lại
đây, Chính phủ philipin đã ban hàng chính sách tín dụng mới và thực hiện dưới sự
bảo trợ của Hội đồng chính sách nông nghiệp Nội dung chính sách này bao gồm:
Chấp nhận cơ chế thị trường tạo nguồn tài chính, thực hiện lãi suất thị trường, giảm
trợ cấp ưu tiên trong ngân hàng nông nghiệp, cung cấp các dịch vụ và thực hiện bảo
hiểm để giảm rủi ro khi thực hiện cho vay [1]
- Kinh nghiệm của Đài Loan
Nhờ có chiến lược phát triển kinh tế phù hợp, có biện pháp quản lý hiệu quả,trong đó chính sách tạo vốn và sử dụng vốn mà Đài Loan đã đạt được những thành
tựu kinh tế to lớn Về chính sách khôi phục kinh tế, chính sách đã huy động vốn
trong nước thông qua chế độ ưu đãi về lãi suất, kết hợp với thu hút nguồn viện trợ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32của Mỹ nhập khẩu thiết bị, kỹ thuật khôi phục các cơ sở công – nông nghiệp Chính
phủ đã tập trung kiểm soát khu vực tài chính tiền tệ thông qua các biện pháp
Nhà nước xác lập quyền sở hữu đại bộ phận các ngân hàng thương mại lớn vàcác ngân hàng Trung ương, giám sát chặt chẽ các hoạt động ngân hàng, không chế
các tổ chức ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán nhằm hạn
chế tính cạnh tranh giữa các ngân hàng trong và ngoài nước Chính phủ thực hiện
chính sách tiết kiệm chi tiêu tăng thu và cân bằng ngân sách , có cơ chế thuế hợp lý
Trong lĩnh vực nông nghiệp ưu tiên phát triển nông nghiệp làm cơ sở tiền đềcho phát triển cây công nghiệp Nông nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp Nhà
nước chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn , xây dựng đương sá, khu chế
biến nông sản tại chổ, các quan hệ thị trường xây dựng trên nguyên tắc cạnh tranh
tự do: giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông nghiệp và nông dân, giữa nông
dân với nông dân đã kích thích nông nghiệp phát triển mạnh [1][19]
1.3.2 Kinh nghiệm của một số đơn vị, địa phương trong nước
- Kinh nghiệm của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam
NHNo&PTNT Việt Nam có hơn 2.000 chi nhánh trong cả nước đã đạt tổng dư
nợ là 156.159 tỉ đồng năm 2005 Cả nước có 8,7 triệu hộ (70% số hộ nông dân) có
dư nợ gần 90 nghìn tỉ đồng (chiếm 58,2% tổng dư nợ), dư nợ bình quân 11 triệu
đồng/hộ, tăng hơn 10 lần so với 10 năm trước Hai khu vực sản xuất nông nghiệp
lớn của cả nước là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng dư nợ đạt
hơn 60 nghìn tỉ đồng, chiếm hơn 30% tổng dư nợ các vùng kinh tế
Thực hiện thành công chủ trương đưa ngân hàng tiếp cận sát dân, đáp ứng nhu cầu
vốn của các doanh nghiệp và hộ nông dân, NHNo & PTNT VN ngoài hơn 2000 chi
nhánh còn có hệ thống mạng lưới hơn 700 ngân hàng lưu động và hơn 200 nghìn tổ
nhóm vay vốn, tiết kiệm ở khắp mọi nơi từ đồng bằng đến miền rừng núi, hải đảo
NHNo&PTNT VN đã ban hành các chính sách cho vay, giải quyết thủ tục đơn giản,
giúp người dân được vay vốn thuận lợi Một số đối tượng không phải thế chấp tài
sản bao gồm hộ vay dưới 10 triệu đồng, hộ vay sản xuất trang trại dưới 30 triệu
đồng, hộ vay nuôi trồng thuỷ sản dưới 50 triệu đồng, HTX xuất khẩu nông sản tới
500 triệu đồng, hộ vay khắc phục dịch cúm gia cầm dưới 50 triệu đồng…[1][22]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33- Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước
+ Đồng bằng Sông Hồng
Từ những năm đầu của đổi mới, NHNo&PTNT đã xác định rõ: “Nông thôn làthị trường, nông nghiệp là đối tượng cho vay và nông dân là khách hàng để mở rộng
thị trường tín dụng của mình” Một khi người nông dân sử dụng vốn vay có hiệu
quả sẽ kích thích họ phát huy tối đa nội lực để làm giàu cho mình, cho xã hội Tiến
hành triển khai và thực hiện sâu rộng Quyết định 67/TTg của Thủ tướng Chính phủ
cùng với các văn bản hướng dẫn thực hiện Mở rộng tín dụng tới hộ sản xuất, cho
vay từ 10 triệu đồng, 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng không cần tài sản thế chấp với
sự trợ giúp đắc lực của các tổ chức xã hội (Hội nông dân, hội phụ nữ, Hội cựu chiến
binh…) đã không chỉ hạn chế được rủi ro tín dụng mà còn để đồng vốn đến đúng
địa chỉ, góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn phát triển nông nghiệp ĐBSH đạt được
những kết quả thể hiện ở chổ:
Có vốn đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiệnđại, chuyên môn hóa kết hợp với phát triển tổng hợp, thúc đẩy phương thức sản
xuất hàng hóa, áp dụng khoa học công nghệ cao trong sản xuất Từ năm 1996 –
2002 đạt 4,5% đến 4,7%/năm, nhiều trang trại nông – lâm – ngư được hình thành
theo hướng chuyên môn hóa, tạo việc làm, tăng quỹ thời gian làm việc (75%), thu
nhập của hộ nông dân tăng từ 5,6 triệu (1997) – 6,7 triệu/hộ (2001), giá trị sản xuất
tăng từ 20 triệu đồng/ha/năm (1993) lên 25 triệu đồng/ha/năm (2002) [19]
+ Quảng Nam
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT)Quảng Nam được thành lập ngay từ khi tái lập tỉnh Mười năm qua, chi nhánh đã có
nhiều nỗ lực, vượt qua khó khăn thử thách và đạt được kết quả đáng kể trong hoạt
động kinh doanh tiền tệ góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
địa phương; không ngừng nâng cao vai trò, vị thế của NHNo&PTNT Việt Nam trên
địa bàn Quảng Nam
Năm 2006, tổng nguồn vốn huy động chỉ vỏn vẹn có 125 tỷ đồng, không đápứng nhu cầu vay vốn của địa phương Năm 2006, tổng nguồn vốn huy động đạt
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 341.843 tỷ đồng, tăng gấp 14,7 lần so với khi thành lập Trong đó, nguồn vốn tiết
kiệm từ khu vực dân cư chiếm tỷ trọng 61,5% tổng nguồn vốn Nếu những năm
đầu, chi nhánh phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn điều hòa của ngân hàng cấp trên,
thì đến nay đã từng bước chủ động nguồn cho đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả
đầu tư vốn đối với các thành phần kinh tế trên địa bàn Có được kết quả đó là Chi
nhánh đã quan tâm đến những vấn đề sau:
Chi nhánh đã giữ vững thị trường truyền thống ở khu vực nông nghiệp, nôngthôn; thu hút khách hàng, mở rộng thị phần tín dụng, chú trọng đẩy mạnh hoạt động
tín dụng đến đối tượng kinh tế hộ, các doanh nghiệp, các HTX, khách hàng vay
phục vụ đời sống Đồng thời mở rộng cho vay phát triển ngành nghề nông thôn,
phát triển kinh tế du lịch, nuôi trồng thủy sản Qua đó, đã thiết lập quan hệ và đầu
tư vốn cho 209 doanh nghiệp và 174.222 hộ sản xuất, dư nợ hằng năm tăng lên
đáng kể Sử dụng đồng vốn vay từ chi nhánh, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng quy
mô sản xuất và hình thành nhiều trang trại chuyên môn hóa các lĩnh vực nông – lâm
– thủy sản, thu hút lao động, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng vào
việc khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo ra những chuyển biến tích cực trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cải thiện thu nhập
trong cư dân [23]
- Bài học kinh nghiệm từ nghiên cứu một số tín dụng nông nghiệp nông thôn
NNHo&PTNT là công cụ trung gian thúc đẩy tăng trưởng và phát triển lĩnhvực nông nghiệp nông thôn Những năm qua tín dụng Việt Nam đã có những bước
chuyển mạnh mẽ tác động đến lĩnh vực nông – lâm – thủy sản, làm thay đổi về kinh
tế - xã hội nông nghiệp nông thôn
+ Đối với các nước, để sử dụng vốn hiệu quả phải cung ứng đủ một lượng vốncho nền kinh tế, điều này đòi hỏi phải có nhiều phương thức huy động vốn mà chủ
yếu là phải khai thác từ tiết kiệm dân cư, mở rộng hệ thống và đối tượng chịu thuế
Ở Nhật Bản là một nước làm rất tốt công tác này Ở Việt Nam, vốn trong dân cư
còn khá lớn, do tỷ lệ lạm phát cao, chưa có môi trường thuận lợi để đầu tư nên còn
tâm lý cất trữ, quá trình tích tụ vốn ở các doanh nghiệp còn hạn chế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35+ Tỷ lệ động viên vốn trong nước còn thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu tăngtrưởng theo chiến lược đặt ra Hình thức tín dụng lãi suất ưu đãi làm phát sinh nhiều
“giá tín dụng” Vì vậy đối tượng được Nhà nước bảo lãnh, ưu đãi thường thua lỗ
+ Cơ chế đầu tư chậm thay đổi, đầu tư còn dàn trải, chưa thực sự tập trung vàongành mủi nhọn để tác động mạnh đến thay đổi cơ cấu kinh tế…
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN HUYỆN
QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Quảng Trạch nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Bình, trên toạ độ địa lý
1060 15’ - 1080 34’ kinh độ Đông và 170 42’ - 170 59’ vĩ độ Bắc Quảng Trạch là
huyện có diện tích tự nhiên rộng 613,885 km2, chiếm khoảng 7,7% diện tích toàn
tỉnh, mật độ dân số 338 người/km
Quảng Trạch nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ, trung điểm cách Hà Nội500Km, cách thành phố Đà Nẵng 300 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.200 km
Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Hà Tĩnh qua Đèo Ngang, phía Tây giáp huyện Tuyên
Hoá (Quảng Bình), phía Nam giáp huyện Bố Trạch (Quảng Bình), phía Đông là
biển với bờ biển dài 32,4 km
Huyện Quảng Trạch có thị trấn Ba Đồn là đô thị hình thành từ lâu trong nhữngnăm qua theo tiến trình đô thị hoá của cả tỉnh, cả nước Năm 2003 Thường vụ
huyện Uỷ đã có chủ trương và HĐND huyện khoá 16 đã có nghị quyết nâng cấp thị
trấn Ba Đồn thành đô thị loại 4, tiến tới xây dựng thành thị xã Ba Đồn
Quảng Trạch có đường sắt, Quốc lộ 1A chạy qua, Quốc lộ 12A đi qua cáchuyện Tuyên Hoá, Minh Hoá đến cửa khẩu Cha Lo nối với nước bạn Lào Các
tuyến trục giao thông ngang, dọc này nối liền với cảng biển sông Gianh, cảng nước
sâu Hòn La
Yếu tố vị trí như trên tạo điều kiện thuận lợi cho huyện thu hút đầu tư pháttriển sản xuất hàng hóa, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật, phát triển nhanh ngành
kinh tế mủi nhọn, sớm hoà nhập xu thế chung của cả tỉnh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37Bản đồ 2 1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Bình
2.1.1.2 Địa hình, đất đai và thổ nhưỡng
- Địa hình
Quảng Trạch là một huyện đồng bằng, nhưng có cả đồi núi và biển Phía Tây
và phía Bắc là đồi núi của dãy Trường Sơn ăn lan ra sát biển Giữa đồng bằng bị
chia cắt bởi các con sông và cát nội địa, với diện tích tập trung lớn nhất > 1.500 ha
Phía Đông là biển có các dụm cát kéo dài, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc
-Đông Nam
Địa hình dốc và quá trình xâm thực mạnh, nhiều dãy núi so le nhau, có nhiềusông suối và hai con sông lớn là Sông Roòn và Sông Gianh Địa hình có thể phân
chia thành ba vùng:
Vùng núi, đồi và trung du: Có độ cao từ 50 - 500 mét, độ dốc từ năm độ trở
lên, vùng này chiếm 65% diện tích tự nhiên và có tiềm năng sản xuất rất lớn
Vùng đồng bằng huyện Quảng Trạch: Chạy dài dọc phía tây quốc lộ 1A,
chiếm 25% diện tích toàn huyện nhiều đoạn bị chia cắt bởi cồn cát nội địa, sông
ngòi, trong đó đất nông nghiệp 7.500 ha Vùng này có tiềm năng trồng cây lương
thực (chủ yếu là lúa nước), rau, màu, chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm
Bản đồ huyện Quảng Trạch
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38Vùng ven biển: Có một dải đồng bằng hẹp nằm ở phía đông quốc lộ 1A, chịu
ảnh hưởng của dải cát ven biển như: cát chảy, cát lấp ven biển dải cát chạy dọc theo
biển có độ cao từ 2 - 10 mét so với mực nước biển, có tiềm năng trồng cây lương
thực, chăn nuôi bò, lợn, gia cầm, nuôi tôm, cá mặn lợ
Tóm lại, địa hình của huyện Quảng Trạch khá phong phú, đa dạng với sự tạohoá của thiên nhiên đã tạo nên nhiều cảnh quan đẹp, như: Khu vực Vũng Chùa Đảo
yến, Khu Hoành Sơn Quan và Đền Công Chúa Liễu Hạnh, các bãi tắm như: Thọ
Sơn (Quảng Đông) Quảng Xuân, Quảng Thọ là điều kiện để phát triển các loại
hình du lịch Vịnh Biển Hòn La có điều kiện thiết lập cảng nước sâu là điều kiện đa
dạng để phát triển theo hướng kết hợp giữa các loại hình sinh thái Mặt khác sự xuất
hiện của địa hình cồn cát là yếu tố bất lợi, gây nên nạn cát bay, cát chảy đặt ra vấn
đề môi trường cần có biện pháp giải quyết
- Đất đai
Toàn huyện có 46.299 ha đất đã được sử dụng vào các mục đích khác nhau,chiếm 75,5% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông lâm, ngư nghiệp
36.084 ha chiếm 58,9%; đất phi nông nghiệp là 10.215 ha chiếm 16,7%
+ Đất chưa sử dụng có 14.927 ha chiếm 24,4% Tuy nhiên diện tích đất chưa
sử dụng còn lớn, trong đó đồng bằng là 4.363 ha, đồi núi trọc là 9.425 ha, núi đá
không có rừng là 1.139 ha Đất đai ở huyện Quảng Trạch tương đối phong phú, đa
dạng, đất đồi núi có thể phát triển trồng rừng, trồng cây công nghiệp dài ngày, cây
ăn quả Đất chưa sử dụng phần lớn ở đồng bằng và ven biển, đây là vùng có mật độ
dân số cao, có cơ sở hạ tầng tương đối khá, do một số hạn chế như đất bị nhiễm
mặn, phèn, ngập lụt nên còn hạn chế trong việc sử dụng nguồn lực đất đai
+ Đất sản xuất nông nghiệp có 36.084 ha chiếm 77,94% tổng đất sử dụng, đấtphi nông nghiệp là 10.215 ha chiếm 22,06% trong đất đã sử dụng Tuy nhiên hệ số
sử dụng đất trồng trọt hàng năm mới đạt 1,65 lần, còn lảng phí cần đầu tư thích
đáng về thuỷ lợi và lao động, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí mùa vụ hợp lý để
tăng diện tích gieo trồng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 392.1.1.3 Tài nguyên rừng và đất rừng
Theo số liệu điều tra năm 2006 thì toàn huyện có trên 26.015,5 ha rừng, trong
đó rừng phòng hộ là 15.386,9 ha, rừng sản xuất là 10.628,6 ha (rừng tự nhiên sản
xuất là 2.246 ha, có trữ lượng 637.659 m3 gỗ) Rừng trồng sản xuất 8.382,6 ha với
trữ lượng gỗ 175.757 m3, đặc biệt có 4.029 ha thông nhựa đang thời kỳ khai thác
với trữ lượng gổ 143.642 m3, hàng năm khai thác 350 đến 400 tấn nhựa thông cung
cấp nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến Colôphan và sản phẩm sau côlôphan
(mực in, vécni, sơn bóng)
Xu thế diện tích rừng tự nhiên giảm Tuy vậy, diện tích đất trống đồi núi trọcvẫn còn nhiều, với tình trạng trên cần có phương thức khai thác đất đai, tài nguyên
rừng một cách hợp lý, gắn công tác bảo vệ rừng, chăm sóc rừng với giao đất, giao
rừng cho từng hộ dân, ổn định nơi ở và sản xuất cho nhân dân, có vậy mới bảo vệ
được tài nguyên rừng
2.1.1.4 Tài nguyên biển
Quảng Trạch có bờ biển dài 32,4 km, lãnh hải khoảng 6.584 km2, dọc theo bờbiển có hai cửa sông chính là Sông Gianh và sông Roòn, có vịnh nước sâu Hòn La
có nhiều lợi thế phát triển về vận tải biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, các dịch
vụ phục vụ cho nghề biển Vùng biển có một số ngư trường rộng hàng trăm hải lý
có nguồn hải sản phong phú, đa dạng, nhiều hải sản có giá trị cao như: tôm hùm
mực nang, mực ống các loại cá ngon như cá chim, cá thu và các loại hải sản khác
như mực, ốc, cua ghẹ có thể khai thác để xuất khẩu Ven bờ có nhiều địa điểm có
thể phát triển thủy hải sản, có nhiều bãi biển đẹp như Thọ Sơn (Quảng Đông),
Quảng Thọ, Quảng Xuân
Tuy nhiên, do trình độ khai thác thấp, vốn đầu tư có hạn, phương tiện đánh bắt
xa bờ còn ít, ngư lưới cụ còn thô sơ, vì vậy sản lượng khai thác hàng năm chỉ đạt
xấp xỉ 10.000 tấn Vì vậy cần đầu tư các phương tiện và ngư lưới cụ để khai thác tốt
nguồn tài nguyên biển phục vụ cho đời sống và xuất khẩu, có kế hoạch khai thác
hợp lý để bảo vệ nguồn lợi này
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 402.1.1.5 Nguồn tài nguyên khoáng sản
Quảng Trạch có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng
Theo số liệu điều tra hiện nay trong phạm vi huyện có những khoáng sản chủ yếu
như: Cát thuỷ tinh thạch anh trữ lượng khoảng 15-17 triệu tấn m3 (Ba Đồn, Quảng
Phương Quảng Hưng ); Mỏ đất sét 42.000.000 m3 (Quảng Châu, Quảng Tiến );
Đá vôi phốt pho rít ở Quảng Tiên; Mỏ vàng, sắt ở Quảng Hợp; Ti tan ở Quảng
Đông ; Than bùn Trữ lượng 250.000m3 (Quảng Hưng, Quảng Long) Ngoài ra còn
có các mỏ cát, sét xi măng, sét gạch ngói, cao lanh, sỏi, sạn, cát, đá phiến rải rác
trong toàn huyện Đây là những nguyên liệu phục vụ cho xây dựng và hình thành
các nhà máy sản xuất gốm sứ, gạch, ngói Cơ sở để giải quyết việc làm và nhu cầu
vật liệu xây dựng tại chổ của huyện
Tóm lại, những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên cho phép QuảngTrạch phát triển nền kinh tế Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp với nhiều sản
phẩm hàng hoá Điều kiện đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là
những giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục những tác hại,
thiên tai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân khai thác và phát triển
sản xuất nông nghiệp, đồng thời sử dụng nguồn lực vốn có hiệu quả
2.1.1.6 Tài nguyên nước
Quảng Trạch có nguồn nước mặt khá phong phú như hệ thống sông suối, hồ đậpnhiều, sông ngòi ngắn và dốc, có hai con sông đổ ra biển, lượng dòng chảy lớn nhất của
tỉnh là lưu vực sông Gianh (3 nhánh: Rào Nậy, Rào Son, Rào Nan) và Sông Roòn dòng
chảy chiếm 80% tổng lượng dòng chảy cả năm
+ Đối với mặt nước: Toàn huyện có 3 hồ chứa nước lớn có dung tích trên 35 triệu
m3 và 40 hồ đập nhỏ, có hệ thống trạm bơm điện Rào Nan và 26 trạm bơm điện nhỏ
phân bổ rải rác hàng năm phục vụ cho 9.500 ha lúa
+ Ven biển, ven sông có trên hàng trăm ha mặt nước ngọt, mặn, lợ có khảnăng phát triển nuôi trồng thuỷ sản Nguồn nước ngầm khá phong phú nhưng phân
bổ không đều
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ