Nguyễn Văn Bo, Kiều Tấn Nhựt, Lê Văn Bé và Ngô Ngọc Hưng 2016, Ảnh hưởng của các giai đoạn tưới mặn đến sinh trưởng và năng suất của 4 giống lúa trong điều kiện nhà lưới, Tạp chí khoa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Khoa học Cây trồng
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC LIỆT KÊ CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ
Các bài báo đăng trên tạp chí:
1 Nguyễn Văn Bo, Cao Nguyễn Nguyên Khanh, Lê Văn Bé, Nguyễn
Quốc Khương và Ngô Ngọc Hưng (2014), Ảnh hưởng của KNO3, brassinosteroid và CaO lên sinh trưởng của cây lúa dưới điều kiện
tưới mặn, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Nhà xuất
bản Đại học Cần Thơ Số chuyên đề: Nông nghiệp, tập 3/2014,
trang 15 - 22
2 Nguyễn Văn Bo, Kiều Tấn Nhựt, Lê Văn Bé và Ngô Ngọc Hưng
(2016), Ảnh hưởng của các giai đoạn tưới mặn đến sinh trưởng
và năng suất của 4 giống lúa trong điều kiện nhà lưới, Tạp chí
khoa học Trường Đại học Cần Thơ Nhà xuất bản Đại học Cần
Thơ Số chuyên đề: Nông nghiệp, tập 4/2016, trang 54 - 60
Trang 4CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xâm nhập mặn diễn biến ngày càng phức tạp tại các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Trà Vinh, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Từ năm 2013 - 2017, độ mặn trên các cửa sông
có xu hướng gia tăng và xâm nhập ngày càng sâu vào nội đồng Cụ thể, năm 2013-2016 có độ mặn trung bình dao động từ 14,4 - 20,5‰ trên các cửa sông, năm 2017 có độ mặn 16,2‰ (Trung tâm Khí tương Thủy văn Trung ương, 2016)
Diện tích lúa bị thiệt hại do xâm nhập mặn cũng tăng lên qua các năm
Vụ Mùa và Thu Đông năm 2015, có 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng suất, trong đó thiệt hại nặng khoảng 50.000 ha (Kiên Giang 34.000 ha, Sóc Trăng 6.300 ha, Bạc Liêu 5.800 ha,…) Vụ Đông Xuân 2015 - 2016, có 139.000 ha lúa bị ảnh hưởng nặng đến năng suất (Ban chỉ đạo Trung ương
về Phòng chống thiên tai, 2016)
Các tỉnh ven biển có diện tích lúa vụ Hè Thu thường phụ thuộc nước trời vào đầu vụ Gieo sạ vào khoảng cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 dương lịch là thời điểm lượng mưa còn thấp Cây lúa thường thiếu nước vào giai đoạn mạ
và đẻ nhánh Để cứu lúa, nông dân phải sử dụng nước lợ trong các kênh để tưới Có những năm độ mặn trong nước kênh không cao (< 2‰) thì ít ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây lúa Ngược lại, năm 2016 do xâm nhập mặn nặng và sâu nên độ mặn trong nước kênh cao thì cây lúa bị chết Theo Tanwar (2003), cây lúa có khả năng chịu được độ mặn với EC bằng 3,0 mS/cm trong đất và 2,0 mS/cm của nước tưới Hơn nữa, cây lúa có khả năng chịu mặn phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng Giai đoạn mạ, đẻ nhánh
và tượng khối sơ khởi thì rất mẫn cảm (Lauchli and Grattan, 2007) Ngược lại, giai đoạn trổ bông và chín thì cây lúa ít mẫn cảm hơn (Khan et al., 1997)
Một số nghiên cứu chứng tỏ sử dụng các chất như: CaO, KNO3, brassinolide, n-triacontanol,… giúp tăng cường tính chịu mặn, cải thiện tốt sinh trưởng cây lúa trong điều kiện bất lợi Bón vôi có chứa lượng Ca2+ cao giúp cải thiện hàm lượng Na+ trao đổi trên đất nhiễm mặn, vì Ca2+ có thể thay thế Na+ trao đổi trên phức hệ hấp thu (Makoi and Verplancke, 2010)
Mặt khác, cung cấp Ca2+ giúp giảm nhẹ ảnh hưởng bất lợi của Na+ trên cây
Trang 52
thì brassinolide cũng có vai trò quan trọng đối với khả năng chịu mặn
Anuradha and Rao (2003), cho rằng brassinolide loại bỏ ảnh hưởng của mặn
lên các sắc tố và kích thích sinh trưởng, thúc đẩy tích lũy proline trong cây
(Tania Das and Shukla, 2011) Ngoài ra, phun n-Triacontanol lúc tượng khối
sơ khởi cải thiện hiệu quả chiều cao cây, nồng độ đạm (N) trong lá cờ ở giai
đoạn trổ và vào chắc dẫn đến tăng năng suất hạt (Pandey et al., 2001) Sử
dụng n-triacontanol ở các liều lượng khác nhau đều làm tăng chiều dài bông,
số hạt chắc trên bông và năng suất hạt (Pal et al., 2009)
Đất nhiễm mặn ức chế sự phát triển của cây lúa do Na+ và Cl- cao làm giảm sự hấp thu NO3
(Greenway and Munns, 1980) Do đó, bón đạm N với
liều lượng hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với cây lúa ở điều kiện mặn
Theo Awan et al (2003), năng suất của giống lúa PB-95 đạt tối đa khi sử
dụng 120 kg N/ha trên đất mặn có ECe 4,72 mS/cm, sử dụng phân N liều lượng 137,5 kg/ha đạt được năng suất tối đa trên đất mặn có ECe 11,4
mS/cm (Mehdi et al., 2008) Để giúp cho cây lúa giảm thiệt hại do tưới nước
mặn, đề tài “Nghiên cứu biện pháp tưới nước mặn kết hợp bón đạm và
hỗ trợ dinh dưỡng để cải thiện sinh trưởng cây lúa trên đất nhiễm mặn”
được thực hiện
1.2 Mục tiêu của luận án
(i) Xác định giai đoạn cây lúa mẫn cảm nhất khi bị nhiễm mặn;
(ii) Khảo sát ảnh hưởng của dinh dưỡng bổ sung cải thiện sinh trưởng cây
lúa khi tưới mặn
1.3 Những đóng góp mới của luận án
Tưới nước nhiễm mặn cho cây lúa trong thực tế sản xuất lúa hiện nay là việc làm bắt buộc nhưng không mong muốn
Giai đoạn 10-20 NSKS là giai đoạn cây lúa mẫn cảm với mặn nhiều nhất Đây là giai đoạn lúa đẻ nhánh do đó mặn làm giảm số chồi, khả năng phục hồi của cây lúa chậm dẫn đến năng suất thấp
Trước khi tưới mặn cung cấp các chất CaO, KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide và Kumate kali để năng suất lúa không giảm hoặc giảm ít Đây
là tính mới và sáng tạo của đề tài
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 6KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide và Humate kali cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây lúa khi bị sốc mặn; Ca2+, K+, KNO3
hạn chế hấp thu Na+ và Cl- vào trong cây, giúp cân bằng dinh dưỡng, điều chỉnh thẩm thấu bên trong tế bào
-để gia tăng hút nước, tăng cường khả năng chống chịu mặn
* Ý nghĩa thực tiễn:
Cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa trước khi tưới nước nhiễm mặn là việclàm dễ thực hiện Có thể áp dụng được vào thực tiễn sản xuất giúp nông dân giảm thiểu rủi ro do mặn gây ra
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm 1 và 2 thực hiện tại nhà lưới của Bộ môn Khoa học đất, khoa
Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Thí nghiệm 3 được thực hiện ngoài đồng trên đất canh tác lúa ở ấp Phú Thứ, xã Phú Hữu, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Thí nghiệm 4 và 5 được thực hiện ngoài đồng tại ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
2.1.2.1 Vật liệu
Giống lúa: Pokkali (kháng mặn), IR 28 (nhiễm mặn), OM 5451 và IR
50404 Mẫu đất: Đất trồng lúa thí nghiệm 1 được thu thập tại ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Đất trồng lúa thí nghiệm 2 được
thu thập tại Ấp Phú Thứ, xã Phú Hữu, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Đất thí nghiệm nhà lưới lấy ở độ sâu từ 0 - 20 cm, phơi khô tự nhiên trong không khí, sau đó cho đất vào chậu với trọng lượng 5 kg đất/chậu Nước mặn: Sử dụng nước mặn tưới cho lúa ngoài đồng từ nguồn nước sông nhiễm mặn tại ấp 9, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
2.1.2.2 Dụng cụ
- Chậu trồng lúa: Chậu nhựa PVC màu đen, có đường kính 30 cm, chiều cao 35 cm
Trang 74
- Máy so màu: HITACHI-Polarized Zeeman 180-70
- Máy đọc ẩm độ (Riceter M411), cân điện tử Starius có độ chính xác 0,001 g, kính hiển vi Huỳnh quang Olympus
2.2 Phương pháp thí nghiệm
2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của các giai đoạn tưới mặn đến sinh
trưởng và năng suất của 4 giống lúa trong điều kiện nhà lưới
2.2.1.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên hai nhân tố Nhân tố A là bốn giai đoạn tưới mặn, nhân tố B là bốn loại giống Mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần, số đơn vị thí nghiệm là 80 chậu Đất thí nghiệm được ngâm nước 15 ngày thì tiến hành trồng lúa, mỗi chậu trồng 5 cây lúa giống OM5451 Các nghiệm thức này được trình bày ở Bảng 2.1
Bảng 2.1: Bố trí các nghiệm thức trong nhà lưới
Nghiệm thức tưới mặn 2 lần vào giai đoạn 10-20 NSKS và 45-60 NSKS là kết hợp của hai nghiệm thức tưới ở 2 thời điểm 10-20 NSKS và 45-60 NSKS
2.2.1.2 Chỉ tiêu theo dõi
Ghi nhận chiều cao cây và đếm số chồi lúc 20, 45, 60 NSKS; phân tích proline lúc 20, 50, 65 NSKS; quan sát sự hình thành suberin trong rễ lúa giai đoạn 20 NSKS Thu thập các chỉ tiêu thành phần năng suất và năng suất lúa
Chỉ tiêu hóa học đất: Đo ECe, pH và phân tích các chỉ tiêu đất cuối vụ
Trang 82.2.2Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của Canxi oxít (CaO), KNO 3 , Triacontanol, Brassinolide và HumateKali đến sinh trưởng và năng suất lúa nhà lưới trong điều kiện tưới mặn 4‰ NaCl vào giai đoạn 10-20 ngày sau khi sạ
n-2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố
có 9 nghiệm thức với 4 lần lập lại, mỗi lần lặp lại bằng 1 chậu, quan sát 3 cây/chậu, giống lúa thí nghiệm OM5451 Số đơn vị thí nghiệm là 36 chậu
(Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Các nghiệm thức trong thí nghiệm nhà lưới
Nghiệm thức Cách xử lý Liều lượng Nghiệm thức 1 Đối chứng (không xử lý)
Nghiệm thức 2 Phun KNO 3 10 g/lít
Nghiệm thức 3 Bón Humate Kali 60% 50 kg/ha Nghiệm thức 4 Bón Canxi oxít (CaO) 1 tấn/ha Nghiệm thức 5 Phun n-Triacontanol 0,825ppm Nghiệm thức 6 Phun n-Triacontanol gấp đôi 1,65 ppm Nghiệm thức 7 Bón Humate Kali 60%,
Phun n-Triacontanol gấp đôi
50 kg/ha 1,65 ppm Nghiệm thức 8 Bón Canxi oxít (CaO)
Phun n-Triacontanol gấp đôi
1 tấn/ha 1,65 ppm Nghiệm thức 9 Phun Brassinolide 1,6 g/lít
Tất cả lượng phân dạng bón (CaO và Humate Kali) được bón lót trước khi gieo lúa 3 ngày
Tưới nước ngọt bình thường cho đến 3 ngày trước khi tưới mặn đổ hết nước ngọt trong chậu ra, mặt đất trở nên khô (ẩm độ 60%) Tiến hành xử lý KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide theo các nghiệm thức trên trước khi tưới mặn 1 ngày Sau khi lúa được gieo10 ngày thì tưới mặn 4‰ NaCl pha sẵn, lượng nước tưới 1.000 ml/chậu Duy trì nước mặn trong thời gian 10 ngày sau đó tưới nước ngọt trở lại
2.2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi
Đất (đo pH, ECe); chiều cao cây, số chồi; phân tích nồng độ proline; thu thập các thành phần năng suất và năng suất lúa
Trang 96
2.2.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của Canxi oxít (CaO), KNO 3 , Triacontanol, Brassinolide và Humate Kali đến sinh trưởng và năng suất lúa tưới mặn 4‰ NaCl trong điều kiện ngoài đồng tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
n-2.2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, có 21 đơn vị thí nghiệm Diện tích mỗi lô thí nghiệm là 4 m x 8 m = 32 m2 (Bảng 2.3)
Bảng 2.3: Các nghiệm thức trong thí nghiệm ngoài đồng
Nghiệm thức Cách xử lý Liều lượng Nghiệm thức 1 Đối chứng (không xử lý)
Nghiệm thức 2 Phun KNO 3 10 g/lít
Nghiệm thức 3 Bón Humate Kali 60%, 50 kg/ha Nghiệm thức 4 Bón vôi đá (CaO) 1 tấn/ha Nghiệm thức 5 Phun n-Triacontanol 0,825ppm Nghiệm thức 6 Bón oxit canxi (CaO)
Phun n-Triacontanol gấp đôi
1 tấn/ha 1,65 ppm Nghiệm thức 7 Phun Brassinolide 1,6 g/lít
Chọn đất ruộng bị xâm nhập mặn thường xuyên trong mùa khô tại ấp Phú Thứ, xã Phú Hữu, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng để bố trí thí nghiệm Thí nghiệm sử dụng giống lúa OM5451, lượng giống gieo sạ 120 kg/ha
Tất cả lượng phân bón (CaO và Humate Kali) bón lót trước khi sạ 3 ngày Tưới nước ngọt bình thường cho đến 3 ngày trước khi tưới mặn thì rút khô nước trong ruộng, lúc này đất trở nên khô nứt (ẩm độ 60%) Tiến hành
xử lý KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide trước khi tưới mặn 1 ngày theo các nghiệm thức trên Sau khi lúa được gieo10 ngày thì tưới mặn 4‰ NaCl, duy trì nước mặn trong thời gian 10 ngày sau đó tưới nước ngọt trở lại
2.2.3.2 Chỉ tiêu theo dõi
Đất (đo pH, ECe); chiều cao cây, số chồi; phân tích nồng độ proline sau khi ngưng tưới nước mặn10 ngày; thu thập các chỉ tiêu thành phần năng suất
và năng suất lúa
2.2.4 Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của Canxi oxít (CaO), KNO 3 , Triacontanol, Brassinolide và Humate Kali đến sinh trưởng và năng suất lúa trên đất nhiễm mặn tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang 2.2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Trang 10n-Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân
tố, 9 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, số đơn vị thí nghiệm bằng 36 ô Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 4 m x 8 m = 32 m2, diện tích của toàn khu thí nghiệm 1.500 m2 (Bảng 2.4) Thí nghiệm sử dụng giống lúa OM5451, lượng giống
gieo sạ 120 kg/ha
Bảng 2.4: Các nghiệm thức trong thí nghiệm
Nghiệm thức Cách xử lý Liều lượng
Nghiệm thức 1 Đối chứng (Không xử lý)
Nghiệm thức 2 PhunKNO 3 10 g/lít nước Nghiệm thức 3 Phun Brassinolide 1,6 g/lít nước Nghiệm thức 4 Bón CaO 1 tấn/ha
Nghiệm thức 5 Phun n-Triacontanol 0,825ppm
Nghiệm thức 6 Bón CaO
Phun KNO 3
1 tấn/ha
10 g/lít nước Nghiệm thức 7 Bón CaO
Phun Brassinolide
1 tấn/ha 1,6 g/lít nước Nghiệm thức 8 Bón CaO
Phun KNO 3
Phun Brassinolide
1 tấn/ha
10 g/lít nước 1,6 g/lít nước Nghiệm thức 9 Bón Humate Kali 50 kg/ha
Trong đó, các chất dạng phun KNO3, n-Triacontanol, Brassinolide phun 2 lần vào 4 và 15 ngày sau khi sạ (xử lý trước khi tưới mặn 1 ngày), phun ướt đều lên toàn bộ lá lúa Các chất dạng bón CaO và Humate Kali bón lót đầu
vụ lúc 3 ngày trước khi sạ
3.2.4.2 Chỉ tiêu theo dõi
Ghi nhận chiều cao cây và đếm số chồi lúc 20, 45, 65 NSKS và khi thu hoạch Phân tích nồng độ proline vào lúc 20, 50, 65 NSKS Phân tích proline
theo phương pháp Ninhydrin reagent của Bates et al (1973)
Thu thập chỉ tiêu các thành phần năng suất và năng suất lúa thực tế (mẫu)
2.2.5 Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và chế độ tưới lên sinh trưởng và năng suất lúa trên đất nhiễm mặn tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
2.2.5.1 Bố trí thí nghiệm
Trang 118
Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng theo thể thức lô phụ với hai nhân tố
Có tất cả 9 nghiệm thức với 4 lần lặp lại, mỗi lặp lại là một ô có diện tích 32
m2 Số đơn vị thí nghiệm là 36 ô, diện tích của toàn khu thí nghiệm 1.500 m2
(Bảng 2.5) Giống lúa OM5451 được sử dụng trong thí nghiệm
Bảng 2.5: Mô tả các nghiệm thức trong thí nghiệm
Liều lượng
phân đạm
(kg/ha)
Mực nước ruộng Khô-tưới ngập 5
cm
Khô nứt chân chim-tưới ngập 5 cm
Giữ ngập liên tục sâu 5 cm
2.2.5.2 Chỉ tiêu theo dõi
Đất (đo ECe, pH); nước (đo EC, pH); chiều cao cây, số chồi; thu thập chỉ tiêu các thành phần năng suất và năng suất lúa
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Đánh giá kết quả thông qua xử lý số liệu bằng Microsoft Excel và phân tích thống kê với kiểm định DUNCAN bằng phần mềm xử lý thống
kê SPSS
Trang 12CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của các giai đoạn tưới mặn đến sinh trưởng và năng suất của 4 giống lúa trong điều kiện nhà lưới
3.1.1 Độ dẫn điện trong đất qua các giai đoạn tưới mặn
Độ dẫn điện qua các giai đoạn tưới mặn thể hiện ở Bảng 3.1 cho thấy có khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1% giữa nghiệm thức tưới mặn một lần, tưới hai lần so với đối chứng Trị số ECe trung bình trong trường hợp tưới mặn 2 lần (10-20 và 45-60 NSKS) cao hơn có ý nghĩa so với các trường hợp còn lại và cao gấp 2,6 lần so với đối chứng
Bảng 3.1: Độ dẫn điện (mS/cm) của đất qua các giai đoạn tưới mặn
Nghiệm thức tưới
Thời gian sinh trưởng (NSKS)
Trung bình
20 45 60 Thu
hoạch Không tưới mặn 1,54b 1,39c 1,31d 1,76d 1,50c10-20 NSKS 2,51a 2,45b 1,91c 2,64c 2,38b45-60 NSKS 1,57b 1,43c 4,46b 3,83b 2,82b10-20 và 45-60 NSKS 2,57a 2,64a 5,35a 5,21a 3,94a
Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt không có ý
nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan, (**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%
3.1.2 Mặn ảnh hưởng lên các thành phần năng suất và năng suất lúa 3.1.2.1 Số bông/chậu
Số bông/chậu khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Bảng 3.2) giữa các giai đoạn tưới khác nhau Số bông đạt thấp nhất khi tưới mặn 2 lần lúc 10-20 và 45-60 NSKS (12 bông/chậu) và thấp hơn các trường hợp khác từ 6 đến 16 bông/chậu Ngoài ra, các giống lúa có số bông/chậu với khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Số bông đạt cao nhất là ở giống lúa Pokkali và OM 5451 (22 bông/chậu) và thấp nhất là ở giống lúa IR 28 (18 bông/chậu) Những cây lúa phát triển kém thì chết đi hoặc không có
khả năng hình thành bông lúa Theo Hasamuzzaman et al (2009), số
bông giảm có ý nghĩa ở mức độ mặn 15 mS/cm do giảm tích lũy chất
đồng hóa trong các cơ quan sinh sản
Trang 13Trọng lượng 1.000 hạt (g)
Khối lượng hạt (g/chậu)
Ghi chú: Các số trong cùng một cột có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt không có ý
nghĩa thống kê khi dùng phép kiểm định Duncan, (**): khác biệt có ý nghĩa thống kê 1%
3.1.2.2 Số hạt chắc/bông
Cây lúa nhiễm mặn ở các giai đoạn khác nhau làm cho số hạt chắc/bông dao động từ 29,1-64,2 hạt giữa các nghiệm thức và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Bảng 3.2) Không tưới mặn, tưới ở giai đoạn 45-60 NSKS đạt được số hạt chắc/bông cao hơn so với tưới 1 lần lúc 10-20 NSKS
và tưới 2 lần lúc 10-20 và 45-60 NSKS Hơn nữa, giống lúa chịu mặn có số hạt chắc cao hơn so với các giống nhiễm mặn Ngoài ra, số hạt chắc/bông cũng bị ảnh hưởng bởi sự tác động giữa giống lúa và giai đoạn tưới mặn
khác nhau Theo kết quả của Zaibunnisa et al (2002), số hạt chắc/bông bị
giảm đáng kể ở nồng độ 5‰
3.1.2.3 Trọng lượng 1.000 hạt (g)
Trọng lượng 1.000 hạt thay đổi có ý nghĩa dưới ảnh hưởng của cách xử lý mặn và giống lúa Trọng lượng 1.000 hạt dao động từ 16,5-21,9 g và khác