nhưng sau năm 2018 khi sản phẩm sữa các nước New Zealand và Australia vào thị trường với mức thuế suất bằng 0 chắc chắn ảnh hưởng đến thị trường sữa và DN sản xuất sữa trong nước Như vậy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
NGUYỄN HẢI YẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM SỮA NƯỚC CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng công bố Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng đánh giá khoa học của Trường Đại học Lâm nghiệp về công trình và kết quả nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hải Yến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Một tác phẩm hoàn thành, không thể không kể đến những đóng góp ý kiến, sự giúp đỡ dù là nhỏ nhất nhằm hoàn thiện nó Để hoàn thành luận văn, tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của rất nhiều người
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Thị Thu
Hà về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến định hướng, đóng góp quý báu của cô để luận văn được hoàn thành tốt
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn bè công tác tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam về những ý kiến góp ý bổ trợ cho luận văn, đặc biệt là cung cấp các số liệu thống kê phục vụ việc phân tích, đánh giá trong luận văn
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên mặc dù có cố gắng xong luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của thầy, cô để luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan………i
Lời cảm ơn………ii
Mục lục………iii
Danh mục các từ viết tắt……… ….v
Danh mục các bảng……… vi
Danh mục các biểu đồ hình vẽ………vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANHCỦA SẢN PHẨM 4
1.1.Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm 4
1.1.1.Khái niệm 4
1.1.2.Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm 11
1.1.3.Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 20
1.2.Cơ sở thực tiễn về tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm 23
1.2.1.Đặc điểm của sản phẩm sữa nước 23
1.2.2.Thị trường hội nhập thay đổi cung cầu của sản phẩm sữa nước 27
1.3.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.31 2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần sữa Việt Nam và thị trường sữa
nước Việt Nam 31
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển 31
2.1.2.Tình hình sản xuất và hoạt động kinh doanh 34
2.1.3.Tình hình thị trường sữa nước Việt Nam 36
2.1.4.Tình hình đối thủ cạnh tranh chính 38
2.2.Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1.Phương pháp thu thập số liệu 40
2.2.2.Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 40
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa
nước của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 42
3.1.1.Yếu tố bên ngoài 61
3.1.2.Yếu tố bên trong 64
3.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa nước Công ty Cổ phần
sữa Việt Nam 42
3.2.1.Chất lượng sản phẩm 42
3.2.2.Tính đa dạng 44
3.2.3.Bao bì, hình thức 45
3.2.4.Mạng lưới phân phối 47
3.2.5.Sức mạnh thương hiệu 50
3.2.6.Giá cả 55
3.2.7.Phương thức quảng bá sản phẩm 56
3.3.Năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa nước của Vinamilk 68
3.3.1.Thành công và nguyên nhân 68
3.3.2.Hạn chế và nguyên nhân 70
3.4.Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sửa nước của Vinamilk.72 3.4.1 Cơ hội và thách thức cho hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa nước của Vinamilk 72
3.4.2.Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam 77
3.4.3 Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AANZFTA: Hiệp định thương mại tự do ASEAN
ALPRO: Hệ thống sản phẩm các dung dịch sát khuẩn và
khử trùng CAGR: Tỷ lệ tăng trưởng lũy kế hàng năm DN: Doanh nghiệp
DUTCH LADY: Công ty liên doanh Friesland Campina Việt Nam
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HACCP: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm
tới hạn ISO: Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế NLCT: Năng lực cạnh tranh
TH TRUE MILK: Công ty Cổ phần Chuỗi Thực phẩm TH
TMR: Khẩu phần trộn tổng hợp Total Mixed Ration TPP: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TVC: Quảng cáo trên truyền hình
UHT: Công nghệ sản xuất sữa tiệt trùng USD: Đô la Mỹ
VINAMILK: Công ty cổ phần sữa Việt Nam
WEF: Diễn đàn Kinh tế thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu lý hóa của sữa tươi tiệt trùng 24 Bảng 1.2 Chỉ tiêu lý hóa của sữa tươi thanh trùng 25 Bảng 1.3 Chỉ tiêu lý hóa của sữa hoàn nguyên tiệt trùng 26 Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận 2014-2015 34 Bảng 2.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Vinamilk 2014-2015 34
Bảng 3.2 Bảng giá các sản phẩm sữa nước T12/2016 56 Bảng 3.3 Quảng cáo thành công nhất kênh truyền hình Việt Nam 57 Bảng 3.4 Quy hoạch phát triển sản xuất các sản phẩm sữa 2015 – 2020 74
Bảng 3.6 So sánh thành phần dinh dưỡng của sữa bò và sữa dê 83
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1.1 Quy trình sản xuất sữa tươi thanh trùng 25
Sơ đồ 1.2 Quy trình sản xuất sữa hoàn nguyên tiệt trùng 26
Sơ đồ 3.1 Mô hình hệ thống phân phối sản phẩm của Vinamilk 47
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ doanh thu từ bán hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước 35 Biểu đồ 3.1 Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu 52 Biểu đồ 3.2 Thị phần sữa tiệt trùng của Vinamilk năm 2016 53 Biểu đồ 3.3 Thị phần sữa thanh trùng của Vinamilk năm 2016 53 Biểu đồ 3.4 Đo lường mức độ trung thành sử dụng sữa nước 54 Biểu đồ 3.5 Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm 61 Biểu đồ 3.6 Mức độ tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam 64
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ học vấn 66
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Sữa tươi được xem là thực phẩm rất dinh dưỡng, giàu vitamin và khoáng chất từ thiên nhiên, rất tốt cho cơ thể Thông thường một người trưởng thành cần khoảng 1.200-1.300mg canxi/ngày tương đương 3 ly sữa tươi mỗi ngày Tại Việt Nam, mức tiêu thụ sữa hàng năm vẫn còn rất ít so với khu vực khoảng 8 -10 lít sữa/người, thấp hơn rất nhiều so với Thái Lan khoảng 40 lít/người hay Malaysia là 60 lít/người Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, với xu thế cải thiện sức khỏe và tầm vóc của người Việt Nam, nhu cầu sử dụng sữa tại Việt Nam tăng lên đáng kể
Theo Thống kê từ Hiệp hội Thức ăn gia súc Việt Nam, nhu cầu sữa tươi nguyên liệu tăng khoảng 61%, từ 500 triệu lít (năm 2010) lên đến 805 triệu lít (năm 2015) Với mức tăng dân số cao khoảng 1.2%/năm, Việt Nam hiện vẫn
là thị trường tiềm năng và là mục tiêu đầu tư của các DN sản xuất sữa nội địa đặc biệt trong mảng sữa nước khi mà 75% thị phần mảng sữa bột thuộc về các
DN ngoại
Hơn 30 năm phát triển, với chất lượng sữa đảm bảo, đa dạng về hình thức và chủng loại cùng với thương hiệu uy tín lâu năm, Công ty Cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk hiện chiếm 49% thị phần, dẫn đầu thị trường sữa nước tại Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, sự lớn mạnh của các đối thủ chính như Dutch Lady, TH true MILK đặc biệt là sự kết hợp giữa Hoàng Anh Gia Lai và Nutifood đang làm cho việc cạnh tranh trong thị trường sữa nước càng trở nên gay gắt
Bên cạnh đó, Việt Nam vừa gia nhập hội nghị TPP với nhiều cơ hội tăng lợi thế cạnh tranh trong việc tiếp cận các thị trường lớn nhưng đồng thời cũng là thách thức cho thị trường nội địa khi phải cạnh tranh khốc liệt hơn với các DN nước ngoài Ngay thời điểm này, khó có thể thấy tác động TPP,
Trang 10nhưng sau năm 2018 khi sản phẩm sữa các nước New Zealand và Australia vào thị trường với mức thuế suất bằng 0 chắc chắn ảnh hưởng đến thị trường sữa và DN sản xuất sữa trong nước
Như vậy, để tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu và phát triển bền vững trong tương lai, Vinamilk cần phải đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa nước của mình trong thời gian qua và đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm này trên cơ sở xác định đúng mục tiêu và
chiến lược đến năm 2020 Từ nhận định trên, tôi lựa chọn đề tài “Năng lực
cạnh tranh sản phẩm sữa nước của ng t p n sữa V t Nam” làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Lâm nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Luận văn được thực hiện với mục tiêu chung nhằm góp phần nâng cao NLCT của sản phẩm sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT của sản phẩm;
- Phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến NLCT hiện tại của sản phẩm sữa nước tại Công ty Cổ phần sữa Việt Nam;
- Đánh giá NLCT của sản phẩm sữa nước của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam dựa trên các tiêu chí đã lựa chọn;
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao NLCT sản phẩm sữa nước của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là NLCT của sản phẩm sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam với điển hình là hai loại sản phẩm sữa tiệt trùng các loại
và sữa thanh trùng các loại
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 11- Về nội dung: luận văn nghiên cứu về NLCT của sản phẩm sữa nước,
có nhiều chỉ tiêu để đánh giá NLCT của sản phẩm sữa nước nhưng do giới hạn thời gian nghiên cứu nên tác giả sẽ lựa chọn những tiêu chí chính để đánh giá bao gồm chất lượng, mức độ đa dạng, bao bì, hình thức, thương hiệu, giá
cả, phương thức quảng bá sản phẩm, mạng lưới phân phối
- Về không gian: luận văn giới hạn việc nghiên cứu phân tích và đánh giá NLCT sản phẩm sữa nước tại thị trường Việt Nam nói chung, không xét đến sự cạnh tranh giữa các tình thành
- Về thời gian: bắt đầu nghiên cứu phân tích số liệu của công ty từ năm
2010 đến năm 2015 nhằm thấy rõ NLCT hiện tại của sản phẩm sữa nước và đưa ra định hướng cho đến năm 2020
4 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục bảng biểu, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 phần chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM 1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Các Mác nhận định “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch (Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng và Lê Danh Tốn, 2007, tr.49) Như vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ làm gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy các chủ thể phải tự tạo cho mình lợi thế riêng để tối đa hoá lợi nhuận
Theo từ điển kinh doanh của Anh (1992) thì cạnh tranh được xem là
“sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng
về phía mình” (Lê Danh Vĩ nh, 2010, tr.11) Ở đây, khác với nhận định của Các Mác, cạnh tranh được nhìn nhận dưới góc độ sở hữu tài nguyên sản xuất
và thu hút khách hàng hay nói cách khác, mục tiêu cạnh tranh của các chủ thể
đã có định hướng khách hàng
Theo Michael Porter (2008, tr.6) cạnh tranh chính là việc giành lấy thị trường
Trang 13Tại Việt Nam, một số nhà khoa học cho rằng cạnh tranh được coi là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa- dịch vụ và đó là phương thức để dành lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế Theo Nguyễn Như Phát (2001), về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp Như vậy, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng
Theo Luật cạnh tranh (2004), không có khái niệm, định nghĩa cụ thể nào về cạnh tranh, mà Luật chỉ nhìn nhận vấn đề về cạnh tranh dưới hai hành vi: hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh “Hành
vi hạn chế cạnh tranh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường, về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (khoản 3,4 điều 3 Luật cạnh tranh 2004)
Với các cách tiếp cận như trên, khái niệm về cạnh tranh có thể hiểu là quan hệ kinh tế mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để giành lấy lợi thế giúp giảm chi phí đầu vào và tăng giá sản phẩm đầu ra với chi phí đầu tư nhỏ nhất Mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích, đối với người bán là lợi nhuận, đối với người mua là tiện lợi và giá rẻ
Hiện nay tại các quốc gia, cạnh tranh được coi là một xu thế tất yếu khách quan của nền kinh tế Nó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, giúp cân bằng các nguồn lực trong xã hội và nâng cao chất lượng đời sống Đối với
DN, cạnh tranh vừa là cơ hội vừa là thách thức cho sự phát triển của DN bằng những nội lực tiềm ẩn để nâng cao NLCT của mình, thúc đầy DN luôn nỗ lực
để tự hoàn thiện mình về mọi mặt
Trang 14Dựa vào các tiêu chí khác nhau mà cạnh tranh được phân chia ra làm nhiều loại Xét về cấp độ cạnh tranh, cạnh tranh có cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh DN, cạnh tranh quốc gia Xét về thủ đoạn, ta có cạnh tranh lành mạnh
và cạnh tranh không lành mạnh Xét về tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được chia làm ba loại: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền (Nguyễn Thị Hạnh, 2014) Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả lựa chọn nghiên cứu cách phân loại cạnh tranh dựa trên tiêu chí cấp độ cạnh tranh để tìm hiểu NLCT tương ứng vời từng loại cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở ba cấp độ: NLCT quốc gia, NLCT
DN và NLCT sản phẩm Ba cấp độ này có mối quan hệ qua lại, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Một quốc gia, một nền kinh tế có cạnh tranh cao phải có nhiều DN có khả năng cạnh tranh Ngược lại, để tạo điều kiện cho DN có khả năng cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, nền kinh tế
ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp
Khả năng cạnh tranh của DN được thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của DN được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của DN, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của DN Là tế bào của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của
DN tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh quốc gia
Đồng thời khả năng cạnh tranh của DN cũng thể hiện qua khả năng cạnh tranh của các sản phẩm mà DN đó kinh doanh DN có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh
NLCT của sản phẩm là cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của DN và NLCT tổng thể quốc gia NLCT của sản phẩm là cơ sở quan trọng để quyết định hướng chuyển dịch sản phẩm
Trang 15Như vậy, có thể khẳng định, nâng cao NLCT sản phẩm là yếu tố cơ bản
để nâng cao NLCT doanh nghiệp đồng thời là mục tiêu để nâng cao NLCT quốc gia Để hiểu đầy đủ khái niệm NLCT sản phẩm, việc nhận biết và phân loại những khái niệm NLCT này là điều cần thiết
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: chính là NLCT của nền kinh tế
quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách và thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác hoặc có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, phân bổ hiệu quả các nguồn lực để đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao
Dưới góc độ của một nhà kinh tế Micheal Porter (2009, tr.40) đưa ra quan điểm mới về NLCT của quốc gia: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về NLCT của quốc gia là năng suất lao động”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), thì NLCT quốc gia được hiểu là
“năng lực của một nền kinh tế đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên
cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính, gồm: yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, cơ sở hạ tầng, thể chế); yếu tố nâng cao (giáo dục và đào tạo bậc cao, độ hiệu quả trên thị trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi – đột phá (sự tinh vi của hệ thống DN, khả năng đột phá)
Như vậy, theo như những khái niệm trên, ta có thể hiểu NLCT của quốc gia chính là khả năng quốc gia đó tận dụng những ưu thế của quốc gia mình để duy trì và phát triển bền vững trong một môi trường kinh tế biến động của thị trường thế giới Tại Viêt Nam, mặc dù thứ hạng hiện tại NLCT quốc gia đã tăng 12 bậc so với năm 2014 nhưng vị trí 56 trên 140 nền kinh tế
vẫn thấp so với các quốc gia trong cùng khu vực
Trang 16Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: là khả năng DN tạo ra năng suất và
chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững NLCT của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Nói cách khác, NLCT của DN là năng lực cung cấp sản phẩm của chính DN trên các thị trường khác nhau với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường để hình thành khả năng tự tồn tại và phát triển
NLCT của DN là khả năng có thể đứng vững trên thi trường cạnh tranh
mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất, là khả năng của DN thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được muc tiêu quan trọng nhất: lợi nhuận (Michael
E Porter, 2009)
NLCT của DN có thể hiểu là khả năng DN thỏa mãn khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh thông qua việc khai thác, sử dụng lợi thế bên trong và bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh (Nguyễn Viết Lâm, 2014, tr.47)
Như vậy, NLCT của DN được thể hiện thông qua ba loại cạnh tranh cơ bản: cạnh tranh bằng giá trị sử dụng (chất lượng, tính năng, mẫu mã), cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh bằng tổ chức tiêu thụ sản phẩm và các dịch vụ sau bán hàng Trong thực tế, các DN thường sử dụng cả ba loại cạnh tranh trên nhưng cũng tùy từng hòan cảnh cụ thể trong từng thời kì nhất định mà
DN lựa chọn phương thức cạnh tranh phù hợp với điều kiện DN mình Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của mỗi DN chính là lợi nhuận nên
Trang 17các DN phải cạnh tranh lẫn nhau tranh giành thị phần, khách hàng và thị trường Doanh nghiệp nào có NLCT cao, sẽ tồn tại và liên tục phát triển, ngược lại, thị trường sẽ đào thải những DN có khả năng sinh tồn và cạnh tranh thấp
Các chỉ tiêu để đánh giá NLCT của DN:
Năng lực quản lý và trình độ của đội ngũ lao động: một DN muốn hoạt động được phải có đội ngũ lãnh đạo và quản lý hiệu quả Người lãnh đạo là người tạo ra phương hướng hoạt động, vạch ra các chiến lược, chính sách và điều hành, kiểm soát mọi hoạt động của DN Năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo được thể hiện qua trình độ học vấn, kinh nghiệm trong nghề, sự hiểu biết về pháp luật chính sách, môi trường kinh doanh và kĩ năng giao tiếp ứng
xử đối với bên ngòai xã hội và khả năng kết nối với nguồn nhân lực trong công ty
Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ lao động cũng là một tiêu chí vô cùng quan trọng để đánh giá NLCT của DN DN được đánh giá là có NLCT cao nếu tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ lao động trình độ học vấn cao, lành nghề, nhiều kinh nghiệm, sáng kiến vì những sản phẩm được sản xuất ra với chất lượng cao, mẫu mã đa dạng và năng suất vượt trội
Cơ sở vật chất và trình độ áp dụng các khoa học kĩ thuật: để nâng cao năng suất chất lượng hàng hóa và dịch vụ, ngoài yếu tố về con người thì DN cũng cần phải đầu tư trang bị cho mình hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, trang thiết bị khoa học kĩ thuật tân tiến và hiện đại để tạo nền móng cơ sở vững chắc cho sản xuất
Hiệu quả kinh doanh của DN: là thước đo chính xác nhất NLCT của DN đó,
nó thể hiện kết quả thực tế mà DN thực hiện được sau một quá trình kinh doanh và kết hợp các yếu tố sản xuất Hiệu quả sản xuất được thể hiện qua các chỉ tiêu như tổng số lợi nhuận, hệ số sinh lời, lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận trên doanh thu Nếu doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn hiệu quả thì
Trang 18sẽ thu lợi nhuận cao, từ đó có khả năng tái sản xuất mở rộng, mở rộng thị trường tiềm năng, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của DN: các DN kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ vì vậy cạnh tranh giữa các DN cũng chính
là cạnh tranh giữa các sản phẩm, dịch vụ của các DN trong cùng ngành Các sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung cấp có chất lượng cao sẽ tác động đến quyết định mua hàng người tiêu dùng do đó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng thị phần, nâng cao doanh số, bảo đảm vốn thu hồi nhanh Nói cách khác, các sản phẩm dịch vụ có NLCT cao thì vị thế của DN đó trên thương trường cũng được khẳng định
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm : để tìm hiểu về NLCT của sản
phẩm, trước hết ta cần phải biết “thế nào là sản phẩm” Theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000 (2000) thì “sản phẩm” là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác với nhau để biến đổi đầu vào (input) thành đầu ra (output) Theo quan điểm truyền thống thì
“sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hoá học, sinh học có thể
quan sát được, dùng thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống” Theo Luật Chất lượng và sản phẩm (2001) thì “sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng” Còn nhìn nhận dưới góc độ Marketing thì sản phẩm là thứ
có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút
sự chú ý mua sắm và tiêu dùng (Nguyễn Thượng Thái, 2007, tr.6)
Theo TS Nguyễn Văn Thanh (2004) “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có được nhằm duy trì được vị thế của
nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh” Một sản phẩm hàng hóa được coi là có NLCT khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả của sản phẩm, thị hiếu của người tiêu dùng, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi
Trang 19kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, bao bì hơn hẳn những hàng hóa cùng loại Có thể hiểu đơn giản là, NLCT của sản phẩm chính là khả năng sản phẩm của DN đó được sử dụng nhiều và nhanh chóng hơn những
DN cùng sản xuất, cung cấp và phân phối sản phẩm đó
NLCT của sản phẩm là sự vượt trội của nó (vể nhiều chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường (Michael E.Porter, 2008)
Theo PGS., TS Nguyễn Viết Lâm (2014), NLCT của sản phẩm là khả năng trao đổi sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Như vậy, NLCT của sản phẩm là tất cả các đặc điểm, yếu tố, tiềm năng
mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa
NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó, NLCT của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã, bao
bì, uy tín thương hiệu, mức độ phân phối, giá cả và công tác tiếp cận thị trường của sản phẩm Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung vào NLCT của sản phẩm đặc thù, đó là sản phẩm sữa nước bao gồm sữa tươi tiệt trùng, sữa tươi thanh trùng và sữa hoàn nguyên tiệt trùng cho mọi đối tượng khách hàng với thông tin chi tiết được trình bày ở phần tiếp theo
1.1.2 ác t êu c í đán g á năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Bản chất của sản phẩm, sinh ra là để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm này có cạnh tranh được với sản phẩm khác hay không thì không chỉ phụ thuộc vào bản thân sản phẩm mà trên hết vẫn là sự quyết định của người tiêu dùng Nói cách khác, NLCT của sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu mà có lợi cho người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng đưa ra sự lựa chọn và do người tiêu dùng quyết định Vì vậy, với mỗi sản phẩm hay khách hàng khác nhau sẽ có những tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm với các mức độ quyết định khác nhau
Trang 20Trong phạm vi nghiên cứu các sản phẩm sữa nước, dựa trên cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm nói chung, tác giả xin đưa ra một số tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm sữa nước theo quan điểm của
cá nhân tác giả trong quá trình nghiên cứu vấn đề: chất lượng, bao bì và hình thức, tính đa dạng, thương hiệu, giá cả, mạng lưới phân phối và phương thức quảng bá sản phẩm sữa nước
1.1.2.1 Chất lượng sản phẩm
Sản phẩm muốn có sức cạnh tranh cao trước hết phải là sản phẩm có chất lượng tốt Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) (2000): “chất lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những đặc trưng kinh tế kĩ thuật của nó, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn” Theo Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2001), chất lượng sản phẩm, hàng hóa được hiểu là mức độ của các đặc tính của sản phẩm hàng hóa đáp ứng được yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Theo góc
độ tiêu dùng, thì chất lượng của sản phẩm được đánh giá dựa trên tất cả những đặc tính của sản phẩm làm hài lòng thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng Nội dung của chất lượng của sản phẩm được thể hiện qua các đặc tính: công năng, công dụng, kĩ thuật công nghệ, sinh thái, thẩm mỹ, kinh tế xã hội (Đỗ Đức Phúc, 2012, tr.5) Chất lượng sản phẩm sẽ chịu tác động từ quá trình nghiên cứu sản phẩm, phân phối, yếu tố công nghệ, nguồn nguyên vật liệu, môi trường và trình độ kĩ thuật của nguồn nhân lực Sản phẩm có chất lượng tốt không chỉ nâng cao NLCT của sản phẩm mà còn nâng cao hiệu suất của
DN giúp DN đạt được mục tiêu về kinh tế: doanh thu và lợi nhuận
Dựa trên các cơ sở lý thuyết trên, chất lượng của sản phẩm sữa nước là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở màu trắng ngà, mùi vị thơm đặc trưng của sữa, hơi ngọt, không có mùi lạ, dễ uống, trạng thái đồng nhất, không vón cục, không tạp chất, không tách váng sữa thành phần dinh dưỡng, sản phẩm có
Trang 21mẫu mã đẹp thu hút Nó được hình thành trong suốt quá trình sản xuất từ khâu nghiên cứu sản phẩm, đầu tư trang trại chăn nuôi hiện đại, chọn giống
bò khỏe mạnh, đến quy trình đảm bảo vệ sinh và chất dinh dưỡng trong quá trình khai thác sữa, bảo quản vận chuyển rồi kiểm tra, đóng hộp và khâu bán hàng, dịch vụ hậu mãi đưa sản phẩm tiếp cận tới người tiêu dùng Chất lượng sữa nước sẽ được đánh giá dựa trên hương vị, độ thơm ngon, có lợi cho sức khỏe, đảm bảo các tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phầm
Như vậy, sản phẩm sữa nước của DN có NLCT về chất lượng sẽ được đánh giá thông qua mối tương quan so với đối thủ về số lượng bò trong trang trại mà DN chăn nuôi, chất lượng giống bò, giá trị sữa thu mua các hộ dân có sữa đạt chất lượng, số lượng trang thiết bị hiện đại, tân tiến mà DN đầu tư, lợi ích về dinh dưỡng người tiêu dùng nhận được
Sản phẩm sữa nước trên thị trường hiện có hai loại sản phẩm là sữa tươi và sữa hoàn nguyên Sự đa dạng về sản phẩm sữa nước của các DN sẽ được đánh giá dựa trên hai yếu tố:
Một là, sự đa dạng về nhãn hiệu sản phẩm sữa nước: thị trường sữa nước hiện nay vô cùng đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, dinh dưỡng, hương
Trang 22vị Mỗi DN tuỳ vào tiềm lực kinh tế mà lựa chọn cho ra đời các nhãn hiệu khác nhau DN nào càng sở hữu nhiều nhãn hiệu thì càng đáp ứng được nhiều nhu cầu Nói cách khác, việc đa dạng về nhãn hiệu sẽ giúp DN làm chủ các thị trường ngách, chiếm lĩnh thị phần của người dẫn đầu, đem lại nhiều lựa chọn cho khách hàng nên sẽ giúp nâng cao sự nhận biết về thương hiệu sản phẩm đồng thời phân tán rủi ro kinh doanh hơn các DN có ít nhãn hiệu
Hai là, sự đa dạng về đối tượng khách hàng: đối tượng chính mà các
DN chế biến, sản xuất sữa tập trung là trẻ nhỏ Nhiều DN đã khai thác rất tốt đối tượng khách hàng khi liên tục tung ra các sản phẩm mới đáp ứng từng nhu cầu nhỏ cho trẻ như phát triển chiều cao, cho người già với sữa nước bổ sung canxi, cho đối tượng người trưởng thành muốn giảm cân với các sản phẩm tách béo Như vậy, nếu DN có thể đáp ứng được càng nhiều đối tượng khách hàng thì NLCT của sản phẩm đó càng cao do được nhiều người biết đến, tin tưởng và tiêu dùng, giúp DN tăng doanh thu và gián tiếp nâng cao thương hiệu của DN
Đa dạng, đổi mới sản phẩm là cách thức tốt nhất để DN có thể giành và giữ thị phần một cách hiệu quả vì sản phẩm đắt khách trên thị trường luôn thu hút sự cạnh tranh Đa dạng hoá sản phẩm có thể thông qua việc mở rộng, chuyên biệt hoá các chức năng của sản phẩm hoặc tung ra thị trường một sản phẩm hoàn toàn mới, chưa bao giờ được biết đến NLCT sản phẩm dựa trên
đa dạng hoá sản phẩm sữa nước phụ thuộc vào trình độ đội ngũ nhân lực, trình độ nghiên cứu và phát triển, nắm bắt được các tiến bộ khoa học kĩ thuật Đồng thời, để việc đa dạng hoá đạt hiệu quả, DN cần có khả năng nghiên cứu
và am hiểu thị hiếu tiêu dùng, nhu cầu đối với sản phẩm sữa nước
1.1.2.3 Bao bì và hình thức
Theo xu hướng đi lên của xã hội, con người ngày càng có nhu cầu cao hơn về giá trị cảm quan và đòi hỏi về tính thẩm mĩ, do đó, mẫu mã bao bì cũng dần trở thành yếu tố quan trọng trong cạnh tranh Được đánh giá là
Trang 23“người bán hàng im lặng”, bao bì góp phần không nhỏ vào việc gia tăng tính hấp dẫn và kích thích tiêu thụ sản phẩm, tạo dựng hình ảnh của DN và là công
cụ đắc lực trong hoạt động marketing của DN (Ngô Minh Cách, 2010, tr.178) Chính vì những vai trò trên mà hình thức mẫu mã hay thiết kế mỹ thuật của bao bì sản phẩm là một tiêu chí quan trọng khi đánh giá NLCT của sản phẩm Bao bì nói chung được định nghĩa là tất cả những gì chứa đựng và bao bọc sản phẩm (ĐHNT, 2000, tr.95)
Đối với sản phẩm sữa nước, bao bì cũng là một yếu tố quyết định đến
sự lựa chọn của khách hàng Thiết kế bao bì sữa là công việc hết sức khó khăn
đòi hỏi người thiết kế có sự sáng tạo, nhiều ý tưởng và cần phải tinh tế để nghiên cứu các sản phẩm cũng như thị trường Bao bì sữa ngoài chức năng về đảm bảo chất lượng sản phẩm thì nó còn là một công cụ để thực hiện chiến dịch marketing Một hộp sữa hay túi sữa được thiết kế bắt mắt, hấp dẫn, chi tiết đầy đủ thông tin sẽ tạo cho khách hàng sự tin tưởng về chất lượng của sữa Với những đối tượng khách hàng không quá trung thành với một nhãn hiệu nào đó thì sản phẩm với hình thức đẹp, bao bì bắt mắt sẽ rất có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng Đối với các thực phẩm như sữa thì bao bì chứa nó cần phải tạo ra cảm giác thèm ăn, muốn được uống, và có thể cảm nhận bằng khứu giác và vị giác
1.1.2.4 Sức mạnh thương hiệu
Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới là một dấu hiệu hữu hình và vô hình đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ định nghĩa: Thương hiệu
là “một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ kiểu thiết kế, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh” (Đỗ Thị Thu Hằng, 2014)
Trang 24Như vậy, bản chất của thương hiệu là việc nhận biết sản phẩm từ phía khách hàng và đảm bảo cho DN độc quyền sản phẩm của mình mang thương hiệu đó Xây dựng được một thương hiệu không phải là một điều đơn giản, đó
là quá trình không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng hàng hoá để sản phẩm có đủ khả năng cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành và trên hết là tạo dấu ấn, gây dựng lòng tin và sự trung thành của khách hàng với sản phẩm
Theo cách tiếp cận hiện đại, chuyên gia thương hiệu Richard Moore (2004), cho rằng, thương hiệu là một khái niệm trừu tượng Thương hiệu tạo nên hình ảnh, uy tín sản phẩm công ty và đọng lại trong tâm trí khách hàng theo thời gian Như vậy, thương hiệu có vai trò rất lớn trong việc ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng Nói cách khác, thương hiệu là một tài sản của DN Khi một DN đã tự khẳng định được thương hiệu của mình, có nghĩa là sản phẩm của họ đã được nhận thức và đảm bảo tin cậy về chất lượng Những khách hàng thận trọng khi đứng trước quyết định tiêu dùng một loại sản phẩm nào đó trên thị trường sẽ chú ý đến những thương hiệu mạnh,
uy tín, đôi khi những yếu tố khác của sản phẩm như giá cả, hình thức bao bì không được xét tới bởi thương hiệu đã nói lên tất cả Để tồn tại và phát triển bền vững, DN cần phải định vị thương hiệu, xây dựng cá tính riêng cho thương hiệu để khi nhắc đến một thông điệp nào đó, người tiêu dùng sẽ nghĩ ngay đến thương hiệu của DN Bảo vệ thương hiệu của DN trong con mắt của người tiêu dùng chính là yếu tố quan trọng giúp nâng cao NLCT của DN cũng như sản phẩm của DN đó
Sức mạnh thương hiệu sữa nước được đánh giá thông qua:
Uy tín, thương hiệu DN: thương hiệu của DN là thứ tài sản vô hình được hình thành trước thương hiệu của sản phẩm Theo Trần Văn Đạt, thương hiệu DN mạnh sẽ tạo ra niềm tin, sự tin cậy, nhận thức của người tiêu dùng và ảnh hưởng đến quyết định mua hàng hoặc dịch vụ mà DN cung cấp Nói cách khác, thương hiệu của sản phẩm sẽ được lợi từ uy tín và tên tuổi của thương
Trang 25hiệu DN nếu như tên sản phẩm có bao hàm tên DN Ngược lại, thành công hay thất bại trên thương trường của mỗi thương hiệu sản phẩm đều ảnh hưởng đến tên tuổi và hình ảnh của thương hiệu DN
Sự nhận biết thương hiệu: được thể hiện qua các mức độ là không nhận
ra, nhận ra, nhớ ra, nhớ ra ngay khi được hỏi về sản phẩm sữa nước sử dụng
Mức độ sử dụng thường xuyên: đối với sản phẩm sữa nước, ta có thể hiểu chỉ số này được thể hiện qua thị phần của nó so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sự trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu của sản phẩm: được đánh giá qua hành vi và thái độ của người tiêu dùng sữa nước đối với giá cả, sản phẩm, tiếp thị và phân phối sản phẩm Đối với quan điểm của nhà quản trị thương hiệu thì chỉ số trung thành là thước đo cao nhất thể hiện rõ quá trình xây dựng của một thương hiệu và đích đến là để so sánh sức mạnh của một thương hiệu này đối với thương hiệu khác trong cùng một ngành hàng
Sản phẩm sữa nước của DN nào càng có nhiều chỉ tiêu đạt lợi thế thì NLCT về thương hiệu của sản phẩm đó càng cao
1.1.2.5 Giá cả
Chỉ tiêu này được sử dụng với vai trò là một sự so sánh về giá giữa các
DN cạnh tranh Giá cả là một yếu tố giúp DN thu hút ngày càng nhiều hơn khách hàng về phía mình, tất nhiên là trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm mà DN cung cấp cho khách hàng
DN muốn sản phẩm có giả cả cạnh tranh so với các đối thủ thì phải tìm cách hạ giá thành của sản phẩm hay nói cách khác chi phí sản xuất của sản phẩm của DN phải thấp hơn chi phí sản xuất của đối thủ cạnh tranh
Muốn giảm chi phí, DN phải có chính sách tận dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có như tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, tìm kiếm nguồn lao động phổ thông và đào tạo nhân lực với tiêu chí hợp tác lâu dài với DN, đổi mới thiết bị nhằm sản xuất các sản phẩm đạt tiêu chuẩn về chất lượng và tăng
Trang 26năng suất đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý Giảm chi phí là một điều kiện quan trọng trong trường hợp DN muốn có lợi nhuận bằng việc bán sản phẩm
ở mức giá cạnh tranh mà vẫn đảm bảo chất lượng tương đương với chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
Đối với tiêu dùng trong mặt hàng thực phẩm dinh dưỡng như sữa nước, các tiêu chí như chất lượng, thương hiệu thường được ưu tiên hơn tiêu chí giá
cả, tuy nhiên giá cả vẫn là một tiêu chí không thể không xét đến bởi trên thị trường có rất nhiều phân khúc, mỗi phân khúc là một tập hợp những người tiêu dùng có điểm tương đồng về thói quen, sở thích, mức thu nhập Đối với những người thu nhập cao, họ sẵn sàng mua các sản phẩm sữa giá cao miễn sao đáp ứng được chất lượng, khi đó giá cả không phải là yếu tố đánh giá NLCT, ngược lại với những người thu nhập trung bình, bên cạnh so sánh chất lượng, thương hiệu họ còn cân nhắc yếu tố giá cả Trong nhiều trường hợp, không liên quan đến yếu tố thu nhập, người tiêu dùng vẫn có thể lựa chọn sản phẩm có giá cạnh tranh hơn theo thói quen hoặc tâm lý "ham rẻ" hay quan niệm "chất lượng tỉ lệ thuận với giá cả"
1.1.2.6 Mạng lưới phân phối
Mạng lưới phân phối hàng hóa giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của DN DN không chỉ quan tâm đến việc đưa sản phẩm gì
ra thị trường mà còn đưa sản phẩm ra thị trường như thế nào
Xét trên góc độ nhà sản xuất, mạng lưới phân phối hàng hóa là một ống dẫn đưa sản phẩm từ người sản xuất tới tay người tiêu dùng cuối cùng (Kenneth, 1992) Dưới góc độ người tiêu dùng, họ quan tâm tới mạng lưới phân phối như hệ thống các trung tâm tiêu thụ cung cấp các sản phẩm và các dịch vụ kèm theo ở địa điểm và thời điểm nhất định (Eric, 1992)
Như vậy, có thể hiểu mạng lưới phân phối sản phẩm là tập hợp bao gồm DN và các cá nhân độc lập tham gia vào quá trình lưu thông đưa hàng hóa từ người sản xuất tới tay người sử dụng hay người tiêu dùng cuối cùng
Trang 27(Giáo trình Marketing căn bản, GS.TS Trần Minh Đạo, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2010, tr.38)
Hiệu quả của mạng lưới phân phối được đánh giá dựa trên số lượng thành viên và mức độ tăng trưởng số lượng thành viên Đối với sản phẩm sữa nước, trong nhận thức của người tiêu dùng, những nơi bán sản phẩm chất lượng tốt là siêu thị bán buôn bán lẻ lớn, cửa hàng bán lẻ, đại lý chính hãng, cửa hàng giới thiệu sản phẩm Xe bán dạo hoặc hình thức bán hàng lề đường được coi là nơi bán sản phẩm chất lượng kém hơn Mặt hàng sữa tươi, sữa tiệt trùng đa phần được người dân mua ở các siêu thị lớn, cửa hàng bán lẻ, đại lý chính hãng để đảm bảo về an toàn chất lượng cũng như độ tin cậy về nguồn gốc xuất xứ Đây là tiêu chí ảnh hưởng đến NLCT của sản phẩm bởi địa điểm phân phối rộng khắp, an toàn, đáng tin cậy, nằm giữa khu dân cư đông đúc là yếu tố đảm bảo thu hút khách hàng
1.1.2.7 Phương thức quảng bá sản phẩm
Để sản phẩm được biết đến, DN phải có những chiến lược marketing nhất định nhằm xúc tiến, hỗ trợ việc bán hàng một cách hiệu quả Có thể xem đây là một tiêu chí mang tính quyết định đến sự thành công cũng như khả năng canh tranh của sản phẩm bởi một sản phẩm dù chất lượng tốt, bao bì đẹp, xuất xứ đảm bảo, giá cả hợp lý mà không được quảng bá đúng cách thì
sẽ không phát triển thương hiệu cũng như tìm được chỗ đứng trên thị trường Hơn nữa, với sự phát triển của công nghệ thông tin, một sản phẩm có phương thức marketing đúng hướng có thể đem lại thành công rất lớn mặc dù các yếu
tố khác của sản phẩm có thể chưa đạt được mức cạnh tranh cao nhất Thông thường, để thưc hiện được chiến lược xúc tiến và mua bán các sản phẩm, DN cần công cụ: quảng cáo, quan hệ công chúng, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng cá nhân, xúc tiến bán hàng
Trang 281.1.3 Yếu tố ản ưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.1.3.1 Yếu tố bên ngoài
Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế bao gồm: tăng trưởng kinh tế, biểu hiện qua tổng sản phẩm quốc nội, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người, lãi suất, tỷ giá hối đoái Hoạt động khuyến khích đầu tư của Chính phủ nhằm thu hút vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và chi tiêu của người dân tăng lên
Các yếu tố kinh tế tác động gián tiếp đến các DN và khi các lập mục tiêu, nghiên cứu thị trường, dự báo nhu cầu… các nhà quản trị đều phải tham khảo các yếu tố kinh tế này
Yếu tố chính trị, pháp luật
Việc ra các quyết định về chính sách trong vấn đề kinh doanh của DN sản xuất sữa nước như vấn đề về giá trần sữa, khuyến khích tăng sản lượng sữa tươi, hay những quyết định liên quan đến hoạt động quảng cáo, quy định về chất lượng sữa nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các yêú tố tạo nên NLCT của sản phẩm sữa nước
Yếu tố văn hóa, xã hội
Bao gồm các yếu tố như hành vi xã hội, tôn giáo, trình độ nhận thức, dân số, tuổi tác, phân bố địa lý, ảnh hưởng phẩm chất đời sống và thái độ mua sắm của khách hàng Những yếu tố trên thay đổi đều ảnh hưởng đến hoạt động của DN Các yếu tố này thay đổi hoặc tiến triển chậm khó nhận ra nên
DN phải phân tích dự đoán để có chiến lược phù hợp Đối với sản phẩm sữa nước, quy mô dân số phản ánh phạm vi thị trường mà các sản phẩm sữa nước
có thể tiếp cận Tốc độ tăng dân số càng cao thì đối tượng khách hàng tiềm năng càng nhiều, nhu cầu tiêu thụ sữa nước càng lớn và đa dạng Điều đó kích thích các DN sản xuất sữa nước phải đầu tư, nâng cao NLCT sản phẩm để có thể vươn lên trong thị trường đầy tiềm năng đó Ngược lại, dân số giảm kéo
theo sự co hẹp của thị trường sữa nước, nhu cầu ít và thị trường ít tiềm năng
Trang 29Cơ cấu phân bổ giữa thành thị và nông thôn giúp đánh giá mức độ cạnh tranh của thị trường sữa nước tại hai khu vực Khu vực nào tập trung đông dân cư hơn sẽ cạnh tranh gay gắt hơn
Yếu tố công nghệ
Các DN phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật Trong tương lai, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời, tạo ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với DN Công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm của DN bị lạc hậu một cách gián tiếp hoặc trực tiếp Các DN lớn dễ áp dụng thành tựu công
nghệ mới hơn do với DN ở giai đoạn ban đầu do lợi thế về vốn và kinh nghiệm
Yếu tố tự nhiên
Là những yếu tố liên quan đến môi trường thiên nhiên, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng Nhiều DN nhận thức tác động của môi trường thiên nhiên tác động đến điều kiện kinh doanh của DN như ô nhiễm, thiếu năng lượng và
sử dụng lãng phí các tài nguyên cũng như gia tăng các nhu cầu về nguồn tài liệu
Đối với ngành sữa các yếu tố tự nhiên lại đặc biệt quan trọng Nó liên quan tới vùng nguyên liệu của DN Môi trường thiên nhiên có thuận lợi, khí hậu có phù hợp hay quá khắc nghiệt, hoặc thổ nhưỡng có tốt để trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi bò Do đó việc lựa chọn nơi đặt làm vùng nguyên liệu là
vấn đề vô cùng quan trọng
1.1.3.2 Yếu tố bên trong
Uy tín người lãnh đạo
DN được dẫn dắt bởi người lãnh đạo vừa có tài vừa có tâm, được xã hội
và cộng đồng công nhận, vinh danh sẽ giúp sản phẩm của DN đó đạt được NLCT cao hơn so với các sản phẩm của đối thủ Đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm đồ uống, uy tín của người lãnh đạo lại càng quan trọng giúp người tiêu dùng tin tưởng về chất lượng của sản phẩm đó
Năng lực nhân viên
Nguồn nhân lực được coi là vấn đề vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN và sản phẩm Một nguồn nhân lực kém không đáp
Trang 30ứng được nhu cầu của thị trường sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại của DN Trong lĩnh vực sản xuất sữa nước, nhân viên có thể chia thành hai nhóm:
Đội ngũ sản xuất, kĩ thuật: là những cán bộ, công nhân viên làm việc trong nhà máy sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm sữa nước hoàn chỉnh từ khâu thẩm định chất lượng sữa, chuyển sữa, xử lý sữa nguyên liệu, đóng gói và kiểm tra Đội ngũ này yêu cầu tay nghề lao động, trình độ vận hành, sử dụng máy móc hiện đại cùng với kinh nghiệm lâu năm trong nghề
Đội ngũ kinh doanh, quảng cáo: đảm nhiệm việc thực hiện các chiến dịch quảng cáo, phát triển thị trường, phân phối và giao hàng đến các đại lý cũng như người tiêu dùng Họ cần am hiểu tính năng, đặc điểm của sản phẩm sữa của công ty, tư duy sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, khả năng nghiên cứu, phát triển thị trường, tạo mối quan hệ tốt với khách hàng và khả năng thuyết phục, chăm sóc khách hàng tận tình Các kiến thức và kĩ năng kể trên của cán
bộ, công nhân viên quyết định rất lớn đến chất lượng của sản phẩm sữa nước, đồng thời ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về thương hiệu sản phẩm
DN muốn phát triển dịch vụ, phải quan tâm đến năng lực nhân viên, tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng năng lực của nhân viên Từ đó DN hiểu được khả năng hiện tại của DN, phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục, đề ra các giải pháp tổng thể để nâng cao khả năng của nhân viên theo định hướng
và mục tiêu phát triển của DN
Công nghệ sản xuất
Các yếu tố đầu vào chỉ có thể biến đổi thành những sản phẩm đầu ra khi có yếu tố máy móc thiết bị và sự điều khiển của con người Trình độ hiện đại của máy móc thiết bị càng cao thì chất lượng sản phẩm càng cao và ngược lại Máy móc thiết bị càng hiện đại, sản phẩm làm ra càng đa dạng về mẫu
mã, đảm bảo về chất lượng Hàng lọat công nghệ tiên tiến trên thế giới ra đời nhằm hỗ trợ cho việc nuôi dưỡng đàn bò sữa thêm mập mạp, khỏe mạnh và
Trang 31cho ra sản lượng sữa chất lượng cao Năng lực về công nghệ sản xuất sẽ tỉ lệ thuận với chất lượng sữa nước cũng như tác động gián tiếp đến NLCT của sản phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn về tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1.2.1 Đặc đ ểm của sản phẩm sữa nước
Sữa nước là các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa các loài động vật (bò sữa, dê, cừu…) ở dạng nguyên liệu thô và sau khi được xử lý tiệt trùng hay khử trùng, đóng gói đưa ra thị trường tiêu thụ ở dạng lỏng Hiện tại trên thị trường sữa nước hiện nay có ba loại sữa nước chủ yếu: sữa tươi tiệt trùng, sữa tươi thanh trùng, sữa hoàn nguyên tiệt trùng
Sữa tươi tiệt trùng: là sản phẩm sữa nước có thành phần hoàn toàn từ sữa tươi nguyên liệu (99%) có hoặc không bổ sung phụ gia và qua xử lý ở nhiệt độ cao Chất béo sữa hoặc sữa bột được phép bổ sung nhưng không quá 1% khối lượng sữa tươi nguyên liệu Sữa tươi tiệt trùng thường được xử lý ở nhiệt độ cao (từ 140 – 1430C) trong khoảng thời gian ngắn 3 - 4 giây Xét theo cảm quan thì sữa tươi tiệt trùng có màu đặc trưng, mùi vị đặc trưng của sản phẩm, không có mùi, vị lạ, và dịch thể đồng nhất Xét về chỉ tiêu lý hóa, thì sản phẩm sữa tươi tiệt trùng phải tuân theo bảng chỉ tiêu sau: (Xem Bảng 1.1 Các chỉ tiêu lý hóa của sữa tươi tiệt trùng trang sau)
Trang 32Bảng 1.1 Các chỉ tiêu lý hóa của sữa tươi tiệt trùng
Hàm lượng chất khô, % khối lượng, không nhỏ hơn 11.5%
Hàm lượng chất béo, % khối lượng, không nhỏ hơn 3.2%
Tỷ trọng của sữa ở 200C, không nhỏ hơn 1.027g/ml
(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, TCVN 7028: 2009, 2009)
Các sản phẩm sữa tươi tiệt trùng sẽ có hạn không quá hai tháng với sản phẩm đựng trong bao bì bằng polyetylen, và không quá sáu tháng với sản phẩm đóng gói trong bao bì bằng hộp giấy Quy trình sản xuất sữa tiệt trùng: sữa đã được làm sạch và tiêu chuẩn hóa, được đưa vào thiết bị gia nhiệt đến 75-800C, rồi qua tiệt trùng ở 135-1500C trong vòng từ 3-20s Sau đó sữa được nhanh chóng làm nguội tới 15-200C và rót chai trong điều kiện vô trùng Quy trình đồng hóa có thể tiến hành trước hoặc sau khi tiệt trùng, với điều kiện phải đảm bảo vô trùng (Lâm Xuân Thanh, 2003, tr.86)
Sữa tươi thanh trùng: là loại sữa tươi được chế biến ở nhiệt độ 70-900C trong vòng 15- 30 giây, sản phẩm phải luôn được giữ lạnh ở nhiệt độ 3-40C
để đảm bảo chất lượng và an toàn cho sản phẩm Sữa tươi thanh trùng là sữa ở trạng thái dịch thể đồng nhất, có màu trắng đặc trưng của sữa, mùi thơm đặc trưng của sữa thanh trùng, không có mùi hay vị lạ Sữa tươi thanh trùng có các chỉ tiêu lý hóa như bảng sau
Trang 33Bảng 1.2 Chỉ tiêu lý hóa của sữa tươi thanh trùng
1 Hàm lượng chất khô, % khối lượng, không nhỏ hơn 11.5%
2 Hàm lượng chất béo, % khối lượng, không nhỏ hơn 3.2%
3 Hiệu quả thanh trùng (thử photphataza) Phù hợp với phép thử
mục 4-3-5
4 Hàm lượng protein, %, không nhỏ hơn 3%
5 Tỷ trọng của sữa ở 200C, g/ml, không nhỏ hơn 1.026 – 1.033 g/ml
mục 4-8
(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, TCVN 5860:1994, 1994)
Sữa tươi thanh trùng là sản phẩm được chế biến từ 100% sữa tươi, không bổ sung thêm các thành phần khác vào sữa, nhiệt độ gia nhiệt thấp trong thời gian ngắn Do đó, sữa tươi thanh trùng lưu giữ được tối đa thành phần dinh dưỡng có trong sữa
Quy trình sản xuất sữa tươi thanh trùng được mô tả như sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Quy trình sản xuất sữa tươi thanh trùng
(Lâm Xuân Thanh, 2003, tr.75) Sữa hoàn nguyên tiệt trùng: là dạng sữa nước với thành phần chủ yếu là sữa
bột được pha chế theo tỉ lệ nhất định có bổ sung thêm chất béo sữa các loại,
Li tâm làm sạch Tiêu chuẩn hóa
Đồng hóa Thanh trùng
Nhận sữa Kiểm tra chất lượng Làm lạnh bảo quản Gia nhiệt
Làm lạnh rót chai(túi) Bảo quản
Trang 34nước, có hoặc không có phụ liệu và được xử lý ở nhiệt độ cao Hay nói cách khác, sữa hoàn nguyên là sữa thu được sau khi pha nước với sữa bột gầy hoặc sữa bột nguyên Để phân biệt với sữa tươi tiệt trùng và sữa tươi thanh trùng, sữa hoàn nguyên tiệt trùng có chỉ tiêu lý hóa riêng
Bảng 1.3 Chỉ tiêu lý hóa của sữa hoàn nguyên tiệt trùng
Hàm lượng chất khô, % khối lượng, không nhỏ hơn 11.5%
Hàm lượng chất béo, % khối lượng, không nhỏ hơn 3.2%
Tỷ trọng của sữa ở 200C, không nhỏ hơn 1.027 g/ml
Chỉ số không hòa tan, không lớn hơn 50%
(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, TCVN 7029:2009, 2009 )
Như vậy, về cơ bản sữa hoàn nguyên tiệt trùng cũng có những chỉ tiêu
về hàm lượng chất béo, hàm lượng chất khô, mức tỷ trọng của sữa ở 200C là giống sữa tươi tiệt trùng, nhưng độ axit của sữa hoàn nguyên tiệt trùng cao hơn sữa tươi tiệt trùng và có thêm một chỉ tiêu nữa là chỉ số không hòa tan của sữa.Quy trình sản xuất sữa hoàn nguyên tiệt trùng được mô tả như sơ đồ dưới đây:
Lọc Đồng hóa
Xử lý nhiệt Làm lạnh (làm nguội)
Nguyên liệu sữa bột Kiểm tra chất lượng Hòa tan Làm lạnh
Ủ hoàn
Sơ đồ 1.2 Quy trình sản xuất sữa hoàn nguyên tiệt trùng
(Nguồn: Lâm Xuân Thanh, 2003, tr.91)
Trang 351.2.2 Thị trường hội nhập t a đ i cung c u của sản phẩm sữa nước
Hiện nay, nâng cao NLCT của sản phẩm sữa nước đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các DN sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực này Có thể kể đến một số lý do cơ bản như sau:
Nền kinh tế hội nhập quốc tế
Trong khi các sản phẩm sữa bột chủ yếu do các hãng nước ngoài nắm thị phần thị thị trường sữa nước có thể coi là phân khúc của các DN nội địa
Do đó, mức độ hội nhập của nền kinh tế cũng như mức độ hội nhập của ngành sữa đang đe doạ đến sự thống trị của các DN nội địa trong phân khúc thị trường sữa nước Vào cuối năm 2015, Việt Nam đã chính thức trở thành một trong 12 thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TTP) Sự kiện này mở ra chương hợp tác và hội nhập mới cho Việt Nam, đồng thời các ngành kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ Hiệp định này Bên cạnh lợi ích về mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá tới các quốc gia tham gia TPP, Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều thách thức liên quan đến sức ép cạnh tranh, mở cửa thị trường hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, vấn đề DN nhà nước, sở hữu trí tuệ, môi trường lao động…Sức ép cạnh tranh đáng lo ngại nhất là ở nông nghiệp như chăn nuôi Trong 12 nước tham gia TPP, có 3 nước có ảnh hưởng nhiều đến ngành nông nghiệp và thị trường sữa Việt Nam là New Zealand, Mỹ và Australia Trong đó New Zealand và Australia là các cường quốc chăn nuôi bò thịt, bò sữa và đến năm 2018, các sản phẩm sữa nhập từ các quốc gia này sẽ có mức thuế bằng 0 Điều này đặt ra thách thức cho ngành sữa, và thị trường sữa nước cũng chịu tác động to lớn
Hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là TPP buộc các DN sản xuất sữa trong nước phải nâng cao NLCT để đủ sức đứng vững trên thương trường Do NLCT sản phẩm nói chung và sản phẩm sữa nước nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế nên khả năng tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế còn rất thấp Chính vì vậy, việc nâng cao NLCT của sản phẩm sữa nước, của DN
Trang 36sản xuất và kinh doanh sữa nước là yếu tố quan trọng để giữ vững vị thế trong nước cũng như có thể phát triển mở rộng thị trường quốc tế
Vai trò của ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam
Đối với đời sống người dân ở các nước phát triển, sữa là thành phần thiết yếu không thể thiếu trong khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày, vì vậy lượng tiêu thụ sữa ở các quốc gia này rất lớn Sữa là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển về thể chất và trí não cho con người phục vụ mọi đối tượng từ trẻ nhỏ đến người già
Việt Nam dù đã chấm dứt chiến tranh, hoà bình lặp lại từ lâu nhưng xã hội chúng ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân còn thấp, thể chất yếu, hạn chế về chiều cao và tuổi thọ trung bình chưa cao, mới chỉ hơn mức trung bình
Hiện nay, khi xã hội đã phát triển, đời sống người dân được cải thiện, ngành công nghiệp sữa được nhìn nhận với vai trò góp phần nâng cao thể lực và tuổi thọ của người dân
Công nghiệp chế biến sữa còn là một trong những ngành công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng cho sự phát tiển kinh tế xã hội Thông qua mối liên kết, tác động qua lại, ngành công nghiệp chế biến sữa đã thúc đẩy một số ngành nghề khác phát triển như ngành chăn nuôi, mía đường…đồng thời còn giúp phần giải quyết vấn đề việc làm cho hàng vạn lao động ở nông thôn
Như vậy, để vừa phát huy được vai trò động lực của sự phát triển nền kinh tế xã hội, vừa tranh thủ cơ hội đi tắt, đón đầu để bảo toàn thị phần trong nước cũng như mở rộng thị trường ra quốc tế, các DN trong ngành công nghiệp chế biến sữa nhất định phải nâng cao NLCT cạnh tranh sản phẩm sữa nói chung và sản phẩm sữa nước nói riêng vì đây là sản phẩm mà các DN nội địa đang làm chủ
Trang 371.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Sữa là ngành sản phẩm rất có tiềm năng tại Việt Nam, tuy nhiên sự phát triển của ngành lại không được như kỳ vọng Đã có khá nhiền nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm sữa trên thế giới và thông nước
Tình hình nghiên cứu Năng lực cạnh tranh trên thế giới như:
- Micheal E Poter – Chiến lực cạnh tranh 1988, tác giả đã xây dựng chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động thích hợp về mặt chiến lược tạo ra giá trị và giảm chi phí để đánh giá các năng lực của một công ty trong việc tạo ra lợi thế khác biệt
- A Thompson, A Stickland (2001) khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã đưa ra 2 khái niệm: năng lực cốt lõi và năng lực khác biệt Ở đây năng lực cốt lõi là một năng lực nguồn mà doanh nghiệp vận dụng
nó tương đối tốt với các hoạt động bên trong khác của doanh nghiệp Đây là nguồn lực có giá trị cao của doanh nghiệp Khái niệm này được sử dụng để phân biệt với năng lực khác biệt và được hiểu là một tích hợp khả năng cạnh tranh với nguồn lực xác định mà doanh nghiệp vận dụng nó tương đối tốt so với các đối thủ cạnh tranh Điều đó có nghĩa: năng lực khác biệt chính là nguồn ưu thế cạnh tranh hàng đầu của doanh nghiệp và nó được thể hiện chủ yếu trong thực tiễn hoạt động kinh doanh
Tình hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong nước
- Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần sữa Hà Nội” của Thạc sĩ Hoàng Hiếu Thảo năm 2010 thực hiện tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Nestle Việt Nam đến năm 2015” của Thạc sĩ Đặng Minh Thu năm 2001 tại Đại học Lạc Hồng
- Luận văn thạc sĩ “Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần sửa Việt Nam Vinamik” của Thạc sĩ Phạm Minh tuấn thực hiện tại Đại học Kinh tế TP
Hồ Chí Minh năm 2006
Trang 38- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao năng lực canh tranh của sản phẩm sữa bột Dielac của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam” của Thạc sĩ Nông Mai Thanh thực hiện tại Đại học Thương Mai, Hà Nội năm 2015
Kết quả nghiên cứu của các luận văn trên đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
cả một doanh nghiệp chứ chưa so sánh để làm nổi bật thế mạnh mà danh nghiệp cần phát triển nhằm tạo lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường Đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm sữa nước của Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk” của tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp đến Nhà về cách chính xác trong chăn nuôi sản xuất và đến Ngành sữa về nguồn nguyên liệu đầu vào, áp dụng khoa học công nghệ mới, cũng như các chiến lực kinh doanh và tiếp cận khách hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm cụ thể là “sữa nước” của một doanh nghiệp
cụ Đây là tính mới của đề tài và không bị trùng lặp với các đề tài trước đây
Trang 39Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần sữa Việt Nam và thị trường sữa nước Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần sữa Việt Nam được thành lập trên quyết định số 155/2003QD - BCN ngày 01 tháng 10 năm 2003 của Bộ Công nghiệp về chuyển DN Nhà nước Công Ty sữa Việt Nam thành Công ty Cổ Phần Sữa Việt Nam hay còn được gọi là Vinamilk Cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp Hồ Chí Minh ngày 19/01/2006 với mã giao dịch là VNM
Tên giao dịch: VIETNAM DAIRY PRODUCTS JOINT STOCK COMPANY
Trụ sở chính: số 10, Đường Tân Trào, phường Tân Phú, quận 7, Hồ Chí Minh
Từ năm 1988 đến 1991, công ty lần lượt giới thiệu sản phẩm sữa bột, bột dinh dưỡng trẻ em, sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn
Trang 40Từ năm 1992 đến 2000, công ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản phẩm sữa tại Hà Nội, Quy Nhơn và Cần Thơ
Năm 2003 đến 2005, sau khi đổi tên thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam, công ty thực hiện việc mua thâu tóm Công ty cổ phần sữa Sài Gòn, Công ty Liên doanh Sữa Bình Định và khánh thành Nhà máy Sữa Nghệ An
Năm 2006: Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh sau đó tiến hành mua cổ phần chi phối 55% của công ty sữa Lam Sơn
Năm 2010: Vinamilk đầu tư vào dự án sản xuất sữa bột tại Miraka Limited, New Zealand và đạt công suất 100% hai năm sau đó Đến năm 2013, Vinamilk mua lại 70% cổ phần chi phối tại Công ty Driftwood Dairy Holding Corporation của Hoa Kỳ
Năm 2014, Vinamilk thành lập Công ty Angkor Dairy Product Co., Ltd tại Campuchia với 51% vốn góp, thành lập công ty con tại Ba Lan
Cơ cấu tổ chức
Hiện nay, công ty đang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần Hiện tại, Tổng giám đốc của công ty Vinamilk là bà Mai Kiều Liên, người vừa được tạp chí uy tín Forbes vinh danh lần thứ 4 trong danh sách 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất châu Á Bà là người đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc đưa Vinamilk trở thành công ty sữa hàng đầu Việt Nam và có giá trị vốn hóa đứng thứ 2 trên thị trường chứng khoán Việt
Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, ngoài trụ sở chính tại
số 10 đường Tân Trào, phường Tân Phú, quận 7, TP Hồ Chí Minh, Vinamilk
đã xây dựng cho mình 3 chi nhánh và mở rộng hệ thống các nhà máy sản xuất theo sơ đồ cơ cấu tổ chức ở trang sau