1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã an lão, huyện bình lục, tỉnh hà nam

17 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 6,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để trả lời các câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã

Trang 1

LÊ THỊ LAN HƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP CẢI THIỆN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY – CHÂN - MIỆNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI

TẠI XÃ AN LÃO, BÌNH LỤC, HÀ NAM

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã số chuyên ngành: 9720701

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

CÔNG TRÌNH NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Lê Thị Tài

2 GS TS Lê Thị Hương Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Tiến sỹ cấp trường tại Trường Đại học Y tế Công cộng Vào hồi ngày tháng năm 2018

Có thể tìm luận án tại:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện trường Đại học Y tế Công cộng

- Viện Thông tin - Thư viện Y học Trung Ương

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tay-chân-miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, do vi rút đường ruột gây

ra, bệnh thường gặp ở trẻ em (dưới 5 tuổi) với các biểu hiện sốt (trên 37,5oC), biếng ăn, mệt mỏi, đau họng, loét miệng hoặc bọng mụn nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, đầu gối Bệnh có thể lây theo đường tiêu hóa, nguồn lây trực tiếp từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh Bệnh gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời

Bệnh TCM đã gặp ở tất cả các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc, Hungary, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam…, nhưng tập trung chủ yếu tại các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Tại Việt Nam, ca bệnh TCM đầu tiên được phát hiện vào năm 2003 và bệnh có xu hướng tăng dần theo thời gian Năm 2011, bệnh TCM bùng phát trên toàn quốc với số người mắc và tử vong cao nhất từ trước đến nay

và đã xuất hiện ở cả 63 tỉnh thành phố, với 112.370 ca bệnh, trong đó có 169 ca tử vong, số ca tử vong tăng gấp 6 lần so với năm 2010

Hiện nay, bệnh TCM chưa có vắc xin dự phòng và thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và biến chứng, do vậy, kiến thức, thực hành của các bà mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng bệnh TCM Với câu hỏi kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam như thế nào? những giải pháp can thiệp nào có thể cải thiện kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM

của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại đây? Để trả lời các câu hỏi này chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả

can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và Đồn Xá, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2013

2 Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà

mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, huyện Bình Lục, Hà Nam năm 2015

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Để phòng bệnh TCM, Bộ Y tế khuyến cáo người dân chủ động phòng bệnh, tuy nhiên trong thực tiễn, dịch bệnh TCM vẫn bùng phát ở một số địa phương, đặc biệt là những vùng có điều kiện vệ sinh môi trường chưa tốt Cộng đồng nông thôn Hà Nam nói chung, xã An Lão nói riêng phát triển chăn nuôi rất mạnh, nhưng chưa giải quyết tốt vấn đề vệ sinh môi trường tạo điều kiện cho dịch bùng phát, trong đó có nguy cơ dịch bệnh TCM

Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng là hoạt động nghiên cứu mang tính khoa học, có giá trị cao, kết quả đạt được thật sự là bằng chứng có sức thuyết phục đối với các nhà khoa học và các nhà quản lý Hoạt động can thiệp dựa trên nguồn lực sẵn có từ hệ thống y tế cơ sở, cá nhân và sự tham gia của cộng đồng là chính, nên đảm bảo sự duy trì và tính bền vững

Đề tài chứng minh được hiệu quả can thiệp TT-GDSK trên toàn cộng đồng Về can thiệp đã có cái mới là đa kênh, đa hình thức về truyền thông và có sự giám sát của hệ thống y tế, đánh giá được kiến thức, thực hành của bà mẹ

có con dưới 5 tuổi trong việc phòng bệnh TCM Đây là cơ sở và là bằng chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình dự phòng, phòng bệnh TCM cho cộng đồng

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích DID (Difference in Difference) để đánh giá hiệu quả can thiệp về kiến thức/thực hành phòng chống bệnh TCM Đây là một phương pháp mới trong đánh giá hiệu quả can thiệp khi không cùng cỡ mẫu trước và sau can thiệp

Bố cục của luận án: Luận án gồm 123 trang, 21 bảng, 10 biểu đồ, 4 sơ đồ và 109 tài liệu tham khảo, trong đó có 58 tài liệu bằng tiếng Anh Đặt vấn đề gồm 2 trang, tổng quan tài liệu 33 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21 trang, kết quả nghiên cứu 38 trang, bàn luận 26 trang, kết luận 1 trang và khuyến nghị 1 trang

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Giới thiệu về bệnh tay-chân-miệng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) – bệnh TCM là một bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, do các vi rút thuộc nhóm đường ruột gây ra Bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi với các biểu hiện sốt (trên 37,50C), biếng ăn, mệt mỏi, đau họng, loét miệng hoặc bọng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, đầu gối Hầu hết các trường hợp là tự khỏi, mà không cần điều trị Một tỷ lệ ít các trường hợp có thể nặng và biểu hiện triệu chứng thần kinh như viêm màng não, viêm não hoặc liệt do Enterovirus gây ra Bệnh thường xảy ra quanh năm và có xu hướng theo mùa (tháng 3-5 và tháng 9-12)

Trang 5

Bệnh TCM lây theo đường tiêu hóa, nguồn lây trực tiếp từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh, hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn bị nhiễm phân của người bệnh

Để chủ động phòng bệnh TCM, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện 6 biện pháp: Rửa tay thường xuyên với xà phòng, thực hiện tốt vệ sinh ăn uống, vệ sinh bề mặt, dụng cụ tiếp xúc, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, không cho trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh và cần đưa trẻ đi khám khi nghi ngờ trẻ mắc bệnh

1.2 Hoạt động truyền thông phòng bệnh tay-chân-miệng

Truyền thông giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, góp phần giúp mọi người chủ động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Trong việc phòng bệnh TCM tại cộng đồng, thực hiện TT-GDSK là không thể thiếu, dựa vào những hoạt động TT-GDSK

để giúp các bà mẹ biết kiến thức về bệnh và thực hành phòng bệnh TCM thông qua truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp

Bệnh TCM hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy, để phòng bệnh TCM cho cộng đồng, một trong những hoạt động thiết yếu cần ưu tiên phối hợp liên ngành thực hiện là TT-GDSK, các CBYT, tuyên truyền viên, lãnh đạo cộng đồng là những người phải có kiến thức tốt về bệnh TCM

và thực hành đúng các hành vi phòng bệnh TCM đồng thời cần phải thực hiện các hoạt động TT-GDSK đến tất cả các đối tượng trong cộng đồng, ưu tiên bà mẹ có con dưới 5 tuổi và người trực tiếp chăm sóc trẻ Nội dung TT-GDSK phòng bệnh chống TCM cho người dân, cần cụ thể, rõ ràng dễ đọc, dễ hiểu và có khả năng thực hiện Các nội dung này bao gồm kiến thức bệnh TCM như biểu hiện của bênh, đường lây truyền và thực hành phòng bệnh TCM như: rửa tay bằng xà phòng, thực hiện ăn chín, uống chín, thu gom rác thải, phân của trẻ đổ nhà tiêu hợp vệ sinh , giúp cho người dân thay đổi được các thói quen, lối sống, thực hành các hành vi

có lợi, hạn chế hành vi có hại ảnh hưởng đến sức khoẻ và tránh sự lây lan của bệnh trong cộng đồng

Đẩy mạnh công tác TT–GDSK phòng bệnh TCM là một chiến lược quan trọng giúp mọi người dân, cụ thể là các bà mẹ chủ động phòng chống dịch bệnh nói chung và bệnh TCM nói riêng, từ đó có cách nhìn nhận vấn đề sức khoẻ đúng đắn và hành động thích hợp Để đảm bảo thành công trong các chương trình TT-GDSK trong phòng bệnh TCM, không chỉ ngành y tế mà các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể cần phải tham gia vào hoạt động TT-GDSK

1.3 Một số nghiên cứu can thiệp phòng chống bệnh tay-chân-miệng trên thế giới và Việt Nam

Các chương trình phòng chống bệnh TCM tại cộng đồng đã được triển khai tại nhiều quốc gia Các chương trình này có nhiều điểm tương đồng, bao gồm những nội dung chính: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh

cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu rộng; xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ; phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh Các nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh TCM, triển khai các chương trình phòng bệnh TCM tại cộng đồng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore , nội dung chính gồm: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu, rộng; Xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc ban ngày; Phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh, các nghiên cứu đều đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện

Một số can thiệp YTCC hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng, chủ động xây dựng kế hoạch, chính sách phòng bệnh TCM

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 581/QĐ-BYT ngày 24/2/2012 hướng dẫn “Giám sát

và phòng bệnh TCM” nhằm tuyên truyền cho người dân các nội dung: Nguy cơ mắc bệnh; đường lây truyền; các triệu chứng của bệnh và những dấu hiệu bệnh chuyển nặng để người dân chủ động phòng bệnh, có thể phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và đưa đến cơ sở y tế kịp thời; không để bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện 3 sạch: Ăn sạch, ở sạch, bàn tay và chơi đồ chơi sạch Do vậy, cần có những nghiên cứu can thiệp tiếp theo, xây dựng mạng lưới truyền thông, huy động sự tham gia của cộng đồng để phòng chống dịch bệnh được tốt hơn

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu

Cơ sở xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu:

Kết quả tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy việc phòng bệnh TCM của các bà

mẹ có con dưới 5 tuổi phụ thuộc kiến thức của các bà mẹ Kết quả này phù hợp với nguyên lý mà mô hình niềm tin sức khoẻ đưa ra Bên cạnh các yếu tố thuộc về cá nhân, thì những yếu tố tác động từ môi trường xung quanh như gia đình, cộng đồng cũng ảnh hưởng đến việc phòng bệnh TCM

Trang 6

Từ những phân tích trên, chúng tôi đã xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này dựa trên sự kết hợp

từ 2 mô hình lý thuyết, đó là: mô hình lý thuyết thay đổi hành vi là Mô hình niềm tin sức khoẻ để phân tích các

yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe từ đó xác định yếu tố có thể can thiệp, và mô hình lý thuyết về truyền

thông là Mô hình chiến lược truyền thông để xác định đối tượng, nội dung, phương pháp truyền thông phù

hợp

Sơ đồ 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ: 6/2013 - 12/2015

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 2 xã thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam: xã An Lão (xã can thiệp) và xã Đồn Xá (xã đối chứng)

2.2 Đối tượng nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu định lượng: Bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và xã Đồn Xá của huyện

Bình Lục, Hà Nam

• Đối tượng nghiên cứu định tính: CBYT, đại diện cán bộ chính quyền và một số ban/ngành của huyện,

xã, đại diện bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Trang 7

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão và Đồn Xá

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm chứng, để đánh giá thay đổi kiến thức, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có có dưới 5 tuổi

2.3.2 Mẫu nghiên cứu

2.3.2.1 Cỡ mẫu

Ø Cỡ mẫu cho mục tiêu 1

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:

Đề tài này là một phần của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu thực trạng, xây dựng mô hình dự báo, kiểm soát

một số nhóm bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam” mã số ĐTĐL.2012- G/32 Từ những người

được phỏng vấn của mỗi xã chúng tôi chỉ lấy bà mẹ có con dưới 5 tuổi để phân tích mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM Kết quả có 105 bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và 91 bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã Đồn Xá được đưa vào phân tích

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

- Tuyến huyện: Thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm

- Tuyến xã: Thực hiện 04 cuộc phỏng vấn sâu và 06 cuộc thảo luận nhóm

Ø Cỡ mẫu cho mục tiêu 2

* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:

Trong đó:

n1: Cỡ mẫu cho nhóm chứng, n2: Cỡ mẫu cho nhóm can thiệp

po= 0,44: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh TCM theo nghiên cứu của Trần Thị Anh Đào

p1= 0,8: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh TCM trong nhóm can thiệp dự kiến

𝜀: Mức độ chính xác mong muốn = 0,2

Z: hệ số giới hạn tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% = 1,96

Từ đó tính được cỡ mẫu tối thiểu = 117, để tăng độ chính xác lấy hệ số thiết kế d = 2, do vậy cỡ mẫu

là 234 và thêm 5% dự phòng, do vậy cỡ mẫu làm tròn là 250 bà mẹ cho mỗi nhóm can thiệp và nhóm chứng

• Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

- Tuyến huyện: Thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm

- Tuyến xã: Thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 03 cuộc thảo luận nhóm

2.3.2.2 Chọn mẫu

• Chọn mẫu cho mục tiêu 1:

- Chọn huyện: Tại tỉnh Hà Nam, chọn chủ đích huyện Bình Lục

- Chọn xã: Chọn chủ đích xã An Lão và xã Đồn Xá của huyện Bình Lục để tiến hành nghiên cứu

- Chọn đối tượng nghiên cứu:

+ Ở mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 04 thôn Xã An Lão: Gồm các thôn Vĩnh Tứ, Đô Hai, Thứ Nhất, An Lão

Xã Đồn Xá: Tiên lý 1, Tiên lý 2, Hoà Mục, Thôn Nghĩa Kết quả giai đoạn này đã phỏng vấn được

105 bà mẹ tại xã An Lão và 91 bà mẹ tại xã Đồn Xá

+ Chọn ĐTNC cho nghiên cứu đính tính: Chọn chủ đích các đối tượng để thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Phỏng vấn sâu: Tuyến huyện: Chọn phó chủ tịch huyện phụ trách y tế, văn hoá xã hội của huyện;

Giám đốc TTYTDP của huyện Tuyến xã: Chúng tôi chọn phó chủ tịch xã phụ trách y tế, văn hoá của xã; Trạm trưởng trạm y tế xã

Thảo luận nhóm: Tuyến huyện: Chúng tôi chọn các CBYT ở khoa kiểm soát dịch bệnh và phòng

truyền thông thuộc TTYTDP của huyện Tuyến xã: Chúng tôi chọn tất cả các CBYT xã và y tế thôn

Bà mẹ có con dưới 5 tuổi: Chúng tôi chọn những người đại diện biết nhiều thông tin về cộng đồng

(chúng tôi tham khảo ý kiến của CBYT để chọn được các bà mẹ này)

• Chọn mẫu cho mục tiêu 2:

- Chọn xã can thiệp: xã An Lão được được chọn để thực hiện can thiệp, xã Đồn Xá là xã đối chứng

- Chọn đối tượng can thiệp: Đề tài thực hiện can thiệp trên toàn cộng đồng và ưu tiên đối tượng là các bà

mẹ có con dưới 5 tuổi để đánh giá sự thay đổi về kiến thức thực hành phòng bệnh TCM Chọn chủ đích

các đối tượng để thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm như ở giai đoạn 1

2.4 Nội dung, các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.4.1 Nội dung, biến số và chỉ số cho mục tiêu 1

Trang 8

* Thông tin chung của ĐTNC gồm: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế hộ gia đình, nguồn nước sử dụng, nhà tiêu, phương tiện thông tin hiện có

* Thực trạng kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi gồm: Kiến thức về biểu hiện của bệnh, đường lây truyền, các biện pháp phòng bệnh và các yếu tố liên quan Thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

2.4.2 Nội dung, biến số và chỉ số cho mục tiêu 2

Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM, so sánh sự thay đổi kiến thức, thực hành của ĐTNC ở mỗi xã trước và sau can thiệp, tính hiệu quả can thiệp

Tính bền vững của hoạt động can thiệp TT-GDSK: tính phù hợp, khả năng huy động sự tham gia của cộng đồng và nhân rộng các hoạt động can thiệp

2.5 Hoạt động can thiệp phòng bệnh tay-chân-miệng tại xã An Lão

Cơ sở xác định hoạt động can thiệp: Từ kết quả điều tra thực trạng, nhận thấy kiến thức, thực hành

phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi Cần phải xây dựng các hoạt động can thiệp để có tác động đến nâng cao kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM Cộng đồng sẵn sàng tham gia các hoạt động phòng bệnh TCM và lồng ghép vào nhiệm vụ đang thực hiện của ngành y tế

Nội dung can thiệp: tác động vào (1) Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi phòng bệnh

TCM (2) Kiến thức, kỹ năng TT-GDSK của cán bộ y tế, (3) Sự tham gia của lãnh đạo cộng đồng

Giải pháp can thiệp: Ba giải pháp được áp dụng lồng ghép trong nghiên cứu này: (1) Tập huấn nâng cao

năng lực cho CBYT; (2) Huy động sự tham gia của lãnh đạo cộng đồng; (3) TT-GDSK cho người dân, ưu tiên

bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Báo cáo định kỳ và giám sát hoạt động can thiệp: Từ y tế thôn đến trạm y tế xã thứ tư hàng tuần, hoặc khi có

diễn biến bất thường, đột xuất; Từ xã lên huyện và từ huyện lên tỉnh: theo quy định chung của Bộ Y tế về kiểm soát bệnh truyền nhiễm Giám sát của đề tài: Hàng tháng giao ban với CBYT xã, thôn tại trạm y tế xã và 2 tuần/lần đến từng HGĐ, cơ sở chăm sóc trẻ để truyền thông trực tiếp

2.6 Kỹ thuật thu thập thông tin

Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ có con dưới 5 tuổi dựa vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để thu thập thông tin

về kiến thức, thực hành bệnh TCM Phỏng vấn sâu lãnh đạo các cơ sở y tế huyện/xã, lãnh đạo uỷ ban nhân dân huyện và thảo luận nhóm CBYT huyện/xã/thôn, bà mẹ có con dưới 5 tuổi

2.7 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 20 Các kết quả được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của các biến số nghiên cứu

Xử lý số liệu định tính: dựa trên cơ sở nội dung thông tin từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, nhóm các thông tin phân tích trích dẫn theo chủ đề

Cách đánh giá và cho điểm kiến thức, thực hành: Tiêu chí để đánh giá kiến thức, thực hành dựa vào Hướng dẫn giám sát và phòng bệnh TCM, số 581/QĐ-BYT

• Cách đánh giá điểm kiến thức: Đối với câu hỏi về kiến thức, mỗi ý trả lời đúng được tính điểm theo trọng

số, ĐTNC trả lời được bao nhiêu ý đúng được tính bấy nhiêu điểm theo trọng số và đánh giá đạt hay không đạt Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là 24 điểm

- Kiến thức phòng bệnh TCM đạt: Khi ĐTNC trả lời được 12 điểm/24 điểm, trong đó trả lời được ít nhất 3

trong 6 khuyến cáo của Bộ Y tế về phòng bệnh TCM

- Kiến thức phòng bệnh TCM không đạt: ĐTNC trả lời dưới 12 điểm/24 điểm, trong đó không trả lời được ít nhất

03 trong 6 khuyến cáo của Bộ Y tế về phòng bệnh TCM

• Cách đánh giá điểm thực hành: Mỗi thực hành đúng được tính điểm theo trọng số, ĐTNC có bao nhiêu

thực hành đúng được tính bấy nhiêu điểm theo trọng số và đánh giá đạt hay không đạt Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là 11 điểm

- Thực hành phòng bệnh TCM đạt: ĐTNC trả lời được 6 điểm/11 điểm, trong đó thực hiện được ít nhất 3

trong 6 biện pháp khuyến cáo của Bộ Y tế

- Thực hành phòng bệnh TCM không đạt: ĐTNC trả lời dưới 6 điểm/11 điểm, trong đó không thực hiện được ít nhất 3

trong 6 biện pháp khuyến cáo của Bộ Y tế

• Đánh giá kết quả can thiệp:

- Tính tỷ lệ % cải thiện sau can thiệp:

CSHQcan thiệp (%) = !! !!!

!!  𝑥  100; CSHQchứng (%) = !! !!!

!!  𝑥  100 Trong đó: CSHQ: là chỉ số hiệu quả của nhóm can thiệp và nhóm chứng, pT: là tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu trước can thiệp, pS: là tỷ lệ % chỉ số nghiên cứu sau can thiệp Hiệu quả can thiệp: HQCT (%) = CSHQ can thiệp – CSHQ chứng

- Sử dụng phương pháp DID (Difference-in-Difference) để so sánh kết quả giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng sau thời gian can thiệp, ước tính những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM DID thường được thực hiện như là sự tương tác giữa thời gian và can thiệp thông qua các biến giả trong mô hình hồi qui

Trang 9

- Các biến giả: Thời gian: 1- Trước can thiệp; 0- Sau can thiệp,

Can thiệp: 1- Nhóm can thiệp; 0- Nhóm chứng, Tương tác: Thời gian * Can thiệp

Phương trình hồi qui:

Kiến thức/Thực hành = β0 + β1*(Thời gian) + β2*(Can thiệp) + β3*(Tương tác)

Trong đó: β0: Là hằng số; β1: Là sự thay đổi kiến thức/thực hành trong quá trình can thiệp của nhóm chứng, nghĩa là nếu không có can thiệp thì có thể có hoặc không có sự thay đổi trước và sau can thiệp trong nhóm chứng; β2: Hệ số hồi qui của biến can thiệp, nghĩa là sự khác biệt về kiến thức/thực hành của nhóm can thiệp và nhóm chứng trước can thiệp; β3: Chỉ số ước tính DID, nó cung cấp thông tin về sự khác biệt kiến thức/thực hành trước và sau can thiệp của nhóm can thiệp và nhóm chứng là khác nhau sau khi hiệu chỉnh với các biến thời gian và can thiệp

Can thiệp được xem là có hiệu quả khi kiểm định hệ số hồi quy β3 có ý nghĩa thống kê (p<0,05) và kiểm định mô hình có ý nghĩa

2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này là một phần trong đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình dự

báo, kiểm soát một số nhóm bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam”, mã số: ĐTĐL.2012-G/32 do

Trường Đại học Y Hà Nội chủ trì đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y Hà Nội phê duyệt và cho phép thực hiện theo quyết định số 122/HĐĐĐ –ĐHYHN ngày 28 tháng 02 năm 2013

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu trước can thiệp

Đặc điểm

p(1,2) p(3,4)

An Lão (1) n=105 Đồn Xá (2) n=91 (3) n=250 An Lão Đồn Xá (4) n=250

Nhóm tuổi

Trình độ học vấn

>0,05 >0,05

Nghề nghiệp

>0,05 >0,05 Làm ruộng/khác (buôn bán,

Nhận xét: Các đặc điểm chung của ĐTNC như: nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp ở xã An Lão và xã

Đồn Xá không có sự khác biệt trước và sau can thiệp, giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng

3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi năm

2013

3.2.1 Kiến thức phòng chống bệnh tay-chân-miệng

Bảng 3.3: Kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Kiến thức

Xã An Lão (n=105)

Xã Đồn Xá

Khả năng lây bệnh và phòng bệnh

3 Trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh 86 81,9 66 72,5 >0,05

Đường lây truyền

5 Tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn, bọng nước 59 56,2 45 49,5 >0,05

7 Không biết về đường lây truyền của bệnh 23 21,9 21 23,5 >0,05

Trang 10

Biểu hiện của bệnh

10 Mụn nước trong miệng, bàn tay/bàn chân/mông/đầu gối 75 71,4 68 68,0 >0,05

11 Không biết về các biểu hiện của bệnh 19 18,1 14 15,4 >0,05

Nhận xét: Kiến thức về bệnh TCM như: khả năng lây bệnh và phòng bệnh, đường lây truyền và biểu hiện

bệnh các bà mẹ biết chưa được đầy đủ ở hai xã Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức bệnh TCM của bà mẹ

có con dưới 5 tuổi ở 2 xã An Lão và Đồn Xá

Bảng 3.4: Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh TCM

Kiến thức về các biện pháp phòng bệnh TCM

Xã An Lão (n=105)

Xã Đồn Xá (n=91) p

1 Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy 40 38,1 38 41,8 >0,05

3 Rửa sạch vật dụng chế biến thức ăn và cho ăn trước khi sử

4 Không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi 4 3,8 6 6,6 >0,05

5 Không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, cốc, bát, đĩa, thìa, 6 5,7 1 1,1 >0,05

6 Làm sạch đồ chơi, những nơi trẻ hay bám tay 12 11,4 12 13.2 >0,05

7 Thu gom phân, chất thải của trẻ đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh 2 1,9 3 3,3 >0,05

8 Không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp và tiếp xúc với trẻ bệnh 6 5,7 3 3.3 >0,05

Nhận xét: Các bà mẹ biết kiến thức về bệnh không được đầy đủ ở hai xã Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến

thức các biện pháp phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá

Bảng 3.5: Mức độ kiến thức về bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Mức độ kiến thức

Xã An Lão (n=105)

Xã Đồn Xá

Nhận xét: Hầu hết các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở 2 xã đều có kiến thức về bệnh TCM không đạt (94,3% ở xã

An Lão, 97,8 ở xã Đồn Xá) Không có sự khác biệt về tỷ lệ kiến thức phòng bệnh TCM đạt và không đạt của

bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã An Lão và Đồn Xá

Biểu đồ 3.1: Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi biết các dấu hiệu bệnh chuyển nặng ở xã An Lão và xã Đồn Xá Nhận xét: Trước can thiệp, không có sự khác biệt về tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi biết dấu hiệu bệnh chuyển

nặng ở xã An Lão và xã Đồn Xá

3.2.2 Thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng

Bảng 3.6: Thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Các biện pháp thực hành đã thực hiện

Xã An Lão (n=105)

Xã Đồn Xá (n=91) p

1 Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng 34 32,4 32 35,2 >0,05

Ngày đăng: 11/05/2018, 14:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w