* Khái niệm hộ nông dân Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yế
Trang 1HOÀNG VĂN THỐNG
GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG HỘ SAU KHI THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2017
Trang 2HOÀNG VĂN THỐNG
GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG HỘ SAU KHI THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH
Chuyên ngành: QLKT
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Minh Nguyệt
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn có thật
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Thống
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học Quản lý kinh tế khoá học
2015 - 2017, được sự đồng ý của Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Phòng Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: Giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ sau khi thu hồi đất tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình Sau một thời gian tiến hành,
đến nay đề tài đã được hoàn thành
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Thị Minh Nguyệt người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ở trường, cũng như trong quá trình thực hiện đề tài
Qua đây cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tham gia trực tiếp giảng dạy, cán bộ phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học lâm nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Lương Sơn, Phòng TNMT, Phòng NN, Khu Công nghiệp Lương sơn và tất cả các bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bản luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Hoàng Văn Thống
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan……….……….……i
Lời cảm ơn………ii
Mục lục………iii
Danh mục các từ viết tắt……… ……… v
Danh mục các bảng……… vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ SAU THU HỒI ĐẤT 4
1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp 4
1.1.1 Lý luận cơ bản về phát triển kinh tế hộ nông dân 4
1.1.2 Khái niệm và vai trò của xây dựng khu công nghiệp 10
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 21
1.2.1 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân trong phát triển các khu công nghiệp ở Trung Quốc 21
1.2.2 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho nông hộ khi thu hồi đất ở Việt Nam 22
1.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu 36
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 38
2.1.1 Giới thiệu chung về Khu công nghiệp Lương Sơn 38
2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên 40
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 45
2.1.4 Đánh giá chung 49
2.2 Phương pháp nghiên cứu 52
Trang 62.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 52
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin……….…53
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin……….……55
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu……….56
2.2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu 56
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
3.1 Tình hình thu hồi đất tại dự án Khu công nghiệp Lương Sơn 57
3.1.1 Thực trạng đất đai của huyện Lương Sơn 57
3.1.2 Thực trạng thu hồi đất tại Khu công nghiệp Lương Sơn 59
3.2 Thực trạng thu nhập và sự thay đổi thu nhập của các nông hộ bị thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu 61
3.2.1 Thông tin cơ bản về hộ điều tra……….61
3.2.2 Tình hình thu hồi đất của các nông hộ điều tra tại KCN Lương Sơn 63
3.2.3.Tình hình đền bù và sử dụng tiền đền bù của các nông hộ bị thu hồi đất tại Khu công nghiệp Lương Sơn 64
3.2.4 Ảnh hưởng thu hồi đất đến thu nhập của nông hộ điều tra 65
3.2.5 Ảnh hưởng thu hồi đất đến việc vay vốn của nông hộ 67
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của thu hồi đất đến phát triển kinh tế hộ nông dân tại Khu công nghiệp Lương Sơn 68
3.3.1 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến sản xuất nông nghiệp của nông hộ 68
3.3.2 Ảnh hưởng thu hồi đất đến việc làm của nông hộ 69
3.3.3 Ảnh hưởng đến điều kiện sống của nông hộ sau thu hồi đất 72
3.4 Đánh giá chung về hoạt động thu hồi đất đến phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Lương Sơn 81
3.4.1 Tác động tích cực 81
3.4.2 Tác động tiêu cực 82
Trang 73.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ
sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn – Hòa Bình 85
3.5.1 Mục tiêu 85
3.5.2 Giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn – Hòa Bình 86
3.5.3 Khuyến nghị 97
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8NN&PTNT Nông nghiệp & phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân dân
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TN-MT Tài nguyên môi trường
TMDV Thương mại dịch vụ
VLDX Vật liệu xây dựng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng dân số, lao động huyện Lương Sơn năm 2016 45
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Lương Sơn năm 2016 57
Bảng 3.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Lương Sơn năm 2016 58
Bảng 3.3 Thực trạng thu hồi đất tại KCN Lương Sơn 61
Bảng 3.4 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra 62
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng đất của các nông hộ bị thu hồi đất………… 63
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng tiền bồi thường của nông hộ khi thu hồi đất 64
Bảng 3.7 Đánh giá về thu nhập của hộ sau thu hồi đất 65
Bảng 3.8 Cơ cấu thu nhập của hộ sau thu hồi đất 66
Bảng 3.9 Tình hình vay vốn của các nông hộ sau thu hồi đất 67
Bảng 3.10 Mục đích vay, nguồn vốn vay của các hộ sau thu hồi đất 68
Bảng 3.11 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ sau thu hồi đất Bảng 3.12 Tình hình việc làm của hộ gia đình sau thu hồi đất 70
Bảng 3.13 Tình hình nhà ở của người dân sau khi bị thu hồi đất 72
Bảng 3.14 Tình hình tài sản vật chất chủ yếu của các hộ điều tra 73
Bảng 3.15 Ý kiến người dân về giáo dục, y tế, giao thông và môi trường sau khi thu hồi đất 74
Bảng 3.16 Ý kiến người dân về sử dụng điện, nước sinh hoạt 78
Bảng 3.17 Tiếp cận thông tin, giải trí của hộ sau khi thu hồi đất 79
Bảng 3.18 Đánh giá của hộ về mối quan hệ cộng đồng sau khi thu hồi đất 81
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới, hiện đại Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến tình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó
là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn; làm thay đổi căn bản
xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa cần phải thực hiện việc thu hồi đất cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đó là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển
Ở nước ta, trong những năm qua trên khắp các vùng, miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng cấp làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã thay đổi nhanh chóng Đồng thời với nó là việc thu hồi đất, đặc biệt là đất nông nghiệp để phục vụ cho phát triển công nghiệp, đô thị hóa Bên cạnh những tác động tích cực của việc xây dựng các khu công nghiệp như thu hút đầu tư, tạo công ăn việc làm, chỉnh trang đô thị thì mặt trái của nó là người dân bị thu hồi đất, mất dần tư liệu sản xuất, ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập Các chính sách đền bù, tái định cư có bảo đảm được việc làm, thu nhập và đời sống của những người dân sau thu hồi đất thực sự tốt hơn không vẫn là một câu hỏi nóng bỏng
và được toàn xã hội quan tâm
Huyện Lương Sơn đang trở thành huyện phát triển mạnh về công nghiệp của tỉnh Hòa Bình Khu công nghiệp Lương Sơn có diện tích 82,9 ha, nằm trên địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, là khu công nghiệp đi vào hoạt động trong nhiều năm nay Đời sống người dân nơi đây kể từ khi Khu
Trang 11công nghiệp đi vào hoạt động đã có nhiều mặt ổn định và phát triển tốt Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân bị thu hồi đất đang gặp khó khăn như việc làm, thu nhập không ổn định… Để phát triển công nghiệp toàn tỉnh nói chung và huyện Lương Sơn nói riêng theo hướng bền vững, vấn đề tạo công ăn việc làm,
ổn định thu nhập cho người dân bị thu hồi đất hiện là một thách thức đối với các
ngành chức năng Trước những vấn đề trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp
nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ sau thu hồi đất tại huyện
Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình” để thực hiện luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi thu nhập của người dân sau thu hồi đất, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo ổn định và phát triển kinh tế nông hộ sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn – Hòa Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập, các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của các nông hộ sau thu hồi đất
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thu nhập
Trang 12của người dân sau thu hồi đất sản xuất cho xây dựng Khu công nghiệp Lương Sơn Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới ổn định và phát triển kinh tế của 92 hộ
bị thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp Lương Sơn – Hòa Bình
- Phạm vi về không giam: Đề tài được nghiên cứu tại xã Hòa Sơn, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về thời gian:
+ Số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm (từ 2014 đến 2016)
+ Số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2017
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất
- Thực trạng thu nhập và sự thay đổi thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ sau thu hồi đất tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Đặt vấn đề, Kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập của nông
hộ sau thu hồi đất
- Chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và Thảo luận
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO THU NHẬP
CỦA NÔNG HỘ SAU THU HỒI ĐẤT
1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp
1.1.1 Lý luận cơ bản về phát triển kinh tế hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
* Khái niệm hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là: “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất
để nuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội”.[19]
Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm khác nhau về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: "Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công"
- Theo Liên hợp quốc: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ"
- Năm 1981, Harris (London - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng:
"Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động" [17] và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái "Hệ thống Thế giới" (Mỹ) là Smith (1985 - Martin và Beiltell (1987) có bổ sung thêm: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung" [18]
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế" [15]
Trang 14Đây mới chủ yếu nêu lên những quan niệm về hộ tiêu biểu nhất, mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp hay khái quát chung nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài )
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động
và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước,
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi
vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau)
* Khái niệm hộ nông dân
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [14]
Nhà khoa học Traianốp cho rằng: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" [16]
Trang 15Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển
Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất
cơ bản" [16] Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây
đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh
tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" [14] Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [2]
Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả
có theẻ rút ra những vấn đề sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế
Trang 16lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
1 1.1.2 Đặc điểm của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau[18]:
+ Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng
+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường
+ Ngoài hoạt động nông nghiệp các nông hộ còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau
+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau
+ Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất
+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý và sử dụng các yếu
tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ
+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông
hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao
Trang 17+ Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh
tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy mô lớn hơn, thí dụ như các xí nghiệp sản xuất …
do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp sản xuất khi gặp các điều kiện bất lợi
+ Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên
cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế của hộ
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Đặc biệt, kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng
và vật nuôi Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả
“Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn
vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế Nhưng trước xu thế quốc
tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển” [3]
Trang 181.1.1.3 Lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân
* Khái niệm về phát triển kinh tế hộ nông dân
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộ mọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.[5]
Kinh tế hộ nông dân là một thành phần của kinh tế nông nghiệp, do đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế hộ nông dân chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh tế hộ nông dân, làm cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi lên
* Nội dung phát triển kinh tế hộ nông dân
- Phát triển qui mô các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ nông dân: Các yếu
tố sản xuất chủ yếu của kinh tế hộ nông dân bao gồm: đất đai, vốn, lao động Phát triển các yếu tố sản xuất là nhằm gia tăng qui mô đất đai tính trên hộ nông dân (hoặc tính trên 1 lao động); gia tăng vốn đầu tư cho sản xuất của hộ, gia tăng số lượng lao động
- Nâng cao trình độ sản xuất của chủ hộ: Trình độ của chủ hộ bao gồm trình độ học vấn và kỹ năng lao động Người lao động phải có trình độ học vấn
và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình
độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh
- Gia tăng kết quả sản xuất của kinh tế hộ: Kết quả sản xuất của kinh tế
hộ biểu hiện ở đầu ra của kinh tế hộ như: Sản lượng hàng hóa nông sản, giá trị tổng sản lượng, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu Kết quả này có được nhờ sự kết hợp các yếu tố nguồn lực lao động, vốn, đất đai, trình độ sản xuất
Trang 19của chủ hộ và sự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh như chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân
- Nâng cao thu nhập, đời sống và tích lũy của kinh tế hộ: Phát triển kinh
tế hộ cuối cùng phải có tác động tích cực đến thu nhập các hộ nông dân, phải làm gia tăng thu nhập bình quân của hộ nông dân, gia tăng mức sống, thỏa mãn các điều kiện sống cơ bản như nhà ở, điện, nước sạch, nhà vệ sinh… và ngày càng gia tăng mức tích lũy của hộ
* Các chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân
- Chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất chủ yếu của hộ nông dân bao gồm: Đất đai bình quân l hộ, l lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân 1
hộ và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/người tiêu dùng bình quân
- Chỉ tiêu đánh giá trình độ sản xuất của hộ nông dân bao gồm các chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ, về điều kiện sản xuất, phương hướng sản xuất Chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỳ thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính
- Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ nông dân: Sản lượng hàng hóa; gía trị sản xuất; giá trị sản lượng hàng hóa; doanh thu…
- Chỉ tiêu phản ánh thu nhập, đời sống và tích lũy của hộ nông dân bao gồm: tổng thu nhập của hộ, thu nhập bình quân người/tháng; tổng chi tiêu trong năm; cơ cấu chi tiêu trong năm; chi đời sống; chi tiêu bình quân người / tháng; chi đời sống bình quân người/tháng tỷ lệ thặng dư và tích luỹ của hộ.[19]
1.1.2 Khái niệm và vai trò của xây dựng khu công nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm
Theo Nghị định của Chính phủ số 36-CP ngày 24/4/1997 về ban hành quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao định nghĩa: “"Khu
Trang 20công nghiệp" là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa
lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.”
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedie (Wikipedie, 2014): KCN là khu yực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mực tiêu kinh tế - xã hội - môi trường KCN thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tàng kỹ thuật và pháp lý riêng Những KCN có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế
- Tăng cường khả năng thu hút đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Đặc điểm của mô hình phát triển KCN là các nhà đầu tư
trong và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp sức mạnh của nguồn vốn trong và ngoài nước Việc xây dựng và phát triển các KCN sẽ giúp cho đất nước thu hút được một nguồn vốn khá quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia Trong việc quy hoạch lại các mạng lưới doanh nghiệp, Chính phủ rất khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN
Trong những năm qua, phát triển KCN đã huy động được nguồn vốn khá lớn cho nền kinh tế, đi liền với nó là hệ thống các chính sách đầu tư Tác dụng huy động vốn cùa KCN được thể hiện ở 02 mặt: Thứ nhất, KCN huy động vốn
từ nội bộ nền kinh tế đất nước, đây là nguồn vốn có tính chất quyết định, là nhân tố nội lực Trong những năm gần đây nguồn vốn này phát triển nhanh chóng, tính đến 7/2017 thu hút đầu tư trong nước, các KCN, KKT thu hút được
450 dự án đầu tư và điều chỉnh tăng vốn cho hơn 162 dự án với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 123.000 tỷ đồng Lũy kế đến hết tháng 7/2017, các KCN, KKT thu hút được 8.052 dự án với tổng mức đầu tư đạt 1.830,7 tỷ đồng
Trang 21Vốn thực hiện đạt khoảng 42% Thứ hai, KCN huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài: Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì việc thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng KCN là biện pháp hữu hiệu nhằm huy động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tính đến tháng 7/2017, các KCN, KKT thu hút được 553 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới
và điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 8,6 tỷ USD Lũy kế đến hết tháng 7/2017, các KCN, KKT đã thu hút được 7.757 dự án với tổng vốn đầu tư đạt 163,9 tỷ USD; vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 58%
- Góp phần đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp vào kim ngạch xuất khấu và ngân sách cả nước Hiện nay, các KCN, KKT đã thu hút được
15.809 dự án đầu tư trong và ngoài nước, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 163,9 tỷ USD, vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước 1.830,7 tỷ đồng Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 40% giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,8 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Ngoài ra, các KCN phát triển
đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước ) Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, … [8]
- Góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế của đất nước: Các KCN còn có tác dụng kích thích cạnh tranh, đổi mới và hoàn thiện
môi trường kinh doanh Các doanh nghiệp trong các KCN đóng vai trò kích thích việc cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, nhất là thể chế tiền tệ, tín dụng và ngoại hối của các địa phương nói riêng và của cả nước nói chung Các doanh nghiệp này cũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới thương mại hàng hóa và dịch vụ xã hội [8]
- Góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước: Để thu hút đầu tư vào
các KCN, tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án, ngoài các chính
Trang 22sách ưu đãi về tài chính Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào đồng bộ
và hiện đại (bao gồm cả hệ thống điện nước và bưu chính viễn thông), không chỉ
có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động mà còn tác dụng kích thích sự phát triển kinh tể của địa phương nơi có KCN
- Khu công nghiệp là cơ sở tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi phương thức quản lý mới Các khu công nghiệp khi thành lập đều đặt ra
mục tiêu tiếp cận các công nghiệp hiện đại Theo một nhà kinh tế Phương Tây nhận định: việc thành lập các khu công nghiệp còn có ý nghĩa hơn là một sự thay đổi chính sách, bởi sự thay đổi chính sách từ bóp nghẹt sang cởi mở thông thoáng chỉ có ý nghĩa tối đa khi chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường Còn sự thực khi nền kinh tế đã hạn chế bớt đi các trói buộc phong kiến, hành chính thì điều có ý nghĩa hơn là một chính sách kỹ thuật và công nghệ khả dĩ đủ hấp dẫn để thu hút được các kỹ thuật và công nghệ mới của nước ngoài vào sự tái thiết nền kinh tế nội địa
- Khu công nghiệp góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, tạo
ra lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao cho xã hội Hầu hết các nước
đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế đều gặp phải tình huống khó xử: nếu theo đuổi mục tiêu toàn dụng nhân lực thì khó thực hiện mục tiêu chống lạm phát, đồng thời ước muốn nền sản xuất xã hội đạt hiệu quả cao bằng cách du nhập các công nghệ tinh vi tức là ỉt sử dụng lao động thì sẽ làm gia tăng nạn thất nghiệp Tuy chưa phải là giải pháp lý tưởng nhưng việc thiết lập các khu công nghiệp là một cơ hội quan trọng để giải quyết mâu thuẫn này Với lực lượng lao động lớn, máy móc thiết bị hiện đại, trình độ phát triển cao của các doanh nghiệp trong KCN, nó sẽ tạo áp lực cho các cơ quan nhà nước tặng cường đào tạo nguồn nhân lực trong nước đáp ứng được yêu cầu của các KCN và bản thân doanh nghiệp lúc đó cũng có nhiều cơ hội lựa chọn lao động có tay nghề cao cho mình
Trang 23Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KCN mà đặc biệt là các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đã đào tạo đội ngũ cán bộ tiên tiến, có tác động lan tỏa và nâng cao nền tảng trình độ lao động của đội ngũ lao động Việt Nam
- Tạo ra mối liên kết giữa các ngành nghề: Các KCN đã và đang tạo
điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của địa phương mình Đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong vùng, miền và cả nước
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đòi hỏi những nguồn cung cấp thường xuyên nguyên vật liệu và dịch vụ đầụ vào, điều này tạo ra mối liên hệ giữa các doanh nghiệp KCN và các doanh nghiệp kinh doanh khác Việc đáp ứng các nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào với chất lượng cao và thường xuyên sẽ là động lực thúc đấy các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp
- Góp phần nâng cao năng lực quản lỷ của các cơ quan quản lý nhà nước về KCN: KCN là một mô hình mới được xây dựng và phát triển ở Việt
Nam nên thực tế triển khai mô hình này còn nhiều bất cập trong quản lý nhà nước về KCN như phân cấp, ủy quyền trong KCN, thủ tục hành chính trong đầu
tư vào các KCN, các vấn đề thuế, hải quan, Thực tiễn phát triển KCN đã cho chúng ta nhiều bài học trong quản lý nhà nước về KCN nói riêng và quản lý nhà nước nói chung Đến nay, bộ máy quản lý KCN đã hình thành một cách thống nhất từ trung ương đến địa phương bao gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan quản lý KCN cấp Trung ương và các Ban quản lý các KCN cấp tỉnh
Việc phân cấp mạnh mẽ cho các Ban quản lý các KCN cấp tỉnh trong việc quản lý hoạt động đầu tư trong KCN, là nơi thực hiện tốt cơ chế một cửa, tại chỗ, tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư vào KCN và cũng là nơi các cơ quan nhà nước “thử nghiệm” các chính sách và ngày càng hoàn thiện các chính sách
đó sao cho phù hợp với thực tế
Trang 241.1.3 Lý luận về nâng cao thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất
1.1.3.1 Nguồn thu nhập của nông hộ
Tổng thu nhập của hộ thường được thu từ một nguồn hay nhiều nguồn Qua các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê qua các năm về dân số, nhà ở thì thu nhập được chia thành 5 nguồn [12]:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp: bao gồm thu do trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các họat động liên quan đến nông nghiệp
Thu nhập từ tiền công, tiền lương: bao gồm thu nhập chính 7 ngày, các công việc phụ 7 ngày, việc làm chính 12 tháng Thành phần thu nhập của mỗi công việc bao gồm cả tiền mặt và giá trị hiện vật nhận được các khoản: tiền công, trị giá ăn trưa, các loại phụ cấp, bảo hộ lao động có liên quan đến công việc
Thu nhập khác: bao gồm tiền cho thuê nhà ở, thu từ quà biếu khách hàng tiêu dùng, thu nhập bình quân từ lãi cho vay mượn trong 12 tháng kể cả nhận và
sẽ nhận, bao gồm các khoản tiền và giá trị hiện vật có tính chất trợ giúp đã nhận được trong 12 tháng mà không phải hoàn trả lại từ các tổ chức, cá nhân không phải thành viên của hộ, kể cả trong và ngoài nước
1.1.3.2 Khái niệm và tác động của thu hồi đất đến thu nhập của nông hộ
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Luật đất đai năm 2013)
Trang 25Tái định cư: là một hoạt động trong đó thể hiện hoạt động để bù đắp toàn
bộ những tổn thất kinh tế xã hội từ việc mất đất và những hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ, cùng với chính sách đền bù và những hỗ trợ thích hợp (WorkBank, 2004)
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2006), khi một dự án được triển khai thì con người sẽ bị ảnh hưởng, họ nên được tư vấn, được đền bù cho những mất mát của họ, được hỗ trợ xây nhà và những hoạt động cộng đồng khác Những vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn nếu những người ảnh hưởng
là người nghèo, khi mà không có khả năng xoay sở thì việc hỗ trợ là hết sức cần thiết
Thu hồi đất và công tác tái định cư không những tác động nghiêm trọng
mà còn có thể ảnh hưởng về mặt kinh tế và xã hội Đó là, những tan vỡ trong mối quan hệ cộng đồng và những tổn thương sau khi tái định cư Nếu việc chính sách thu hồi đất và tái định cư được thực hiện tốt thì nó sẽ là một cơ hội phát triển tốt
Những dự án thu hồi đất, tái định cư có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong việc sử dụng đất hoặc các nguồn lực tự nhiên, có thể tác động đến những người sử dụng nguồn lực đó Nhiều dự án, ví dụ việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới, những loại dự án này có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với địa phương, vùng và quốc gia bởi vì cộng đồng và những cá nhân có thể bị ảnh hưởng
Sự thu hồi đất và di chuyển chỗ ở của người dân có thể gây ra sự thiếu thốn nghiêm trọng và những tổn hại về kinh tế, xã hội, môi trường nếu không có một kế hoạch cẩn thận Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2006), để tránh hoặc tối thiểu hóa những tổn thất khi thực hiện dự án thì việc thu hồi đất
và tái định cư là không thể tránh khỏi, những kế hoạch này nên được lên kế hoạch và thực hiện như chương trình phát triển ADB chỉ ra rằng những người
Trang 26ảnh hưởng nên được hỗ trợ để họ cải thiện mức sống, hoặc ít nhất là phục hồi cuộc sống của họ, bằng cuộc sống cũ hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi đất
và di chuyển (ADB, 1995)
* Tác động của thu hồi đất đến thu nhập của hộ nông dân
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển các khu công nghiệp là một xu hướng tất yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của cả nước Các khu công nghiệp thời gian qua đã đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển chung như tạo việc làm, đóng góp vào ngân sách của trung ương và địa phương,v.v Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó, việc xây dựng các khu công nghiệp cũng tác động không nhỏ đến
thu nhập của các hộ nông dân
Theo tính toán của các nhà khoa học, một hộ nông dân 4 người có diện tích trung bình 2880m2, trồng 2 vụ lúa và 50% trồng vụ đông, chăn nuôi ở mức trung bình, không có nguồn thu nhập nào khác thì chỉ đủ ăn trong gia đình (Lê Du Phong, 2005; Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề, 2011) Khi diện tích đất nông nghiệp bị giảm, hộ nông dân sẽ bị ảnh hưởng như sau:
- Diện tích đất nông nghiệp giảm khoảng dưới 30%, không có nguồn khác bổ sung thì nguồn thu nhập bị giảm xuống, có ảnh hưởng đến đời sống của các thành viên trong gia đình
- Diện tích đất nông nghiệp bị giảm khoảng 30-70%, nếu không có nguồn thay thế thì thu nhập bị giảm rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng, hộ sẽ bị nghèo đói
- Nếu diện tích đất bị mất trên 70%, hộ đó coi như không còn có nguồn thu nhập từ nông nghiệp, buộc phải tìm kiếm việc làm khác
Như vậy, về mặt lý thuyết những hộ có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp thấp thì thu nhập ít thay đổi, những hộ có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi lớn thì mức thu nhập càng giảm (trong điều kiện không có nguồn thu nhập khác
Trang 27bổ sung) Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, những nhóm hộ bị thu hồi đất nhiều buộc phải thay đổi nghề nghiệp vì diện tích đất nông nghiệp còn lại không thể đủ để duy trì cuộc sống Khi chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi trình độ lao động cao, có chất lượng và năng suất lao động cao Thu nhập cũng thay đổi theo hướng tích cực hơn với những yêu cầu đòi hỏi cao hơn về trình độ đối với mọi đối tượng lao động
Nhóm hộ có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp nhiều (> 70%) thì tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp rất cao Thu nhập, đời sống văn hóa tinh thần của họ được tăng lên so với trước kia và vì vậy họ sẽ có cuộc sống tốt hơn
Nhóm hộ có tỷ lệ thu hồi đất ít, tỷ lệ người trả lời có thu nhập tăng nhỏ hơn bởi vì trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, không có vốn để tự tổ chức sản xuất Hơn nữa, do cách nghĩ, cách làm, lối sống của họ còn mang nặng sắc thái văn hóa nông thôn làng, xã truyền thống nên hạn chế trong khả năng thiết lập các mối quan hệ công ăn, việc làm, khả năng tiếp cận các dịch
vụ việc làm, khả năng hội nhập với cuộc sống đô thị Vì vậy, một bộ phận dân
cư đã không tiếp cận được với những thành quả của quá trình này, kết quả điều tra thực tế vẫn còn một số hộ có thu nhập không thay đổi, một số hộ bị giảm đi so với trước kia, chủ yếu tập trung vào các hộ có tỷ lệ bị thu hồi ít (< 30%), nguyên nhân chính là do tâm lý của người dân ngại thay đổi nghề nghiệp nên cố bám trụ trên diện tích đất nông nghiệp còn lại, mặc dù họ biết ngành sản xuất nông nghiệp là ngành có rủi ro cao mà thu nhập lại thấp
Theo một khảo sát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mới đây, trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm Không xét đến thành phần đang đi học trong độ tuổi lao động, chỉ xét riêng thành phần thất nghiệp được điều tra từ các hộ thì cứ 2ha đất mất đi trung bình lại có 1 người phải rơi vào tình trạng thất nghiệp hoàn toàn Đấy là
Trang 28chưa xét đến thành phần những người lao động theo thời vụ manh tính cầm chừng và thành phần những người có việc làm nhưng thu nhập không quá 1triệu/tháng Theo số liệu tổng hợp từ quá trình điều tra thì số người trong độ tuổi lao động trên 35 tuổi chiếm tới 34,4% trong tổng số lao động nhưng hầu hết thành phần này đều không không có việc làm, đây là nhóm nhóm tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình nhưng nay trở lại trở thành người “ngồi chơi xơi nước”, ở độ tuổi của họ vấn đề học và chuyển đổi nghề mới không
dễ dàng Không chỉ có thành phần trung niên khó tìm việc làm mà thành phần thanh thiếu niên cũng khó tìm kiếm được một việc làm có nguồn thu như ý muốn do không có trình độ chuyên môn Qua đó thấy được vấn đề lao động
và việc làm đang trở thành vấn đề nóng bỏng và bức xúc cần được giải quyết ngay cho từng địa phương nói riêng và cho toàn thể những hộ bị thu hồi đất trong địa bàn huyện nói chung
Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của người bị thu hồi đất một phần là do sự phát triển của các ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, sau khi bị thu hồi đất, người nông dân bị mất tư liệu sản xuất, mất nguồn thu từ đất, bản thân người lao động, vốn xuất phát từ nông dân, có nhiều hạn chế về năng lực và trình độ văn hoá cũng như trình độ chuyên môn nghề nghiệp, chưa hình thành được tác phong công nghiệp nên không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Không ít người, sau một thời gian được nhận vào làm việc tại các nhà máy, các khu công nghiệp, do không đáp ứng được yêu cầu nên lại thất nghiệp Điều này gây khó khăn cho cuộc sống của chính bản thân người lao động, đồng thời cũng gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thu hút lao động và ổn định sản xuất
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạnh thất nghiệp hiện nay của người dân mất đất cũng cần phải nhắc đến một vấn đề cũng rất đáng lưu ý là nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào
Trang 29chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền đền bù mà không tự tìm cho mình cố gắng vượt qua khó khăn tìm kiếm việc làm Tâm lý chờ nhận sự ưu đãi từ Nhà nước và các doanh nghiệp mà không có sự chuẩn bị nghề nghiệp mới đang tồn tại một cách khá phổ biến ở người lao động Hơn nữa các doanh nghiệp khi thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp đều cam kết sẽ giải quyết việc làm cho lao động địa phương nhưng thực tế số người tìm được việc làm chỉ đếm trên đầu ngón tay
* Phục hồi thu nhập cho những người bị ảnh hưởng của thu hồi đất
Theo Ngân hàng thế giới (WorkBank, 2004) thì phục hồi thu nhập là một phàn quan trọng của chính sách thu hồi đất khi những người bị ảnh hưởng mất
đi cơ sở sản xuất, kinh doanh, việc làm hoặc các nguồn thu nhập khác Tuy nhiên, những người bị ảnh hưởng bị mất nhà cửa cũng như các nguồn thu nhập
là những người rủi ro nhất
Khi những người bị ảnh hưởng bị nghèo đi, họ có nguy cơ khánh kiệt và tách khỏi cộng đồng Điều này có thể dẫn đến mất đất, mất việc làm, mất nhà cửa, bị tách ra bên lề xã hội, bị bệnh tật, thiếu thực phẩm, từ đó có thể dẫn đến
sự mất trật tự xã hội, kể cả phạm tội và trộm cắp
Đối với khu vực nông thôn Việt Nam, các dự án phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đa số đều có chính sách đền bù, hỗ trợ người dân sau khi bị thu hồi đất và di chuyển chỗ ở Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, cuộc sống và thu nhập của người dân sau thu hồi đất vẫn còn nhiều khó khăn Do vậy, phục hồi thu nhập là cốt lõi của việc thực hiện chính sách thu hồi đất và tái định cư, vấn đề này cần được chú ý tối đa khi chuẩn bị triển khai bất cứ dự án nào có liên quan đến thu hồi đất Phục hồi thu nhập nên được thiết kế với sự tham vấn của những người bị ảnh hưởng ở mức trước khi có dự án hoặc cao hơn, và phải đảm bảo rằng những người bị ảnh hưởng sớm thích nghi với điều kiện mới trong thời gian ngắn nhất
Theo nghiên cứu của Julie Holt, Mads Jense (Julie Holị Mads Jense, 2006) về những vấn đề xã hội và môi trường của Dự án thủy điện Nam Theoum
Trang 302 (Cộng hỏa dân chủ nhân dân Lào) thì nguồn thu nhập chính của những hộ dân tái định cư là từ sản phẩm nông nghiệp, tuy nhiên thu nhập của họ bị suy giảm đáng kể và người dân vẫn thiếu lương thực trong năm đầu sau tái định cư
Theo nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2006) thì thu nhập của hộ nông dân sau thu hồi đất bị giảm, nhưng giá cho các loại hàng hóa tiêu dùng hàng ngày thì tăng cao do diện tích đất nông nghiệp trong vùng bị giảm, tất cả phải mua từ những vùng lân cận nên giá cả của chúng bị tăng cao Việc thiếu các chính sách đào tạo và sự đền bù chưa thỏa đáng đối với các hộ dân bị di dời đã làm cho các hộ dân rơi vào tình cảnh khó khăn sau khi đất nông nghiệp bị thu hồi Một số hộ đã di chuyển chỗ ở đến những địa phương lân cận
để tiếp tục sinh sống dựa vào nông nghiệp
Các nguyên tắc khi thu hồi đất: Bằng hoặc cao hơn mức sống trước
khi có dự án (ADB, 1995) là nguyên tắc chính của chương trình phục hồi thu nhập Các nhà lập kế hoạch cần tính đến những mối liên hệ giữa hoạt động thu hồi đất, di chuyển chỗ ở và tạo thu nhập Ví dụ, mức sống và chất lượng cuộc sống của những người bị ảnh hưởng ở các địa phương thực hiện dự án, các địa điểm mới sẽ gắn liền với việc tiếp cận và kiểm soát tốt các nguồn lực (ví dụ đất đai) hoặc các nguồn tạo thu nhập (ví dụ việc làm, kinh doanh) Một đánh giá tổng quan gần đây về quản lý danh mục đối với việc thu hồi đất và tái định cư của Ngân hàng thế giới phát hiện rằng những gia đình bị ảnh hưởng với sự tiếp cận dễ dàng những nguồn lực sản xuất đầy đủ đã có khả năng tái tạo lại và đôi lúc cải thiện các hệ thống sản xuất hoặc sinh kế bị tổn thất
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân trong phát triển các khu công nghiệp ở Trung Quốc
Trung Quốc đã có nhiều mô hình về xây dựng đô thị nhỏ Nhiều đô thị nhỏ đã trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và
Trang 31thông tin Ví dụ, Sinh Ký, một đô thị mới ở tỉnh Giang Tô, đã thu hút và phát triển 118 doanh nghiệp vừa và nhỏ, năm 1991 giá trị sản lượng của đô thị này đạt 2,8 tỷ nhân dân tệ, nếu tính bình quân đầu người thi đạt mức 6.000 USD, cao hơn giá trị sản lượng bình quân đầu người của Hàn Quốc trong cùng thời
kỳ Một ví dụ khác là đô thị Long Cương ở tỉnh Chiết Giang, được thành lập ở vùng nông thôn vào năm 1984 Chỉ sau 2 năm, nông dân địa phương đã xây dựng nó trở thành một đô thị với 27 tuyến phố, diện tích xây dựng xấp xỉ 1 triệu m2
và dân số 30.000 người với tổng chi phí 160 triệu nhân dân tệ, trong
đó chỉ có 9 triệu nhân dân tệ do Nhà nước hỗ trợ Năm 1993, thành phố này đã thu hút được số dân 130.000 người và giá trị sản lượng hàng năm khoảng 800 triệu nhân dân tệ Ngoài ra, Trung Quốc còn chủ trương phát triển các đô thị mới nằm giữa các thành phố lớn và vừa với khu vực nông thôn như các thành phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân, Vũ Hán và Thẩm Quyến
Nhờ những giải pháp này, Trung Quốc đã giải quyết được việc làm cho vài trăm triệu người Nó không chỉ tạo ra sự “cất cánh” của công nghiệp hoá nông thôn Trung Quốc mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hóa
1.2.2 Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho nông hộ khi thu hồi đất ở Việt Nam
1.2.2.1 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế và chú ý tới lợi ích của những người bị thu hồi đất
a) Trước năm 1993
Trang 32Người dân chưa quen thuộc lắm với khái niệm thu hồi đất và tái định cư Nhiều người nghĩ quá trình thu hồi đất, tái định cư đơn giản chỉ là việc đền bù cho những người bị ảnh hưởng và di chuyển họ tới nơi ở mới Vào thời điểm đó, thay vì gán cho thuật ngữ “tái định cư” thì người ta phổ biến sử dụng cụm từ
“sắp xếp các địa điểm dự án” để đưa ra giải pháp xây dựng dự án
Thời gian này, vẫn chưa có chính sách tái định cư của Chính phủ Luật pháp vào thời điểm này mới chỉ quy định đền bù cho những người bị ảnh hưởng, nhưng chỉ là mức độ thiệt hại Do vậy, không thành công trong việc khôi phục tài sản của những người bị ảnh hưởng, có nhiều lý do cho vấn đề này:
+ Nhiều loại mất mát không được thể hiện trong chính sách;
+ Mức độ đền bù không đủ cao;
+ Việc đền bù không trả đúng thời điểm;
+ Chính sách đền bù không bao gồm việc phục hồi và cải thiện chất lượng cuộc sống và thu nhập của người bị ảnh hưởng;
+ Không có những thủ tục pháp lý cho việc lập kế hoạch, chấp thuận, thực thi và giám sát quá trình thu hồi đất và tái định cư
b) Từ năm 1993 - 2012
Tăng trưởng kinh tế nhanh, số dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án cần nhiều đất đai đã tăng và cũng từ năm 1993, nhiều chính sách liên quan đến người bị thu hồi đất, tái định cư như đền bù đất sản xuất, nhà cửa, tài sản, cơ sở
hạ tầng, đào tạo việc làm, và các vấn đề xã hội khác được ban hành như Luật đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP (CP 2004), Nghị định 69/2009/NĐ-
CP (CP, 2009), về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
c) Từ năm 2013 đến nay
Các chính sách liên quan đến thu hồi đất, tái định cư được sửa đổi, thay thế ban hành như: Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về việc quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất,…
Luật đất đai năm 2013: Luật đất đai (sửa đổi) mới nhất (ngày
Trang 3302-10-2013), Ban soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý và đã đưa ra những quy định để cố gắng giải quyết những vướng mắc, bất cập, đáp ứng được các mục tiêu đề ra Theo đó, Luật đã dành 13 Điều (từ Điều 74 đến Điều 87) để quy định về nhiều vấn đề, như: quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế
- xã hội; bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế - xã hội; bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế,
cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo… Đặc biệt, dự thảo Luật đã dành một Điều
quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt: Đối
với dự án đầu tư do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định mà phải di chuyển cả một cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế -
xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng; các dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Đối với các dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Chính phủ có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách đó… Cụ thể:
* Quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất Điều 74 Luật Đất đai 2013, quy định các nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có
đủ điều kiện được bồi thường (theo quy định tại Điều 75) thì được bồi thường; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích
sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thế của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kip thời
Trang 34và đúng quy định của pháp luật Và Điều 88 quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất: Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường; khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại
* Quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -
xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường
về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 75), cụ thể:
Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê
đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử
dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau)
Bổ sung bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân
cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do nhà nước giao, cho thuê và có giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 này mà chưa được cấp (Luật Đất đai 2003 chưa quy định việc bồi thường, hỗ trợ đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích xản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi công nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện, không phải đất do được nhà nước giao mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004 nên gây vướng mắc trong thực hiện tại nhiều địa phương)
* Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào
Trang 35đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông nghiệp, đất ở, đất phi công nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng
sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81) Theo quy định của Luật Đất đai năm
2013, việc xác định mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó
* Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại , cho một số trường hợp không được bồi thường đất (Điều 76)
Theo Khoản 13, Điều 3 Luật Đất đai 2013, Chi phí đầu tư vào đất còn lại bao gồm chi phí san lấp mặt bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được
Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi, bao gồm: Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54; đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được được miễn tiền sử dụng đất; đất được Nhà nước cho thuê đất hàng năm, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng; đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
* Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án đặc biệt Điều 87, Luật Đất đai 2013 quy định theo hướng:
Bổ sung trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường
có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị
Trang 36ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống, sản xuất theo quy định của Chính phủ
Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách sách đó
* Về chính sách hỗ trợ, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung một số quy định so với Luật Đất đai năm 2003:
- Quy định các nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 83)
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường Cụ thể: Hộ gia
đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm; trường hợp người được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được
Trang 37tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh” (Khoản 1, Điều 84)
- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ ở Cụ thể: Đối với hộ gia đình, các nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ nguồn kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển chổ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm (Khoản 2, Điều 84)
* Về chính sách tái định cư Để khắc phục tình trạng nhiều dự án chưa có
khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở, thậm chí có những dự án mà người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở nhiều năm mà vẫn chưa được bố trí vào khu tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới, như sau:
- Bổ sung quy định về lập và thực hiện dự án tái định cư (Điều 85) theo hướng: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất; quy định khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền; quy định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng khu tái định cư
- Sửa đổi, bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi
đất ở mà phải di chuyển chổ ở (Điều 86), cụ thể: Người có đất bị thu hồi được
bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc
có điều kiện tái định cư (ưu tiên vị trí thuận lợi cho người sớm bàn giao mặt bằng, người có công với cách mạng); giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định;
Trang 38quy định trường hợp người có đất bị thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ mua 01 suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền để mua một suất tái định cư tối thiểu
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: Theo hướng dẫn tại Nghị định 47/2014 NĐ – CP thì
ngoài các khoản hỗ trợ về tái định cư, di chuyển chỗ ở mà đã từng được quy định tại Luật đất đai 2003 trước đây thì hiện nay người sử dụng đất khi bị thu hồi còn có thể được nhận các khoản hỗ trợ khác
Theo điều 19 - Chính sách hỗ trợ của Nghị định 47/2014/ NĐ – CP có nội dung sau:
Điều 19 Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất Việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình,
cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập
ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;
Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng
Trang 39Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;
Điều 20, điều 21 Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
+ Điều 20 Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm
+ Điều 21 Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình,
cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở
Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch
vụ mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai
Theo đó thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định các biện pháp khác để đảm bảo có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất bị thu hồi Quy định mới này có thể tạo điều kiện cho các tỉnh trong việc hỗ trợ cho những đối tượng thuộc diện bị thu hồi đất ở trong địa bản tỉnh mà phải di chuyển chỗ ở cho phù hợp với những điều kiện riêng của tỉnh mình
1.2.2.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương của Việt Nam
* Kinh nghiệm của Hà Nội
Trang 40- Thành lập Ban chỉ đạo Chương trình việc làm, tiến hành nắm bắt thực
tế nguồn nhân lực, khả năng giải quyết việc làm của các dự án mới được xây dựng, khả năng của các cơ sở sản xuất kinh doanh để chỉ đạo các sở, ngành có liên quan như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, sở Kế hoạch và Đầu tư tìm biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm trên địa bàn Thành phố
- Ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất tạo cơ chế
tổ chức triển khai thực tế như chính sách khuyến khích phát triển kinh tế ngoài quốc doanh
- Tổ chức và thực hiện Chương trình vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm gắn với chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
- Thành phố áp dụng hai mức hỗ trợ là: hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo (đây là chủ yếu) và hỗ trợ hoàn toàn Hỗ trợ chủ yếu bằng hình thức cấp kinh phí để người lao động tự tìm nơi đào tạo Các cơ sở sử dụng đất thu hồi cũng có tham gia vào việc hỗ trợ này, tuy nhiên ở mức thấp hơn so với một số tỉnh khác
- Các chủ dự án đầu tư được giao sử dụng đất nhà nước thu hồi đã có những cố gắng hỗ trợ người dân trong việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm, nhất là đối với những lao động trẻ và những người dưới 35 tuổi, nhằm giúp họ tìm kiếm mới trong công nghiệp hoặc dịch vụ với thu nhập cao hơn
và ổn định hơn
* Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng
- Cho vay vốn để sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn vay của Ngân hàng chính sách, nguồn quỹ quốc gia GQVL
- Miễn thuế, giảm thuế sản xuất kinh doanh đối với những hộ nông dân chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá buộc phải chuyển qua sản xuất kinh doanh ở những ngành nghề khác
- Tăng đầu tư ngân sách và mở rộng hoạt động dạy nghề, đặc biệt tăng