TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ KIM CHUNG quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học trên địa bàn quận tây hồ - Chuy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
quản lý đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
ở trường tiểu học trên địa bàn quận tây hồ -
thành phố hà nội
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
ở trường tiểu học trên địa bàn quận tây hồ -
Chuyờn ngành : Quản lý giỏo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này là cả một quá trình cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ, hỗ trợ các ban ngành liên quan
Với tất cả tấm lòng, tác giả xin gửi lời biết ơn tới Ban giám hiệu, bạn
bè đồng nghiệp, các thầy cô giáo các trường bạn trên địa bàn quận Tây Hồ…
đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được nghiên cứu, điều tra và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh người trực tiếp hướng dẫn khoa học, trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực và có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được các ý kiến góp ý, phê bình của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo, các nhà quản lý, các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Kim Chung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Kim Chung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
6
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 8
1.3 Đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng
phát triển năng lực ở trường tiểu học
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học
21
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá học sinh 24 1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá kết quả học tập của
học sinh
25
1.4.4 Kiểm tra giám sát hoạt động đánh giá học sinh của giáo viên 27 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá
kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển
năng lực ở trường tiểu học
28
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
33
2.1 Sơ lược về giáo dục và giáo dục tiểu học quận Tây Hồ 33
2.3 Thực trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học
sinh theo định hướng phát triển năng lực
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
45
2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo
viên về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo định hướng
Trang 72.5.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 59
CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ
62
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục tiểu học 62 3.1.2 Đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới đánh giá học sinh
tiểu học hiện nay
62
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá học tập của
học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở các
trường tiểu học trên địa bàn quận Tây Hồ
64
3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng, nâng cao nhận thức về đánh giá kết
quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
64
3.2.2 Chỉ đạo giáo viên thực hiện lập kế hoạch đánh giá kết quả
học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
68
3.2.3 Tổ chức giáo viên triển khai thực hiện việc đổi mới đánh giá
kết quả học tập của học sinh đồng bộ với đổi mới phương
pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực
74
3.2.4 Kiểm tra, giám sát giáo viên thực hiện hoạt động đánh giá
học sinh theo định hướng phát triển năng lực
76
3.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoạt động đánh
giá theo định hướng phát triển năng lực
78
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
đã đề xuất
79
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
TB : Trung bình
GV : Giáo viên
Trang 92.2 Thực trạng thực hiện nội dung đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
40
2.3 Thực trạng thực hiện phương pháp đánh giá học sinh theo
định hướng phát triển năng lực
42
2.4 Thực trạng thực hiện hình thức đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
44
2.5 Nhận thức của CBQL và giáo viên về vai trò của quản lý
hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định
hướng phát triển năng lực
46
2.6 Kết quả thực hiện các nội dung của công tác lập kế hoạch
quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo định hướng phát triển năng lực
47
2.7 Kết quả thực hiện các nội dung tổ chức thực hiện kế
hoạch đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh
49
2.8 Kết quả thực hiện các nội dung chỉ đạo đánh giá học sinh
theo định hướng phát triển năng lực
51
2.9 Kết quả kiểm tra, giám sát thực hiện đánh giá học sinh
theo định hướng phát triển năng lực
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
3.3 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, sự thay đổi của nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải đào tạo ra những con người đáp ứng được nhu cầu đổi mới Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp thiết cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra đánh giá Trong đó, đổi mới đánh giá kết quả học tập theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách giáo dục
Nhận thức tầm quan trọng của GD&ĐT, trong nhiều năm qua, Đảng Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách ưu tiên nhằm phát triển hệ thống giáo dục quốc dân Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013
về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT đã nêu quan điểm chỉ đạo: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học… đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"
Đối với giáo dục tiểu học, ngoài việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, thì Bộ GD&ĐT chỉ đạo từ các Sở, Phòng GD&ĐT đến các trường thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính chủ động tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh tiểu học và ngày càng tiếp cận đến chuẩn đánh giá quốc tế về kết quả của học sinh tiểu học
Sự ra đời của Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT (sửa đổi năm 2016), thực chất đó là đổi mới cách đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực, đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
Trang 12Quận Tây Hồ thành lập được hơn 20 năm, công tác giáo dục cũng được các cấp lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm và những năm gần đây có những bước thành tích đáng kể
Vấn đề đổi mới trong giáo dục, đổi mới trong dạy học được ngành giáo dục quận hết sức chú trọng Nhiều cuộc vận động đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực được Phòng GD&ĐT quận phát động và các nhà trường đã triển khai tích cực
Song hiện hầu như các nhà trường mới chỉ chú trọng đổi mới phương pháp dạy học còn hoạt động đánh giá học sinh còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu về đổi mới Bởi việc chuyển đổi từ đánh giá kết quả giáo dục theo chương trình, nội dung hiện hành sang đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực, đã tạo ra không ít khó khăn cho giáo viên tiểu học Bên cạnh những thói quen, kinh nghiệm đánh giá cũ không dễ thay đổi thì giáo viên cũng chưa được trang bị những kiến thức cơ bản và hướng dẫn cần thiết để có thể thực hiện cách đánh giá kết quả giáo dục một cách hiệu quả
Một trong những nguyên nhân nữa là Ban giám hiệu nhà trường chưa
có những biện pháp quản lý hợp lý và đồng bộ giữa đổi mới phương pháp dạy học với hoạt động đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực Điều đó đòi hỏi sớm có những biện pháp quản lý được tổ chức một cách khoa học để khắc phục những tồn tại trên và giúp nhà trường làm tốt công tác đánh giá học sinh theo hướng dẫn mới của Bộ GD&ĐT
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Quản lý đánh
giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học trên địa bàn quận Tây Hồ - thành phố Hà Nội" để nghiên
cứu với mong muốn tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc thực hiện đánh giá kết quả giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói riêng, cũng như chất lượng giáo dục của quận Tây Hồ nói chung
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lí luận và thực tiễn về quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường tiểu học, từ đó đề xuất biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh trong các trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường tiểu học của quận Tây Hồ
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý đánh giá học sinh các trường tiểu học quận Tây Hồ đã mang lại hiệu quả nhất định Song, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và và yêu cầu đánh giá theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, thì việc đánh giá học sinh tiểu học vẫn còn những bất cập Nếu xác định được những biện pháp quản lý đánh giá học sinh đồng bộ với quá trình dạy học hướng vào phát triển các năng lực của học sinh, sẽ nâng cao được hiệu quả đánh giá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn quận
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu và giả thuyết khoa học luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường tiểu học quận Tây Hồ
- Phân tích đánh giá thực trạng biện pháp quản lý việc đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực của các trường
- Đề xuất một số biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Tây Hồ
Trang 146 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Địa bàn khảo sát
- Trường tiểu học Đông Thái - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học Chu Văn An - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học An Dương - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học Xuân La - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học Quảng An - quận Tây Hồ
6.2 Khách thể điều tra
Số lượng cán bộ quản lý: 36 (Ban giám hiệu nhà trường, các tổ trưởng, tổ phó)
Số lượng giáo viên các trường: 132 giáo viên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến
đề tài như: sách báo, tạp chí, thông tin từ các văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Nhằm thu thập thông tin thực
tiện từ cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên và học sinh các trường tiểu học về quản lý đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực; trên cơ sở đó phân tích đánh giá thực trạng vấn đề này
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin bổ sung sau khi
điều tra bảng hỏi nhằm thu thập ý kiến sâu hơn của giáo viên và học sinh để phục vụ cho hoạt động phân tích và đánh giá thực trạng
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Tiến hành phân tích các sản phẩm
của hoạt động đánh giá học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực, để từ đó nắm bắt các thông tin chung, phục vụ cho việc đánh giá chung về thực trạng quản lý đánh giá học sinh theo định hướng này ở trường tiểu học
Trang 158 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đánh giá kết quả học tập của học
sinh theo định hướng phát triển năng lực
Chương 2: Thực trạng quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo
định hướng phát triển năng lực ở các trường tiểu học quận Tây Hồ, Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo định hướng phát triển năng lực ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Tây Hồ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về vấn đề đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực trong các nhà hiện nay, cụ thể là:
Trong cuốn "A learning integrated assessment system, Educationnal Research Review, 2006" của Birenbaum và các cộng sự [43] cho rằng nếu năng lực được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một cách kết hợp để giải quyết các vấn đề trong bối cảnh cụ thể thì các chương trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố này Ưu điểm của cách này là độ tin cậy kết quả đánh giá sẽ cao hơn và áp lực thi cử sẽ giảm bớt do bài thi nội dung, kiến thức không còn là kết quả duy nhất quyết định sự tiến bộ trong học tập của con người
Nghiên cứu lý thuyết chung về kiểm tra - đánh giá trong lớp học như công trình của C.A.Paloma và Trudy W Banta [44] Những tài liệu viết về lĩnh vực này được biết đến như: cuốn "Measuring Educationnal Achievement" (Đo lường thành tích giáo dục) của Robert L Ebel [49] mô tả rất chi tiết phương pháp đo lường đánh giá học sinh ở các trường phổ thông ở Mỹ Qua công trình này cho thấy việc đánh giá học sinh cần tập trung vào đánh giá các năng lực được học sinh thể hiện trong quá trình kiểm tra và đánh giá
Kết hợp với các bài kiểm tra các công cụ khác như đánh giá hồ sơ, phỏng vấn ý kiến bên thứ ba (thầy cô giáo, người quản lí, cán bộ tư vấn học đường ) cũng được các sở giáo dục sử dụng rộng rãi để đánh giá toàn diện năng lực thí sinh
Cuốn "Measurement and Evaluation in Teaching" (Đo lường và đánh gía trong dạy học) của Norman E.Gronlund giới thiệu với giáo viên và những
Trang 17người đang theo học nghề sư phạm về những quy tắc và chương trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả [47] Trong tác phẩm này đã tiếp tục khẳng định rằng năng lực của người học là đối tượng của đánh giá,cách đánh giá và đo lường sư phạm, nếu không thể đánh giá được các năng lực của người học thì việc đánh giá chỉ có tính hình thức và đã vi phạm các nguyên tắc đánh giá
Trong cuốn "A Teacher’s Guide to Assessment" (Hướng dẫn giáo viên đánh giá) do D.S Frith và H.G.Macintosh lại viết rất cụ thể, chuyên sâu về những lý luận cơ bản của đánh giá trong lớp học, cách lập kế hoạch đánh giá, cách đánh giá, cho điểm và cả cách thức đánh đánh giá bằng nhận xét của giáo viên đối với học sinh [45]
Đây là cuốn sách gợi mở rất nhiều cho nhà quản lý trong công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo hướng tiếp cận phát triển năng lực
Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật kiệm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được trình bày trong cuốn "giáo viênClassrom Assessment - Techiniques" của Thomas A Agelo, K.Patricia Cross [50] giới thiệu cho giáo viên cần biết sử dụng các phương pháp cụ thể nào trong đánh giá trên lớp học
và việc ra quyết định khi sử dụng các kết quả đánh giá
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Vấn đề đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực trong nước, được rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình
cụ thể là:
Tác giả Lâm Quang Thiệp với cuốn sách "Lý thuyết và thực hành về
đo lường và đánh giá trong giáo dục" nghiên cứu về đo lường đánh giá trong giáo dục bằng phương pháp định lượng được sử dụng trong giảng dạy và có tính thực tiễn cao [34]
Tác giả Nguyễn Công Khanh và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá học sinh theo hướng tiếp cận năng lực và xuất bản cuốn "Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục" và cuốn Hướng dẫn đánh giá học sinh tiểu học (theo Thông tư
Trang 1822/2026/TT-BGDĐT) Đây là những cuốn sách có giá trị rất lớn trong bối cảnh đổi mới hoạt động, đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực trong các nhà trường hiện nay [22]
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh với "Đánh giá và đo lường kết quả học tập" đã hệ thống đầy đủ các thuật ngữ và khái niệm, các nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật, các nội dung đánh giá trong giáo dục [30]
Trong cuốn "Đánh giá trong giáo dục tiểu học" [19] Tác giả Phó Đức Hòa cũng đề cập những vấn đề chung về đánh giá trong giáo dục; một số quy định về đánh giá kết quả giáo dục tiểu học ở Việt Nam Quy trình đánh giá trong dạy học; vấn đề đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan
Hiện nay cũng có nhiều những công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, một số bài viết của một số tác giả cũng quan tâm đến việc quản lý đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực, như "Biện pháp quản lý đánh giá học sinh theo tiếp cận năng lực ở Trường tiểu học Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh", luận văn của tác giả Lê Hồng Anh; "Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng", luận văn của tác giả Hà Huy Hiệp
Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về các biện pháp quản
lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực trong các trường tiểu học ở quận Tây Hồ Vì vậy, tác giả muốn nghiên cứu về hoạt động này, nhằm áp dụng những nghiên cứu về quản lý đánh giá trong thực tiễn quản lý quá trình dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường tiểu học thuộc quận Tây Hồ
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Trang 19Theo tác giả Đặng Thành Hưng, "Quản lí là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia" [21]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "quản lý là sự tác động có mục đích
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung
là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [31, tr 9]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý về các mặt văn hóa, chính trị, kinh
tế, xã hội bằng một hệ thống luật lệ các chính sách, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [15, tr 21]
Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là một quá trình tác động đến
hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định [33, tr 6]
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có ý thức
thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan
Trang 20của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa
hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất" [17, tr 89]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội" [3, tr 25]
Tác giả Anthony J Nitkon: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp: Tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng" [41]
Thuật ngữ quản lý giáo dục được xem xét dưới hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô Quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lý một nền hệ thống giáo dục Ở cấp độ này, quản lý giáo dục được hiểu là những tác động
tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh các nguồn lực nhân lực, vật lực, tải lực và thông tin để hệ thống giáo dục vận hành đạt mục tiêu phát triển giáo dục
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
Có thể hiểu chung nhất: Quản lý giáo dục là quá trình vận dụng
nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu xác định
Trang 211.2.1.3 Quản lý nhà trường
Xuất phát từ khái niệm quản lý giáo dục nói chung được hiểu theo hai nghĩa là quản lý ở cấp độ vĩ mô và quản lý ở cấp độ vi mô, quản lý trường học (nhà trường) cũng được định nghĩa theo hai góc độ như sau:
- Góc độ thứ nhất: Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự giác của các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cấp chính quyền (đơn vị hành chính từ trung ương đến địa phương) đối với một cơ sở giáo dục (trường học) nào đó [23]
- Góc độ thứ hai: Quản lý trường học được hiểu theo nghĩa các hoạt động của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục (trường học) như Hiệu trưởng hoặc người có chức vụ quyền hạn tương đương Hiệu trưởng đối với các hoạt động giáo dục và dạy học của cơ sở hay trường học mà họ được giao trách nhiệm quản lý [23]
Trong đề tài này, quản lý trường học được tiếp cận chủ yếu ở góc độ thứ hai
Cụ thể là: Quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và phù hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và người học ) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.2.2 Đánh giá
Đánh giá (Evaluation) là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu
và đưa ra nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau, cụ thể là:
Theo tác giả Woodhouse: đánh giá chính là sự lượng giá mà kết quả là điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không đạt) Điểm có thể là "qua" (Pass) hay "trượt" (Fail) Câu hỏi đánh giá "Kết quả của bạn như thế nào?" [12]
Trang 22Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp
và hành động trong giáo dục tiếp theo Có thể nói rằng, đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục [37]
Còn theo tác giả Trần Bá Hoành: "Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc" [20, tr 1]
Tác giả Lưu Xuân Mới quan niệm: "Đánh giá trong giáo dục là một
quá trình tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng
so với mục tiêu đã định Nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu" [26, tr 14]
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng ba chức năng rõ rệt của đánh giá: chức năng xã hội, chức năng giải trình và chức năng sư phạm Việc đánh giá người học có ý nghĩa nhiều mặt: để chứng nhận năng lực, hướng dẫn, điều chỉnh (nhận định thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy và học của học sinh); để thúc đẩy, kích thích (là cơ sở để các cấp quản lý hoạch định chính sách, chỉ đạo, ra quyết định quản lý…); đảm bảo đúng mục tiêu, yêu cầu của chương trình, đảm bảo tính chính xác, khách quan của các nhận xét Kết quả đánh giá cần được công bố công khai, nếu có khiếu nại cần xem xét nghiêm túc và xử lý hợp với quy định của Bộ GD&ĐT
1.2.3 Đánh giá kết quả học tập
Theo tác giả Đỗ Công Tuất, việc đánh giá kết quả học tập học sinh
nhằm các mục đích sau:
Trang 23(1) Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học, tìm phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình
(2) Công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi
em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kĩ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày một tốt hơn
(3) Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy việc đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm:
• Nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học tập của
học sinh
• Tạo điều kiện nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt
động giảng dạy của giáo viên
Trong cuốn tài liệu "Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học", tác giả cho rằng, "Đánh giá kết quả học tập là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận hoặc phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học, hoặc đưa ra những quyết định về việc dạy học dựa trên cơ sở những thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình kiểm tra"
Theo tác giả Trần Kiều: "Có thể coi đánh giá kết quả học tập của học sinh là xác định mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đối chiếu với mục tiêu của chương trình môn học"
Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, "Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn"
Trang 24Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ
1.2.4 Năng lực
Các tác giả đưa ra rất nhiều định nghĩa về năng lực Tuy nhiên, các định nghĩ này có nhiều điểm giống nhau Roegier (2000) định nghĩa năng lực như sau: "Năng lực, đối với cá nhân, là khả năng huy động một cách có ý thức một tập hợp tích hợp các nguồn để giải quyết một gia đình tình huống - vấn đề" Định nghĩa về năng lực do trong Khung tham chiếu châu Âu ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ và rõ ràng: "Năng lực là một tập hợp các kiến thức,
kĩ năng và khả năng cho phép hành động" (CECR: 16)
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra Chẳng hạn, theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm
lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Năng lực là "khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện hoạt động nào đó" [33, tr 61] như năng lực tư duy, năng lực tài
chính hoặc là "phẩm chất sinh lý, trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao" như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động Năng lực vừa
Trang 25là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm)
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận Năng lực là tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến những kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động Trong định nghĩa này, tác giả đã đưa vào yếu tố rất quan trọng làm rõ những thuộc tính cá nhân - đó là sinh học, tâm lý và giá trị xã hội
Như vậy: "Năng lực là tổ hợp thuộc tính tâm lý và trình độ xã hội đã
được chứng thực, chứng tỏ là hoàn thành một hoặc nhiều công việc theo các tiêu
chuẩn tương ứng trong bối cảnh hoạt động thực tế của người học" [33]
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể" (OECD, 2002)
Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành và trải nghiệm các nhiệm vụ học tập nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả
Nó bao gồm cả khả năng chuyển tải kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thói quen vào các tình huống cụ thể Nó cũng bao gồm cả sự tổ chức thực hiện, sự thay đổi, cách tân và tính hiệu quả cá nhân cần có người học để học tập Như vậy, ngoài bộ ba then chốt kiến thức - kỹ năng - thái độ, năng lực cần phải phụ thuộc vào một số yếu tố chủ quan khác như thể chất - sinh lý và yếu tố khách quan như bối cảnh và điều kiện làm việc và học tập
1.3 Đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát
triển năng lực ở trường tiểu học
1.3.1 Một số đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 Sự phát triển các quá trình nhận thức ở học sinh tiểu học có những bước tiến mới so với lứa tuổi mẫu giáo
Trang 26Tuy nhiên trẻ vẫn thiên về nhận thức cảm tính, nhìn nhận sự vật, hiện tượng thông qua.vẻ bề ngoài gây ấn tượng về mặt cảm xúc, cụ thể:
Khả năng chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có chú ý chưa mạnh, hình ảnh của tưởng tượng trong các em còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Học sinh Tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Ghi nhớ máy móc của học sinh lớp 1, lớp 2 thường chiếm ưu thế Học sinh lớp 1, lớp 2 chưa hiểu được cần ghi nhớ cái gì và ghi nhớ trong bao lâu
Sự phát triển tư duy của học sinh tiểu học cũng trải qua hai giai đoạn cơ bản Giai đoạn đầu, tư duy của học sinh tiểu học cũng rất giống với tư duy của trẻ mẫu giáo Sự phân tích tài liệu học tập ở tuổi này chủ yếu diễn ra trong bình diện hành động trực quan Có nghĩa là, trẻ có khả năng tư duy khi các đối tượng trực tiếp tác động đến trẻ, hay nói cách khác trẻ dựa vào những đối tượng thực hoặc trực tiếp thay thế Đối với học sinh lớp một hoặc lớp hai, khả năng phán đoán các đối tượng chỉ dựa trên những dấu hiệu bề ngoài, suy lí chỉ dựa trên những tiền đề trực quan, nhưng dữ kiện tri giác Việc chứng minh các kết luận được thực hiện không phải dựa trên cơ sở những chứng cứ logic
mà bằng cách đối chiếu với những tri thức đã tiếp thu được Khả năng khái quát hóa của trẻ ở giai đoạn này chủ yếu dựa trên những dấu hiệu sặc sỡ của đối tượng
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm tình cảm của mình Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Tuy nhiên, tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ hoạt động
Trang 27Nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; Đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình Các nhà giáo dục cần dựa vào những đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học để hỗ trợ và định hướng cho trẻ một cách đơn giản, đúng đắn, giúp trẻ phát triển nhận thức hoàn hảo nhất ở lứa tuổi này
1.3.2 Đặc trưng của đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực
Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình dạy học, cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích và kết quả học tập của học sinh Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập học sinh không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập học sinh theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá học sinh với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh Hay nói cách khác, đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa
Xét về bản chất thì không có mẫu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức kĩ năng, mà đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn
Trang 28so với đánh giá kiến thưc, kỹ năng Để chứng minh học sinh có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến thức,
kỹ năng đã được học ở trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và
xã hội) Như vậy thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta đồng thời có thể đánh giá được kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiên và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hóa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức, được hình thành tư nhiều lĩnh vực học tập và tự sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người
Có thể tổng hợp một só dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến thức kĩ năng của người học như sau:
Bảng 1.1 Bảng so sánh sự khác biệt giữa hai kiểu đánh giá học sinh
• Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ
• Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục
• Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau
Ngữ cảnh
đánh giá
Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của học sinh
Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường
Nội dung
đánh giá
• Những kiến thức, kỹ năng, thái độ
ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải nghiệm của bản thân học sinh trong cuộc sống xã hội (tập trung vào năng lực thực hiện)
• Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học
• Những kiến thức, kỹ năng, thái độ
ở một môn học
• Quy chuẩn theo việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học
Trang 29Thường diễn ra ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy
Kết quả
đánh giá
- Năng lực người học phụ thuộc vào
độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành
- Thực hiện được nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi là có năng lực cao hơn
- Năng lực người học phụ thuộc vào
số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành
- Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng được coi là có năng lực cao hơn
Nguồn: [35]
1.3.3 Các thành tố của quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học
1.3.3.1 Mục tiêu đánh giá học sinh
Mục tiêu đánh giá đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng năng lực ở trường tiểu học là:
Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh
để động viên khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn giúp đỡ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ
Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục
Như vậy, đánh giá học sinh tiểu học không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của thầy
Trang 301.3.3.2 Nội dung đánh giá học sinh
Nội dung đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học được thể hiện cũng trên ba mặt đánh giá đó là:
- Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục cấp tiểu học
- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của học sinh như: Tự phục vụ, tự quản, hợp tác, tự học, tự giải quyết vấn đề
- Đánh giá sự hình thành và phát triển một số phẩm chất của học sinh như: Chăm học chăm làm, tự tin trách nhiệm, trung thực, kỉ luật, đoàn kết yêu thương
1.3.3.3 Phương pháp đánh giá học sinh
Phương pháp đánh giá đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học được sử dụng với nhiều phương pháp phải kể tới như:
- Phương pháp dùng lời (kiểm tra miệng, vấn đáp): Là cách thức giáo viên
đưa cho học sinh lần lượt một số câu hỏi và học sinh trả lời trực tiếp với giáo viên
- Phương pháp kiểm tra viết: Phương pháp dùng giấy bút là cách thức học sinh làm những bài kiểm tra viết trong khoảng thời gian khác nhau tùy theo yêu cầu của môn học
- Phương pháp kiểm tra thực hành: Là cách thức học sinh làm những bài kiểm tra có tính chất thực hành như: đo đạc, làm thí nghiệm, chế tạo các
mô hình ở trên lớp, ngoài thiên nhiên
1.3.2.4 Hình thức đánh giá học sinh
Có nhiều hình thức đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học cụ thể là:
- Đánh giá kết quả và đánh giá quá trình: Đánh giá kết quả thường được
sử dụng khi kết thúc một chủ đề học tập hoặc giữa, cuối một học kỳ, một năm một cấp học Đánh giá quá trình được sử dụng suốt cả quá trình học của môn học
Trang 31- Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí: Đánh giá theo tiêu
chí là người học được đánh giá dựa trên các tiêu chí đã định rõ về thành tích, những yêu cầu cần đạt được Đánh giá theo chuẩn là hình thức đánh giá đưa
ra những nhận xét về mức độ cao thấp trong năng lực cá nhân so với những người khác cùng học
- Tự suy ngẫm và tự đánh giá: Tự đánh giá và tự suy ngẫm là việc học
sinh tự dưa ra những quyết định đánh giá về công việc và sự tiến bộ của bản thân Tự đánh giá rất hữu ích trong việc giúp học sinh nhận thức sâu sắc về bản thân, nhận ra được điểm mạnh điểm yếu của mình
1.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học
Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học tuy nhiên dựa trên những đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý nói chung có thể khái quát:
Quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra của Hiệu trưởng trường tiểu học đối với hoạt động đánh giá học sinh, nhằm đưa hoạt động đánh giá được diễn ra theo đúng các quy định đồng thời phát huy hết vai trò của đánh giá, trong quá trình dạy học góp phần đưa hoạt động dạy học đạt đến các mục tiêu là hình thành năng lực cho học sinh tiểu học
1.4.1 Lập kế hoạch đánh giá học sinh
Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý Để quản lý tốt công tác đổi mới đánh giá học sinh, người CBQL trong trường tiểu học cần phải xác định đúng mục tiêu và lựa chọn đúng biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu đổi mới Đánh giá học sinh có quan hệ mật thiết với hoạt động dạy học, vì vậy
để lập kế hoạch đánh giá kết quả học tập của học sinh trong mỗi nhà trường,
Trang 32người Hiệu trưởng ngoài việc thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết còn phải tuân thủ theo một số văn bản quan trọng làm căn cứ sau đây:
Các chỉ thị, thông tư, văn bản của Bộ về hướng dẫn nhiệm vụ chủ yếu của năm học
Văn bản về chương trình các môn học, cấp học các quy định, hướng dẫn của cấp trên về số tiết/tuần/học kì Kiến thức, năng lực cần đạt được ở từng chương, từng thời điểm tiến hành kiểm tra đánh giá…
Quyết định của Bộ GD&ĐT Ban hành khung kế hoạch thời gian năm học đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Phòng GD&ĐT Quận
Dựa vào kế hoạch năm học của nhà trường với các nhiệm vụ trọng tâm trong năm và giải pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ
Các văn bản, chỉ thị hướng dẫn, liên quan đến dạy học và kiểm tra, đánh giá xếp loại kết quả học tập của học sinh theo Thông tư 22/2016/TT- BGDĐT Một số các văn bản khác của các cấp chính quyền địa phương, của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT
Trong xây dựng kế hoạch đánh giá học sinh, phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Phù hợp với mục tiêu của giáo dục tiểu học là "Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản ban đầu, hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản nền tảng, phát triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện đối với học sinh tiểu học"
- Phù hợp với nhiệm vụ dạy học là: Đảm bảo nội dung giáo dục toàn diện và hình thành được các năng lực, phẩm chất cho học sinh
- Phù hợp với kế hoạch dạy học của nhà trường
- Phù hợp với thực lực đội ngũ giáo viên và học sinh nhà trường
- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường
Xây dựng kế hoạch đánh giá học sinh bao gồm các công việc sau đây:
Trang 33- Xác định mục tiêu đánh giá học sinh Mục tiêu của hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường trả lời cho câu hỏi hoạt động này muốn đi đến đâu ? Mục tiêu này được xác định dưới dạng các mục tiêu định tính và định lượng về đích đến của hoạt động kiểm tra, đánh giá bao gồm:
+ Mục tiêu phấn đấu chung cho hoạt động đánh giá học sinh
+ Mục tiêu về kiểm tra, đánh giá kết quả của từng môn học theo định kì Các mục tiêu đề ra phải có tính khả thi dựa trên những luận cứ khoa học
và thực tiễn xác đáng, tức là mục tiêu của hoạt động đánh giá này nhằm đạt mục đích gì Điều đó sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp thực hiện phù hợp
- Xác định các nội dung của hoạt động đánh giá học sinh (đánh giá
kiến thức - kĩ năng; đánh giá sự phát triển một số năng lực và phẩm chất).
- Xác định nhiệm vụ phụ trách hoạt động đánh giá học sinh Ai là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ? Ai là người có trách nhiệm trợ giúp, liên quan đến hoạt động ? (giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổng phụ trách, thư viện,…)
- Xác định thời gian tiến hành, địa điểm tiến hành, trình tự thực hiện các hoạt động kiểm tra, đánh giá (Giữa học kì, cuối kì, cuối năm, và đánh giá thường xuyên cả quá trình )
- Dự trù kinh phí phục vụ trong kế hoạch của hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Xác định các biện pháp cơ bản để thực hiện các mục tiêu kiểm tra, đánh giá đã định (thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ Xây dựng các bài tập định hướng phát triển năng lực,với nhiều hình thức khác nhau, có thể là bài
Trang 34tập miệng, bài tập viết, bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tự luận mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi )
- Phân tích bối cảnh hoạt động kiểm tra, đánh giá trong dạy học của nhà trường trên cơ sở phân tích định tính, định lượng hiện trạng của nhà trường về đội ngũ giáo viên, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiện trạng học sinh, cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra, đánh giá nhằm xác định rõ mặt mạnh, yếu, thuận lợi khó khăn cả chủ quan lẫn khách quan của nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học nói chung và đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng theo quy định năm học của Bộ GD&ĐT Phân tích thực xem nhiệm vụ đã làm được, nhiệm vụ nào chưa làm được, nhiệm vụ nào đã làm nhưng chưa hiệu quả và những nhiệm vụ nào cần
bổ sung
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá học sinh
Sau khi lập xong kế hoạch, người CBQL cần phải chuyển hóa những ý tưởng thành hiện thực Muốn vậy, CBQL cần có một tổ chức vững mạnh, trong đó quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện mục tiêu đề ra Điều phối, phối hợp nhân lực, vật lực để thực hiện tốt mục tiêu Thành công của hoạt động đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh, phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tổ chức của người CBQL trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả cao Trong quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trường tiểu học, tổ chức thực hiện kế hoạch sắp xếp phân bổ các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), nhằm đạt tới mục tiêu của kiểm tra, đánh giá nói riêng và mục tiêu dạy học nói chung Cụ thể bao gồm các công việc sau:
Trang 35- Tổ chức học nhiệm vụ năm học ngay từ đầu năm học, phổ biến kế hoạch đánh giá kết quả học tập của học sinh, thực hiện theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT (Thông tư 22/BGD-ĐT) tới toàn thể giáo viên để biết và thực hiện
Tiếp tục tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao hiểu biết và cách thực hiện đánh giá học sinh tới từng giáo viên Yêu cầu giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể về hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh mình phụ trách
- Phân công công việc cho các tổ chuyên môn, xây dựng kế hoạch chung của tổ, nêu cụ thể các giải pháp cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu đánh giá học sinh mà tổ đã thống nhất xây dựng
- Sắp xếp, phân công giáo viên, nhân viên khác thực hiện các hoạt động đánh giá
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
Sau khi lập kế hoạch, cơ cấu tổ chức bộ máy, và nhân lực đã được lưa chọn CBQL trong trường chỉ đạo, tổ chức thực hiện thành công kế hoạch
đề ra Quá trình chỉ đạo thực hiện đòi hỏi người CBQL phải liên kết, liên hệ với các thành viên trong tổ chức để động viên họ hoàn thành những nhiệm
vụ đã được giao nhằm đạt được mục tiêu đổi mới Thực chất quá trình chỉ đạo của CBQL không chỉ bắt đầu khi đã lập xong kế hoạch và thiết kế bộ máy mà phải thấm dần, và có ảnh hưởng quyết định đến quá trình lập kế hoạch và tổ chức phân công nhiệm vụ cho GV thực hiện kế hoạch đổi mới đánh giá học sinh
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong nhà trường nói chung là một hoạt động được Hiệu trưởng thực hiện thường xuyên, liên tục diễn ra trong suốt năm học Mọi hoạt động giáo dục của nhà trường đều nhằm mục đích giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách của mỗi học sinh
Trang 36Chính vì vậy đối với Hiệu trưởng, hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh không tách rời với chỉ đạo các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá học sinh bao gồm:
- Tiếp tục hướng dẫn giáo viên thực hiện đánh giá kết quả học tập của
học sinh theo quy định mới của Bộ GD&ĐT (đánh giá thường xuyên cả quá
trình bằng nhận xét và đánh giá định kì qua các bài kiểm tra)
- Chỉ đạo, ra các quyết định làm cho các hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường diễn ra theo đúng kế hoạch và đạt được
mục tiêu mong muốn (Quyết định phân công nhiệm vụ giáo viên, nhân viên,
quyết định thành lập các tổ chuyên môn, quyết định thành lập Ban kiểm tra nội bộ; quyết định khen thưởng…)
- Đôn đốc, động viên, khích lệ các cán bộ, giáo viên khi họ gặp khó khăn, hoặc khi cần thiết để hoạt động kiểm tra được diễn ra theo đúng tiến độ, nếu cần thì phải có sự khen thưởng để khuyến khích Trong quá trình kiểm tra, theo dõi chuyên môn, dự giờ giáo viên người quản lý theo dõi, giám sát, điều chỉnh, trợ giúp kĩ thuật kịp thời cho giáo viên trong quá trình thực hiện
kế hoạch kiểm tra đánh giá học sinh
- Chỉ đạo giám sát khâu lập kế hoạch, soạn thảo nội dung, ra đề kiểm tra theo các mức độ phát triển năng lực của học sinh, việc tiến hành chấm và trả bài kiểm tra của giáo viên, để có sự điều chỉnh nếu cần
- Chỉ đạo các tổ chuyên môn biên soạn đề kiểm tra theo ma trận đề của nội dung chương học giữa kì, cuối kì đảm bảo yêu cầu cầu quy định trong các văn bản Đồng thời chỉ đạo giáo viên tự xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra cho từng nội dung, từng môn học để đáp ứng các yêu cầu đánh giá theo năng lực
- Thường xuyên cập nhật các thông tin về tiến trình, tiến độ thực hiện các hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên lên các phương tiện truyền tin
Trang 37nhà trường Quản lý phần mềm theo dõi đánh giá chất lượng giáo dục của giáo viên
1.4.4 Kiểm tra giám sát hoạt động đánh giá học sinh của giáo viên
- Kiểm tra giám sát là một chức năng quản lý, thông qua đó CBQL trong nhà trường theo dõi, giám sát tiến độ thực hiện, thành quả hoạt động đồng thời tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Kết quả hoạt động đổi mới trong đánh giá học sinh phải phù hợp với sự đầu tư công sức và tài chính Nếu có sự không tương thích thì CBQL phải quyết định thực hiện việc điều chỉnh, uốn nắn kịp thời
Thông qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, nhà trường có thể làm căn cứ để đánh giá bởi vì kết quả học tập của học sinh chính là kết quả giảng dạy của giáo viên
Trên cơ sở đối chiếu với những quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT
về mục tiêu, kế hoạch, nội dung, phương pháp đánh giá học sinh Hoạt động kiểm tra của Hiệu trưởng bao gồm các nội dung:
- Xác định các tiêu chuẩn để đánh giá giáo viên trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Hiệu trưởng xây dựng tiêu chuẩn đánh giá giáo viên có thực hiện tốt hoạt động đánh giá học sinh qua các mặt công tác sau:
Thực hiện quy chế chuyên môn (hồ sơ giáo án, chấm chữa bài, nhận
xét học sinh, dự giờ đột xuất, các tiết dạy hội giảng có đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, kết quả giảng dạy và giáo dục toàn diện…)
Công tác chủ nhiệm: Qua kiểm tra hồ sơ công tác chủ nhiệm, qua
thực tế quan sát, việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của GV, cũng như việc tổ chức các hoạt động của lớp, có giúp học sinh được trải nghiệm, được phát huy những năng lực cần thiết cho hoạt động đánh giá không?
- Kiểm tra việc lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá chi tiết của giáo viên
Trang 38- Kiểm tra hoạt động chấm và trả bài kiểm tra, cho điểm của giáo viên trong quá trình dạy học
- Xem xét đối chiếu hoạt động của giáo viên với tiêu chuẩn, mục tiêu chung của kiểm tra, đánh giá để có quyết định phù hợp trong quản lý
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kết quả học tập của học sinh, kịp thời thu thập, xử lý thông tin, phân tích tình hình, điều chỉnh uốn nắn và xử lý các tình huống
- Ra quyết định điều chỉnh, bổ sung các nội dung, quy định cần thiết cho phù hợp tình hình thực tiễn
- Kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả học tập học sinh của giáo viên
là căn cứ để xây dựng kế hoạch dạy học nói chung và kế hoạch đánh giá học sinh trong một chu trình mới
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học
1.5.1 Yếu tố khách quan
Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về GD&ĐT có ảnh hưởng không nhỏ tới quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động đánh giá học sinh nói riêng Hiện nay, với các quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện về GD&ĐT được nêu trong Nghị quyết 29/TW, đã đặt ra vấn đề đổi mới kiểm tra, đánh giá người học Năm 2014 Bộ GD&ĐT đã ra Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và năm 2016 với Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT quy định mới về đánh giá học sinh tiểu học Đó là những định hướng căn bản ảnh hưởng trực tiếp tới quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học
Yếu tố tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học, có ảnh hưởng lớn tới quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học Bởi vì, giống như mọi hoạt động giáo dục khác trong nhà trường, hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng
Trang 39như quản lý đánh giá học sinh, muốn được tiến hành đều đặn phải có nguồn kinh phí, phải được tiến hành trong một điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
và môi trường nhất định Cơ sở vật chất và tài chính mặc dù không là yếu tố quyết định chất lượng quản lý hoạt động đánh giá , tuy nhiên nó đóng vai trò điều kiện, tạo tiền đề để hoạt động đánh gia kết quả học tập của học sinh được diễn ra một cách thuận lợi nhất
Bên cạnh đó, yếu tố hệ thống thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong quản lý đánh giá học sinh
Phần mềm quản lý là một trong những yếu tố giúp người Hiệu trưởng,
có thể nắm bắt được toàn bộ hoạt động đánh giá học sinh của giáo viên, qua
đó có thể đưa ra những điều chỉnh, đóng góp và quyết định kịp thời Việc áp dụng công nghệ thông tin vào đánh giá kết quả học tập của học sinh là yêu cầu của quá trình đổi mới, để phù hợp với sự phát triển chung của giáo dục
- Yếu tố nhận thức của xã hội, của cha mẹ học sinh về đánh giá học sinh tiểu học theo định hướng phát triển năng lực cũng có tác động nhất định Tâm lý khoa cử, trọng bằng cấp của xã hội của cha mẹ học sinh đã và đang gây sức ép rất lớn cho giáo dục nói chung và hoạt động đánh giá học sinh nói
riêng Tâm lý này còn là nguyên nhân của các hiện tượng học lệch, học tủ, chỉ chú trọng kiến thức hàn lâm, thiếu các năng lực thực hành Mặc dù, những năm gần đây nhận thức của phụ huynh có nhiều tiến bộ, do trình độ hiểu biết,
do tiếp cận với nhiều thông tin về giáo dục qua truyền thông, nên ít nhiều có
sự thay đổi về tâm lý Đa số đồng tình với sự đổi mới trong cách đánh giá học sinh của giáo dục Tuy nhiên để thật sự nhận được sự hỗ trợ của phụ huynh, của xã hội cũng cần phải có thời gian, có những định hướng và cải cách của Nhà nước về giáo dục và đào tạo
1.5.2 Yếu tố chủ quan
- Năng lực và phẩm chất của người CBQL có ảnh hưởng không nhỏ tới quản lý hoạt động đánh giá học sinh hiện nay Để có hiệu quả trong công
Trang 40tác quản lý nhà trường nói chung và nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, người Hiệu trưởng phải hiểu rõ mục đích, am hiểu sâu sắc các nội dung, nắm chắc các phương pháp, các yêu cầu, nguyên tắc của hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh
Đồng thời phải là một nhà giáo có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín chuyên môn và biết tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá trong nhà trường một cách hiệu quả Hiệu trưởng còn phải quan tâm tới đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh để có hướng dẫn, và chỉ đạo hướng dẫn giáo viên của mình có phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và đặc trưng các môn học Tuy nhiên không phải Hiệu trưởng nào cũng có năng lực và sự am hiểu vấn đề một cách sâu sắc để chỉ đạo, triển khai hoạt động kiểm tra đánh giá đạt được kết quả tốt nhất
Chất lượng giáo viên có ý nghĩa quyết định trong hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện nay Nhà trường là người chịu trách nhiệm chính trong công tác kiểm tra đánh giá, nhưng không phải là Ban giám hiệu
mà chính là của giáo viên Giáo viên là lực lượng chủ lực để thực hiện các nhiệm vụ dạy học đề ra Chính vì vậy giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho
chất lượng giảng dạy nói chung, và chất lượng quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh nói riêng bởi vì: giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, xây dựng các nội dung, và trực tiếp tiến hành các hoạt động đánh giá học sinh, chất lượng của hoạt động kiểm tra, đánh giá được xác định một phần lớn
do kĩ năng xây dựng nội dung các hoạt động kiểm tra và nhận xét, cho điểm, đánh giá học sinh của giáo viên Trong quản lý hoạt động đánh giá học sinh của nhà trường, giáo viên là cầu nối giữa học sinh với Ban giám hiệu, giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa học sinh với nhau, nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của quá trình dạy học
Yếu tố chất lượng học sinh có ý nghĩa lớn trong quá trình đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá học sinh Trong quan niệm mới về dạy học, chú