Trong thời đại ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia. Đặc biệt là hiệu quả mang lại của việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý Nhà nước, hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan chuyên môn và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta hiện nay. Nửa sau thế kỷ XX, CNTT trở thành một trong những ngành phát triển với tốc độ cao trong nền kinh tế thế giới. Ở các nước phát triển, CNTT đã trở thành nguồn tăng trưởng quan trọng trong nền kinh tế. Ở các quốc gia và khu vực khác trên thế giới đã chú ý phát triển CNTT. Và qua đó, đã đem lại cho họ những ưu thế nhất định trong sự phát triển kinh tế và giải quyết một số vấn đề về xã hội. Đến cuối năm 1980 thế kỷ XX, do xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, CNTT phát triển nhanh với năng lực mạnh đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Mốc quan trọng nhất đánh dấu sự hình thành, phát triển lĩnh vực CNTT ở nước ta là thời kỳ sau năm 1993 khi Chính phủ ban hành Nghị định 29CP xác định chính sách phát triển CNTT nước ta trong những năm 90. Từ đó, ngành CNTT Việt Nam đã từng bước phát triển. Thể hiện ở những mặt sau đây: Đã có đội ngủ cán bộ tin học chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp làm việc ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế ở các địa phương. Hệ thống mạng truyền thông dữ liệu đã hình thành ở một số bộ, ngành. Hoạt động khai thác nguồn thông tin, sản xuất thông tin đã được áp dụng sớm ở một số cơ quan thống kê và các cơ quan nghiên cứu khoa học. Hoạt động dịch vụ thông tin phát triển mạnh trong các ngân hàng, tài chính, thông tin giá cả thị trường. CNTT đã được ứng dụng vào hoạt động quản lý nhà nước, vào công tác chuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan cấp cao và ở địa phương. Hiện nay, CNTT đã được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của các ngành, các cấp, các lĩnh vực chuyên môn và trong đời sống xã hội. Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử và hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) không ngừng phát triển. Các phần mềm chuyên dụng đa dạng, phong phú và ngày càng tinh xảo. Nhiều ngành nghề đã ứng dụng CNTT tốt như: Việc xây dựng giáo trình điện tử và tổ chức thi trắc nghiệm bằng máy tính trong các nhà trường phổ thông trung học; việc soạn nhạc trên máy tính ở các nhà hát, các viện âm nhạc; việc chế bản in ở các xưởng in, ở các cơ sở kẻ, vẽ, quảng cáo;… đã trở thành phổ biến. Trước sự phát triển kinh tế, xã hội của thế giới và đất nước đã làm cho nhu cầu nắm bắt thông tin của các tầng lớp nhân dân ngày càng cao. CNTT phát triển như vũ bão chi phối đến mọi mặt hoạt động quản lý, lao động, sản xuất và trong sinh hoạt của mọi người. Điều này đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thông tin thư viện. Công tác quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động của thư viện truyền thống đã được làm trong hàng ngàn năm qua rất khoa học và đã mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hiện nay công tác này sẽ tăng lên gấp bội nếu ứng dụng CNTT. Trong thời kỳ mới, đòi hỏi công tác quản lý và công tác chuyên môn từ quy trình bổ sung, sưu tầm nguồn tài liệu, xử lý kỹ thuật tài liệu cho đến quy trình tổ chức kho tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc, đặc biệt là xây dựng bộ máy tra cứu tài liệu điện tử, công tác số hóa và biên tập tài liệu điện tử là công việc đòi hỏi phải ứng dụng CNTT để đáp ứng nhu cầu tra cứu, tham khảo tài liệu thư viện của bạn đọc. Việc xây dựng các CSDL là để thay thế dần phương pháp quản lý vốn tài liệu truyền thống. Các tủ mục lục tra cứu tài liệu được thay thế bằng bộ máy tra cứu điện tử. Thông qua việc dùng CSDL, thư viện sẽ quản lý tốt nhu cầu bạn đọc thư viện. Ngoài ra, việc xây dựng các bộ sưu tập số, sách điện tử giúp bạn đọc tiếp cận nhanh và hiệu quả nguồn thông tin, tri thức nhân loại được tàng trữ tại các thư viện.
Trang 1TRƯỜNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG
TẠI THƯ VIỆN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn:
Lớp: Trung cấp TCCTLL_HC tại chức khóa XVII
năm 2011
Tổ: II Đơn vị công tác: Thư viện thành phố Cần Thơ
Trang 2Lời Cảm Ơn
***
Qua Tiểu luận tốt nghiệp, tơi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và tập thể cán bộ nhân viên Thư viện Thành phố Cần Thơ đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt quá trình học tập, cũng như thời gian để hồn thành tiểu luận
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Chính trị TP Cần Thơ, thầy chủ nhiệm Lớp trung cấp chính trị lý luận hành chinh tại chức khĩa XVII năm 2011 Trân trọng cảm ơn các thầy cơ giáo Trường Chính trị Cần Thơ với tâm huyết của mình đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng tơi những kiến thức quý báu Đặc biệt, cám ơn thầy Võ Minh Đăng đã hướng dẫn
và giúp đỡ tơi thực hiện Tiểu luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn.
Nguyễn Minh Phụng
Trang 3NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN
Trang 4Học viên: Nguyễn Minh Phụng
Đơn vị công tác: Thư viện TP Cần Thơ
Lớp: Lớp trung cấp chính trị lý luận hành chinh tại chức khóa XVII
GIẢNG VIÊN 2
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
GIẢNG VIÊN 1
Trang 5MỤC LỤC
Phần Mở đầu
Phần Nội dung
I Mô tả tình huống
II Phân tích nguyên nhân và hậu quả
III Xác định mục tiêu xử lý tình huống
IV Xây dựng các phương án xử lý tình huống và lựa chọn phương án tối ưu
V Kế hoạch thực hiện
VI Kiến nghị
Phần Kết luận
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia Đặc biệt là hiệu quả mang lại của việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý Nhà nước, hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan chuyên môn và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta hiện nay.
Nửa sau thế kỷ XX, CNTT trở thành một trong những ngành phát triển vớitốc độ cao trong nền kinh tế thế giới Ở các nước phát triển, CNTT đã trở thànhnguồn tăng trưởng quan trọng trong nền kinh tế Ở các quốc gia và khu vực kháctrên thế giới đã chú ý phát triển CNTT Và qua đó, đã đem lại cho họ những ưuthế nhất định trong sự phát triển kinh tế và giải quyết một số vấn đề về xã hội
Đến cuối năm 1980 thế kỷ XX, do xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, CNTTphát triển nhanh với năng lực mạnh đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giớitrong đó có Việt Nam Mốc quan trọng nhất đánh dấu sự hình thành, phát triểnlĩnh vực CNTT ở nước ta là thời kỳ sau năm 1993 khi Chính phủ ban hành Nghịđịnh 29/CP xác định chính sách phát triển CNTT nước ta trong những năm 90
Từ đó, ngành CNTT Việt Nam đã từng bước phát triển Thể hiện ở những mặtsau đây:
- Đã có đội ngủ cán bộ tin học chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp làm việc
ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế ở các địa phương
- Hệ thống mạng truyền thông dữ liệu đã hình thành ở một số bộ, ngành
- Hoạt động khai thác nguồn thông tin, sản xuất thông tin đã được áp dụngsớm ở một số cơ quan thống kê và các cơ quan nghiên cứu khoa học
- Hoạt động dịch vụ thông tin phát triển mạnh trong các ngân hàng, tàichính, thông tin giá cả thị trường
- CNTT đã được ứng dụng vào hoạt động quản lý nhà nước, vào công tácchuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan cấp cao và ở địa phương
Trang 7Hiện nay, CNTT đã được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của cácngành, các cấp, các lĩnh vực chuyên môn và trong đời sống xã hội Cổng thôngtin điện tử, trang thông tin điện tử và hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) khôngngừng phát triển Các phần mềm chuyên dụng đa dạng, phong phú và ngày càngtinh xảo Nhiều ngành nghề đã ứng dụng CNTT tốt như: Việc xây dựng giáotrình điện tử và tổ chức thi trắc nghiệm bằng máy tính trong các nhà trường phổthông trung học; việc soạn nhạc trên máy tính ở các nhà hát, các viện âm nhạc;việc chế bản in ở các xưởng in, ở các cơ sở kẻ, vẽ, quảng cáo;… đã trở thànhphổ biến.
Trước sự phát triển kinh tế, xã hội của thế giới và đất nước đã làm cho nhucầu nắm bắt thông tin của các tầng lớp nhân dân ngày càng cao CNTT pháttriển như vũ bão chi phối đến mọi mặt hoạt động quản lý, lao động, sản xuất vàtrong sinh hoạt của mọi người Điều này đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạtđộng thông tin thư viện
Công tác quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động của thư viện truyền thống
đã được làm trong hàng ngàn năm qua rất khoa học và đã mang lại hiệu quả nhấtđịnh Tuy nhiên, hiện nay công tác này sẽ tăng lên gấp bội nếu ứng dụng CNTT
Trong thời kỳ mới, đòi hỏi công tác quản lý và công tác chuyên môn từquy trình bổ sung, sưu tầm nguồn tài liệu, xử lý kỹ thuật tài liệu cho đến quytrình tổ chức kho tài liệu và công tác phục vụ bạn đọc, đặc biệt là xây dựng bộmáy tra cứu tài liệu điện tử, công tác số hóa và biên tập tài liệu điện tử là côngviệc đòi hỏi phải ứng dụng CNTT để đáp ứng nhu cầu tra cứu, tham khảo tàiliệu thư viện của bạn đọc Việc xây dựng các CSDL là để thay thế dần phươngpháp quản lý vốn tài liệu truyền thống Các tủ mục lục tra cứu tài liệu được thaythế bằng bộ máy tra cứu điện tử Thông qua việc dùng CSDL, thư viện sẽ quản
lý tốt nhu cầu bạn đọc thư viện Ngoài ra, việc xây dựng các bộ sưu tập số, sáchđiện tử giúp bạn đọc tiếp cận nhanh và hiệu quả nguồn thông tin, tri thức nhânloại được tàng trữ tại các thư viện
Trang 8Lợi ích của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện làm tăng hiệusuất lao động cho công tác quản lý cũng như công tác nghiệp vụ của cán bộ thưviện đồng thời tạo cho bạn đọc một cách tiếp cận thư viện theo hướng hiện đại.
Đó là:
- Qua hệ thống CSDL, phần mềm chuyên dụng và trang thông tin điện tử,cán bộ quản lý có thể nắm bắt các thông tin về vốn tài liệu thư viện, tình hìnhphục vụ bạn đọc, tham khảo các văn bản pháp quy của trung ương, của ngành,của địa phương và từ đó có những quyết định chính xác cho sự phát triển củathư viện
- Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ làm việc trên hệ thống trang thiết bịCNTT, phần mềm chuyên dụng Từ đó, hiệu quả công việc sẽ tăng cả về khốilượng và chất lượng
- Bạn đọc tiếp cận và sử dụng tài liệu thư viện một cách dễ dàng, thuận lợithông qua mạng Internet, hệ thống CSDL, bộ máy tra cứu điện tử, các bộ sưu tậpđiện tử, sách điện tử Mặt khác, thủ tục làm thẻ, mượn, gia hạn và trả sách đơngiản, nhanh chóng và chính xác
- Công tác thống kê, báo cáo hoạt động của thư viện kịp thời, chính xác,hiệu quả cao làm cơ sở đáng tin cậy cho việc dự báo, định hướng hoạt động thưviện trong tương lai
Hiện nay, mô hình thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảo đã không còn
xa vời mà trở thành hiện thực ở một số thư viện hiện đại trên thế giới như: Thưviện Quốc hội Hoa Kỳ, Thư viện Quốc gia Trung Quốc… và đã có vài mô hìnhthư viện ở Việt Nam như: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Học liệu Đạihọc Cần Thơ, Trung tâm Học liệu Đại học Huế,…
Đối với Thư viện TP Cần Thơ hiện nay, tuy từng bước được tin học hóanhưng vẫn còn mang đậm tính chất truyền thống, chưa đáp ứng được sự pháttriển của một xã hội đang vận động theo hướng hiện đại Điều đó đã làm chonăng lực quản lý thư viện, quản lý vốn tài liệu và chất lượng phục vụ bạn đọc
Trang 9vẫn còn hạn chế chưa đáp ứng với yêu cầu của một thành phố trực thuộc TrungƯơng đang trên đường phát triển.
Vì vậy, việc ứng dung CNTT vào hoạt động quản lý thư viện, tự đông hóaquy trình chuyên môn nghiệp vụ, xử lý tài liệu thư viện và công tác phục vụ bạnđọc từng bước tiến tới mô hình thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảo lànhiệm vụ trước mắt và lâu dài của Thư viện TP Cần Thơ Đây là lý do để tôi
chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và
hoạt động tại Thư viện TP Cần Thơ”.
B PHẦN NỘI DUNG
I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Một số khái niệm
* Thư viện là gì ?
Theo định nghĩa của Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên
hiệp Quốc (UNESCO): “Thư viện không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ
bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể
cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc
sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục
và giải trí”.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5453-1991: “Thư viện được xác định là cơ
quan (hoặc một bộ phận của cơ quan) thực hiện chức năng thu thập, xử lý, bảo quản tài liệu và phục vụ bạn đọc đồng thời tiến hành tuyên truyền giới thiệu các tài liệu đó”.
* Công nghệ thông tin là gì ?
Theo Giáo trình Nghiệp vụ công tác đảng, đoàn thể ở cơ sở tập 1 : “CNTT
là một hệ thống các phương pháp khoa học, các giải pháp công nghệ, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, đáp ứng nhu cầu về thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội”.
Trang 10Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ về phát triển CNTT ở nước ta
trong những năm 1990: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các
phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá”.
Theo từ điển Wikipedia tại http://vi.wikipedia.org: “Công nghệ thông tin,
viết tắt CNTT, (Tiếng Anh: Information Technology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant),
và bộ phận của một công ty hay trường đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT”.
* Như vậy:
CNTT là lĩnh vực khoa học với sự kết hợp giữa các ngành tin học, điện tử,
tự động hóa và viễn thông nhằm nghiên cứu giải quyết bài toán về lưu trữ, xử
lý, tìm kiếm, kết xuất và truyền nhận thông tin, dữ liệu trên các phương tiện điện
tử là máy vi tính, mạng máy tính và các thiết bị ngoại vi,
Thư viện là ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề về tổ chức sưu tầm, thu thập và giới thiệu tài liệu; xử lý, tàng trữ và quản lý vốn tài liệu, tổ chức tra cứu, tìm kiếm và phục vụ tài liệu đáp ứng nhu cầu của bạn đọc thư viện.
Trang 11Từ đó thấy rằng, CNTT và hoạt động thư viện có mối quan hệ mật thiết với nhau Hoạt động thư viện là một trong những vấn đề cần giải quyết của CNTT và CNTT là công cụ hỗ trợ đắc lực để thư viện phát huy hết năng lực vốn tài liệu và nâng cao hiệu quả phục vụ bạn đọc.
Ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện là thay thế quy trình quản lý, quy trình xử lý kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ thư viện từ phương thức truyền thống bằng sổ sách sang quy trình quản lý và xử lý chuyên môn nghiệp vụ thư viện hiện đại bằng máy tính, phần mềm chuyên dụng, hệ thống CSDL và trang thiết bị CNTT
2 Quan điểm của Đảng
Trong 20 năm gần đây, hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin đượcĐảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 58CT/TW ngày 17/10/2000 về việc đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiệnđại hóa đất nước
3 Những văn bản quy phạm pháp luật
Nghị quyết 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triển CNTTtrong những năm 90 Nghị quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000 của Chínhphủ về phát triển công nghiệp phần mềm trong những năm 2000-2005 Quyếtđịnh 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 với mụctiêu "Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ việc quản lý của các cơ quan hànhchính Nhà nước; đến cuối năm 2005, đưa hệ thống thông tin điện tử vào hoạtđộng" Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn2001-2010 Quyết định 137/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướngChính phủ về việc thành lập Ban Điều hành Tin học hoá Quản lý Hành chínhNhà nước của Chính phủ giai đoạn 2001-2005
Trang 12Nhiều văn bản khác của các Bộ, Ngành chỉ đạo thực hiện việc ứng dụngcông nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị.
Trên thế giới, Hiệp hội Thư viện Thế giới (IFLA) đã thông qua bản tuyênngôn về Internet ngày 27/03/2002 và được công bố chính thức ngày 01/05/2002.Nội dung của bản tuyên ngôn đề cập đến mối quan hệ giữa hoạt động thông tinthư viện và mạng thông tin toàn cầu Internet
Năm 2005, tại Hội nghị sơ kết ứng dụng CNTT trong hệ thống Thư việncông cộng toàn quốc tại Bình Định, Vụ Thư viện, Thư viện Quốc gia Việt Nam
đã chỉ rõ “Đến năm 2010 hệ thống thư viện công cộng toàn quốc cơ bản phải có
mô hình thư viện điện tử, từng bước ứng dụng CNTT cho thư viện cấp huyện…”
Năm 2004, thành phố Cần Thơ được nâng lên thành phố trực thuộc trungương Điều này mang lại niềm vui, niềm tự hào to lớn cho nhân dân thành phố
và đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề đối với mỗi cơ quan, mỗi cán bộ côngchức và nhân dân thành phố Vì vậy, Thư viện TP Cần Thơ càng phải ra sứcphấn đấu nhiều hơn nữa xứng đáng là Thư viện của thành phố trung tâm khuvực Đồng bằng sông Cửu Long
Thư viện TP Cần Thơ là kho tàng trữ tài liệu tổng hợp đáp ứng cho nhucầu nghiên cứu, học tập, giải trí cho nhân dân thành phố Thư viện đóng một vaitrò cực kỳ quan trọng trong xã hội, là trung tâm luân chuyển sách, báo và cácdạng tài liệu khác cho bạn đọc thành phố, là cơ quan văn hóa, giáo dục ngoàinhà trường, cùng với với hệ thống giáo dục, các thư viện trường học, các thưviện đại học, các trung tâm thông tin tư liệu, hệ thống thư viện công cộng trong
đó có Thư viện TP Cần Thơ đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao trình độ trithức khoa học cho đội ngũ trí thức, sinh viên, học sinh và nhân dân thành phốphù hợp với nội dung Pháp lệnh Thư viện Việt Nam
3.2 Những nội dung thực hiện
Nội dung về vấn đề ứng dụng CNTT của ngành Thư viện Cần Thơ là:
- Thay thế công tác quản lý thư viện và hoạt động chuyên môn, nghiệp
Trang 13thiết bị CNTT, CSDL, phần mềm quản lý thư viện thích hợp nhằm tự động hóa công tác xử lý chuyên môn nghiệp vụ, công tác phục vụ bạn đọc, làm cơ
sở cho công tác quản lý, điều hành hoạt động thư viện.
- Liên kết vốn tài liệu toàn ngành Thư viện Cần Thơ (Thư viện trung tâm và hệ thống thư viện quận huyện, phường xã) với các thư viện khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
- Số hóa vốn tài liệu địa chí của địa phương từng bước hình thành thư viện điện tử, thư viện số trong tương lai.
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Khái quát chung về Thư viện TP Cần Thơ
Thư viện TP Cần Thơ tọa lạc tại số 01 Phan Đình Phùng, phường tân An,quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ Tòa nhà với kiến trúc cũ, là trụ sở làm việc củachính quyền Pháp thời kỳ Pháp thuộc Tòa nhà gồm 3 tầng, diện tích sử dụngkhoảng 9000m2 nằm ở quận trung tâm của TP Cần Thơ - Nơi tập trung nhiều cơquan, ban ngành cấp thành phố và các cơ quan Trung Ương đóng tại địa phươngcùng hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và cáctrường phổ thông, Với vị trí nằm bên cạnh UBND TP Cần Thơ, cách Công tyĐiện lực II 500m, cách Bưu điện TP Cần Thơ 200m, cách Bến Ninh Kiều300m Thư viện Cần Thơ có vị trí rất thuận lợi trong việc triển khai hạ tầng cơ
sở vật chất trang thiết bị CNTT, mạng viễn thông và tổ chức các phòng máy tínhphục vụ bạn đọc Quận Ninh Kiều với dân số khoảng 209.000 người Thànhphần gồm các nhà khoa học, cán bộ công chức, sinh viên, học sinh,… Do đó,nhu cầu sử dụng thư viện rất lớn Mặt bằng chung về trình độ sử dụng máy tính
và mạng Internet để truy cập, khai thác thông tin rất cao
Mặt khác, để thực hiện tốt vai trò là cơ quan cung cấp thông tin, phổ biếnkiến thức, Thư viện TP Cần Thơ đã thực hiện phương châm “Tất cả vì bạnđọc”, mọi hoạt động đều xuất phát trên cơ sở nhu cầu và lợi ích thiết thực củabạn đọc Thư viện mở cửa phục vụ bạn đọc xuyên suốt 3 buổi trong ngày, 7