VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN Bùi Trần Vượng XÂY DỰNG QUI TRÌNH BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỒN THẤM TẠI CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ Chuyên ngành: Sử dụng và
Trang 1VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
Bùi Trần Vượng
XÂY DỰNG QUI TRÌNH BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỒN THẤM TẠI CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 62.85.15.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
TP HỒ CHÍ MINH, 3-2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Viện Môi trường và Tài nguyên,
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 142 Tô Hiến Thành, quận 10, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.8651132, Fax: 08.8655670
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TSKH Nguyễn Thị Kim Thoa, Viện Vật lý địa cầu
TS Đỗ Tiến Hùng, Trung tâm Qui hoạch và Điều tra tài nguyên nước
Phản biện 1: PGS.TS Đoàn Văn Cánh, Trường ĐH Mỏ- Địa chất
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ, Trường ĐH Bách Khoa,
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Phản biện 3: PGS TS Vũ Chí Hiếu, Trường ĐH Khoa học tự nhiên,
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại
Viện Môi trường và Tài nguyên Vào hồi…… giờ, ngày………….tháng……….năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện của Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học tổng
hợp TP Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của luận án
Ba tỉnh ven biển Nam Trung Bộ: Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận là những tỉnh khan hiếm nước nhất của đất nước, vào mùa khô tình trạng thiếu nước rất nghiêm trọng Tại các vùng cửa sông và đụn cát ven biển, nước mặn đã xâm nhập vào các tầng chứa nước trên một diện rộng, biên mặn đang lấn dần vào phía đất liền Sự hiện diện của các chất nhiễm bẩn tự nhiên như floride, sắt, can xi, magne, cyanur và chỉ số
pH thấp đã trở thành mối lo ngại thật sự cho cộng đồng Để giải quyết nguồn nước cung cấp đảm bảo về số lượng và chất lượng cho khu vực, trong tương lai không thể không áp dụng biện pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất (BSNT NDĐ)
Việc xây dựng một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm là rất hữu ích và có tính thực tiễn cao Đó là lý do nghiên cứu sinh chọn và thực hiện đề tài “Xây dựng qui trình bổ nước dưới đất bằng phương pháp bồn thấm tại các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ”
Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án
Mục tiêu: Nghiên cứu đề xuất một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm thích hợp với các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ
Nhiệm vụ: Nghiên cứu tổng quan về BSNT NDĐ; Đánh giá điều kiện tự nhiên các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ để lựa chọn phương pháp BSNT NDĐ thích hợp; Nghiên cứu đề xuất qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm; và áp dụng qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng bồn thấm để nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản
Trang 4lý bổ sung tầng chứa nước tại các cồn cát bán khô hạn huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập xử lý và tổng hợp tài liệu địa chất thủy văn, khảo sát địa chất thủy văn, khảo sát địa vật lý, phương pháp xây dựng mô hình
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi: các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ gồm các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận Đối tượng: nghiên cứu đề xuất một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm
Cơ sở tài liệu
Các tài liệu thuộc đề tài cấp nhà nước mã số ĐTĐL 2004/07, kết quả điều tra ĐCTV khu vực, kết quả tìm kiếm thăm dò NDĐ của Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Nam, Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Trung và các
cơ quan khác, các tài liệu từ internet, các báo cáo công bố trong các hội nghị khoa học, các đề tài khoa học các cấp, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ có liên quan
Các luận điểm bảo vệ
1 Phương pháp BSNT NDĐ bằng bồn thấm là một phương pháp tăng cường trữ lượng NDĐ có hiệu quả đối với các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ
2 Qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm tại các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ bao gồm 6 bước
3 Bảy giải pháp quản lý bổ sung tầng chứa nước là những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề cung cấp nước cho khu vực cồn cát bán khô hạn huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
Tính mới của luận án
Trang 5Lần đầu tiên đề xuất một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm thích hợp với các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và các đồng bằng ven biển khác có điều kiện tự nhiên tương tự trên toàn quốc
Ý nghĩa khoa học
1 Là hướng nghiên cứu mới tại Việt Nam, lần đầu tiên đã đề xuất một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm đối với các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ gồm 6 bước
2 Khẳng định được vai trò của các công nghệ khảo sát trong nghiên cứu quản lý bổ sung tầng chứa nước mang tính đa ngành
3 Tạo lập được cơ sở dữ liệu gốc làm ví dụ điển hình trong nghiên cứu
về quản lý bổ sung tầng chứa nước Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất cần thiết và hữu ích trong công tác giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng trong lĩnh vực BSNT NDĐ và bảo vệ môi trường tại Việt Nam theo xu thế chung của thế giới
4 Có giá trị trong việc hoạch định về quản lý các tầng chứa nước và bảo
vệ môi trường, làm cầu nối cho hướng nghiên cứu về bảo vệ các tầng chứa nước nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu ở các vùng bán khô hạn ven biển miền Trung trong chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Trang 6cần thiết trong quá trình thực hiện BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm
3 Chỉ ra tiềm năng về nước ngầm của vùng cát ven biển huyện Bắc Bình là phong phú Giúp tỉnh Bình Thuận đưa ra quyết định đúng về khai thác và bảo vệ nước hồ Bàu Trắng, Bàu Nổi
4 Đề xuất và giới thiệu 7 giải pháp quản lý bổ sung tầng chứa nước tại khu vực cồn cát bán khô hạn huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận mang tính thực tiễn cao
5 Cung cấp nước 220 m3/ngày tại bãi giếng Bàu Nổi cho cư dân xã Hồng Phong
6 Giải pháp làm sạch nguồn gây ô nhiễm tại Bàu Nổi là một cách xử lý bảo vệ môi trường mới, có thể áp dụng khi triển khai các đề án tương tự
Bố cục của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương và phần kết luận; với 200 trang đánh máy khổ A4, 36 bảng, 67 hình vẽ và đồ thị và 79 tài liệu tham khảo Chương 1- Tổng quan về BSNT NDĐ; Chương 2- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các phương pháp BSNT NDĐ tại các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ; Chương 3- Nghiên cứu đề xuất qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm tại các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ Chương 4- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý bổ sung tầng chứa nước tại khu vực cồn cát huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
Trang 7Minh Hằng, TS Peter Dillon; GS.TS Paolo Bono; TS Giuseppe Arduino, PGS TS Nguyễn Việt Kỳ, PGS.TS Đoàn Văn Cánh, PGS.TS Nguyễn Văn Giảng TS Phan Thị Kim Văn, KS Nguyễn Văn Hòa, lãnh đạo của Viện Môi trường và Tài nguyên và phòng quản ngành (phòng GeoInfomatics – Viện Môi trường và Tài nguyên, đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh) Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đối với các cơ quan, các nhà khoa học và các đồng nghiệp nói trên
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ BỔ SUNG NHÂN TẠO
NƯỚC DƯỚI ĐẤT Chương này trình bày tổng quan về BSNT NDĐ và lịch sử nghiên cứu triển khai qui trình BSNT NDĐ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1 Bổ sung nhân tạo nước dưới đất
BSNT NDĐ là các hoạt động của con người làm nước mặt từ sông, suối,
hồ thấm vào lòng đất với tốc độ thường lớn hơn nhiều lần bổ sung tự nhiên, tạo ra một sự gia tăng tương ứng về mức độ an toàn khi khai thác NDĐ
1.2 Mục đích của bổ sung nhân tạo nước dưới đất
Trong lĩnh vực cấp nước, các mục đích quan trọng nhất của BSNT NDĐ là: Gia tăng lượng nước dưới đất cho cấp nước; Cải thiện chất lượng nước; Chứa nước nhạt tại các tầng chứa nước; Ngăn cản sự xâm nhập của nước mặn; Duy trì mực nước dưới đất
1.3 Nguồn và chất lượng nước để bổ sung
1.3.1 Nước mặt là nguồn nước quan trọng để BSNT Nước sông thường
có các chất lơ lửng với hàm lượng từ vài chục đến vài trăm g/m3
, có thể gây tắc nghẽn nếu sử dụng trực tiếp trong các công trình BSNT Nước
Trang 8hồ thường không có hoặc có rất ít các chất lơ lửng Khi không bị nhiễm
có thể dùng để bổ sung trực tiếp không cần tiền xử lý
1.3.2 Dòng chảy mặt từ nước mưa phổ biến ở các trung tâm đô thị tuy nhiên chúng thường chứa các chất nhiễm bẩn từ rất nhiều nguồn khác nhau Ở các vùng nông thôn, mưa lớn có thể tạo ra các dòng chảy mặt trên các cánh đồng nông nghiệp, các chất nhiễm bẩn thường gồm: thuốc trừ sâu, phân bón, phân động vật, con người và các nguồn khác
1.3.3 Nước thải đã xử lý do thể tích có thể biết trước và có thành phần
ổn định là một nguồn bổ sung rất hấp dẫn Tuy nhiên nước thải đòi hỏi hai lần xử lý và một lần khử trùng trước khi sử dụng để bổ sung
1.3.4 Nước uống là nguồn nước bổ sung trong các sơ đồ Chứa và Khai thác Các sơ đồ này thường được xây dựng bên cạnh các công trình xử
lý để tiết kiệm chi phí và tận dụng khả năng xử lý dư thừa
1.4 Các phương pháp BSNT NDĐ
Các phương pháp BSNT NDĐ có thể chia thành 2 nhóm: trực tiếp và gián tiếp:
1.4.1 Nhóm các phương pháp bổ sung trực tiếp gồm:
- Các phương pháp thấm: bao gồm hồ thấm hoặc bồn thấm; tận dụng đất
đá của tầng chứa nước để xử lý nước thải; làm lụt có kiểm soát; thấm giữa các đụn cát
- Các phương pháp điều tiết dòng chảy: bao gồm các hồ thấm đằng sau các đập; các đập cát; các đập ngầm; các đập thấm xuyên
- Các phương pháp ép nước qua các lỗ khoan, hầm mỏ: bao gồm lỗ khoan và hầm mỏ lộ thiên; các lỗ khoan ép nước (các sơ đồ ASR và ASTR)
- Thu gom nước mưa: gồm có các đập đất ngoài đồng; thu gom nước
Trang 91.5.2 BSNT NDĐ tại Việt Nam: Hội thảo khoa học “BSNT trữ lượng NDĐ tại Việt Nam” vào tháng 7/2003 do Cục Địa chất và Khoáng sản
tổ chức tại Hà Nội Đề tài khoa học công nghệ độc lập cấp nhà nước:
“Nghiên cứu cơ sở khoa học BSNT NDĐ để bảo đảm khai thác bền vững tài nguyên nước tại Việt Nam” mã số ĐTĐL2004/07 do GS.TSKH Nguyễn Thị Kim Thoa và các đồng nghiệp đã triển khai thực hiện từ năm 2004-2007 Năm 2007, PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ đang triển khai
đề tài thử nghiệm bổ sung nước mưa vào tầng chứa nước tại khuôn viên của Đại học Khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh ở Thủ Đức Công ty Haskoning B.V, Hà Lan, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận đang tiến hành dự án thử nghiệm “Re-hydrating the earth of Phuoc Nam area”, dự án bắt đầu vào năm 2007 và
sẽ kết thúc vào cuối năm 2008 PGS.TS Đoàn Văn Cánh và các đồng nghiệp đang tiến hành đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng các giải pháp lưu giữ nước mưa vào lòng đất phục vụ chống hạn và bảo vệ tài nguyên NDĐ vùng Tây Nguyên” 1.5.3 Quản lý bổ sung tầng chứa nước: công nghệ BSNT NDĐ không chỉ là công nghệ mà còn phải tính đến các yếu tố môi trường tự nhiên,
Trang 10các yếu tố kinh tế - xã hội; việc bổ sung nước vào tầng chứa đòi hỏi có
sự tham gia của các cộng đồng dân cư vào việc quản lý nguồn nước được bổ sung thì mới bảo đảm khai thác bền vững Hội Địa chất thủy văn quốc tế đã quyết định sử dụng tên gọi “quản lý bổ sung tầng chứa nước” (tiếng Anh là Management of Aquifer Recharge, viết tắt là MAR) thay cho tên gọi BSNT NDĐ Tên gọi MAR tại Việt Nam được thông qua tại Hội nghị nghiệm thu cấp Nhà nước đề tài mã số ĐTĐL2004/07 vào ngày 30 tháng 7 năm 2007 Tuy luận án vẫn giữ tên gọi BSNT NDĐ, nhưng các bước tiến hành, phương pháp triển khai nghiên cứu đều thực hiện theo quan điểm MAR
1.5.4 Hiện trạng nghiên cứu và triển khai qui trình BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm: Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả tổng kết và xây dựng qui trình mang tính hướng dẫn các bước cần thiết, các yếu tố cần quan tâm khi bắt đầu xây dựng một công trình BSNT NDD Nghiên cứu sinh đã giơi thiệu tóm tắt một số qui trình hướng dẫn liên quan đến luận án Tại Việt Nam, việc xây dựng những qui trình tương tự chưa được tiến hành, còn là lĩnh vực bỏ ngỏ
CHƯƠNG 2 – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ Chương này sẽ trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các phương pháp BSNT NDĐ ở các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ 2.1 Khí hậu, thuỷ văn
Các điều kiện khí hậu và thủy văn ảnh hưởng tới khả năng ứng dụng các phương pháp BSNT
2.1.1 Đặc điểm khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm từ 26,5 đến 27,5oC
Trang 11Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1150-1950mm; Tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm đạt từ 1120-1920mm, phân bố không đều trong các tháng
2.1.2 Đặc điểm thủy văn: Các sông đều ngắn và dốc Mùa kiệt thường không có nước, nhưng vào mùa lũ vùng hạ lưu bị ngập úng dài ngày Lượng dòng chảy 4 tháng mùa lũ (tháng 9-12) chiếm khoảng 65-75% lượng dòng chảy cả năm Xâm nhập mặn và ô nhiễm nước sông ngày càng trầm trọng
2.2 Địa hình
Có các dạng địa hình: Địa hình núi trung bình; Địa hình đồng bằng bóc mòn - tích tụ; Địa hình đồng bằng và cồn cát ven biển Điểm nổi bật về địa hình ở đây là có các cồn cát dài từ vài chục đến hàng trăm km, rộng
từ 5 đến 10km, xen kẹp nhiều trũng lòng chảo rộng rất thuận lợi để làm những bồn thấm tự nhiên
2.3 Địa chất - Địachất thủy văn
2.3.1 Địa chất
Có thể chia đồng các các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ thành các vùng địa chất có thành phần thạch học khác nhau ảnh hưởng sâu sắc đến sự lựa chọn các phương pháp BSNT NDĐ: i) vùng đá gốc nứt nẻ, ii) vùng đồng bằng ven sông
và vùng các dải cát ven biển (Hình 2-3)
Hình 2- 3 Sơ đồ phân vùng BSNT NDĐ
2.3.2 Địa chất thủy văn
Các tầng chứa nước lỗ hổng gồm có: tầng Holocen (qh), và tầng
Trang 12Pleistocen (qp) Các tầng chứa nước khe nứt gồm có: tầng Neogen (n2), tầng Creta (k) và tầng Jura (j)
2.3.3 Thành phần hóa học của nước dưới đất
NDĐ ở Bình Thuận, Khánh Hoà có loại hình Cl-Na, ở Ninh Thuận có loại hình chủ yếu là Cl-Na, một số mẫu có loại hình HCO3-Na
Hình 2-4 Thành phần hóa học của NDĐ
2.4 Các yếu tố khác
2.4.1 Khai thác NDĐ: Tại Bình Thuận: Nhà máy nước Hoà Phú khai thác khoảng 500m3/ngày, công ty Lâm sản Bình Thuận khai thác trên 500m3/ngày, công ty TNHH Minh Thành khai thác trên 400m3/ngày, ngoài ra có trên 3.000 giếng khoan, mỗi giếng khai thác khoảng 15m3/ngày Tại Ninh Thuận: nhà máy nước ngầm Phan Rang khai thác 1.200m3/ngày; khoảng 50 giếng với công suất mỗi giếng 15m3/ngày đã được khoan trong chương trình chống hạn năm 2005 Nhà máy nước ở Nha Trang khai thác 7000m3/ngày, ở Cam Ranh khai thác 500m3/ngày ngoài ra có khoảng 335 giếng khoan máy, 625 giếng khoan tay, tổng lượng khai thác khoảng 19.000 m3/ngày
2.4.2 Sử dụng đất: Đầm hồ nuôi tôm đặc biệt tăng nhanh trong vòng 10 năm gần đây làm gia tăng nguy cơ nước mặn lấn sâu vào đất liền làm mặn hóa các tầng chứa nước ven biển, muối hóa đất Tại nhiều khu khu
đô thị, khu công nghiệp đã xuất hiện ô nhiễm các nguyên tố vi lượng 2.5 Lựa chọn các phương pháp BSNT NDĐ cho các đồng bằng ven
Trang 13biển Nam Trung Bộ
2.5.1.Vùng đá gốc nứt nẻ: phương pháp bồn thấm hoặc phương pháp bồn thấm kết hợp với các lỗ khoan ép nước là thích hợp nhất Cũng có thể áp dụng những đập và rãnh thấm kề nhau trên cùng một đường đẳng
độ cao địa hình, để tăng cường bổ sung cho NDĐ
2.5.2.Vùng đồng bằng ven sông: Phương pháp thích hợp nhất là thấm qua đáy sông Cũng có thể xây dựng các đập ngăn để lưu trữ nước sông
và do đó gia tăng thời gian thấm bổ sung cho NDĐ
2.5.3.Vùng các dải cát ven biển: Phương pháp thích hợp nhất là bồn thấm Những vùng trũng được bao quanh bằng các dải cồn cát lại là những vị trí rất thích hợp để thu gom nước mưa
Phương pháp bồn thấm thích hợp nhất để tăng cường trữ lượng NDĐ vì: i) Có đủ nguồn nước để bổ sung gồm nước mưa và nước mặt trong các sông, hồ; ii) Địa hình thuận lợi cho việc xây dựng bồn thấm; iii) Các tầng chứa nước đều là không áp, lộ ra trên mặt hoặc nằm rất nông, có tính thấm cao, có mực NDĐ nằm sâu, bề dày không bão hòa lớn; iv) Là vùng thiếu nước nghiêm trọng, quá trình sa mạc hóa và xâm nhập mặn ngày một gia tăng; v) Bảo đảm cung cấp một lượng nước lớn với chất lượng đảm bảo
CHƯƠNG 3- NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT QUI TRÌNH BỔ SUNG NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP BỒN THẤM TẠI CÁC ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN NAM TRUNG BỘ Chương này nghiên cứu đề xuất một qui trình hướng dẫn BSNT NDĐ bằng phương pháp bồn thấm áp dụng cho các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ
3.1 Khảo sát chọn vùng BSNT
Trang 14Khảo sát chọn vùng BSNT dựa theo các tiêu chuẩn: vùng có mực NDĐ
bị giảm do khai thác quá mức; tầng chứa nước đã bị khô, phục hồi nước trong các lỗ khoan rất chậm; nước tại các lỗ khoan không đủ trong các tháng khô hạn; chất lượng NDĐ kém và không có nguồn nước khác; vùng cung cấp nước nằm quá xa các khu vực có nhu cầu sử dụng nước
Cụ thể, tại tỉnh Bình Thuận, nên chọn khu Bắc Bình có diện tích khoảng 800km2 Tại tỉnh Ninh Thuận, nên chọn các xã ven biển Tại tỉnh Khánh Hòa nên chọn các đồng bằng Vạn Ninh – Ninh Hòa, Diên Khánh – Nha Trang, Cam Ranh với tổng diện tích khoảng 700km2
3.2 Đánh giá nguồn nước để bổ sung
3.2.1 Đánh giá số lượng nguồn nước để bổ sung
Nguồn nước mưa: được đánh giá dựa vào giai đoạn dư thừa nước, là khoảng thời gian mà lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi Số lượng nước mưa có thể sử dụng để bổ sung là chênh lệch giữa lượng mưa và lượng bốc hơi trong giai đoạn này Lượng nước mưa có thể được sử dụng làm nguồn bổ sung tại tỉnh Bình Thuận đạt khoảng 394.400 m3/km2/ năm; tại tỉnh Ninh Thuận khoảng 138.480 m3/km2/ năm và tại tỉnh Khánh Hòa khoảng 620.800 m3/km2/ năm
Nguồn nước mặt: Tỉnh Bình Thuận Sông Lũy có lưu vực 1.910km2, chiều dài 98 km, chiều rộng trung bình 31,0m, lượng dòng chảy trung bình năm là 428 m3/s, trong đó vào mùa khô lũ là 286m3/s (chiếm 66,8%) và vào mùa cạn là 142 m3/s (chiếm 33,2%) Hồ Bàu Trắng với dung tích gần 12 triệu m3 nước ngọt có thể là nguồn bổ sung cho NDĐ Tỉnh Ninh Thuận sông Cái Phan Rang là sông lớn nhất tỉnh Sông Cái Phan Rang có diện tích lưu vực là 3.000 km2, chiều dài 119km, chiều rộng trung bình 31,6m, tổng lượng dòng chảy cả năm là 184,1 m3/s,