1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phương pháp luận và qui trình xây dựng quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch sử dụng đất cho các vùng đô thị công nghiệp – thử nghiệm tại thành phố đà nẵng (tt)

27 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 637,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cách đặt vấn đề nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phương pháp luận và quy trình xây dựng quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch sử dụng đất cho các vùng đô thị công nghiệp –

Trang 1

VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

NGUYỄN THẾ TIẾN

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG GẮN VỚI QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CHO CÁC VÙNG ĐÔ THỊ CÔNG NGHIỆP –

THỬ NGHIỆM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Sử dụng và Bảo vệ tài nguyên môi trường Mã số : 62.85.15.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

TP.HỒ CHÍ MINH, 2008

Trang 2

VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Địa chỉ: 142 Tô Hiến Thành, Quận 10, TP Hồ Chí Minh Điện thoại: 08.8651132 Fax: 08.8655670

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS PHÙNG CHÍ SỸ

2 PGS.TS ĐINH XUÂN THẮNG

Phản biện 1: GS.TSKH Đặng Trung Thuận

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Văn Phước

Phản biện 3: TS Huỳnh Ngọc Thạch

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Viện Môi trường và Tài nguyên

Vào hồi 08 giờ 00 ngày 25 tháng 11 năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện của Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG TP Hồ Chí Minh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA LUẬN ÁN

Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) đóng vai trò là hạt nhân của sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) trong một quốc gia, một vùng hay một địa phương Tuy nhiên, việc quy hoạch và sử dụng đất ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập chưa hợp lý dẫn đến làm ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng tại nhiều nơi, đặc biệt là tại các vùng đang diễn ra quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá mạnh mẽ Để đảm bảo vừa sử dụng hiệu quả đất đai đồng thời vừa đáp ứng được mục tiêu BVMT đòi hỏi phải có những công cụ quản lý mang tính tổng thể ở tầm

vĩ mô Quy hoạch môi trường (QHMT) được xem như một công cụ hữu hiệu nhằm phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường

Từ cách đặt vấn đề nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phương pháp

luận và quy trình xây dựng quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch sử dụng đất cho các vùng đô thị công nghiệp – Thử nghiệm tại thành phố Đà Nẵng” là hết

sức cần thiết và cấp bách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai nhằm phát triển bền vững KTXH cho các vùng đô thị công nghiệp (VĐTCN) nói chung và của TP Đà Nẵng nói riêng

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở điều tra khảo sát thực tế, nghiên cứu cơ sở lý thuyết, luận án sẽ đề xuất phương pháp luận và quy trình xây dựng QHMT gắn với QHSDĐ cho các VĐTCN, góp phần làm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường, phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và khai thác hiệu quả đất đai phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững

3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Phạm vi nghiên cứu: Vùng đô thị công nghiệp

2 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp luận và quy trình xây dựng QHMT gắn với QHSDĐ cho các VĐTCN

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1 Ý nghĩa khoa học: Việc gắn kết QHMT với QHSDĐ là một sự nghiên cứu phát triển tiếp theo của các công trình nghiên cứu trước đây, nó đã góp phần vào việc hoàn thiện phương pháp luận và quy trình QHMT cho một vùng, đặc biệt là VĐTCN đóng vai trò là hạt nhân phát triển của một vùng lớn hơn

2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án đã được kiểm chứng qua thực tiễn tại VĐTCN TP Đà Nẵng cho thấy tính khả thi và ý nghĩa thực tiễn rất cao Việc gắn kết QHMT với QHSDĐ còn đem lại hiệu quả kinh tế cao từ việc đề ra những giải pháp mang tính tổng thể nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm ngay tại nguồn giảm được chi phí xử lý cuối đường ống, đồng thời duy trì được khả năng sử dụng lâu dài của đất đai Kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng rộng rãi cho các VĐTCN khác trên địa bàn cả nước

Trang 4

5 TÍNH MỚI CỦA LUẬN ÁN

Việc gắn kết QHMT với quy hoạch phát triển KTXH của một vùng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trước đây, tuy nhiên trong các nghiên cứu này chưa đề cập việc gắn kết QHMT với QHSDĐ cho các VĐTCN Đây là một vấn đề rất quan trọng, cần thiết hiện nay đã được tác giả nghiên cứu trong Luận án của mình Kết quả nghiên cứu của tác giả đã giải quyết các luận điểm khoa học mới sau:

1 Bổ sung vào cơ sở lý luận khái niệm rất quan trọng và mới mẻ về

“VĐTCN”: Đây là “một vùng không gian thuộc một tỉnh/thành ở đó quá trình đô

thị hoá và công nghiệp hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có vai trò lôi kéo, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế xã hội khác trong vùng”

2 Trên cơ sở xác định mối quan hệ tương hỗ, hữu cơ như trên, đóng góp

quan trọng thứ 2 của tác giả trong Luận án là: đã xây dựng được các tiêu chí làm

cơ sở xác định một VĐTCN, các tiêu chí đó bao gồm : Tỉ lệ đất sử dụng cho phát

triển đô thị và công nghiệp so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng đạt tối

thiểu từ 30% trở lên; Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ so với tổng giá trị GDP toàn vùng trên 80%; Tỉ lệ lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào sản xuất công nghiệp và dịch vụ đạt trên 60%; Sự hoàn thiện cơ sở hạ tầng

kỹ thuật và xã hội phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân trong vùng đạt

tối thiểu từ 60% trở lên Những tiêu chí trên phù hợp với điều kiện phát triển KTXH mang nét đặc thù của một nước nông nghiệp đang trong giai đoạn đô thị hoá và công nghiệp hoá như ở Việt Nam

3 Luận điểm khoa học mới thứ 3 đã được giải quyết trong luận án đó là: xây

dựng phương pháp luận và quy trình gắn kết QHMT với QHSDĐ Luận điểm

khoa học này đã góp phần bổ sung không nhỏ vào cơ sở lý thuyết của việc lập QHMT Dựa trên từng đối tượng sử dụng đất luận án đã ước tính được tải lượng các chất ô nhiễm chính trong khí thải, nước thải, CTR, từ đó đề xuất các giải pháp điều chỉnh QHSDĐ nhằm ngăn ngừa ô nhiễm phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường cùng với việc quy hoạch và tính toán nhu cầu sử dụng đất đai cho các công trình BVMT và bổ sung vào QHSDĐ còn chưa tính đến Đây là bước phát triển tiếp theo của tác giả về phương pháp luận QHMT So với các nghiên cứu trước đây, các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở việc đề xuất các giải pháp BVMT mang tính tổng thể

4 Một đóng góp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không kém phần quan

trọng của Luận án nữa ở đây là lần đầu tiên phương pháp tích hợp đã được sử

dụng để lập bản đồ QHMT Theo phương pháp này bản đồ QHMT được xây

dựng trên cơ sở tích hợp các phần mềm MapInfo và phần mềm Microsoft Access Bằng phương pháp này khắc phục được các nhược điểm trước đây của bản đồ

Trang 5

giấy là: có thể lưu trữ một khối lượng thông tin không hạn chế, cho phép bổ sung, cập nhật, xử lý các thông tin một cách nhanh chóng thông qua các module tích hợp CSDL, hiển thị trực quan, dễ dàng sử dụng đối với mọi đối tượng phục vụ đắc lực cho công tác quản lý

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 1.1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG

Trên thế giới hiện nay vấn đề QHMT thường được lồng ghép vào quy hoạch phát triển vùng Khi tiến hành lập quy hoạch phát triển tổng hợp KTXH cho một vùng lãnh thổ, các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường được xem xét một cách đồng thời Từ việc phân tích và đánh giá chi tiết những nội dung cơ bản nêu trên các nhà hoạch định chính sách đưa ra những kế hoạch cụ thể, bao gồm: kế hoạch phát triển KTXH, kế hoạch BVMT và kế hoạch quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên

Tại Việt Nam QHMT hiện đang còn là vấn đề khá mới và đang trong giai đoạn nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm tại một số vùng kinh tế trọng điểm và địa phương trong cả nước Trong thời gian từ năm 1998 đến nay một loạt các công trình nghiên cứu đã được triển khai, các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến phương pháp luận và quy trình xây dựng QHMT gắn với phát triển KTXH của một vùng hay một địa phương

1.2 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

QHSDĐ là một dạng quy hoạch ngành và được tiến hành song song cùng với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH Tuy nhiên, khác với các ngành khác, QHSDĐ mang tính tổng hợp và đặc thù, vì nó liên quan đến hầu hết các ngành có nhu cầu sử dụng đất cho hoạt động phát triển

Tuy nhiên, hệ thống QHSDĐ hiện nay còn thiên về sắp xếp các loại đất cho mục tiêu phát triển kinh tế và quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ những tổn hại về môi trường làm cho nhiều vùng đất bị ô nhiễm và thoái hoá Có thể nêu một vài ví dụ điển hình về một số vùng và địa phương như sau: lưu vực các sông Thị Vải, sông Nhuệ, sông Cầu, sông Đáy và một số con sông nội đô của các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng…Ngoài ra còn nhiều KCN và bãi rác cũng đang là tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho khu vực xung quanh Ví dụ như: như KCN Liên Chiểu, KCN Hoà Khánh của TP Đà Nẵng; bãi rác Đông Thạnh, Gò Cát của TP.HCM, bãi rác Khánh Sơn của TP.Đà Nẵng… 1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Từ việc nghiên cứu tổng quan về QHMT trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, cho đến nay vẫn chưa có một phương pháp luận và quy trình lập QHMT một cách thống nhất, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét các vấn đề môi trường phát sinh dưới tác động của quá trình phát triển KTXH tại một

Trang 6

vùng lãnh thổ và từ đó đưa ra những kế hoạch BVMT cho từng hành động phát triển Trong khi đó QHSDĐ đóng vai trò là quy hoạch không gian phục vụ mục tiêu phát triển KTXH của một vùng, còn QHMT được xem như là cầu nối không gian giữa các chính sách BVMT với chính sách phát triển KTXH Như vậy, gắn kết QHMT với quy hoạch phát triển KTXH chính là gắn kết với QHSDĐ, có

nghĩa là gắn kết các đối tượng “Không gian với Không gian”

Xuất phát từ luận điểm nêu trên Luận án đề xuất một hướng nghiên cứu mới

đó là “Xây dựng một phương pháp luận và quy trình lập quy hoạch môi trường

gắn với quy hoạch sử dụng đất cho các vùng đô thị công nghiệp” nhằm hoàn

chỉnh và bổ sung những vấn đề còn đang tồn tại nêu trên

1.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

1.4.1 Vị trí và vai trò của quy hoạch môi trường

Với mục tiêu “Phát triển bền vững”, đối với một quốc gia hay một vùng việc hoạch định các chính sách phát triển KTXH phải được gắn liền với các chính sách bảo vệ môi trường, bao gồm các bước như trong Hình 1.3 dưới đây:

Hình 1.3 Hệ thống kế hoạch hoá về BVMT Từ Hình 1.3 cho thấy rất rõ ràng rằng, trong hệ thống kế hoạch hoá về bảo vệ môi trường, QHMT là bước tiếp theo của chiến lược BVMT

Hiện nay tại nước ta Chính phủ và một số địa phương đã ban hành Chương trình về phát triển bền vững (Agenda 21), chiến lược BVMT và kế hoạch hành động về BVMT, tuy nhiên rấy ít địa phương có QHMT vì còn thiếu những văn bản hướng dẫn về nội dung và phương pháp tiến hành

Như phân tích ở trên, QHMT là một khâu đặc biệt quan trọng trong hệ thống kế hoạch hoá về BVMT của một quốc gia Ngày nay trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, trước mắt chúng ta đang đặt ra sự lựa chọn đầy khó khăn: các mục tiêu BVMT phải được ưu tiên trước hay là các mục tiêu phát triển KTXH ? Để tìm kiếm các giải pháp có hiệu quả nhất nhằm đạt được cả hai mục tiêu trên cần phải có QHMT vì nó chính là cầu nối không gian giữa các chính sách BVMT với chính sách phát triển KTXH QHMT cần phải gắn chặt với quy hoạch phát triển kinh tế và quy hoạch phát triển ngành trên một lãnh thổ xác định, đồng thời phải luôn luôn bám sát quy hoạch phát triển KTXH

ở tất cả các giai đoạn quy hoạch để có sự thống nhất thay đổi, điều chỉnh kịp thời

1.4.2 Mối quan hệ tương hỗ giữa QHMT và QHSDĐ

1 Mối quan hệ về không gian và thời gian

Khái niệm “Quy hoạch” trước hết được hiểu là: Việc tổ chức, sắp xếp các

Phát triển

bền vững

Chiến lược BVMT

Quy hoạch môi trường

Kế hoạch hành động

Trang 7

đối tượng không gian phù hợp với chức năng và mục tiêu sử dụng trong một thời gian xác định, sao cho tiết kiệm nhất về chi phí và đạt lợi ích cao nhất về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Từ khái niệm trên cho thấy, khi nói đến quy hoạch có nghĩa là phải nói đến đối tượng không gian và thời gian

2 Mối quan hệ tác động qua lại

Việc sử dụng đất (SDĐ) và môi trường tự nhiên (MTTN) có một sự tương tác qua lại lẫn nhau, các điều kiện môi trường tự nhiên tác động lên quá trình sử dụng đất và ngược lại quá trình này cũng tác động lên môi trường

Hình 1.4 Sự tác động qua lại giữ việc SDĐ&MTTN Nhìn chung đất thường xuyên chịu những tác động của quá trình tự nhiên như: núi lửa, động đất, gió, bão, lũ lụt… hậu quả của các quá trình này là làm cho đất bị ô nhiễm, xói mòn và dẫn đến bị suy thoái Ngoài ra việc khai thác và sử dụng đất cũng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt trong thời đại ngày nay, nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật, hoạt động của con người càng mở ra nhiều lĩnh vực đa dạng thì chất thải càng nhiều và ô nhiễm càng phức tạp Khi tiến hành QHSDĐ cho một vùng chúng ta không chỉ xem xét đến những hiệu quả về kinh tế và xã hội từ việc khai thác, sử dụng đất đai, mà còn cần phải xem xét đến những tác động của quá trình sử dụng đất tới môi trường để từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm giúp cho việc sử dụng đất đai được hiệu quả hơn và bền vững Chính vì vậy, trong việc QHSDĐ cần tính đến việc quy hoạch các nguồn thải và các hệ thống thu gom, xử lý chất thải sao cho vừa bảo đảm mục tiêu sử dụng đất hiệu quả về kinh tế, đồng thời vừa bảo vệ môi trường đất an toàn khỏi bị ô nhiễm và suy thoái

Mối quan tương hỗ giữa QHMT và QHSDĐ được tổng hợp trong Hình 1.5 dưới đây:

Hình 1.5 Mối quan hệ tương hỗ giữa QHMT và QHSDĐ

Trang 8

Như vậy, QHMT chính là công cụ khoa học quan trọng để ngay từ đầu vừa giải quyết những tác động bất lợi của MTTN đến quá trình sử dụng đất đai, đồng thời vừa giải quyết những vấn đề môi trường phát sinh từ quá trình này

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu của luận án gồm:

1 Đánh giá tổng quan về hiện trạng QHMT và QHSDĐ từ đó rút ra những tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu

2 Cơ sở khoa học gắn kết QHMT với QHSDĐ

3 Đề xuất phương pháp luận QHMT gắn với QHSDĐ cho các VĐTCN

4 Xây dựng quy trình và nội dung của QHMT gắn với QHSDĐ cho VĐTCN

5 Thử nghiệm lập QHMT gắn với QHSDĐ tại VĐTCN TP Đà Nẵng

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lý thuyết: Trên cơ sở tổng quan kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học trước đây và các tài liệu liên quan đến QHMT trên thế giới và tại Việt Nam nhằm đánh giá những kết quả và tồn tại về phương pháp luận QHMT, từ đó tác giả đã định hướng nghiên cứu cho luận án là nghiên cứu xây dựng phương pháp luận và quy trình lập QHMT gắn với QHSDĐ cho các VĐTCN phù hợp với điều kiện Việt Nam

- Nghiên cứu thực nghiệm: Từ cơ sở khoa học về phương pháp luận và quy trình đã nghiên cứu luận án đã áp dụng thử nghiệm lập QHMT gắn với QHSDĐ cho VĐTCN TP Đà Nẵng

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 VÙNG ĐÔ THỊ CÔNG NGHIỆP VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH

Khái niệm “quy hoạch” thường được gắn liền với khái niệm “vùng”, do vậy khi tiến hành QHMT thường được hiểu là QHMT cho một vùng Vùng là gì ? vấn đề này đang tranh luận và có nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên có lẽ quan niệm sau đây được nhiều người chấp nhận “Vùng là một bộ phận thuộc cấp phân

vị của lãnh thổ có những đặc điểm về mặt tự nhiên và kinh tế - xã hội làm cho nó có thể phân biệt với các vùng khác”

Thực tế tại Việt Nam và trên thế giới cho thấy, phát triển đô thị và phát triển công nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỗ nào phát triển dân cư đô thị thì chỗ đó tất yếu sẽ phát triển sản xuất công nghiệp và ngược lại, đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các loại hình dịch vụ kèm theo phục vụ cho đời sống của dân cư và sản xuất công nghiệp Chính vì vậy xuất hiện khái

Trang 9

niệm “Vùng đô thị công nghiệp”, nó đóng vai trò là hạt nhân phát triển của một

địa phương hay một vùng lớn hơn

Có thể nêu khái niệm VĐTCN như sau: “Vùng đô thị công nghiệp là một

vùng không gian thuộc một tỉnh/thành ở đó quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có vai trò lôi kéo, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế xã hội khác trong vùng”

VĐTCN trước tiên phải là một đô thị, ở đó gắn liền với quá trình đô thị hoá là sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp với sự hình thành các khu công nghiệp tập trung và các cụm công nghiệp, tiếp theo là sự phát triển thương mại, dịch vụ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội phục vụ cho đời sống của dân cư và hoạt động sản xuất công nghiệp trong vùng

Về mặt không gian, VĐTCN có ranh giới hành chính rõ ràng, có thể là một đô thị hoàn chỉnh, có thể là một số quận trong một đô thị hoặc có thể là một vùng được quy hoạch hoàn chỉnh cho mục đích phát triển công nghiệp và đô thị (ví dụ

TP Nhơn Trạch và TP Biên Hoà thuộc tỉnh Đồng Nai, Khu kinh tế Dung Quất thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Khu kinh tế mở Chu Lai thuộc tỉnh Quảng Nam…)

Tại nước ta với tốc độ nhanh chóng của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá như hiện nay đã và đang xuất hiện nhiều VĐTCN tại các tỉnh, thành phố trên cả nước Đặc biệt tại các đô thị lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu…

Căn cứ vào quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá tại Việt Nam hiện nay luận án đề xuất các tiêu chí xác định VĐTCN dựa vào những chỉ tiêu cơ bản sau:

Về tỉ lệ sử dụng đất đai: Đất đai nằm trong VĐTCN phần lớn được quy

hoạch cho mục đích chính là phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, sản xuất công nghiệp và dịch vụ bao gồm những nhóm đất cơ bản sau: đất ở đô thị; đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất công trình công cộng; đất quốc phòng, an ninh; đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác

Qua nghiên cứu các vùng đô thị hoá và công nghiệp hoá hiện nay ở nước ta, tổng diện tích các nhóm đất nêu trên thường chiếm từ 30-50% [22] tổng diện tích đất tự nhiên trở lên Phần còn lại được sử dụng cho các mục đích khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản hoặc chưa sử dụng… Tuy nhiên, các nhóm đất này chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ, trong tương lai sẽ dần dần được chuyển thành đất phi nông nghiệp VĐTCN là hạt nhân của các vùng đô thị hoá và công nghiệp hoá, do vậy có thể đưa ra chỉ tiêu sử dụng đất cho mục đích phát triển đô thị và công nghiệp từ 30% trở lên

Về giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ: Phát triển kinh tế toàn vùng được

xác định theo hướng công nghiệp và dịch vụ Thống kê các chỉ tiêu kinh tế giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006 cho thấy, giá trị sản xuất công nghiệp và dịch

Trang 10

vụ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng GDP toàn quốc, cụ thể là tăng từ 75,47% (năm 2000) lên đến 79,64% (năm 2006)[22] Đối với một VĐTCN tỉ trọng này còn cao hơn có thể chiếm từ 80% GDP toàn vùng

Về tỉ lệ lao động: Tại các VĐTCN lực lượng lao động chủ yếu phụ thuộc vào

dân số sống trong vùng, ngoài ra có thể một số nhập cư từ các vùng khác

Theo Niên giám thống kê, lực lượng lao động toàn quốc tại thời điểm năm

2006 chiếm khoảng 51,5% trên tổng dân số[22] Từ con số này có thể ước tính lực lượng lao động tại các VĐTCN trung bình chiếm khoảng từ 60% trở lên so với dân số trong vùng, trong đó khoảng từ 50-52% dân tại chỗ và 8-10% dân nhập cư

Về sự hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội: Cần đảm bảo đạt tối thiểu

60% những yêu cầu cơ bản sau:

1) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, cấp điện, chiếu sáng, thông tin, viễn thông, bưu điện, v.v

2) Cơ sở hạ tầng xã hội: nhà ở, bệnh viện, trạm y tế, trường học, các công trình phục vụ lợi ích công cộng như công viên, cây xanh và các khu vực giải trí thoả mãn nhu cầu sinh hoạt văn hoá của cộng đồng, v.v

3) Cơ sở dịch vụ: nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ, v.v

4) Bảo vệ môi trường: hệ thống thu gom và xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại, nghĩa trang, v.v

Từ phân tích nêu trên có thể tổng hợp các tiêu chí và các chỉ tiêu xác định một vùng được coi là VĐTCN như trong Bảng 3.1 dưới đây

Bảng 3.1 Tiêu chí và chỉ tiêu xác định vùng đô thị công nghiệp

1 Tỉ lệ đất sử dụng cho phát triển đô thị và công

nghiệp so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn

vùng

Tối thiểu 30%

2 Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ so

với tổng giá trị GDP toàn vùng

Tối thiểu 80%

3 Tỉ lệ lao động tham gia vào sản xuất công nghiệp

và dịch vụ so với tổng dân số toàn vùng

Tối thiểu 60%

4 Mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã

hội phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân

trong vùng so với quy hoạch

Trang 11

những giải pháp BVMT, còn việc xác định nhu cầu sử dụng đất đai và quy hoạch sử dụng đất đai cho công tác BVMT chưa được đề cập đến Trong khi đó QHSDĐ là một bộ phận rất quan trọng của quy hoạch phát triển KTXH của một vùng, nó đóng vai trò là quy hoạch không gian cho từng hành động phát triển (từng ngành, từng lĩnh vực) và đáp ứng nhu cầu sử dụng đất đai cho từng hoạt động

Xuất phát từ thực tế nêu trên Luận án đề xuất một cách tiếp cận mới đó là

“Quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch sử dụng đất” Sơ đồ gắn kết QHMT

với QHSDĐ được trình bày trong Hình 3.2 dưới đây

Từ Hình 3.2 cho thấy, thực chất của QHMT gắn với QHSDĐ là bước tiếp theo của QHMT gắn với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH, nó đi sâu hơn và cụ thể là xác định rõ các đối tượng sử dụng đất đai của các hoạt động KTXH, tiếp theo là đánh giá các tác động tới môi trường của từng đối tượng SDĐ, từ đó đề xuất các giải pháp QHMT bao gồm: điều chỉnh QHSDĐ nhằm ngăn ngừa ô nhiễm phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; quy hoạch đất cho các công trình BVMT cùng với việc tính toán nhu cầu sử dụng đất đai cho các công trình và những giải pháp hỗ trợ nhằm bảo đảm tính khả thi của quy hoạch

Từ phân tích nêu trên, tác giả rút ra kết luận như sau : Quy hoạch môi trường

gắn với quy hoạch sử dụng đất là việc hoạch định, tổ chức, sắp xếp các đơn vị đất đai cùng với các giải pháp BVMT phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm từ quá trình sử dụng đất bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững vùng quy hoạch

Hình 3.2 Sơ đồ gắn kết QHMT với QHSDĐ

Xác định các đối tượng SDĐ

Đánh giá các tác động tới MT

Đánh giá các

tác động tới MT

Đề xuất các giải pháp QHMT

Điều chỉnh QHSDĐ

Quy hoạch đất BVMT

Giải pháp hỗ trợ

Trang 12

3.2.2 Mục tiêu gắn kết QHMT với QHSDĐ

QHSDĐ là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được của phát triển KTXH một vùng, vì vậy mục tiêu gắn kết QHMT với QHSDĐ là nhằm điều hoà mối quan hệ Kinh tế – Xã hội – Môi trường trong việc sử dụng đất đai tại một vùng không gian xác định Hay nói cách khác nó là một dạng quy hoạch tổng hợp nhằm cân bằng các mục tiêu môi trường, kinh tế và xã hội thông qua việc cân nhắc tới khả năng chịu tải của môi trường tại vùng quy hoạch

Như vậy, khi tiến hành QHSDĐ phục vụ nhu cầu phát triển KTXH cần thiết phải xem xét đến những tác động bất lợi tới môi trường từ quá trình sử dụng từng đơn vị đất đai và các tác động tổng hợp từ đó đưa ra những giải pháp quy hoạch khả thi nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu những tác động bất lợi này, vừa đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai vừa đảm bảo các mục tiêu BVMT

3.2.3 Những nguyên tắc và căn cứ gắn kết QHMT với QHSDĐ

1 Những nguyên tắc chung:

QHMT được tiến hành dựa theo các nguyên tắc chính sau đây: Phải được tiến hành đồng thời với quy hoạch sử dụng đất; Phù hợp với mục đích sử dụng của từng đơn vị đất đai; Xác định các mục tiêu, chỉ tiêu và đối tượng quy hoạch phù hợp với định hướng phát triển bền vững; Xác định quy mô về không gian và thời gian cho quy hoạch; Hoạch định các chương trình, dự án, giải pháp đảm bảo thực hiện quy hoạch

2 Những căn cứ :

Khi tiến hành lập QHMT phải dựa vào những căn cứ pháp lý sau đây: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KTXH của vùng quy hoạch; Quy hoạch sử dụng đất của vùng quy hoạch; Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường và của vùng quy hoạch; Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại vùng quy hoạch; Hiện trạng môi trường tại vùng quy hoạch; Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến lĩnh vực môi trường

3.3 QUY TRÌNH VÀ NỘI DUNG CỦA QHMT GẮN VỚI QHSDĐ CHO CÁC VĐTCN

3.3.1 Quy trình lập QHMT

Trong quy trình lập QHMT có năm giai đoạn chính, bao gồm: chuẩn bị, lập quy hoạch, phê duyệt, thực hiện/giám sát và điều chỉnh quy hoạch (Hình 3.3)

Hình 3.3 Sơ đồ quy trình lập QHMT

Phê duyệt quy hoạch Thực hiện giám sát

Điều chỉnh

QH

Trang 13

3.3.2 Nội dung của QHMT

Những nội dung chính của QHMT gắn với QHSDĐ như sau:

Hình 3.4 Nội dung và các bước lập QHMT gắn với QHSDĐ

Trong tất cả các bước nêu trên việc đề xuất QHMT là phần cơ bản của QHMT nó bao gồm những nội dung cụ thể như sau: Xác định quan điểm và mục tiêu của QHMT; Đề xuất các giải pháp QHMT

1 Xác định quan điểm và mục tiêu của QHMT:

Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của QHMT là “phát triển bền vững”, bao gồm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường sống, phát triển KTXH trong khả năng giới hạn của hệ sinh thái

Xuất phát từ quan điểm nêu trên mục tiêu của QHMT là:

- Đảm bảo chất lượng môi trường tại từng đơn vị không gian phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường đang được áp dụng tại Việt Nam;

- Điều chỉnh các hoạt động phát triển và quản lý ô nhiễm nhằm duy trì chất lượng môi trường cho tương lai;

- Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và đất đai tại vùng quy hoạch

2 Đề xuất các giải pháp QHMT:

Đánh giá hiện trạng MT

Dự báo diễn biến MT

Đề xuất QHMT

Thuyết minh QHMT

Thu thập thông tin - Điều kiện tự nhiên, phát triển KTXH;

- Quá trình sử dụng đất

- Các tác động của quá trình tự nhiên;

- Tác động của hiện trạng sử dụng đất

- Các tai biến môi trường, địa chất;

- Tác động của quy hoạch sử dụng đất

- Quan điểm & mục tiêu QHMT;

- Các giải pháp QHMT

- Bằng văn bản;

- Bằng bản đồ

Ngày đăng: 09/05/2018, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w