1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO DỰ ÁN ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP CHỌN MẪU QUY MÔ NHỎ

164 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó là quá trình vừa hợp tác đểphát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang pháttriển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng, chống lại nh

Trang 1

BÁO CÁO

DỰ ÁN ĐIỀU TRA DOANH NGHIỆP

CHỌN MẪU QUY MÔ NHỎ

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO DOANH NGHIỆP

KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP VÀO NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ

I Những vấn đề cơ bản về hội nhập

1 Bản chất của hội nhập

Trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là một phương thứcchủ yếu và là xu thế phát triển không thể đảo ngược của nền kinh tế thế giới hiệnnay Trong xu thế này, sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trênthế giới nói chung và các thành phần trong nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêngđang ngày một gia tăng, được thể hiện ở xu hướng tăng cường các hoạt động hợptác song phương, đa phương và các cấp độ liên kết khu vực Có thể khẳng định,trong bối cảnh hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu khôngtham gia hội nhập kinh tế quốc tế

Thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế đã xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây,nhưng cho đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế

quốc tế Có loại ý kiến có rằng: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá

trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế” Loại

ý kiến khác lại cho rằng: “Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần các

hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước”.

Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương

đối phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: “Hội nhập kinh tế

quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối” Nói một cách khái quát nhất, hội nhập

kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyệntham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và

tự do hóa thương mại, đầu tư; tự do di chuyển tài chính, tiền tệ quốc tế,… để tiếntới hình thành thị trường thế giới thống nhất; một hệ thống tài chính, tiền tệ, tíndụng toàn cầu và việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ cótính chất toàn cầu

Trang 2

Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:

•Đàm phán cắt giảm thuế quan;

•Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan;

•Giảm bớt các hạn chế đối với dịch vụ;

•Giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế;

•Điều chỉnh các chính sách thương mại khác;

•Triển khai các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, có tính chất toàn cầu

Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số mặt sau

đây:

- Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới Nó là quá trình vừa hợp tác đểphát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang pháttriển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặtphi lý của các cường quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia;

- Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xoá bỏ từng bước và từng phần các ràocản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh tế;

- Hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các DNtrong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các DN phải đổi mới để nâng cao sứccạnh tranh trên thương trường;

- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc cảicách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với các quốc giatrong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính sách vàphương thức quản lý vĩ mô

- Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mớicho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ pháttriển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất

- Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lựctrong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ vàcác kinh nghiệm quản lý

2 Tính tất yếu của hội nhập

Vào nửa cuối của những năm 90 của thế kỷ XX, với đà phát triển mạnh mẽcủa khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất

đã có bước phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn cầu Các công ty xuyên quốc giavới tiềm lực tài chính to lớn và khả năng công nghệ dồi dào đã gia tăng hoạt động

Trang 3

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của cáccông ty xuyên quốc gia là 2 yếu tố lớn tác động đến bức tranh kinh tế thế giới tronggiai đoạn này Hai yếu tố này, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổchức lại thị trường trên toàn thế giới Nói một cách khác, hai yếu tố này thúc đẩyquá trình toàn cầu hóa kinh tế.

Ngày nay, một mặt do trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất làm chotính chất xã hội hóa của chính nó càng vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lantoả sang các quốc gia khu vực và thế giới nói chung và mặt khác, tự do hóa thươngmại cũng đang trở thành xu hướng tất yếu và được xem là nhân tố quan trọng thúcđẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng caomức sống của mọi quốc gia Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới theođịnh hướng phát triển của mình đều điều chỉnh các chính sách theo hướng mở cửa,giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho việc lưu chuyểncác nguồn lực và hàng hóa tiêu dùng giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn,thông thoáng hơn, thông qua các cam kết mở cửa thị trường Các cam kết này cóthể là giữa 2 nước theo hiệp định mậu dịch tự do song phương (FTA) có thể là giữacác nhóm nước theo hiệp định mậu dịch tự do khu vực (RTA) hoặc rộng hơn, trênquy mô toàn cầu trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Quá trình toàn cầuhóa vẫn tiến về phía trước, như một tất yếu khách quan, bởi động lực bên trong của

nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà lực lượng sản xuất thì không ngừngphát triển và càng về sau thì càng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn

Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế là một phươngthức chủ yếu Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ở các biện pháp mở cửa thị trường,

tự do hóa nền kinh tế của một quốc gia hoặc việc tham gia của quốc gia này vàocác cam kết thoả thuận hợp tác kinh tế thương mại song phương (giữa hai nước vớinhau), khu vực (tham gia vào một tổ chức hợp tác giữa các nước trong cùng mộtkhu vực địa lý, ví dụ như ASEAN, EU, Bắc Mỹ, Nam Á ), đa phương ở phạm vitoàn cầu (như tham gia vào WTO) Mục tiêu bao trùm, lớn nhất và nhất quán củaviệc hội nhập kinh tế quốc tế, dù ở cấp độ đơn phương của một quốc gia hay thamgia vào các định chế khu vực hay toàn cầu đều hướng tới việc tự do hóa thươngmại và đầu tư ở tầm quốc gia, khu vực và thế giới

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay.Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không tham gia vào quá trìnhnày Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ dịch chuyển tự do

từ nước này sang nước khác nên sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và diễn

ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu Từ thực tếnày, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại và đầu tư, trong đó cóđối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thế của thời đại, hoặc tham gia

Trang 4

vào tiến trình toàn cầu hóa hay đứng ngoài tiến trình ấy Tham gia vào tiến trìnhtoàn cầu hóa, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rấtnhiều Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệtđối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăntrong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,nhất là trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệlần thứ 3 và từ đó, dẫn đến làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3, mà sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếgiữa các nước Điều quan trọng nữa là quốc gia nào không tham gia vào tiến trìnhnày, quốc gia đó sẽ không có địa vị bình đẳng trong việc bàn thảo và xây dựngđịnh chế của nền thương mại thế giới, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệquyền lợi của mình.

Nhận thức được tình hình đó, nhiều nước, kể cả các nước trước đây vẫn thựchiện chính sách bảo hộ mậu dịch nghiêm ngặt, đã tiến hành cải cách kinh tế, mởcửa với bên ngoài, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nhờ đó kinh tế các nướcnày liên tục tăng trưởng với tốc độ cao Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi lên thànhnhững trung tâm kinh tế lớn cùng với Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản Khu vực Đông Á,Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động Quá trình hợp tác liên kết trong khuvực này ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu Ý tưởng về việc thành lập mộtKhu vực mậu dịch tự do Đông Á, thậm chí Khu vực mậu dịch tự do xuyên TháiBình Dương đã được bàn thảo tại các diễn đàn kinh tế Thế giới đang nói nhiều về

"Thế kỷ châu Á"

Nắm bắt được xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh

tế quốc tế trên thế giới, Việt Nam đã tiến hành các chính sách đổi mới kinh tế, mởcửa và cải cách nền kinh tế, xác định rõ con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu sovới các nước khác và có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh củamình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế là mở cửa hội nhập kinh tế quốc

tế Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một bộ phận không thể tách rời của quá trìnhđổi mới và chủ động hội nhập, là một chủ trương lớn của Việt Nam

3 Các điều kiện để tham gia hội nhập

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng vận động tất yếu khách quan mangtính toàn cầu, do vậy hội nhập kinh tế quốc tế về nguyên tắc không hề hạn chế vớibất kỳ quốc gia nào trên thế giới Trong tiến trình hội nhập của mình, các quốc gia

có thể lựa chọn nhiều hình thức khác nhau như mở cửa thị trường, tự do hóa nềnkinh tế của một quốc gia hoặc việc tham gia của quốc gia này vào các cam kết thoảthuận hợp tác kinh tế thương mại song phương (giữa hai nước với nhau), khu vực(tham gia vào một tổ chức hợp tác giữa các nước trong cùng một khu vực địa lý),

đa phương ở phạm vi toàn cầu Mỗi hình thức hội nhập đều có những nguyên tắc

Trang 5

riêng, song đều hướng đến mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư ở tầm quốcgia, khu vực và thế giới Việc thực hiện các nguyên tắc này thông qua thực hiệncác cam kết song phương, đa phương đã được đàm phán và ký kết khi hội nhập.Như vậy, điều kiện để mỗi quốc gia khi tham gia hội nhập không phải xuất phát từhạn chế của các tổ chức mà chủ yếu từ nội tại quốc gia đó có thể đáp ứng các tiêuchuẩn, điều kiện để hội nhập và có đảm bảo thực hiện đầy đủ các hiệp định đã camkết khi hội nhập hay không Hay nói cách khác, điều kiện để tham gia hội nhậpchính là điều kiện về tiềm lực của quốc gia để có thể đáp ứng yêu cầu hội nhập,phát huy được thế mạnh, tận dụng được cơ hội, vượt qua được thách thức để từ đónhờ hội nhập thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước

Điều kiện về hoàn thiện thế chế kinh tế - thương mại

Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải chấp nhận tuân theo các "luật chơi" và

"cách chơi" của các sân chơi khác nhau như: WTO, ASEAN, APEC Do đó, đểgia nhập vào sân chơi cạnh tranh theo đúng chuẩn mực và thông lệ quốc tế đòi hỏiquốc gia phải hoàn thiện thể chế kinh tế - thương mại theo hướng phù hợp vớinhững nguyên tắc và thông lệ quốc tế; phải liên tục hoàn thiện các quy định vềcạnh tranh để đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng, thúcđẩy tính năng động và khả năng thích ứng nhanh khi hội nhập; phải đảm bảo lộtrình đã cam kết Điều này đặt ra những thách thức không nhỏ đối với những quốcgia đang chuyển đổi nền kinh tế, giữa việc xây dựng thể chế sao cho vừa phải phùhợp với những chuẩn mực và thông lệ thương mại quốc tế, vừa phải phù hợp vớithực tiễn và bối cảnh đặc thù của quốc gia

Ngoài ra, trong một số tổ chức riêng như WTO, đặt ra những nguyên tắc riêng

về tính dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch của nền kinh tếthành viên đặt ra những điều kiện cho các nước muốn gia nhập phải cải tổ hệ thốngluật pháp, tăng cường tính minh bạch, công khai Một trong những nguyên tắc chủđạo của WTO là minh bạch hóa Đây là thách thức to lớn đối với mọi nền hànhchính quốc gia Khi gia nhập WTO, nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có

sự thay đổi theo hướng công khai hơn và hiệu quả hơn

Điều kiện về nâng cao năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu và là động lực phát triển nền kinh tế thịtrường Hội nhập kinh tế mở ra sự cạnh tranh không chỉ trong từng nền kinh tế màcạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh trong khu vực và mang tính toàn cầu Bởi

vì, khi tự do thương mại và đầu tư mở rộng, nguồn vốn đầu tư và hàng hóa cácnước sẽ dễ dàng xâm nhập vào thị trường trong nước, như vậy DN trong nước sẽđối mặt với sự cạnh tranh hết sức gay gắt Bên cạnh đó, trong quá trình toàn cầu,các quốc gia đều có các điều kiện ngang nhau về độ mở cửa và các ưu đãi thuế

Trang 6

quan và phi thuế quan, như vậy có sự cạnh tranh giữa các quốc gia tạo môi trườnghấp dẫn các nhà đầu tư, cạnh tranh giữa các khu vực để thu hút luồng vốn đầu tư

và các trao đổi thương mại diễn ra mạnh mẽ trong khu vực Sự cạnh tranh đặt rayêu cầu các quốc gia khi hội nhập kinh tế quốc tế phải có những bước đệm trongnâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh DN để có thể phát triểnkhi hội nhập, trước khi bị các đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Đểnâng cao năng lực cạnh tranh, phải tiến hành tổng thể trên mọi mặt của nền kinh tế,mọi hoạt động của mỗi DN Đây cũng thực sự là điều thách thức, khó khăn đối vớinhững quốc gia đang và chậm phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Điều kiện về vị thế, thương hiệu quốc gia trong bối cảnh hội nhập

Quá trình hội nhập kinh tế là một quá trình lâu dài với nhiều giai đoạn theotừng bước tiến nhất định của mỗi quốc gia và điều kiện phù hợp của bối cảnh quốc

tế Những quốc gia chưa tạo được cho mình những nền tảng về vị thế, thuơng hiệunhất định khi tham gia hội nhập kinh tế sẽ gặp những thua thiệt, bị chèn ép, yếu thếtrong đàm phán, lép vế trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Ngoài ra,thương hiệu quốc gia còn được xây dựng trên cơ sở thương hiệu của các DN trongquốc gia đó Thương hiệu yếu kém thể hiện năng lực của các DN, sức cạnh tranhcủa hàng hóa trong nước còn yếu thế, điều này thực sự là khó khăn bất lợi khi quốcgia đó hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, khi hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc giaphải không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, thể hiện vai trò vàtầm ảnh hưởng của mình trong các hoạt động kinh tế, chính trị, ngoại giao trong tổchức, khu vực mà quốc gia đó là thành viên

II Bối cảnh của Việt Nam khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ khi mở cửa đến nay

1.1 Những thành tựu đạt được

Năm 1986, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI tuyên bố tiến hànhcông cuộc đổi mới toàn diện và triệt để, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử về đổimới tư duy và đường lối phát triển của Việt Nam trong thời kỳ mới Chương trìnhphát triển đất nước được thông qua tại Đại hội này có nội dung đặc biệt quan trọng

là: (1) chuyển nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN; (2)

mở rộng hợp tác quốc tế theo phương châm kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và cạnh tranh phát triển dựa trên cơ

sở phát huy nội lực; (3) cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phải ngày càng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thành cơ chế chung trong quản lý toàn xã hội; (4) phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất

Trang 7

của mọi hoạt động, coi nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của đất nước.

Sau 21 năm, kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của ViệtNam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, tạo cơ sở vững chắc

để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạngkém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại

(1) Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện

Từ năm 1986 đến năm 1989, công cuộc đổi mới đạt được những thành tựubước đầu rất quan trọng Nhưng vào đầu thập kỷ 90, khi bước vào thực hiện Chiếnlược phát triển KT-XH 10 năm 1991-2000, đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảngkinh tế - xã hội Nhờ triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng,đến năm 1995, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 1991-1995 đượchoàn thành vượt mức; đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã tạođược tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh côngnghiệp hóa - hiện đại hóa

Từ năm 1996 đến năm 2000, đất nước đã đạt được nhịp độ tăng trưởng cao.Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 10 năm (1990 - 2000) đạt 7,5%; năm 2000

so với năm 1990, GDP tăng hơn 2 lần Trong 5 năm (2001 - 2005) của nhiệm kỳĐại hội IX, GDP bình quân tăng gần 7,5%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng

kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế đã được huy động khá hơn;nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã được phát huy Năng lực cạnhtranh của nền kinh tế được cải thiện

Năm 2006 là năm đầu của kế hoạch 5 năm, tăng trưởng GDP của nước ta đạt8,17%, đánh dấu một sự khởi đầu tốt đẹp cho thực hiện kế hoạch 2006-2010 màĐại hội Đảng X đã đề ra

(2) Cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Cơ cấu ngành kinh tế đã từng bước chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH,phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng, làm tăng hiệu quả và chấtlượng phát triển Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng nhanh và liêntục (năm 1988 là 21,6% GDP, năm 1995 là 28,8%, năm 2003 là 40%, năm 2005chiếm 40,97% GDP, năm 2006 chiếm 41,52% GDP); nông nghiệp trong GDP năm

1988 là 46,3%, năm 2000 còn 24,5%; năm 2005 là 21,02%, 2006 xuống còn

Trang 8

20,40%); dịch vụ tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,2% năm 2003, 38,01% năm

2005, 30,08% năm 2006)

Cơ cấu vùng chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh và quan tâm hỗtrợ các vùng còn có nhiều khó khăn Ba vùng kinh tế trọng điểm bước đầu đã pháthuy được tiềm năng, lợi thế của mình, đạt mức tăng trưởng nhanh, đóng góp hơn60% GDP của cả nước, bước đầu có vai trò thúc đẩy các vùng khác phát triển Cácvùng kinh tế còn khó khăn đang từng bước vươn lên, có chuyển biến tốt về đờisống kinh tế - xã hội Tốc độ đô thị hóa tương đối nhanh Các vùng ngoại thành,ven đô thị được chú trọng phát triển

Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sảnxuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ, khu vực cónăng suất lao động cao hơn, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Năm 1990, lao động nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 73,02% tổng số laođộng xã hội, năm 2004 còn 58%, năm 2005 còn 57,2%, năm 2006 tiếp tục giảmxuống còn 55,7% Tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng liêntục tăng, năm 2005 chiếm 18,3% ; năm 2006 tăng lên 19,1% Tỷ trọng lao độngtrong dịch vụ là 24,5%, năm 2005 và tăng lên 25,2% năm 2006

Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư có nhiều tiến bộ Tỷ lệ tiết kiệm trong nước sovới GDP tăng khá nhanh; nguồn vốn tích luỹ trong nước đã được khai thác tốt hơn,chiếm trên 60% tổng vốn đầu tư Mặt khác, cũng huy động được nhiều vốn bênngoài cho đầu tư phát triển Đã hướng mạnh hơn đầu tư vào các mục tiêu chuyểnđổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; bổ sung thiết bị và hiện đạihóa một số ngành công nghiệp; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệpsản xuất tư liệu sản xuất; xây dựng kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển nguồn nhânlực, xoá đói, giảm nghèo - nhất là ở vùng núi, vùng khó khăn

Cơ cấu các thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng sắp xếp lại và đổi mớikhu vực DNNN, phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế dân doanh, kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài, kinh tế hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác

(3) Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế

Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tậptrung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế

Cơ chế quản lý DNNN được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xoá baocấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của DN trongkinh doanh

Số DNNN qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hóa đã giảm từ 12.084 DN năm 1990xuống còn 2.980 DN 100% vốn nhà nước và 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi

Trang 9

phối trên 51% vốn điều lệ năm 2005 Qua đổi mới, DNNN năm 2005 đóng góp38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân sách nhà nước.

Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnhvực, đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội (năm

2005 chiếm 46% GDP) Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng,hoạt động ngày càng có hiệu quả (năm 2005 kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 7%GDP)

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực

và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng

và phát triển kinh tế Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38%GDP của cả nước

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trởthành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quantrọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế Năm 2005, khuvực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1% tổng vốnđầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí); đạt trên 35% giátrị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động trực tiếp và hàng triệu laođộng gián tiếp

(4) Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định

Qua 21 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng

bộ Hoạt động của các loại hình DN trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máyquản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng

Khung pháp luật của nền kinh tế thị trường đã dần được định hình và ngàycàng hoàn thiện hơn Cụ thể, đã tạo dựng khung pháp lý cho việc thực hiện quyền

tự do kinh doanh, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khai thác hiệu quảnguồn lực xã hội, với việc ban hành hàng loạt các bộ luật như Luật Đầu tư, Luật

DN, Luật Phá sản, Luật Hợp tác xã,…; khung pháp lý về thị trường hàng hóa, dịch

vụ đã và đang tạo điều kiện cho cơ chế thị trường vận hành hiệu quả; hình thànhkhung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các yếu tố sản xuất quantrọng nhất như thị trường lao động, thị trường bất động sản, bằng việc ban hànhLuật Lao động, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và hàng loạt các văn bản pháp lýkhác, đặc biệt khung pháp lý cho thị trường vốn cũng đang gấp rút được hoànthiện

Nhà nước đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chứcnăng kinh doanh của các DN; chuyển từ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế sang

Trang 10

can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách vàcác công cụ điều tiết vĩ mô khác Công tác cải cách nền hành chính nhà nước đượcđẩy mạnh Bộ máy tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương tớiđịa phương đã được đổi mới, hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn Trình độ độingũ cán bộ quản lý đã được trưởng thành qua thực tiễn kết quả thực hiện các côngviệc được giao Cơ chế phân cấp quản lý cho các ngành, các cấp đã nâng cao đượcvai trò trách nhiệm, tính chủ động của các cấp, các ngành trong việc tổ chức chỉđạo và triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước tới cơ sở.

Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơbản, theo cơ chế mới Thị trường hàng hóa phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh.Các thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang đượchình thành

Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường vàđiều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Tiềm lực tài chính ngày càng đượctăng cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quânchiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách Quan hệ tiền - hàng cơ bản hợp lý, bảođảm hàng hóa thiết yếu cho sản xuất và đời sống; giá tiêu dùng bình quân hàngnăm tăng thấp hơn mức tăng GDP

(5) Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, kinh tế đối ngoại có bước tiến lớn, đạt được những kết quả rất quan trọng.

Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tếcủa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng ViệtNam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam kết vềKhu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), đã ký Hiệp định Thương mại Việt Nam

- Hoa Kỳ,… Đến năm 2005, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 221 nước vàvùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra mộtbước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại Ngày 11/1/2007 Việt Nam

đã chính thức gia nhập và là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), đánh dấu mốc lịch sử mở ra một thời kỳ mới cho phát triển kinh tế ViệtNam

Thành quả của quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đãđem lại những đóng góp rất lớn vào tăng trưởng nền kinh tế nước nhà, đồng thờikhẳng định và nâng dần vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Xuất nhập khẩu trong những năm qua đã tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc

độ Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷUSD/năm, đến năm 2006 tổng kim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 60% GDP, xấp xỉ

Trang 11

gần 40 tỷ USD/năm Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thịtrường thế giới với những thương hiệu có uy tín Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụtăng rất nhanh, tăng 19,6% năm 2006 Thị trường xuất khẩu được mở rộng sangnhững nền kinh tế lớn như EU, Mỹ, Nhật,… Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa

từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng 19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm,bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầmkiểm soát và có xu hướng giảm dần Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theohướng tích cực Tỷ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2%năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàng nông-lâm-thuỷ sản giảm từ 29% xuống24%; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%.Nguồn vốn tài trợ phát triển chính thức (ODA) liên tục tăng qua các năm, kể

cả trong điều kiện kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn Tổng giá trị các hiệp định

đã được ký trong thời kỳ 2001-2005 đạt 14,7 tỷ USD Đặc biệt năm 2006 các nhàtài trợ cam kết sẽ tài trợ 4,45 tỷ USD, là mức cao nhất từ khi Việt Nam thực thiđường lối đổi mới Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) liên tục tăng,nhờ vào môi trường đầu tư của nước ta tiếp tục được cải thiện thông qua sửa đổi,

bổ sung các chính sách Trong 5 năm, 2001-2005 tổng vốn đăng ký đạt 17,9 tỷUSD, vượt 19,3% mục tiêu đề ra; tổng vốn thực hiện đạt 13,6 tỷ USD , vượt mụctiêu đề ra 2,6 tỷ USD Riêng năm 2006, đầu tư FDI đạt con số kỷ lục 10,2 tỷ USD,mức cao nhất kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1997 đếnnay

(6) Thực hiện gắn kết phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên rõ rệt.

Một thành công lớn đầy ấn tượng của nước ta qua 21 năm đổi mới là đã giảiquyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa,thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọithành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhândân được nâng cao

Trước hết, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt,vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc Từ năm 2000 đến năm

2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảmxuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80% Năm 2006, tỷ lệthất nghiệp chỉ còn 4,4%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,8%, của nữ là3,9%

Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng

640 USD năm 2005 Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm

Trang 12

1992 xuống 17% năm 2005 Theo chuẩn quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ lệ đóinghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và có nhiều tiến bộ.Chỉ số phát triển con người (HDI) được nâng lên, từ mức dưới trung bình (0,498)năm 1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688) năm 2002; năm 2005 Việt Namxếp thứ 112 trên 177 nước được điều tra

Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp,ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh;tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005

Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tính bằng đô la Mỹ theo tỷgiá hối đoái năm 2004 của nước ta chỉ bằng 53,2% của Phi-li-pin; 46,4% của In-đô-nê-xi-a; 43,6% của Trung Quốc; 21,8% của Thái Lan và bằng 12% của Ma-lai-xi-a Nếu tính theo sức mua tương đương thì cũng có tình trạng thấp thua tương tự.Trong những năm vừa qua, nhờ đẩy mạnh xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩuhàng hóa so với tổng sản phẩm trong nước đã đạt tỷ lệ khá cao Tỷ lệ này năm 2004

là 65,7% với mức bình quân đầu người 323,1 USD, tăng 73,2% so với mức bìnhquân đầu người năm 2000 Tuy nhiên mức bình quân này cũng chỉ bằng 70,8% kimngạch xuất khẩu bình quân đầu người của Trung Quốc; 67,3% của Philipin;21,4% của Thái Lan; 7,7% của Xingapo; 6,5% của Malaixia và 2,4% của Brunây

(2) Tăng trưởng kinh tế chứa đựng nhiều mặt mất cân đối

Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng ngànhnông-lâm-ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ Tuynhiên, khi so sánh với một số nước ở Đông Á ta nhận thấy, tỷ trọng các ngànhtrong cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thể đạt đến mức là một nước có nềnkinh tế phát triển Ví dụ như Nhật Bản tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 2% GDP,ngành dịch vụ chiếm tới 61%; Hàn Quốc tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 6% GDP,dịch vụ chiếm tới 51% Công nghiệp chế tác - một phân ngành chủ yếu trong thời

1 Theo phân loại của Ngân hàng Thế giới năm 2003, các nước có thu nhập thấp là các nước và vùng lãnh thổ có tổng sản phẩm trong nước bình quân từ 765 USD/người/năm trở xuống.

Trang 13

kỳ công nghiệp hóa, đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nướcĐông Á Tỷ trọng của ngành này luôn chiếm đến 2/3 phần trăm trong tỷ lệ đónggóp của ngành công nghiệp trong GDP Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ này vẫn cònthấp, chiếm chưa đến 50% Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm trong từngngành thấp hơn tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất, do chi phí trung gian (chiphí nguyên vật liệu tăng, chi phí quản lý, chi phí sản xuất) tăng với tốc độ cao ở cả

ba khu vực Cụ thể, trong nông nghiệp, tính chung trong thời kỳ 1991 - 2003, tăngtrưởng giá trị sản xuất là 6,2%/năm, nhưng tăng trưởng giá trị tăng thêm chỉ đạt4,1%, chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất Trong khu vực côngnghiệp - xây dựng tốc độ của giá trị tăng thêm liên tục thấp hơn giá trị sản xuấttrong một thời gian khá dài, tính chung trong thời kỳ 1991 - 2003, khi tốc độ tăngcủa giá trị sản xuất lên đến 13,9%/năm, thì giá trị tăng thêm chỉ đạt 11,7%/năm Quan hệ tích luỹ, tiêu dùng ít được cải thiện Tích luỹ trong tổng sản phẩmtrong nước chiếm tỷ trọng thấp và gần như không tăng qua các năm (Năm 2001chiếm 31,2%; 2002 chiếm 33,2%; 2003 chiếm 35,4%; 2004 chiếm 35,5%) Trongquan hệ thương mại, nhập siêu tuy vẫn nằm trong tầm kiểm soát nhưng ở mứctương đối cao Tính chung 5 năm 2001-2005, kim ngạch nhập siêu khoảng 19,3 tỷUSD, bằng 17,4% tổng kim ngạch xuất khẩu Mặc dù thu ngân sách hàng nămkhông ngừng tăng lên, ước tính năm 2005 gấp trên 2,3 lần năm 2000, nhưng ngânsách vẫn trong tình trạng bội chi Đáng chú ý là, trong tổng thu ngân sách hàngnăm có khoảng 45% tổng thu bị phụ thuộc vào các yếu tố không ổn định, đó là thu

từ dầu thô và thu thuế xuất nhập khẩu Cán cân thanh toán quốc tế có chuyển biếntích cực, dự trữ ngoại tệ năm 2004 gấp 2 lần năm 2000, nhưng mới tương ứng với

10 tuần nhập khẩu hàng hóa, trong khi chỉ tiêu này của nhiều nước đã đạt 40-60tuần

(3) Chất lượng tăng trưởng còn thấp

Hiện nay, ở nước ta, tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn và lao động còn chiếmchủ yếu, vai trò của năng suất yếu tố tổng hợp (Total factor productivity -TFP) cótăng, nhưng còn rất thấp nếu so với ngay các nước đang phát triển ở châu Á Từ

1993 đến nay, đóng góp của TFP vào GDP có tăng lên nhưng tăng còn dè dặt vàchiếm tỷ trọng không lớn (14,8% lên 28,2%); tỷ trọng đóng góp của lao động tănglên trong giai đoạn 1998 – 2002 nhưng lại có xu hướng giảm dần giai đoạn sau đó;đóng góp từ vốn giảm xuống (từ 69,3% xuống còn 52,7%), tuy nhiên yếu tố vốnvẫn chiếm chủ yếu trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế So sánh với các nướctrong khu vực, tỷ trọng TFP trong tăng trưởng của nước ta thấp hơn rất nhiều (thời

kỳ 1980 – 2000 ở Hàn Quốc là 39,96%, Ấn Độ là 40,78%) Các chỉ số này phảnánh tính chất của tăng trưởng nước ta còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu

Xu hướng phát triển chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư, trong khi đó, vốn tự có

Trang 14

thấp, chủ yếu phải đi vay từ nước ngoài, vay trong dân cư,… sẽ khiến cho tăngtrưởng thiếu tính bền vững, ổn định, dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài, đặcbiệt từ sự biến động của thị trường vốn Yếu tố lao động được coi là nguồn lực nộisinh, hiện đang có lợi thế so sánh (như giá rẻ, dồi dào…) thì chỉ đóng vai trò thấphơn nhiều so với yếu tố vốn trong tăng trưởng

(4) Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu

Do tiềm lực còn hạn hẹp nên sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta thấp thuanhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới trong khi thời điểm thực hiện tất

cả các cam kết tự do thương mại trong khuôn khổ AFTA và WTO đang cận kề TheoBáo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố những

năm gần đây thì Chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (GCI) của nền kinh tế nước ta từ vị trí thứ 60/101 năm 2003 đã lùi xuống vị trí 79/104 năm 2004 và 81/117 năm 2005; Chỉ số

cạnh tranh DN (BCI) cũng tụt từ vị trí 50/102 năm 2003 xuống 79/104 năm 2004 và

80/116 năm 2005

Thứ hạng của nước ta tụt giảm là do các chỉ số năng lực cạnh tranh thànhphần thấp (gồm có: chỉ số công nghệ - TI: Technology Index; chỉ số thể chế công –PII: Public Institution Index; chỉ số môi trường vĩ mô – MEI: MacroeconomicEnvironment Index) và có sự tụt giảm trong bảng xếp hạng Chỉ số công nghệ củanước ta thấp do trình độ công nghệ của nước ta còn yếu kém Chỉ số thể chế côngcũng ở mức khiêm tốn, mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật (với sự ra đời của Luật DN, Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu năm2006) và các chính sách cởi mở về xuất khẩu Nguyên do, hệ thống pháp luật củanước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, còn thiếu tính nhất quán và ổn định, thực thipháp luật không nghiêm, nạn quan liêu, tham nhũng tuy đã có những biện pháp đấutranh nhưng trong những năm gần đây vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng Chỉ

số về môi trường vĩ mô của Việt Nam cũng còn thấp, do môi trường kinh doanhcòn chưa thực sự bình đẳng, còn quá nhiều DNNN độc quyền trên các lĩnh vực;tính minh bạch, công khai của nền kinh tế, bao gồm của cả DN và cơ quan nhànước, còn thấp

2 Quá trình thúc đẩy hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

2.1 Đường lối đổi mới và chính sách mở cửa nền kinh tế của Việt Nam

Nắm bắt được xu thế khách quan của quá trình toàn cầu hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế trên thế giới, Việt Nam đã tiến hành các chính sách đổi mới kinh tế,

mở cửa và cải cách nền kinh tế Trong quá trình này, hội nhập kinh tế quốc tế trởthành một bộ phận không thể tách rời của quá trình đổi mới và chủ động hội nhập

là một chủ trương lớn của Việt Nam

Trang 15

Sự chuyển biến lớn trong chủ trương, chính sách mở cửa và hội nhập của ViệtNam được đánh dấu tại Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 Sau Đại hội,đường lối đổi mới đã mở ra sự phát triển toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực,trong đó chú trọng tới phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở.Tại Đại hội VII, Đảng đã xác định rõ hơn đường lối độc lập tự chủ, đa dạng hóa

quan hệ đối ngoại với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước

trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Trích văn

kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) Đại hội Đảng lần thứ IX đã phát triển

chủ trương này thành “Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy của các nước

trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Nghị quyết

07/NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tếchính là sự kế thừa, cụ thể hóa và triển khai những đường lối, chủ trương của Đảng

về hội nhập kinh tế quốc tế từ trước đến nay, đồng thời đáp ứng kịp thời những yêucầu khách quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai

đoạn mới Nghị quyết đã khẳng định mục tiêu hội nhập của Việt Nam là “Chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…” Đặc biệt tại Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng đã xây dựng cụ thể

hơn những mục tiêu, giai đoạn của quá trình hội nhập trong bối cảnh hiện nay, đó

là “Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế sâu

hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất Cụ thể là: chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước

từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; thực hiện cam kết với các nước

về thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác; chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương; củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược; khai thác có hiệu quả các cơ hội và vượt qua những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).” (Trích

văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X)

Với đường lối đổi mới, kinh tế Việt Nam đã chuyển dần sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chính sách

mở cửa nền kinh tế đã giúp Việt Nam có quan hệ thương mại và đầu tư với nhiềunước trên thế giới Đây là quá trình từng bước tiến hành tự do hóa các hoạt độngkinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực vàthế giới Điều này có nghĩa là Việt Nam đang từng bước tháo gỡ và nới lỏng nhữngtrói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh; xây dựng cơ chế

Trang 16

kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc thị trường có định hướng XHCN; mở cửa

và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư; giảm và tiến đến xoá bỏcác hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như nhiều rào cản khác, nhờ đógiúp cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công giữa ViệtNam và các nước được dễ dàng, phù hợp với những quy định của các tổ chức/thểchế kinh tế khu vực và thế giới mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia

Những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước, đã làm tăng khả năng sáng tạo,tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát huy hết khả năng của mình vào việcphát triển kinh tế Nhà nước quản lý bằng luật pháp, bằng cơ chế chính sách, tạomôi trường cho sự cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho DN phát huy quyền chủđộng sáng tạo của mình, kinh doanh theo pháp luật Nhờ vậy, nền kinh tế đã đạtđược tốc độ tăng trưởng nhanh, các khu vực kinh tế phát triển mạnh mẽ, đầu tưtrong nước và ngoài nước ngày càng tăng

2.2 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Những chuyển biến lớn trong đường lối đổi mới và chính sách mở cửa, hộinhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã mở đường cho Việt Nam chủ động

và tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng vàonền kinh tế quốc tế và đã đạt được những thành tựu to lớn Tiến trình Hội nhậpkinh tế quốc tế của Việt Nam được triển khai từng bước từ thấp đến cao diễn ratrên cả 3 phương diện: đơn phương, song phương và đa phương, lồng ghép cácphạm vi tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, diễn ra trên hầu hết các lĩnhvực gồm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ

(1) Các biện pháp đơn phương

Cùng với đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI khởi xướng, ViệtNam từng bước chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN với nhiềuthành phần kinh tế khác nhau Triển khai thực hiện nhiều chính sách cải cách tronglĩnh vực kinh tế nhằm làm cho các hoạt động kinh tế dần tự do và thuận lợi hơn:Trong lĩnh vực đầu tư và thương mại, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi bổ sungnhiều bộ luật (Luật DN, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, ) cho phù hợp với thực tiễn

và thông lệ quốc tế nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu

tư nước ngoài, khuyến khích các nguồn lực trong nước tham gia đầu tư Việt Namcũng đã ban hành Pháp lệnh về Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia, Pháp lệnh về cácbiện pháp tự vệ, đang xây dựng Pháp lệnh về Chống phá giá, cố gắng để đưa phápluật nước nhà ngày càng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ thương mại quốc tếtạo hành lang pháp lý cho quan hệ kinh tế thương mại bình đẳng giữa Việt Nam vàcác nước Nhiều biện pháp cấm đoán hoặc hạn chế kinh doanh, buôn bán trước đâytừng bước đã được bãi bỏ hoặc nới lỏng, làm cho môi trường kinh doanh của ta

Trang 17

thuận lợi hơn Chúng ta cũng chủ động từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cảicách và nâng cao hiệu quả DN để không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh củanền kinh tế.

(2) Quan hệ song phương

Đến cuối năm 2004, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với224/255 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; ký kết được 87 Hiệp định Kinh tế

- Thương mại song phương (cả ký mới và ký lại); ký hơn 350 Hiệp định hợp tácphát triển với các nhà tài trợ, 48 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 42 Hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần và 37 Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương vớicác nước và các tổ chức quốc tế Trong số đó quan trọng nhất là các hiệp định kývới Trung Quốc (Hiệp định thương mại năm 1991 và Hiệp định hợp tác kinh tếnăm 1992), với Mỹ (Hiệp định thương mại song phương năm 2000), với Nhật Bản(tuy Việt Nam chưa ký hiệp định thương mại với Nhật Bản nhưng hai nước đã kýHiệp định về tự do – xúc tiến và bảo hộ đầu tư), với Cộng đồng châu Âu (Hiệpđịnh khung về hợp tác thương mại, đầu tư phát triển năm 1995)… Bên cạnh đối tác

Mỹ, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác quantrọng như Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông và Nam Á (Hàn Quốc, ẤnĐộ ), các nước ASEAN, Tây Bắc Âu, Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latinh

+ Về quan hệ thương mại:

Trong số 87 hiệp định thương mại song phương Việt Nam đã ký kết, hiệpđịnh lớn nhất và có tầm ảnh hưởng và tác động to lớn nhất từ trước đến nay là Hiệpđịnh thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ Hiệp định này được coi là một hiệp định "đồsộ" nhất cả về hình thức (số lượng chương, điều) và nội dung của nó (bao quát nhấttrong các hiệp định thương mại Việt Nam đã ký) Hiệp định thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ gồm 7 chương, 72 điều, 9 phụ lục và 2 thư trao đổi Ðặc biệt về nguyên tắcđàm phán và ký kết, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được đàm phán và

ký kết trên cơ sở các nguyên tắc, quy định của WTO Do vậy, Hiệp định có phạm

vi điều chỉnh rộng nhất so với các hiệp định Việt Nam đã ký, không chỉ đề cập đếnthương mại hàng hóa mà còn bao gồm cả thương mại dịch vụ, phát triển quan hệđầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định được đàm phán từ năm 1996 vàsau 11 vòng đàm phán, ngày 13/7/2000, Hiệp định đã được ký kết và bắt đầu cóhiệu lực kể từ ngày 10/12/2001

+ Về quan hệ đầu tư:

Bên cạnh việc tháo dỡ, nới lỏng các ràng buộc, cấm cản của thời kỳ "cấm chợ,ngăn sông", khép kín, tự cung tự cấp, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sáchkhuyến khích cho tư nhân thành lập DN, kinh doanh buôn bán, tham gia đầu tư xâydựng và phát triển kinh tế trong nước, đồng thời Nhà nước đã có nhiều chính sách

Trang 18

mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài Năm 1990, Việt Nam ký kết Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư với Italia - đây là hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầutiên được ký kết Ðến nay Việt Nam đã ký kết hơn 350 hiệp định hợp tác phát triểnvới các nhà tài trợ, 48 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, mỗi năm, thu hút

hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Đặc biệt là Sáng kiến chung

Việt Nam – Nhật Bản được Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản ký kết năm 2003.

Theo đó, các nhà lãnh đạo đã đưa ra sáng kiến về các vấn đề cụ thể nhằm cho thếgiới biết rằng Việt Nam đang cải thiện mạnh môi trường đầu tư Việc cải thiện môitrường đầu tư đem lại lợi ích cho tất cả những đối tác liên quan đến phát triển kinh

tế của Việt Nam cũng như bản thân Việt Nam với tư cách là người hưởng lợi đầutiên Kế hoạch hành động là kết quả của Sáng kiến sẽ mang lại lợi ích không chỉcho các nhà đầu tư Nhật Bản mà còn cho cả các nhà đầu tư nước ngoài và trongnước khác

(3) Quan hệ đa phương

Trong các quan hệ đa phương toàn cầu và khu vực, sau một thời gian giánđoạn, Việt Nam đã khai thông và nối lại quan hệ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vàNgân hàng Thế giới vào năm 1993, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) năm 1995, bắt đầu thực hiện nghĩa vụ của các nước tham gia Hiệp địnhthương mại tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, là thành viên sáng lập Diễn đàn hợptác Á - Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – TháiBình Dương (APEC) năm 1998

Bước tiến quan trọng nhất trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của ViệtNam đó là việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) và là thành viên thứ 150 của tổ chức này vào ngày 11/1/2007 Gia nhậpWTO đánh dấu bước chuyển mình lớn cho Việt Nam, từ hội nhập trong khu vựcvới việc tham gia các tổ chức, các diễn đàn và ký kết các hiệp định song phương,nay nước ta đã hội nhập ra ở quy mô toàn cầu, tham gia trong tổ chức với 150 nềnkinh tế thành viên trên khắp các châu lục Việc gia nhập WTO đã nâng vị thế củaViệt Nam lên một tầm cao mới, đồng thời mở ra những cơ hội to lớn cho Việt Namtrong mở rộng và thúc đẩy các hoạt động thương mại, dịch vụ, đầu tư với 149 nướcthành viên

Trong nỗ lực gia nhập WTO, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật phù hợp với những hiệp định của WTO Quốc hội Việt Nam đã thông qua

29 văn bản luật quan trọng như Luật Thương mại, Luật Đầu tư chung, Luật DNthống nhất, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Ngân hàng, Luật Bảo hiểm, LuậtLao động, Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Dầu khí, Luật vềThuế…

Trang 19

Việc tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), các Diễn đànASEM, APEC và ký kết các hiệp định đầu tư và thương mại song phương, gồm cảviệc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, trong thời gian qua của ViệtNam đã chứng minh cụ thể những lợi ích thực sự của việc hội nhập vào nền kinh tếthế giới Xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong nhiều năm qua và hiện chiếm đến trên60% GDP của cả nền kinh tế, góp phần duy trì mức tăng trưởng GDP cao trongnhững năm qua Nền kinh tế mở cửa, năng động đã thu hút dòng vốn đầu tư nướcngoài vào Việt Nam tạo ra nhiều hàng hóa tham gia xuất khẩu, sử dụng nguyên liệutrong nước, tạo ra nhiều việc làm, nhất là trong các ngành sử dụng nhiều lao động.Gia nhập WTO tiếp tục thúc đẩy hơn nữa tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới của Việt Nam và mở ra những cơ hội mới để mở rộng thương mại và thuhút đầu tư nước ngoài cho nước ta, đồng thời cũng sẽ có rất nhiều thách thức màViệt Nam, trong đó trực tiếp là cộng đồng DN, Việt Nam phải đối mặt

3 Những thuận lợi và khó khăn đối với Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế

3.1 Thuận lợi của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

(1) Việt Nam có những nguồn lực to lớn và lợi thế quan trọng

Chúng ta có thế mạnh về con người, về lao động với trí thông minh, nhanhnhẹn, chăm chỉ cần cù

Về nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên của nước ta rất đa dạng, phong phú và

trữ lượng ở dạng tiềm năng lớn Việt Nam được xếp vào loại nước giàu tài nguyênngư nghiệp với diện tích bề mặt nước rộng lớn có nhiều loại thuỷ hải sản phongphú, có giá trị kinh tế cao, thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản và phát triển nghề khaithác đánh bắt thuỷ sản Đồng thời, nước ta cũng được đánh giá là quốc gia cónguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú với nhiều điểm quặng và loại khoángsản khác nhau (theo thống kê có khoảng 5.000 điểm quặng và 60 loại khoáng sản).Trong đó một số khoáng sản có trữ lượng lớn như than, sắt, bôxit, apatít, dầu, khí,

Nguồn lực lao động của Việt Nam dồi dào, tỷ lệ lao động trẻ cao, có phẩmchất chăm chỉ, cần cù, chịu khó, thông minh, nhanh nhẹn, năng động, sáng tạo vàham hiểu biết, tiếp thu nhanh kỹ thuật và công nghệ mới, mặt khác tỷ lệ lao độngcủa Việt Nam có trình độ học vấn tương đối cao Có thể nói đây là một trongnhững thế mạnh của Việt Nam, là nguồn lực đóng góp to lớn trong phát triển kinh

tế nước nhà giai đoạn vừa qua và là tiềm năng to lớn có thể phát huy trong giaiđoạn sắp tới

Về lợi thế, Việt Nam có lợi thế to lớn về vị trí địa lý Đất nước ta nằm ở vị trí

chiến lược trong bản đồ phát triển kinh tế thế giới và khu vực Nằm ở vùng trung

Trang 20

tâm của biển Thái Bình Dương, nơi hội tụ các luồng vận tải biển quốc tế, nơi giaothoa của các dòng chảy thương mại Âu - Á, Mỹ - Á, Đại Dương - Á và Phi - Á.Với đường bờ biển nằm dọc theo chiều dài đất nước, với vị trí địa lý vô cùng thuậnlợi, Việt Nam có lợi thế so sánh vượt trội hơn các nước khác khi phát triển các hảicảng để trở thành trung tâm giao thương buôn bán thương mại lớn trong khu vực

và trên thế giới

(2) Nằm trong khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế thế giới

Nằm trong khu vực Đông Nam Á, khu vực được đánh giá năng động vào bậcnhất trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức cao Triển vọng tăngtrưởng cao cùng quy mô thị trường lớn tiếp tục khiến khu vực này trở thành mộtđịa điểm thương mại và đầu tư hấp dẫn Tổng kim ngạch thương mại của khu vựcASEAN hiện đạt trên 1 nghìn tỷ USD; thu hút vốn FDI trong khu vực này đạt con

số kỷ lục là 37,136 tỷ USD trong năm 2005, tăng mạnh hơn rất nhiều so với con số25,666 tỷ USD năm 2004 Việc Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và Khu vực Đầu tư ASEAN(AIA) tạo những lợi thế và cơ hội mà Việt Nam có thể tranh thủ những thuận lợi

mà khu vực mang lại

(3) Thành tựu của công cuộc đổi mới nền kinh tế

Qua 21 năm - kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của ViệtNam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã vượtqua khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, trở thành một nhữngnhững nền kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực ĐôngNam Á Cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng côngnghiệp hóa - hiện đại hóa Thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiềuthành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế Thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ

mô cơ bản ổn định Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, kinh tế đối ngoại có bướctiến lớn, đạt được những kết quả rất quan trọng Thực hiện gắn kết phát triển kinh

tế với giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên

rõ rệt

Với những kết quả đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực, Việt Nam có nhữngđiều kiện thuận lợi về thế và lực mới để phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay

Sự ổn định về chính trị, ổn định tương đối về kinh tế vĩ mô, sự nhất quántrong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong suốt thời kỳ Đổi mới đã tạolên tính hấp dẫn trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam về độ ổn định, tính antoàn và nhất quán, nhờ đó đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và các DN trong

Trang 21

nước tăng cường đầu tư Điểm mạnh này thực sự biến thành lợi thế cho Việt Namkhi mà trong bối cảnh hiện nay, sự bất ổn định về chính trị, nội chiến và những đedọa xảy ra chiến tranh đang diễn ra ở khá nhiều nước trong khu vực và trên thếgiới

3.2 Những khó khăn đối với Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế

(1) Khó khăn và hạn chế trong khai thác các nguồn lực

Khó khăn về nguồn nhân lực, nước ta vốn có thế mạnh về nguồn lao động dồi

dào, trẻ, có ưu thế về thể chất, có trình độ học vấn cao, có phẩm chất chăm chỉ cần

cù, sáng tạo, ham hiểu biết, tiếp thu nhanh kỹ thuật công nghệ mới Tuy nhiênnguồn nhân lực của Việt Nam cũng có những hạn chế nhất định và đang đặt ranhững khó khăn lớn khi nước ta hội nhập kinh tế quốc tế Đó là hạn chế về laođộng được đào tạo nghề và kỹ năng chuyên môn còn quá ít, yếu ngoại ngữ, thiếu ýthức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp Hạn chế này không chỉ trong lĩnhvực các DN mà cả ở các cơ quan quản lý nhà nước còn tồn tại khá phổ biến Vấn

đề lớn nhất đối với các DN Việt Nam đó là thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực cóchất lượng cao, chưa nói đến nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn quốc tế Bên cạnh đóViệt Nam cũng đang thiếu hụt trầm trọng các nhà quản lý có tầm nhìn chiến lược,

có khả năng tổ chức, điều hành và quản lý hiệu quả, chuyên nghiệp; thiếu cácchuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao Nguồn lao động đạt tiêuchuẩn, đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa của nước ta không nhiều, ngoài số lao độngchất xám được đào tạo từ nước ngoài trở về, nguồn đào tạo tại chỗ, từ các trườngđại học, cơ sở đào tạo trong nước kết hợp với chương trình đào tạo nước ngoài, rấthạn hẹp

Trong khi đó, một thách thức đang đặt ra là khi nước ta mở cửa vấn đề cạnhtranh giành nguồn nhân lực sẽ rất khốc liệt Khi các DN nước ngoài vào, các cuộccạnh tranh sẽ diễn ra, các DN sẽ dùng lương để thu hút người lao động giỏi, chonên cần phải có chiến lược đào tạo, giữ những người có năng lực làm cho mình,giữ như thế nào tùy vào từng DN, không có bài toán chung cho tất cả Nguy cơ này

là hoàn toàn có thật và đang là vấn đề thực trạng nan giải đối với các DN thuộcngành ngân hàng tài chính của Việt Nam hiện nay Khi mà rất nhiều nhân viên giỏi,

có kinh nghiệm, có năng lực của các ngân hàng thương mại trong nước chuyểnsang các ngân hàng cổ phần, liên doanh với nước ngoài với mức lương hấp dẫn và

cơ hội thăng tiến cao hơn

Nguồn lực về vị trí địa lý, nước ta có lợi thế nằm ở vị trí chiến lược trong bản

đồ phát triển kinh tế thế giới và khu vực, nằm ở vùng trung tâm của biển Thái BìnhDương, nơi hội tụ các luồng vận tải biển quốc tế, nơi giao thoa của các dòng chảythương mại Với đường bờ biển nằm dọc theo chiều dài đất nước, với vị trí chiến

Trang 22

lược, Việt Nam có thể khai thác lợi thế so sánh vượt trội này để trở thành trung tâmgiao thương buôn bán thương mại lớn trong khu vực và trên thế giới Song thực tế,Việt Nam chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của nguồn lực này Rất nhiều hảicảng đã được xây dựng nhưng ở những vị trí địa lý chưa thực sự thuận lợi cho pháttriển thông thương đường biến, những rào cản của thủ tục hải quan, những khókhăn, nhũng nhiễu của cán bộ hải quan,…đang là những hạn chế rất lớn cho việckhai thác tiềm năng này của đất nước Mặc dù cùng có những thuận lợi nhưXingapo và Hồng Công về phát triển trao đổi thương mại đường biển song đónggóp của ngành dịch vụ hàng hải chỉ chiếm 12,7% trong cơ cấu xuất khẩu dịch vụnăm 2006 và chỉ chiếm 4,1% trong cơ cấu nhập khẩu dịch vụ năm 2006 của ViệtNam

(2) Sức cạnh tranh của các DN và hàng hóa Việt Nam còn yếu

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam phải tuân thủcác luật chơi chung của kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, đó làgiảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường dịchvụ… Mục tiêu để vươn ra thị trường toàn cầu đồng nghĩa nước ta phải mở cửa thịtrường cho các nước tham gia Điều này thực sự là một thách thức lớn đối với các

DN Việt Nam, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ (chiếm đến 90% tổng số DN) với vốncòn nhỏ bé về quy mô và năng lực nội sinh còn yếu kém Năng lực cạnh tranh của

DN Việt Nam còn hạn chế ở rất nhiều mặt về năng lực tài chính, nguồn lực laođộng, về khả năng quản lý, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường, khảnăng truyền thông, phân phối, … Tình trạng này không chỉ xảy ra với những DNvừa và nhỏ mà ngay cả với những DN lớn, DN quốc doanh cũng đang rơi vào tìnhtrạng lúng túng, khó khăn trước bối cảnh hội nhập khi phải đối mặt với sự cạnhtranh của các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia với tiềm lực hùng mạnh

về tài chính, công nghệ và năng lực cạnh tranh cao ngay trên thị trường trong nước.Đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệtvới hàng hóa cùng loại của các nước trong khu vực có cùng điều kiện như ViệtNam, như đối với hàng dệt may và da giầy của Trung Quốc, sản phẩm gạo củaThái Lan và Pakixtan, hàng thuỷ sản của Inđônêxia và Thái Lan… Hàng hóa củanhững nước này hiện đang có lợi thế hơn hàng hóa của Việt Nam trên thị trườngthế giới nhờ các hàng hóa của họ đã có thương hiệu, một số hàng hóa có chấtlượng tốt hơn, giá thành rẻ hơn và mẫu mã chủng loại phong phú hơn Còn hànghóa xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là hàng hóa chế biến thô như các sản phẩmnông sản, thuỷ sản Hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là hàng giacông cho các hãng, các tập đoàn dệt may của các nước nhập khẩu Những khókhăn đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi tham gia vào thị trường thế giới

Trang 23

đòi hỏi các DN phải có những chiến lược phát triển DN, chiếm lĩnh thị trường vàphát triển thương hiệu trong thời gian tới

(3) Sự tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại

Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mangtính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất nhập khẩucao Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do chính đáng như

để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành động thương mạikhông lành mạnh, bảo vệ sức khoẻ con người, kiểm soát chất lượng, môi trường,quy định về an toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm soát dịch bệnh, chốngbán phá giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hóa

(4) Hệ thông luật pháp chậm đi vào thực tiễn; chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ; quản lý hành chính còn nhiều bất cập

Thực hiện nguyên tắc dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh

bạch khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống phápluật

và cải cách hành chính nhà nước (năm 2005 sửa và xây dựng mới 29 luật, năm

2006 sửa và xây dựng mới 10 luật, hoàn thành sửa và xây dựng mới là 25 luật vàpháp lệnh theo các cam kết đa phương) Có thể nói, Việt Nam là nước đầu tiên có

hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh để gia nhập WTO Mặc dù đã có nhiều nỗlực để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến kinh tế - thương mại, nhưngvẫn còn nhiều tồn tại mà Việt Nam phải sửa đổi khi hội nhập kinh tế quốc tế

Hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ song vẫn còn chậm đi vào thực tiễn Các

bộ luật ban hành song phải chờ các nghị định, thông tư hướng dẫn Quá trình triểnkhai thực hiện xuống địa phương lại càng kéo dài hơn Bản thân các cán bộ nhànước còn chậm trong cập nhập kiến thức và thực hiện trong công tác Đó là chưa

kể đến những khó khăn, rào cản từ phía chủ quan các đơn vị chủ quản và các cán

bộ khi thực hiện các quy định mới do bị ảnh hưởng về mặt quyền lợi cũng ảnhhưởng nghiêm trọng đến quá trình thực thi luật pháp Các chính sách ban hànhgiữa các bộ ngành đôi khi còn đối nghịch nhau, không có sự đồng bộ trong hệthống chính sách Điều này thể hiện cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành còn hạnchế, trong khi năng lực của từng đơn vị còn chưa cao để có thể bao quát mọi vấn

đề trước khi ban hành chính sách Rất nhiều chính sách ban hành chỉ mang tínhthời điểm mà chưa có tầm nhìn chiến lược, dài hạn

Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chưa hoàn thiện Hiện nay cácthể chế kinh tế thị trường ở nước ta còn thiếu đồng bộ như thị trường các yếu tốsản xuất như vốn, công nghệ, lao động, tài chính, bất động sản; các quy định pháp

lý về cạnh tranh chống độc quyền, phá sản, bảo hộ tuy đã được đưa dần vào luậtpháp theo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực nhưng cũng còn cần

Trang 24

phải tiếp tục hoàn thiện Đây là những cản trở gián tiếp nhưng có tác động rất tiêucực đối với quá trình hội nhập kinh tế nước ta nói chung và xuất nhập khẩu nóiriêng

Về mặt quản lý nhà nước cũng sẽ phải thay đổi Thay vì quản lý bằng cáclệnh, chỉ thị, can thiệp trực tiếp vào các DN, thì nay không còn, còn rất ít, chỉ cònnhững DN có vốn lớn của Nhà nước, quản lý thông qua biện pháp gián tiếp nhưxây dựng pháp luật, chính sách và kiểm tra đôn đốc việc thực hiện đó Việc nắmtừng ngành, hàng cũng sẽ không giống như trước, quản lý thông qua hoạt động củacác hiệp hội ngành hàng Song điều này cũng đặt ra những thách thức về mặt cơchế hoạt động và năng lực quản lý của các đơn vị này khi Nhà nước không còn đầu

tư và bảo hộ các DN, các ngành hàng Bên cạnh đó là sự dây dưa, kéo dài quá trìnhtách bạch vai trò quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh của các bộ, ngành domất đi các quyền lợi vốn có

Quản lý hành chính vẫn đang tồn tại quá nhiều bất cập từ cơ chế quản lý đến

bộ máy hành chính, trở thành rào cản lớn ngăn trở quá trình phát triển của ViệtNam, đặc biệt trong thu hút đầu tư, khai thác mọi nguồn lực để phát triển Nhiều cơchế còn bất hợp lý, thiếu tính minh bạch, chưa tạo được môi trường cạnh tranhlành mạnh và công bằng, quyền lợi chính đáng của DN và doanh nhân, coi trọng

DN và doanh nhân Bộ máy hành chính còn cồng kềnh, nhiều ban bệ, cán bộ hànhchính còn quan liêu, nhũng nhiễu,… Cải cách hành chính đang là trọng tâm mà nhànước đặt ra cần cải tổ mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay

III Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với DN Việt Nam

1 Cơ hội và thuận lợi đối với DN Việt Nam khi hội nhập

1.1 Mở rộng thị trường, tăng xuất khẩu

Nhìn lại kết quả 11 năm (từ 1995 đến 2006) kể từ khi Việt Nam thực sự chínhthức mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đánh dấu bằng việc gia nhập ASEAN và thựchiện các cam kết của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và 5 năm thực thiHiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có thể thấy thành quả Việt Nam gặt háiđược nhờ mở cửa nền kinh tế và những cơ hội mà các DN Việt Nam thời gian qua

đã tận dụng được Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN tăng

từ 1 tỷ USD năm 1995 lên 2,3 tỷ USD năm 2004, tốc độ tăng trung bình 15,8%năm trong giai đoạn 1996-2003 Đặc biệt, thời gian gần đây, xuất khẩu của ViệtNam sang thị trường ASEAN tăng khá cao Tỷ trọng xuất khẩu vào ASEAN năm

2004 đạt 14,3% tổng số xuất khẩu của Việt Nam Các nước trong khu vực ĐôngNam Á có tỷ trọng nhập khẩu cao từ Việt Nam là Xingapo, Malaixia, Philippin,Thái Lan Sau 5 năm thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, từ mứcxuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng nhanh cùng với việc tiếp cận thị trường

Trang 25

Hoa Kỳ được cải thiện Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất Việt Nam

kể từ sau khi Hiệp định có hiệu lực Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ chỉ đạtkhoảng 200 triệu USD vào năm 1995 và khoảng 1 tỷ USD vào cuối năm 2001 (thờiđiểm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực), thì đến cuối năm 2005 là khoảng 6 tỷ USD vànăm 2006 đạt gần 8 tỷ USD

Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tạo nhiều cơ hội lớn cho các DN Việt Namtrong mở rộng thị trường tiếp cận, tăng số lượng thị trường xuất khẩu hàng hóa,tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu và cơ hội để DN Việt Nam mở rộng thị

trường xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có lợi thế cạnh tranh

a Mở rộng thị trường tiếp cận

Hội nhập sẽ mở cửa cánh cửa cho các DN Việt Nam bước vào những thịtrường với dung lượng lớn và nhu cầu có khả năng thanh toán cao, sẽ tạo nhiều cơhội cho các DN Việt Nam mở rộng quan hệ, tiếp cận với thị trường toàn cầu nhờ

đó tăng cường khả năng xuất khẩu Việt Nam đã đặt quan hệ thương mại với 170quốc gia và vùng lãnh thổ, gia nhập khối ASEAN với 10 nước thành viên, tham giaDiễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương(APEC) với 21 thành viên, gia nhập WTO với 150 nước thành viên, Đồng thời đã

ký kết các hiệp định về kinh tế và thương mại song phương, đa phương - đây chính

là những cơ sở về mặt cam kết pháp lý tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động thươngmại dịch vụ giữa các nước thành viên, nhờ đó các DN Việt Nam có điều kiệnthuận lợi tiếp cận với các thị trường tiềm năng lớn như châu Âu, Bắc Mỹ, NhậtBản và các khu vực thị trường rộng lớn khác với hơn 5 tỷ người tiêu dùng

b Tăng số lượng thị trường xuất khẩu hàng hóa cho DN

Hiện nay, hàng Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia trên thế giới vớikim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt gần 40 tỷ USD, trong đó chiếm tỷ trọng lớntrong kim ngạch xuất khẩu đó là thị trường các khu vực APEC, ASEAN, EU; thịtrường các nước Mỹ, Anh, Đức, Ôxtrâylia, Nhật Bản, Xingapo, Trong giai đoạnsắp tới, với tư cách thành viên của WTO, DN Việt Nam có thể xuất khẩu vào toàn

bộ 149 nước thành viên của WTO với mức thuế ưu đãi, thay vì chỉ có một số thịtrường truyền thống (Nga, Ðông Âu) và một số thị trường mới khai thác (Mỹ, NhậtBản, EU) Ngoài việc được sự đối xử bình đẳng trong quan hệ thương mại như tất

cả các thành viên khác của WTO, Việt Nam còn được hưởng những ưu đãi thươngmại cho các nước đang phát triển Với những lợi thế đó DN Việt Nam có nhiềuthuận lợi để thúc đẩy sự thâm nhập hàng hóa của mình vào thị trường các nướctrên thế giới, mở rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu hàng hóa

c Tăng số lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

Trang 26

Nhờ thực hiện các cam kết AFTA, kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN củaViệt Nam đã tăng mạnh trong những năm qua, theo từng tiến trình cắt giảm thuếquan và loại bỏ dần hàng rào phi thuế quan tăng từ 1 tỷ USD năm 1995 lên 2,3 tỷUSD năm 2004, tốc độ tăng trung bình 15,8% năm trong giai đoạn 1996-2003).Thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam cũng tăng lên hơn 7 lần kể từ thời điểm Hiệp định bắt đầu có hiệu lực Thamgia vào Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với các cam kết thúcđẩy hợp tác kinh tế thương mại cũng đã tạo điều kiện tăng mạnh xuất khẩu củaViệt Nam sang khu vực này, chiếm hơn 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam Hội nhập kinh tế quốc tế thực sự giữ vai trò cốt yếu trong việc thúc đẩy tăngsản lượng, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia nóichung trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Gia nhập WTO, DN Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ quy chế tối huệ quốc vớicác nước là thành viên của WTO, nhờ đó hàng hóa xuất khẩu vào các thị trườngcác nước thành viên của WTO với mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp, so vớicác nước không phải là thành viên của WTO Ngoài ra, DN Việt Nam có thể tậndụng cơ hội từ những quy định của WTO về ưu đãi cho các nước đang phát triển

để tăng lượng xuất khẩu, chẳng hạn, các mặt hàng sơ chế khi xuất khẩu sang cácnước phát triển sẽ được hưởng mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp, hoặckhông có thuế, hoặc hưởng chế độ của hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Khi tham gia WTO, DN Việt Nam cũng được hưởng lợi từ quy chế miễn trừ quyđịnh cấm trợ cấp xuất khẩu đối với các nước đang phát triển có thu nhập dưới1.000 USD/người/năm Do vậy, hàng hóa của DN Việt Nam có lợi thế cạnh tranh

về giá cả, về các ưu đãi khác so với hàng hóa tương tự của các nước khác, nhờ đó

có khả năng tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu sang các nước thành viên

d Tạo cơ hội sản xuất và xuất khẩu cho các DN thuộc các ngành mà Việt Nam có ưu thế cạnh tranh

Hội nhập tạo cơ hội cho các DN sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng mà ViệtNam có ưu thế cạnh tranh Khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng,

DN Việt Nam sẽ tham gia vào sự phân công lao động, sản xuất trong một thịtrường mang tính toàn cầu DN Việt Nam vốn có ưu thế ở một số mặt hàng do giánguyên liệu đầu vào rẻ, chi phí sản xuất thấp Cụ thể là các ưu thế về các mặt hànggia công truyền thống với chi phí lao động thấp (do sử dụng lao động nông nhàn,trình độ học vấn không cao nên lương công nhân thấp), nguyên liệu sẵn có trongnước như hàng mây tre, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ ; hoặc các mặt hàng tận dụngđược ưu đãi của thiên nhiên (mặt nước, biển, sông, hồ, ao, đầm để nuôi thuỷ hảisản ); khí hậu nhiệt đới cho phép trồng được những loại cây cà phê, hạt tiêu, cao

su, thanh long, dừa ; hoặc các mặt hàng mang tính truyền thống, là đặc sản của

Trang 27

địa phương, vùng, miền Một số mặt hàng tuy sử dụng nguyên liệu nhập khẩu nhưdệt may, da giày song cũng có thể tận dụng ưu thế chi phí lao động rẻ, tiền lươngthấp Đồng thời, đây cũng là những mặt hàng mà đến nay nhiều nước phát triểnkhông tập trung sản xuất nữa

Ngoài những cơ hội và lợi thế về cạnh tranh giá cả đem lại, tham gia các liênkết khu vực, toàn cầu, đa phương và song phương, Việt Nam được hưởng những

cơ hội riêng có đối với các nước thành viên trong xuất khẩu các hàng hóa có ưu thế

cạnh tranh của mình Cụ thể trong lĩnh vực nông nghiệp, khi gia nhập WTO, các

nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, sẽ được hưởng những thành quả nhờnhững vòng đàm phán đa phương trước đó của WTO về nông nghiệp Chẳng hạn,tại Vòng đàm phán Doha, các nước thành viên WTO cam kết đàm phán toàn diện

về tất cả vấn đề của Hiệp định nông nghiệp, bao gồm việc tăng cường tiếp cận thịtrường (mở rộng hạn ngạch thuế quan và giảm leo thang thuế quan đối với sảnphẩm chế biến), giảm và loại bỏ mọi hình thức trợ cấp xuất khẩu, giảm đáng kể hỗtrợ trong nước Tuy nhiên, WTO cũng quy định: các nước đang phát triển khôngphải đưa ra các cam kết về giảm trợ cấp xuất khẩu (các nước công nghiệp pháttriển phải cắt giảm 36% nguồn ngân sách dành cho trợ cấp xuất khẩu nông phẩmtrong vòng 6 năm, các nước đang phát triển nói chung phải cắt giảm 24% trongvòng 10 năm) Việt Nam cũng không phải cắt giảm hỗ trợ trong nước đối với nôngdân (các nước công nghiệp phát triển phải cắt giảm 20% mức hỗ trợ trong nướctrong thời gian 6 năm, các nước đang phát triển khác là 13,3% trong vòng 10 năm).Theo Hiệp định nông nghiệp, các hạn chế về số lượng trong đó có gạo, nông sảnkhác sẽ được chuyển thành thuế quan và cắt giảm dần Do đó, khi trở thành thànhviên WTO, Việt Nam sẽ có khả năng mở rộng xuất khẩu gạo và các mặt hàng nôngsản khác sang các thị trường mới Mặt khác, các sản phẩm nông sản xuất khẩu củacác nước không phải là thành viên sẽ phải chịu thuế suất cao do việc thuế quan hóa

của các nước thành viên Hay đối với hàng dệt may, Việt Nam cũng sẽ được hưởng

lợi từ cơ chế mới của WTO Tại Vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định về hàng dệt may được ký kết, thay thế cho Hiệp định đa sợi Thực chất của Hiệp định đa sợi làcác nước phát triển, nhất là Mỹ và EU đặt ra cơ chế hạn ngạch nhằm bảo hộ côngnghiệp trong nước, theo đó, hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển vào cácnước này phải chịu 15-30% thuế suất, đặc biệt là phải chịu hạn ngạch xuất khẩu.Hiệp định dệt may đã quy định rõ chương trình nhất thể hóa các sản phẩm dệt mayvào hệ thống thương mại đa biên Khi các sản phẩm đã được nhất thể hóa thìkhông phải chịu sự hạn chế về số lượng nữa Do đó, khi trở thành thành viên củaWTO, hàng dệt may của Việt Nam sẽ không phải chịu hạn ngạch hoặc được hưởng

-sự nới lỏng các hạn chế về số lượng đối với các sản phẩm còn hạn ngạch Từ1/1/2005, trong khuôn khổ WTO, đã bãi bỏ toàn bộ hạn ngạch đối với nhập khẩuhàng dệt may từ các nước thành viên WTO Đây sẽ mở ra cơ hội rất lớn cho các

Trang 28

DN trong xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam, vì đây còn là mặt hàng ViệtNam có lợi thế cạnh tranh Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu, luôn đứng thứ 2 saudầu thô, riêng năm 2006 kim ngạch hàng dệt may là 5,8 tỷ USD, tăng 19,9% so vớinăm 2005 và chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Hội nhập kinh tế thực sự mở ra cơ hội lớn cho các DN Việt Nam trong mởrộng thị trường hàng hóa vượt qua khuôn khổ nội địa, không chỉ còn hạn chế ở một

số thị trường truyền thống mà hướng tới thị trường toàn cầu, với những ưu thế vàlợi thế cạnh tranh ở một số mặt hàng hơn so với các nước khác, nhờ đó xuất khẩutrong những năm tới của Việt Nam mà cụ thể là của các DN Việt Nam có triểnvọng rất cao trong tăng trưởng, với dự báo tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tronggiai đoạn 2006-2010 có thể lên tới trên 20% Bên cạnh việc mở rộng xuất khẩuhàng hóa trong nước, nhờ hội nhập kinh tế Việt Nam còn tận dụng được cơ hội từnhập khẩu như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹ thuật cao, công nghệ tiêntiến để nhanh chóng phát triển các ngành có công nghệ cao, ngành mũi nhọn,nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới

1.2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Nhìn chung, năng lực tài chính của DN Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế.Thiếu nguồn tài chính vẫn đang là một thách thức lớn đối với các DN Việt Nam.Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trước hết đó là tiềm lực của chủ DN, thểhiện ở vốn chủ sở hữu còn rất hạn hẹp, hiệu quả sản xuất chưa cao, khả năng thuhút vốn đầu tư của DN còn hạn chế và còn một nguyên nhân quan trọng là sự khókhăn trong huy động vốn từ các tổ chức tín dụng Sự khó khăn này là do thị trườngtài chính của nước ta chưa hoàn chỉnh và đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu vay vốn của

DN, đặc biệt là khả năng tiếp cận nguồn vốn từ thị trường tài chính

Vì vậy, các nguồn vay vốn ưu đãi chính thức, vay thương mại, các nguồn việntrợ của nước ngoài, hoặc qua con đường hợp tác liên doanh, liên kết, đầu tư trựctiếp nước ngoài, các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển, là giải pháp quan trọngtrong nâng cao năng lực sản xuất, tiềm lực tài chính để đầu tư phát triển, nâng caonăng lực cạnh tranh của DN Việt Nam Các nguồn vốn này có vai trò quan trọngđối với sự phát triển của DN Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung trongbối cảnh huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước

Kể từ khi mở cửa hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, thừa nhận vai trò đónggóp của khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài đến nay, Việt Nam đã thu hút đượcnguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất lớn, chiếm một tỷ trọng không nhỏtrong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Vốn FDI tăng liên tục trong các năm, riêng năm

2006 đã thu hút 10,2 tỷ USD, vượt xa con số dự kiến 6,5 tỷ USD và đạt kỷ lục

Trang 29

trong 20 năm qua Kết quả này bằng cả 2 năm 2004 và 2005 cộng lại và bằng 2/3kết quả 5 năm 2001-2005 Tham gia vào các khu vực hợp tác kinh tế, Việt Namkhông những thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ các nước thành viên trong khu vực màcòn được hưởng lợi từ việc thu hút vốn đầu tư từ các nước đối tác với khu vực.Hiện tại, có 15/21 nền kinh tế thành viên APEC có hoạt động đầu tư trực tiếp vàoViệt Nam với 5.421 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký trên 40 tỷ USD,chiếm 83,7% tổng số dự án và 73,3% tổng vốn FDI tại Việt Nam; vốn thực hiệnđạt khoảng 18 tỷ USD, chiếm 69,2% tổng vốn FDI đã thực hiện Có tới 5 thànhviên APEC là Nhật Bản, Xingapo, Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và ĐàiLoan (Trung Quốc) luôn nằm trong danh sách 5 vị trí dẫn đầu về số vốn đầu tư tạiViệt Nam, chiếm 58,3% về số dự án và 60,6% tổng vốn đầu tư đăng ký tại ViệtNam Việc Việt Nam tham gia Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vàKhu vực Đầu tư ASEAN (AIA) là một trong những lợi thế cơ bản có thể tranh thủ

để đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nước ngoài ASEAN với trên 500 triệu dân, là một đốitác quan trọng và là thị trường đầu tư rất hấp dẫn, là miếng “nam châm”thu hút vốnFDI Chỉ tính riêng năm 2005, thu hút vốn FDI trong khu vực này đạt con số kỷ lục

là 37,136 tỷ USD, tăng mạnh hơn rất nhiều so với con số 25,666 tỷ USD năm2004

Đạt được kết quả trên nhờ trong những năm qua, Việt Nam có sự cải tổ mạnh

mẽ trong lành mạnh, minh bạch, chi tiết hệ thống pháp luật, cải cách về mặt quản

lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và đáp ứng theo các yêu cầu cam kết

Ðể đổi mới kinh tế, cải cách hành chính Việt Nam phải xây mới và sửa đổi 100luật Riêng năm 2005, Việt Nam đã tiến hành sửa và xây mới 29 luật, năm 2006sửa và xây mới 10 luật qua các phiên họp của Quốc hội, trong đó hoàn thành 25luật và pháp lệnh mà nước ta cam kết đa phương sẽ sửa và xây mới trong đàmphán gia nhập WTO Việt Nam là nước đầu tiên có hệ thống pháp luật tương đốihoàn chỉnh để gia nhập WTO, qua đó thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ, Quốchội Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Gia nhập WTO, ViệtNam phải thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường, thực hiện thuận lợihóa, tự do hóa thương mại và đầu tư giữa các quốc gia Việc thực hiện các cam kếtnày cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam (hoặc bất cứ một quốc gia nào muốn thamgia sâu rộng vào các thể chế kinh tế toàn cầu) cần phải có một hệ thống luật phápminh bạch, phù hợp với thông lệ của các tổ chức, bao gồm cả về thương mại hànghóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Hệ thống luật pháp và hệ thống

cơ chế chính sách minh bạch sẽ làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, môitrường kinh doanh của Việt Nam, làm cho nhà đầu tư yên tâm hơn khi tiến hànhđầu tư, kinh doanh ở Việt Nam

Trang 30

Như vậy các DN sẽ được hưởng lợi gì và có những cơ hội gì mở ra khi nguồnvốn đầu tư nước ngoài tăng trong thời gian vừa qua và có xu hướng tăng mạnhtrong giai đoạn sắp tới Luồng vốn FDI vào Viêt Nam theo nhiều hình thức đầu tưnhư hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp doanh, BTO, Công ty cổphần và công ty quản lý vốn Ngoài hình thức 100% vốn nước ngoài, DN ViệtNam sẽ có rất nhiều cơ hội để thu hút các nguồn vốn đầu tư khác còn lại để tăngnăng lực tài chính của DN mình bằng nhiều hình thức Cơ hội này thực sự rất quantrọng đối với DN Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh ngày càng găy gắttrong khi năng lực cạnh tranh của DN còn hạn chế, tiềm lực tài chính còn yếu để

có thể đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Xét về khía cạnh thị trường, khi tham gia vào hệ thống phân công lao độngtoàn cầu, Việt Nam trở thành địa điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài muốntận dụng cơ hội đầu tư vào các ngành, lĩnh vực tạo ra hàng hóa để xuất khẩu hoặcphục vụ các nhà xuất khẩu Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài vào ViệtNam, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ hàng hóa của các DN trong nước sản xuất ra (màcác DN có vốn đầu tư nước ngoài mua để làm nguyên liệu của họ); tạo ra thịtrường làm thuê, nhận gia công, chế tác, cung cấp linh kiện, cung cấp lao động chocác DN có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho các DN trong nước

Một đặc điểm nổi bật trong xu thế vận động của các luồng vốn trên thế giớihiện nay là vốn đầu tư vào các nước đang phát triển đang tăng mạnh, trong đó tỷtrọng của vốn đầu tư tư nhân ngày càng cao: Năm 1980: 30 tỷ USD; 1990: 60 tỷUSD; 1996: gần 200 tỷ USD; và như vậy các nước đang phát triển thu hút hơn37% lượng vốn FDI toàn thế giới Điều này cho thấy, tăng cường hội nhập có thểgiúp các DN Việt Nam có thể nắm bắt được thời cơ để thu hút các nguồn vốn đầu

tư nói chung và nguồn vốn đầu tư tư nhân nói riêng trên thế giới đang chảy vàonhững nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trong những năm gần đây, hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các nước đang

là một xu hướng ngày càng phổ biến, đặc biệt là đối với các công ty xuyên quốcgia và trở thành một hình thức đầu tư quan trọng Sự gia tăng các vụ M&A với giátrị ngày càng lớn là một động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng của FDI toàncầu Thu hút được nguồn lực này cũng có những lợi ích rất lớn đối với DN ViệtNam trong quá trình hội nhập Nhờ quá trình toàn cầu hóa và liên kết kinh tế quốc

tế mà Việt Nam có thể thu hút được nguồn vốn quốc tế hiện đang rất cần thiết này Chính nhờ các chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế, trong những năm qua,Việt Nam đã gây dựng lòng tin rất lớn cho các nhà đầu tư và nhà tài trợ nướcngoài Công tác thu hút vốn FDI và ODA đã đạt được những thành tựu rất lớn,đóng góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế Đặc biệt đối với các DN ViệtNam, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài không chỉ giúp họ đẩy mạnh về tiềm

Trang 31

lực tài chính mà thông qua các con đường hợp tác liên doanh, góp vốn và ngaytrong cạnh tranh kinh doanh với DN FDI, họ cũng đã nâng cao được trình độ quản

lý, trình độ sản xuất và tiềm năng công nghệ, nâng cao được sức cạnh tranh của

DN trong nước

1.3 Nâng cao tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh

Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hóathương mại và đầu tư, đưa các DN trong nước tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc

tế trên thị trường thế giới và ngay trên chính thị trường trong nước Hội nhập kinh

tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho DN trong sản xuất kinh doanh,mặt khác buộc các DN phải đổi mới để nâng cao tính hiệu quả, sức cạnh tranh trênthương trường

Thực tiễn đã chứng minh sau khi Việt Nam tham gia vào khối ASEAN, kinh

tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến lớn, đặc biệt là cộng đồng DN trongnước ngày càng trưởng thành hơn về năng lực, hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản

lý và điều hành Đã có rất nhiều ý kiến lo ngại rằng sau khi gia nhập ASEAN, vớiviệc thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan (CEPT/AFTA) và mở rộng thị trườngtheo các cam kết về đầu tư khác, DN Việt Nam sẽ gặp những khó khăn do bị cạnhtranh bởi hàng hóa giá rẻ của các nước trong khối, cạnh tranh bởi các DN nướcngoài ồ ạt đầu tư kinh doanh vào Việt Nam Tuy nhiên, rất nhiều DN Việt Nam đãbiết tận dụng cơ hội, biến khó khăn thành thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình DN có điều kiện khai thác nhiều tiềm năng thông qua việc hợp tác đadạng với nhiều đối tác để mở rộng và ổn định thị trường, tiếp cận nguồn vốn quốc

tế, tiếp cận nhanh sự chuyển giao khoa học – công nghệ trên diện rộng và tham giatích cực vào việc phân công lao động quốc tế Đồng thời, DN chủ động đổi mớicách thức sản xuất hướng đến nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới công nghệ, đẩymạnh hiệu quả sản xuất, năng suất lao động, năng lực quản lý Có thể nói, quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã buộc các DN Việt Nam phảichuyển sang cách làm ăn mới, thúc đẩy các DN phát triển, tạo khả năng cạnh tranh.Chỉ trong hơn 10 năm, đội ngũ DN của Việt Nam đã có những bước phát triển lớnmạnh cả về lượng và chất Từ chỗ chỉ có hơn 10.000 DN, đến năm 2005 Việt Nam

đã có 113.352 DN thuộc mọi thành phần kinh tế Trong 5 năm (2001-2005), bìnhquân mỗi năm tăng 27,95%, tương ứng với tăng 14.213 DN thực tế hoạt động tăng

thêm (Theo số liệu Tổng cục Thống kê điều tra tính đến ngày 31/12/2005) Trong

đó, DN ngoài quốc doanh tăng nhanh về số lượng (năm 2000 là 35.004 DN, năm

2005 là 105.569 DN (mỗi năm tăng thêm 14.113 DN); DN có vốn đầu tư nướcngoài tăng dần đều, năm 2000 là 1.525 DN, năm 2005: 3.697 DN, mỗi năm tăngthêm 434 DN Thông qua hình thức liên doanh với nước ngoài; DNNN liên tụcgiảm về số lượng (năm 2000 là 5.759 DN, đến 2003: 4.845 DN và năm 2005 còn

Trang 32

4.086 DN), song quy mô thì ngày càng lớn lên và hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa các DN, đặc biệt các DNNN sau khi tiến hành đổi mới và DN ngoài quốcdoanh tăng lên đáng kể, tăng mạnh đóng góp vào ngân sách nhà nước và tỷ lệ vốnđầu tư toàn xã hội Cùng với sự gia tăng về số lượng, các DN Việt Nam cũng rất tựtin để hội nhập, đồng thời nhìn thấy nhiều cơ hội mà toàn cầu hóa mang lại Nhiều

DN đã mạnh dạn đổi mới công nghệ, nâng cao lợi thế cạnh tranh và đủ tầm làm đốitác chiến lược với các DN trên thế giới Một số thương hiệu hàng Việt Nam đãchiếm vị thế trên trường quốc tế Khả năng xâm nhập thị trường xuất khẩu của các

DN Việt Nam cũng bắt đầu tăng lên Hiện nay, các DN Việt Nam đã có khả năngcạnh tranh tương đối tốt ở các sản phẩm truyền thống và những lĩnh vực có giá trịgia tăng thấp như: dệt may, da giày, dầu thô và thuỷ sản Đó cũng chính là biểuhiện tiềm năng của DN Việt Nam

Hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mởrộng thị trường, tiếp thu và học hỏi được kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, quản lýđiều hành của nước ngoài, được tiếp cận với trình độ kỹ thuật công nghệ tiên tiến

và hiện đại, nhờ đó nâng cao năng lực quản lý và sản xuất, thích ứng nhanh với thịtrường, chủ động hơn trong xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh đáp ứngyêu cầu thị trường

Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế cũng buộc Chính phủ, Nhà nước phải thay đổicách thức quản lý, điều hành nền kinh tế theo hướng quản lý ở tầm vĩ mô, tạo điềukiện thuận lợi và bình đẳng cho các DN sản xuất kinh doanh trên thị trường Theo

đó, Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách và cơ cấu lại nền kinh tế linhhoạt và năng động hơn theo hướng nâng cao hiệu quả Cụ thể là đẩy nhanh quátrình cải cách khu vực DNNN; nâng cao tính cạnh tranh của các DN; xoá bỏ cơ chếcòn mang tính bao cấp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và xuất nhậpkhẩu; phát huy hơn nữa tiềm năng và thế mạnh của các thành phần kinh tế; nângcao khả năng nắm bắt và vận dụng có hiệu quả các quy tắc ứng xử theo chuẩn mựcquốc tế, góp phần nhanh chóng đưa nền kinh tế của Việt Nam tiến lên phát triểnngang tầm quốc tế Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tạo ra môitrường cạnh tranh bình đẳng cho các DN, nhờ đó nâng cao khả năng cạnh tranh vàtính hiệu quả của các DN trong nền kinh tế

Trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO hiện nay, các quy định về tự

do hóa thương mại, đầu tư và dịch vụ và thực hiện các nguyên tắc đối xử khôngphân biệt trong khuôn khổ WTO sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thànhviên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài dễdàng vào kinh doanh tại Việt Nam với tư cách bình đẳng như các DN trong nước.Điều này gây sức ép buộc các DN Việt Nam phải chấp nhận mức độ cạnh tranhkhốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến

Trang 33

các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm, qua đó các DN trong nước, gồm cả cácDNNN, sẽ phải vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sứccạnh tranh cho DN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Bên cạnh đó, giảmthuế và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cũng sẽ giúp các DN tiếp cận các yếu tốđầu vào với chi phí thấp hơn, từ đó giảm giá thành sản xuất, nâng cao sức cạnhtranh về giá cho DN Ngoài ra, các DN nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ hoànthiện hơn nữa các mảng thị trường mà Việt Nam còn yếu và thiếu như khâu quảngcáo, phân phối, truyền thông và các dịch vụ chăm sóc khách hàng,… Điều này mộtmặt nâng cao tính cạnh tranh với các DN trong ngành, song song với đó hỗ trợ hiệuquả cho kinh doanh của chính các DN trong nước Ngoài nâng cao tính hiệu quả vàkhả năng cạnh tranh của DN, hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp các DN có khảnăng và điều kiện để có thể tăng lợi thế cạnh tranh về mặt nguồn nhân lực Lợi thếnguồn lao động Việt Nam là trẻ, thông minh, sáng tạo, khả năng thích ứng và tiếpthu nhanh, nhờ đó sẽ nhanh chóng nắm bắt tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng caonăng lực, khả năng làm việc trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng găy gắt

Mặt khác, nhờ quá trình hội nhập vào các thể chế kinh tế toàn cầu, các DNcũng sẽ được tiếp cận bình đẳng vào thị trường các nước thành viên, qua đó cóphát huy lợi thế cạnh tranh của DN mình, đồng thời có khả nâng cao tính hiệu quả

và khả năng cạnh tranh Gia nhập WTO, các DN Việt Nam sẽ được hưởng các quyđịnh chỉ dành cho thành viên của WTO, hàng hóa của các DN Việt Nam được tiếpcận bình đẳng vào các thị trường của 149 thành viên WTO mà không bị chèn ép,đối xử không bình đẳng như khi chưa là thành viên WTO Đặc biệt, đối với nhữngquy định chỉ dành cho thành viên của WTO, nếu Việt Nam là thành viên của WTO,hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam cũng sẽ được đối xử bình đẳng trên thị trườngquốc tế

Tính hiệu quả thể hiện rõ khi các DN được bảo hộ sản xuất trong nước theocác khuôn khổ quy định của của các thể chế kinh tế quốc tế mà Việt Nam tham gia:Các DN Việt Nam thông qua các hiệp hội của mình hoặc thông qua cơ quan quản

lý nhà nước về thương mại (Cục quản lý cạnh tranh ) để kiến nghị Chính phủ ápdụng các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước Chẳng hạn, với tư cách là thànhviên WTO, DN có thể kiến nghị Chính phủ tiến hành điều tra về mức gây phươnghại của hàng nhập khẩu để thực hiện áp dụng thuế đối kháng hoặc chống bán phágiá theo quy định của Hiệp định về chống bán phá giá và thuế đối kháng; thực hiệnđiều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; áp dụngcác biện pháp tự vệ trong trường hợp nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào ViệtNam quá mức, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước Ngoài ra, các

DN còn có thể khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử trong các vụ tranh chấpthương mại quốc tế, tạo dựng được thế và lực trong thương mại quốc tế do DN

Trang 34

Việt Nam có thể tiếp cận, sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng vàhiệu quả của các thể chế kinh tế toàn cầu để giải quyết tranh chấp trong thươngmại Nâng cao vị trí quốc tế của Việt Nam, tạo thế đứng vững chắc hơn trong quan

hệ quốc tế, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia các cuộc đàm phán đa phương, giảiquyết các nhu cầu về thị trường vì các quyền lợi chính đáng của mình Như vậy,Việt Nam có điều kiện, cơ hội góp tiếng nói vì lợi ích các nước đang phát triển,nắm bắt tốt hơn các xu thế quốc tế cũng như sự điều chỉnh chính sách kinh tếthương mại của các nước khác, từ đó xác định được hướng điều chỉnh phù hợp vớitiến trình chung và khai thác triệt để những cơ hội có lợi nhất cho mình, địnhhướng và hỗ trợ tốt hơn cho các DN Việt Nam kinh doanh không chỉ trong nước

mà vươn ra đầu tư ở nước ngoài

1.4 Học tập kinh nghiệm quản lý trên thế giới

Một trong những khó khăn mà hầu hết các DN Việt Nam đang phải đối mặttrong bối cảnh yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay đó là thiếu khả năngquản lý Đối với những DN kinh doanh còn kém hiệu quả thì đây là yếu tố quyếtđịnh để cải tổ toàn bộ bộ máy vận hành trong một đơn vị Hiệu quả quản lý nângcao sẽ giúp DN có cái nhìn dài hạn hơn trong xây dựng chiến lược kinh doanh hợp

lý, trong điều hành bộ máy tổ chức và sử dụng nhân lực một cách hiệu quả, trong

ra những quyết định đúng đắn trong đầu tư,… Ngay cả đối với những DN kinhdoanh với quy mô lớn, tốc độ tăng trưởng cao thì yêu cầu về quản lý để bắt kịp quy

mô phát triển của DN là bài toán còn nhiều nan giải Rất nhiều DN rơi vào tìnhtrạng công việc càng lớn, hợp đồng càng nhiều, các bộ phận phòng ban càng rối trí,

bị cuốn theo guồng xoáy để giải quyết các công việc sự vụ mà không còn thời giannhìn lại những điểm yếu cần khắc phục của mình Những khó khăn này kéo dài sẽ

là tác nhân trực tiếp kéo lùi sự tăng trưởng của các DN Trong khi đó, khả năng tổchức, năng lực quản lý và điều hành của người Việt Nam còn rất kém, đối với từngnhân viên và ngay cả với lãnh đạo quản lý Đào tạo về kỹ năng quản lý của ViệtNam cũng chưa bắt kịp được với yêu cầu, mang nặng tính lý thuyết không gắn vớithực tiễn trong xử lý công việc Học tập kinh nghiệm quản lý của những người đitrước, của các DN thành công trong kinh doanh là con đường ngắn nhất để DNViệt Nam bắt kịp trình độ quản lý với đòi hỏi, yêu cầu hiện nay

Thông qua quá trình hội nhập DN có khả năng tiếp cận nhanh chóng, học tậpnhững kinh nghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiến của thế giới, qua các hình thứcnhư liên doanh, hợp doanh, BOT, công ty cổ phần,… Bằng hình thức đồng thamgia sở hữu và quản lý điều hành DN với nhà đầu tư nước ngoài, đội ngũ quản lýcủa Việt Nam sẽ nhờ thế học tập được kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành,nhờ đó nâng dần năng lực quản lý cho nguồn nhân lực Việt Nam Trong thời giangần đây, với chính sách mở cửa thị trường tài chính, thị trường vốn của Việt Nam

Trang 35

đã mở ra nhiều hình thức hợp tác khác mà các DN Việt Nam có thể trao đổi, họchỏi kinh nghiệm quản lý Đặc biệt là hình thức hợp tác, hỗ trợ thông qua các quỹđầu tư mạo hiểu đang đóng vai trò quan trọng trong đổi mới quản lý, công nghệcủa các DN Việt Nam, nhất là DN vừa và nhỏ Thị trường Việt Nam hiện có một sốquỹ đầu tư là IDG Ventures, Mekong Capital, Dragon Capital, Vina Capital Đốitượng mà các nhà đầu tư mạo hiểm hướng tới là các ngành kinh doanh đặc thù; vàonhững công ty mới thành lập, còn thiếu kinh nghiệm quản lý; những công ty tươngđối thành công, đã qua giai đoạn khởi nghiệp, cần các nguồn vốn đầu tư dài hạn để

mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc dùng quỹ mạo hiểm để vực dậy các công ty bềthế đang đứng trước nguy cơ sa sút Bên cạnh việc bỏ vốn vào DN, các nhà đầu tưcòn sát cánh cùng DN trong triển khai dự án; tham gia công việc điều hành để pháthiện giúp DN tháo gỡ các yếu kém trong quản lý, nhân lực, quản trị nội bộ công ty;

hỗ trợ chuyên gia giỏi trong quản lý, kinh doanh, am hiểu luật pháp Sự góp mặtcủa nhà đầu tư sẽ mang lại những đóng góp quý giá về chuyên môn, điều hành cáccông việc liên quan trực tiếp đến DN, nhờ đó đội ngũ quản lý của DN được đàotạo, học hỏi và nâng cao kỹ năng quản lý, có thể sẵn sàng đảm nhận vao trò quản lýđộc lập sau khi dự án đầu tư hoàn thành

Hiện nay, Việt Nam đang được đánh giá là một trong những điểm thu hút đầu

tư hấp dẫn nhất thế giới bởi độ tin cậy về sự minh bạch của hệ thống luật pháp, sự

ổn định của tình hình chính trị và những tiềm năng thu hút trên thị trường ViệtNam Triển vọng vốn đầu tư vào Việt Nam là rất lớn trong thời tới, kèm theo đó là

sự chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý sẽ giúp ích rất nhiều cho DN ViệtNam trong nâng cao năng lực quản lý điều hành, nâng cao tính cạnh tranh của của

DN về mặt nhân lực, bắt kịp với tốc độ phát triển của các DN trên thế giới Để đónđược cơ hội này, các DN không nên né tránh mà chủ động đón nhận những nguồnvốn kèm theo những nguồn lợi chuyển giao này trên cơ sở chia sẻ lợi nhuận cùngphát triển

2 Khó khăn và thách thức đối với DN Việt Nam

2.1 Sức ép về năng lực cạnh tranh của DN

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam phải tuân thủ cácluật chơi chung của kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa Đó là giảmthuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường dịch vụ…Những điều chỉnh này buộc các DN Việt Nam phải cạnh tranh không những ở thịtrường nước ngoài mà còn phải thực hiện cạnh tranh với các công ty đa quốc gia,công ty xuyên quốc gia với tiềm lực hùng mạnh về tài chính, công nghệ và nănglực cạnh tranh cao ngay trên thị trường trong nước Điều này thực sự là một tháchthức lớn đối với các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ (chiếm đến 90%tổng số DN) với vốn còn nhỏ bé về quy mô và năng lực nội sinh còn yếu kém

Trang 36

Phải thừa nhận rằng, năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam hiện nay cònquá yếu so với các nước trên thế giới Chính vì vậy các DN Việt Nam đang đứngtrước nguy cơ không theo kịp yêu cầu cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường,hội nhập vào nền kinh tế thế giới Điều này bắt nguồn từ chính bản thân nội lực củacác DN Việt Nam còn rất nhiều hạn chế:

- Quy mô vốn đầu tư nhỏ khiến cho các DN không có đủ khả năng ứng dụngcông nghệ mới hay đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại; đầu tư dàn trải, cơ cấuchưa hợp lý nên đã không tạo được mũi nhọn trong chiến lược kinh doanh của DN

- Các DN thường thiếu kế hoạch cụ thể dựa trên việc nghiên cứu kỹ thị trường

và đánh giá tiềm lực bản thân, đầu tư mang tính tự phát Đa số DN ít quan tâm đếnchiến lược kinh doanh lâu dài và định hướng phát triển ngành nghề cũng như nhucầu của thị trường

- Nguồn nhân lực cũng đang là một vấn đề khó khăn đối với DN Tình trạngthiếu lao động được đào tạo lành nghề, thiếu kỹ sư, cử nhân có khả năng thực tiễn

là rất phổ biến

- Mức độ đầu tư đổi mới công nghệ của DN còn rất thấp so với yêu cầu pháttriển Hiện nay, trong khi trình độ tự động hóa trên 20% công việc đã phổ biến ở80,77% các DN có vốn FDI thì mới có 20,69% DNNN và 38,55% DN dân doanhđạt được mức tự động hóa này Với trình độ công nghệ hiện nay, các DN rất khó

có thể nâng cao năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm và hạ giá thànhsản phẩm xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

- Nghiên cứu, tiếp cận nhiều với thị trường còn hạn chế do còn thiếu nhiều kỹnăng như: thiếu thông tin về khách hàng, thiếu kiến thức về pháp luật… Ngoài ra,chúng ta chưa có nhiều thương hiệu mạnh để xây dựng uy tín của mình trên thịtrường quốc tế

- Hiện nay, quản lý nội bộ của các DN vẫn còn yếu kém, không chuyênnghiệp và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các chủ DN, thiếu kiến thức, kinhnghiệm quản lý kinh doanh, không có khả năng tiếp cận và xử lý thông tin, thiếukiến thức và kinh nghiệm trong việc lựa chọn, phát triển sản phẩm, thị trường…Trên thực tế, những đòi hỏi cơ bản nhất như tính chiến lược và kế hoạch kinhdoanh dài hạn , thì phần lớn DN đều thiếu Đặc biệt, quản lý tài chính trong DNthường thiếu minh bạch, thiếu độ tin cậy, không đầy đủ, chưa tạo được niềm tincủa ngân hàng khi xem xét cho vay tín dụng đầu tư

- Khả năng liên kết và hợp tác trong sản xuất kinh doanh của các DN ViệtNam luôn là một trong những điểm yếu cố hữu và chưa có biện pháp xử lý hiệuquả Trong liên kết quốc tế, có rất ít các DN Việt Nam tạo dựng được mối liên kếtchặt chẽ với các tập đoàn đa quốc gia và DN cũng không có đủ năng lực để quan

Trang 37

tâm đến chiến lược tổng thể của các tập đoàn đa quốc gia Trong nước, mối liên kếtkhu vực, ngành hàng theo từng cụm công nghiệp chưa hình thành Các khu côngnghiệp được hình thành chủ yếu để giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất hơn là tạonên chuỗi giá trị thông qua việc liên kết DN, kể cả việc sử dụng các dịch vụ tàichính và phi tài chính để khai thác lợi thế cạnh tranh.

Trong khi đó, tiềm lực của các DN nước ngoài lại rất mạnh, đặc biệt là các

DN từ các nước ASEAN và Trung Quốc, những nước láng giềng có những thếmạnh tương đồng với Việt Nam Các nước ASEAN có lợi thế so sánh tuyệt đối và

cơ cấu sản phẩm xuất sang các nước chủ yếu như Mỹ và Nhật Bản cũng tương tựnhư Việt Nam, nhưng các nước đó lại có trình độ phát triển cao hơn Việt Namkhoảng 10 năm Ngoài ra, các nước ASEAN đã chuyển từ xuất khẩu nguyên liệuthô sang các mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn như linh kiện điện tử, chíp, bộnhớ Trung Quốc cũng có thế mạnh hơn Việt Nam về giá nhân công rẻ và lựclượng lao động dồi dào Ngoài ra, các DN Trung Quốc có tỷ lệ nội địa hóa khá cao

so với các mặt hàng của Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhưviễn thông, vô tuyến điện và các hàng hóa khác Các nước ASEAN phát triển kinh

tế thị trường sớm có lợi thế hơn trong xuất khẩu do bảo đảm hiệu quả kinh tế caohơn và có uy tín về nhãn mác do đó DN các nước này có lợi thế hơn DN Việt Namtrên trường quốc tế Khi Việt Nam càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế,sức ép cạnh tranh từ bên ngoài đối với các DN Việt Nam càng lớn, đặc biệt là các

DN đã quen với sự bảo hộ của Nhà nước Tuy nhiên các DN sẽ không có cách nàokhác là chủ động và sẵn sàng đối phó với thách thức này

Hiện nay, các DN Việt Nam đã có khả năng cạnh tranh tương đối tốt ở các sảnphẩm truyền thống và những lĩnh vực có giá trị gia tăng thấp như: dệt may, da giày,dầu thô và thuỷ sản Tuy nhiên, trong thập kỷ tới Việt Nam không thể chỉ loayhoay trong việc tiếp tục xuất khẩu cá da trơn, hàng dệt may và giày da mà cầnphải tiến xa hơn trên nấc thang công nghệ và tăng khả năng cạnh tranh trong chuỗicung cấp dịch vụ Để làm được điều này, DN Việt Nam cần nâng cao hơn nữa nănglực cạnh tranh của mình để có thể thích ứng và tận dụng mọi cơ hội mà hội nhậpkinh tế quốc tế mang lại Đây chính là nút thắt khó gỡ của không ít DN Việt Nam,nhất là các DN nhỏ và vừa, khi mà các DN còn có xuất phát điểm quá thấp

2.2 Thách thức về nguồn nhân lực

Từ trước đến nay, lao động vẫn luôn được coi là một lợi thế cạnh tranh củaViệt Nam bởi chi phí lao động rẻ, trình độ dân trí của lao động Việt Nam cao, cótruyền thống lao động cần cù, ham học hỏi, khéo léo, nhanh trí… Song, lao độnggiá rẻ đồng nghĩa với chất lượng kém, năng suất lao động thấp và sẽ không đápứng được xu thế đổi mới, sử dụng công nghệ sản xuất, quản lý ngày càng cao của

DN Do đó, nếu so sánh lao động Việt Nam với lao động các nước trong khu vực

Trang 38

thì có thể nói đây là thách thức đối với các DN Việt Nam trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế, bởi yếu tố quyết định đến doanh thu lợi nhuận của DN chính lànăng suất lao động Theo các chuyên gia, khi sử dụng lao động giá rẻ, DN có thểtiết giảm được một phần trong quỹ tiền lương, nhưng thực tế, chi phí mà họ bỏ ra

để đào tạo, đầu tư nhân viên mới sẽ cao hơn So với các nước, chi phí này của laođộng Việt Nam cao hơn bình quân từ 15-20 lần Với những so sánh này, dường nhưvấn đề chất lượng lao động của Việt Nam đang là thách thức với DN nước ta

Năng suất lao động của nước ta hiện đang kém từ 2 đến 15 lần so với cácnước trong khu vực ASEAN Năm 2004, năng suất lao động của Việt Nam mới đạt1.260 USD; trong cả thời kỳ 2002 - 2005 đạt 1.243,4 USD, thấp xa so với nhiềunước trong khu vực (Trung Quốc: 2.152,3 USD, Thái Lan 4.514,1 USD, Malaixia11.276,2 USD, Hàn Quốc 29.057,6 USD, Brunây 34.697,5 USD, Xingapo48.563,9 USD, Nhật Bản 73.014,4 USD…) Hơn nữa, năng suất lao động của nước

ta tăng rất chậm, chỉ khoảng 4-5%/năm

Vấn đề lớn nhất đối với các DN Việt Nam đó là thiếu hụt trầm trọng nguồnnhân lực có chất lượng cao, chưa nói đến nguồn nhân lực đạt tiêu chuẩn quốc tế.Một bộ phận lớn thanh niên trong độ tuổi 18-23 (khoảng 80% lực lượng lao động)bước vào thị trường lao động nhưng chưa qua đào tạo nghề Nghịch lý nữa là mặc

dù trình độ học vấn của lao động Việt Nam tương đối cao so với các nước trongkhu vực, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề và kỹ năng chuyên môn còn rấtthấp (khoảng 23% lực lượng lao động – năm 2003) Sự khác nhau về trình độ vănhóa, về đào tạo nghề và kỹ năng chuyên môn cũng biểu hiện khá rõ giữa lao động

ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị, cũng như giữa lao động nữ và lao độngnam Một hạn chế nữa của lao động Việt Nam là ý thức tổ chức kỷ luật, tác phongcông nghiệp rất yếu thể hiện ở lối sống vô tổ chức, vô kỷ luật, làm việc tùy tiện,thiếu sự hợp tác giữa các thành viên với nhau v.v của nền kinh tế tiểu nông, tồn tạihàng ngàn đời nay đã ảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ lao động Việt Nam hiệntại Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), so với các nước trong khuvực, thứ bậc xếp hạng về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn thấp (chỉ đạt3,79/10 so với Trung Quốc là 5,73/10 và Thái Lan là 4,04/10) Bên cạnh đó các

DN Việt Nam cũng đang thiếu hụt trầm trọng các nhà quản lý có tầm nhìn chiếnlược, có khả năng tổ chức, điều hành và quản lý DN hiệu quả, chuyên nghiệp; thiếucác chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao Nguồn lao động đạttiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa của nước ta không nhiều, ngoài số laođộng chất xám được đào tạo từ nước ngoài trở về, nguồn đào tạo tại chỗ, từ cáctrường đại học, cơ sở đào tạo trong nước kết hợp vói chương trình đào tạo nướcngoài, rất hạn hẹp

Trang 39

Một ví dụ cụ thể cho thấy tình trạng thiếu hụt lao động có chất lượng ở các

DN Việt Nam là trong ngành đóng tàu Nhu cầu sử dụng lao động mỗi năm tăng ítnhất khoảng 10.000 lao động, trong khi đó tổng số sinh viên ra trường của cả bốntrường cao đẳng, kỹ thuật của ngành đóng tàu mỗi năm chỉ đào tạo tối đa từ 4.000-5.000 người Nếu nguồn cung nhân lực có chất lượng không được cải thiện, thì chỉtrong vòng 2-3 năm tới, dù các nhà đầu tư đổ nhiều vốn vào ngành này hơn nữa thìcũng không có đủ công nhân để làm việc

Trường hợp thiếu hụt về nguồn cung nhân lực của ngành đóng tàu không phải

là duy nhất tại Việt Nam Một số ngành kinh tế do phát triển quá nhanh, đã nảysinh những thách thức không nhỏ về tuyển dụng lao động, đặc biệt là lao động chấtlượng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường Hơn nữa, việc mặt hàng tiền lươngcòn chưa thống nhất ở các khu vực, ngành nghề cũng là nguyên nhân tiềm ẩn dẫnđến sự biến động, di chuyển và cuối cùng là sự thiếu hụt nhân lực ở các DN, khucông nghiệp – khu chế xuất

Câu hỏi đặt ra là tại sao hàng năm cả nước đều có một lượng sinh viên khôngnhỏ tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề nhưng tình trạng thiếu hụtlao động có trình độ cao vẫn không giảm? Đó là do hệ thống giáo dục và đào tạovẫn chưa được chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Giáo trình giảngdạy ở các trường đại học được in mới nhưng nội dung cũ mấy chục năm, lạc hậurất nhiều so với thực tế, không cập nhật được thông tin, công nghệ mới Phần lớncác DN phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động (chiếm 85,06%) chứ khôngphải lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung Điều này dẫnđến chi phí đào tạo cho lao động cao, nhưng trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuậtcủa lao động lại thấp Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng này, nhiều DN phảithuê chuyên gia nước ngoài với mức lương rất cao, hàng trăm ngàn USD mỗi năm.Tuy nhiên việc thuê lao động nước ngoài chỉ phù hợp với những vị trí quản lý bêntrên và cũng không thể đi thuê mãi được

Như vậy, trong bối cảnh các DN Việt Nam bắt đầu chuyển lên một nấc mớitrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bức tranh chung về nguồn nhân lực chocác DN thật đáng báo động Đó là tình trạng đội ngũ lao động thiếu năng lực vàkinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm tham gia thị trường thế giới; trong khi đó lựclượng lao động trực tiếp sản xuất lại thiếu kỹ năng và chuyên môn kỹ thuật, tínhchuyên nghiệp và thể lực yếu Thách thức không nhỏ về nhân lực, nếu không đượcgiải quyết tốt sẽ khiến năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam dần giảm súttrong quá trình các DN hội nhập dần vào nền kinh tế thế giới

2.3 Thách thức về đổi mới công nghệ

Trang 40

Có thể nói công nghệ và nhân lực khoa học kỹ thuật, cũng như năng lựcnghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ của các DN Việt Nam hiện nay cònnhiều bất cập Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) về chuyển giaocông nghệ năm 2005, trong đó 117 nước, chỉ số ứng dụng công nghệ của Việt Namnằm trong nhóm nước lạc hậu (đứng thứ 92), chỉ số đổi mới có cao hơn song cũngthấp hơn Thái Lan đến 42 bậc Về chuyển giao công nghệ, Việt Nam đã bị TháiLan bỏ xa đến 62 bậc Theo đánh giá của nhiều tổ chức nước ngoài, tỷ lệ sử dụngcông nghệ cao tại Việt Nam thấp (khoảng 20%), trong khi các nước trong khu vựcđều đạt mức cao, ví dụ như Philippin là 29%, Malaixia là 51%, Xingapo tới 73%.Theo cơ quan tình báo kinh tế (EIU), chỉ số sẵn sàng điện tử của Việt Nam xếp thứ

61 trong số 65 nước được điều tra, kém Malaixia 30 bậc và kém Xingapo tới 54bậc

Hiện nay phần lớn các DN Việt Nam đang sử dụng công nghệ tụt hậu so vớimức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ Có 80-90% công nghệ của Việt Nam sửdụng là công nghệ ngoại nhập; có 76% máy móc, dây chuyển công nghệ nhậpthuộc thế hệ 1960-1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao Tính chung cho các DN,mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậuchiến 52% Trong khi đó các DN Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp,tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu Con số này ở Ấn Độ là 5%, Hàn

Quốc là 10% Có thể nói, hiện nay năng lực đổi mới công nghệ được đánh giá là

năng lực yếu nhất của các DN Việt Nam Đây là một thách thức không nhỏ đối với

các DN Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà các DN cạnhtranh trên thế giới đều có hàm lượng công nghệ cao và ở trình độ phát triển hơncác DN Việt Nam rất nhiều lần

Sự lạc hậu về công nghệ và kỹ thuật sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm thấp vàkhông ổn định làm cho DN khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh,hạn chế khả năng cạnh tranh bằng giá (giá thành các sản phẩm trong nước cao hơncác sản phẩm nhập khẩu từ 20-40%) Nhìn chung, thiết bị và công nghệ của các

DN trong các ngành sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là lạchậu so với các nước Ví dụ như trong nhiều DN vẫn còn sử dụng thiết bị và côngnghệ của Liên Xô (cũ), Trung Quốc như chè, dệt…; ngành dệt - may, da giày chủyếu là gia công, trong ngành dệt còn sử dụng thiết bị của Trung Quốc từ nhữngnăm 60; ngành điện tử và tin học, mặc dù là ngành mới và có tốc độ phát triểnnhanh (khoảng 20%/năm), có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới nhưng trình độcông nghệ vẫn còn thấp, chủ yếu là lắp ráp CKD, chưa làm chủ được “kỹ thuậtnguồn” Theo các chuyên gia đánh giá thì công nghệ trong lĩnh vực này lạc hậu sovới các nước trong khu vực khoảng 10 năm và một thế hệ 20 năm so với các nướcphát triển trên thế giới Mặc dù nhiều DN cũng đã cố gắng đầu tư đổi mới trang

Ngày đăng: 09/05/2018, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w