1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHỆ THUẬT tạo HÌNH các THÁP cổ của NGƯỜI lào VÙNG tây bắc VIỆT NAM

86 331 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 909,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam .... Người Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong cộng đồng các dân

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Bảng chữ cái viết tắt………

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1 Một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam 11

1.1.1 Khái niệm tháp 11

1.1.2 Khái niệm tháp và tháp cổ Phật giáo 11

1.2 Khái lược về Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc chùa, tháp Lào 15

1.2.1 Khái lược về Phật giáo Lào 15

1.2.2 Khái lược về nghệ thuật kiến trúc chùa, tháp Lào……….16

1.3 Khái lược về điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa, xã hội của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam 18

1.4 Sơ lược lịch sử, kiến trúc các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam 21

1.4.1 Tháp Mường Bám 21

Trang 2

1.4.2 Tháp Mường Và 24

1.4.3 Tháp Chiềng Sơ 26

1.4.4 Tháp Mường Luân 28

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CÁC THÁP CỔ CỦA NGƯỜI LÀO VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM 32

2.1 Nghệ thuật chọn không gian, cảnh quan 32

2.2 Nghệ thuật tạo hình khối 40

2.3 Nghệ thuật trang trí phù điêu, họa tiết 48

2.4 Nghệ thuật sử dụng màu sắc 59

2.5 Kỹ thuật xây dựng 63

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỀU RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 68

3.1 Sự tương đồng, khác biệt giữa các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam với tháp Phật giáo Lào 68

3.1.1 Sự tương đồng 68

3.1 2 Sự khác biệt 70

3.2 Một số giá trị các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam 75

3.2.1 Giá trị về lịch sử 75

3.2.2 Giá trị về nghệ thuật 76

3.2.3 Giá trị về Văn hóa 78

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong dòng chảy của lịch sử thế giới ở mỗi thời đại, mỗi quốc gia, tôn giáo và tín ngưỡng là một phần không thể thiếu trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Ở châu Á, Phật giáo là tôn giáo lớn có sức lan toả, ảnh hưởng và phát triển lâu bền ở một số quốc gia khu vực Nam Á, Đông Bắc

Á, Đông nam Á như: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, CămPuChia, Indonesia, Lào, Việt Nam,… Cùng với giáo lý và tín ngưỡng tôn giáo, Phật giáo đã xây dựng, phát triển nhiều công trình kiến trúc và nghệ thuật như: hệ thống tháp, chùa, tượng Phật, đến nay qua nhiều thế kỷ, nhiều công trình này vẫn tồn tại bền vững với thời gian

Kiến trúc chùa, tháp là đặc trưng tiêu biểu của nền mỹ thuật Phật giáo trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Trong quá trình hình thành

và phát triển của lịch sử nghệ thuật Phật giáo, tháp là công trình đầu tiên được xây dựng trước khi có chùa Việc xây dựng chùa, tháp tùy theo giai đoạn lịch

sử, quan niệm tôn giáo, tính chất, quy mô và vùng địa lý, dân cư mà có lúc tháp là một phần trong tổng quan kiến trúc của chùa, nhưng có khi tháp là công trình chủ đạo trong một quần thể kiến trúc chùa, tháp Tháp Phật giáo có nhiều loại, mỗi loại có công năng, hình thức tạo hình, ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau

Vùng Tây Bắc Việt Nam nơi, quần cư lâu đời của nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có lịch sử hình thành cộng đồng và nét văn hóa đặc sắc riêng Người Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tộc người này có nguồn gốc từ quốc gia Lào nơi có nền văn hóa đậm chất Phật giáo Tiểu thừa với nhiều công trình kiến trúc chùa, tháp nghệ thuật nổi tiếng Văn hóa dân tộc Lào vùng Tây Bắc Việt Nam khá đa dạng và phong phú,

Trang 4

trong đó có hệ thống kiến trúc tháp cổ chứa đựng nhiều yếu tố lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Hiện nay, vùng Tây Bắc còn 4 công trình kiến trúc tháp cổ của dân tộc Lào gồm: tháp Mường Và (huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La), tháp Mường Bám (huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La), tháp Mường Luân và tháp Chiếng Sơ (huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên) Đây là những công trình kiến trúc nghệ thuật góp phần không nhỏ biểu hiện đặc điểm nghệ thuật, tư duy thẩm

mỹ của dân tộc Lào Việc nghiên cứu lập hồ sơ di tích các tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc đã được các cơ quan hữu trách khảo sát, lập hồ sơ và xếp hạng

di tích Nghiên cứu về các tháp cổ của người Lào vùng Tây bắc đã có một số bài viết giới thiệu, khảo tả, khảo cổ học về các tháp, tuy nhiên còn nhiều điểm chưa thống nhất về: lịch sử hình thành, cấu trúc hình dáng, phân loại phù điêu họa tiết, ý nghĩa của tháp; các nghiên cứu còn riêng lẻ, chưa nhìn nhận các tháp cổ trên như một hệ thống có nguồn gốc, ảnh hưởng, giao thoa lẫn nhau

và coi đó là biểu hiện rõ nét dấu ấn văn hóa dân tộc Lào ở vùng Tây Bắc Hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nghiên cứu nghệ thuật tạo hình các tháp cổ người Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam

Luận văn này mong muốn đi sâu tìm hiểu, phân tích nghệ thuật tạo hình trên các tháp cổ người Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam; so sánh thấy được điểm tương đồng và khác biệt giữa một số tháp Phật giáo ở Lào với các tháp

cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam; thông qua việc nghiên cứu sẽ rút ra những giá trị về: lịch sử, nghệ thuật, văn hóa của các tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước có các nội dung liên quan đến kiến trúc tháp Phật giáo trên thế giới nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Một số tài liệu nghiên cứu, khảo tả trong

Trang 5

hồ sơ di tích (của tỉnh Sơn La và Điện Biên), các bài viết trên Website, sách giới thiệu hướng dẫn du lịch về các Tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam Cụ thể như sau:

Sách nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài

Cuốn Mỹ thuật và Kiến trúc Phật giáo - Robert E.Fisher [21] là công

trình nghiên cứu Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á trong đó có nội dung nghiên cứu kiến trúc tháp cổ Phật giáo tiêu biểu ở các quốc gia nêu trên

Cuốn Mỹ thuật Ấn Độ - Roy C Craven [22] nghiên cứu sâu về lịch sử

hình thành nền văn hóa nghệ thuật Ấn Độ, phân tích và đưa ra các dẫn chứng

về sự phát triển nền nghệ thuật Ấn Độ thông qua các hiện vật, công trình kiến trúc, các phù điêu, tượng, tranh vẽ của nghệ thuật Ấn Độ qua các thời kỳ đến khoảng cuối thế kỷ XVIII

Cuốn Lịch sử Mỹ thuật Viễn đông - Sherman E.Lee [24] nghiên cứu về

sự hình thành và phát triển nền Văn hóa và Mỹ thuật vùng Viễn Đông, ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo; phong cách nghệ thuật Ấn Độ và Indonesia, phong cách mỹ thuật Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và sự tác động qua lại giữa các phong cách; đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quát về ảnh hưởng của

Mỹ thuật đối với nền văn hóa các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Trung Á và Nhật Bản, Triều Tiên

Cuốn Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại - Luc Benoist [17] nội dung

nghiên cứu các dấu hiệu, biểu trưng và ý nghĩa của nó trong thần thoại của một số nền văn hóa, tôn giáo lớn trên thế giới

Sách nghiên cứu của một số tác giả trong nước

Cuốn Hoa văn Việt Nam - Nguyễn Du Chi [4] giới thiệu, phân loại,

giải nghĩa hệ thống hoa văn trang trí trên một số hiện vật, công trình kiến trúc qua một số thời kỳ trong lịch sử của Việt Nam

Trang 6

Cuốn Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại - Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên, Trần Hồng Ngọc [8, tr 37 - 80] giới

thiệu một số công trình kiến trúc tiêu biểu cho nền văn minh Ấn Độ và một số nước châu Á, trong đó có nội dung giới thiệu về các tháp, đền nổi tiếng của

Ấn Độ và một số nước trong khu vực châu Á

Cuốn Tháp cổ ở Việt Nam - Nguyễn Duy Hinh [11] có nội dung giải

nghĩa, khái niệm, sơ lược lịch sử hình thành tháp Phật giáo; giới thiệu, mô tả cấu trúc các tháp cổ tiêu biểu của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (trong

cuốn này không có nội dung các tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam)

Cuốn Tìm hiểu Văn hóa Lào - Quế Lai - Ngô Văn Doanh - Nguyễn Đức

Ninh [14] có nội dung giới thiệu một các thời kỳ của Phật giáo và nghệ thuật Phật giáo ở Lào, trong đó có các nội dung giới thiệu một số loại hình kiến trúc, điêu khắc trong một số công trình nổi tiếng của nghệ thuật Phật giáo Lào

Cuốn Tri thức dân gian về nước của người Lào ở tỉnh Điện Biên -

Đặng Thị Oanh [18], có các nội dung nghiên cứu khái lược về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên – xã hội, địa lý của dân tộc Lào ở vùng Tây Bắc Việt Nam

Cuốn Nghệ thuật Ấn Độ và Phật giáo ở Lào - Nguyễn Lệ Thi [25] giới

thiệu về phân kỳ nghệ thuật thời cổ và trung đại Lào; giới thiệu về sự du nhập

Ấn Độ giáo và Phật giáo vào Lào; nghiên cứu nghệ thuật Ấn Độ giáo và Phật giáo qua các thời kỳ, trong đó đặc biệt đi sâu nghiên cứu sự hình thành và phát triển nghệ thuật Phật giáo Lào qua các công trình kiến trúc chùa tháp, tác phẩm phù điêu, điêu khắc tiêu biểu cho từng thời kỳ từ khi hình thành vương quốc Lào cho đến nghệ thuật Lào hiện đại

Cuốn Từ điển Lịch sử và Văn hóa Lào - Nguyễn Lệ Thi (Chủ biên) [26]

giới thiệu sơ lược lịch sử, văn hóa Nước CHDCND Lào, đồng thời đi sâu giải nghĩa các thuật ngữ thường dùng trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa Lào

Trang 7

Cuốn Tháp cổ ở Việt Nam - Đặng Việt Thủy, Giang Tuyết Minh [27]

nội dung nghiên cứu khái quát cấu trúc các loại hình của tháp, giới thiệu một

số tháp cổ tiêu biểu của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (trong cuốn này không có nội dung nghiên cứu về các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam)

Cuốn Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Lào - Phạm Thanh Tịnh (Chủ biên) [29,

tr 172 - 205] trong cuốn này có phần nội dung Văn học nghệ thuật Lào, nghiên cứu khái lược về Nghệ thuật tạo hình Lào qua các thời kỳ

Cuốn Mỹ thuật Lý - Trần Mỹ thuật Phật giáo - Chu Quang Trứ [31,

tr137 - 144] có nội dung nghiên cứu về: nguồn gốc, đặc điểm và ý nghĩa tôn giáo các tháp thời Lý - Trần

Một số bài viết trên các tạp chí xuất bản trong nước

Tạp chí Dân dân tộc & Thời đại (Số 71/2014) [7, tr 17-18] có bài viết

của tác giả Hồng Mẫu Đơn “Tháp cổ Phật giáo ở Trung Hoa” giới thiệu về một số tháp Phật giáo tiêu biểu của Trung Hoa

Tạp chí Phật học (Số 2/2015 - Phân viện nghiên cứu Phật học - Cơ

quan Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam) [15, tr 28 - 45], có bài viết của tác giả Phan Đức Lợi “Những ngôi tháp cổ ở Việt Nam” giới thiệu về một số tháp cổ Phật giáo ở Việt Nam (tuy nhiên trong bài viết này không có nội dung đề cập đến các tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam)

Hồ sơ di tích về các tháp

Hồ sơ khảo cổ di tích tháp Mường Và (1998) [36] do Viện Khảo cổ học Việt Nam lưu trữ có các hình ảnh, ảnh chụp hiện vật của tháp trước khi tháp được tu sửa

Hồ sơ lý lịch di tích các tháp: Mường Bám, Mường Và, Mường Luân, Chiềng Sơ do Bảo tàng tỉnh Sơn La, Điện Biên lưu giữ [2,3] có các nội dung

Trang 8

cơ bản về nguồn gốc, lịch sử, tên gọi; khảo tả hình dáng, cấu trúc, họa tiết hoa văn và có một số bản vẽ kiến trúc của các tháp

Tài liệu điền dã, khảo sát tháp Mường Bám, Mường Và, Chiềng Sơ, Mường Luân (2017) [37] do Viện Mỹ thuật Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam lưu trữ

Một số bài viết trên Website

Các bài viết trên các Website Sở VHTTDL tỉnh Điện Biên, Sơn La quảng bá du lịch văn hóa các tháp cổ vùng Tây Bắc Việt Nam [39, 40]

Trên đây là một số tài liệu tác giả thu thập được phục vụ nội dung nghiên cứu, chắc chắn còn nhiều tài liệu khác nghiên cứu các tháp cổ ở Việt Nam và Lào tác giả chưa biết đến Trên cơ sở các tài liệu thu thập được có thể khẳng định đến nay chưa có công trình nghiên cứu về Nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

3 Mục đích của luận văn

- Nghiên cứu nghệ thuật tạo hình: không gian, hình khối, phù điêu họa tiết, màu sắc và kỹ thuật xây dựng tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

- Mô tả, phân tích được ngôn ngữ tạo hình biểu hiện trên các tháp qua

góc nhìn nghệ thuật tạo hình

- So sánh nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam với một số tháp Phật giáo ở Lào, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt

- Từ kết quả mô tả, phân tích, so sánh rút ra một số giá trị các tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thực địa: nghiên cứu, quan sát trực tiếp các tháp cổ, tiến

hành chụp ảnh, đo đạc hình dáng và cấu trúc từ tổng thể đến chi tiết đối tượng nghiên cứu

Phương pháp điều tra, phỏng vấn: điều tra hiện trạng, phỏng vấn cư

dân địa phương các thông tin liên quan đến tháp khi tiến hành thực địa trên địa bàn các tháp ở tỉnh Sơn La và Điện Biên

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, thông tin: sưu tầm tài liệu, hình

ảnh ở địa phương, thư viện Viện Mỹ thuật, thư viện trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, thư viện Viện Khảo cổ học, thư viện Quốc gia, các bài viết trên các tạp chí, trên mạng internet,… tiến hành phân loại tài liệu liên quan dùng nghiên cứu đề tài

Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu quá trình hình thành vùng

dân cư, địa lý, văn hóa - nghệ thuật; lịch sử hình thành, phát triển kiến trúc

Trang 10

tháp cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam và một số tháp Phật giáo ở Lào

Phương pháp vẽ mô tả: vẽ mô tả hình dáng, cấu trúc, phù điêu, họa tiết

các tháp giúp quá trình nghiên cứu, phân tích, minh chứng cụ thể, rõ ràng

Phương pháp phân tích, so sánh: phân tích, so sánh các dữ liệu của vấn

đề nghiên cứu, làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu: so sánh ý nghĩa, ngôn ngữ tạo hình tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam với một số tháp Phật giáo ở Lào

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài góp phần minh chứng và khẳng định giá trị nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

Đề tài là tài liệu tham khảo khi tìm hiểu nghiên cứu nghệ thuật tạo hình tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

Đề tài góp phần vào công tác nghiên cứu, lưu giữ, phục chế, bảo tồn các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: phần mở đầu (8 trang), nội dung (70 trang), kết luận (2 trang) Phần nội dung gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung của đề tài (21 trang);

- Chương 2: Phân tích nghệ thuật tạo hình các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt nam (36 trang);

- Chương 3: Một số điều rút ra từ nghiên cứu đề tài (13 trang)

Ngoài ra luận văn còn có phần tài liệu tham khảo và phụ lục ảnh minh họa

Trang 11

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm liên quan đến nghệ thuật tạo hình các tháp

cổ người của Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

1.1.1 Khái niệm nghệ thuật tạo hình

Từ điển Từ vực mỹ học của Su-ri-ô (Souriau) - 1990 đã định nghĩa

“Nghệ thuật tạo hình đưa tới thị giác những tác phẩm có không gian hai hoặc

ba chiều” Ví dụ như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, đồ họa, nghệ thuật trang trí ứng dụng Ở nhiều nơi trên thế giới người ta cho rằng thuật ngữ nghệ thuật thị giác và nghệ thuật tạo hình đồng nghĩa với mỹ thuật [17]

Từ các diễn giải trên có thể hiểu nghệ thuật tạo hình như sau: Nghệ thuật tạo hình (mỹ thuật) gồm các loại hình hội họa, điêu khắc, đồ họa Ngôn ngữ nhận biết, cảm nhận hình thức, nội dung của tác phẩm thông qua thị giác là: chủ đề, không gian, bố cục, hình khối, đường nét, mầu sắc, chất liệu và kỹ thuật thể hiện

Các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam là một công trình kiến trúc nghệ thuật do vậy thuật ngữ nghệ thuật tạo hình sử dụng trong nghiên cứu đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu: không gian, cảnh quan, nghệ thuật tạo khối, phù điêu họa tiết, màu sắc và kỹ thuật thể hiện trên các tháp

1.1.2 Khái niệm tháp và tháp cổ Phật giáo

Khái niệm tháp

Tháp là một công trình kiến trúc có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: hình trụ đứng, dạng hình nón và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, làm biểu tượng, giúp âm thanh phát

đi xa hoặc phát sóng ra xa [27]

Trang 12

Tháp là một khái niệm rộng để chỉ một loại công trình do con người xây dựng nhằm phục vụ các mục đích khác nhau Tháp có nhiều loại, nhiều hình dạng, nhiều chức năng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu một số tháp có niên đại xây dựng trước thế kỷ XX ở vùng Tây Bắc Việt Nam và một số tháp Phật giáo ở Lào, các tháp này phục vụ mục đích tôn giáo (Phật giáo) và tín ngưỡng dân gian trong một phạm vi cộng đồng dân

cư nhất định

Khái niệm tháp cổ Phật giáo

“Từ “tháp” là dạng từ Hán Việt của từ Ấn Độ cổ “stupa”, trong nhiều ngôn ngữ Ấn Độ và khi du nhập vào nhiều tiếng nói khác nhau, trước sau chỉ một loại mộ chôn người cao quý hay chôn xá lị Phật, táng trên đồi gò hoặc xây đắp thành đồi gò thành công trình kiến trúc cao Từ tháp vào tiếng ta, trước cũng chỉ loại mộ có kiến trúc cao như vậy, sau được dùng rộng ra không chỉ riêng kiến trúc mộ cao nữa, mà còn chỉ kiến trúc cao khác mang tính linh thiên như mộ: kiến trúc cao nơi ở của thần, kiến trúc cao nơi thể hiện Phật và thờ Phật” [11 - tr5]

Tháp Phật là nơi chứa Thánh tích, di vật của Đức Thích ca Mâu ni hoặc các vị Tổ sư có công đức lớn Theo truyền thuyết Phật giáo, tháp là sự kết hợp

ba vật bất ly thân của một vị tu sĩ Phật giáo, đó là Tam tạng kinh, bình bát và cây tích trượng Tháp Phật nguyên thủy có hình hài như gò mộ táng xa xưa của người Ấn Độ Sau khi Đức Phật Thích ca nhập diệt, kiểu gò mộ này được dung hợp vào Phật giáo như là nơi chứa thánh tích của Phật và chư tôn giả, đồng thời được xem như phương tiện nhắc nhở đến sự giác ngộ của Ngài và

là biểu tượng của nhục thân cũng như lời dạy của Ngài Bảo tháp Sanchi (H46) còn tồn tại khá hoàn chỉnh hiện nay ở Ấn Độ là một ví dụ Đó là một kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn bằng đá Trong tháp có những hộp đựng

Xá lợi, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay giữa

Trang 13

bán cầu hoặc trên đỉnh Trong một thời gian dài sau đó, kiến trúc tháp trải qua quá trình biến đổi Xuất phát từ Gandhara (Tây Bắc Ấn Độ), tháp nền hình tròn bằng phẳng được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn Phần bán cầu được kéo dài ra, nhưng so với nền ống thì nhỏ hơn trước Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia thành nhiều tầng, biến thành hình nón Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Tây lịch, phần gốc hình ống lại biến thành hình vuông và trở nên phổ biến tại vùng Nam Á [27]

Đối với Phật giáo Tây Tạng, bảo tháp Phật giáo được gọi là Chorten (H46) Các Chorten nơi đây hình dáng gần giống với các bảo tháp có phong cách Bắc Ấn Hình dáng có ba phần chủ yếu, phần đáy dưới cũng rộng, phần thân chính hình tròn vươn lên cao, phần cuối cùng gồm có một cột với các chồng đĩa tròn hoặc những chiếc dù có kích thước nhỏ dần Với ý nghĩa truyền thống của Phật giáo, các Chorten Tây Tạng bên cạnh việc được coi là cái cốt tủy của chính Đức Phật, còn có ý nghĩa về vũ trụ, đặc biệt là phần đỉnh Đỉnh chorten được cấu tạo bởi năm hình thể kỷ hà biểu thị cho ngũ hành Phần đế vuông biểu thị cho sắc, trong khi vòng tròn bên trên biểu thị cho thức Tiếp đến, hình tam giác tượng trưng cho tinh thần và nửa vòng tròn biểu thị cho Phật pháp Trên cùng của kiến trúc là một viên bảo châu tượng trưng cho nguyên lý tối thượng của Phật giáo

Tháp Phật giáo ở Trung Hoa có phong cách lầu các (H46) Theo quan niệm của người Trung Hoa, tháp là nơi chôn cất Xá lợi Phật, thiêng liêng và thần thánh, phải dùng hình thức kiến trúc cao quý để tôn trí Hình thức tháp

có ảnh hưởng từ tháp Phật giáo của Ấn Độ nhưng được cải biến thành một kiểu tháp khác, tháp thường chia thành ba phần: Địa cung nền tháp, thân tháp

và tháp sát Ở Trung Hoa, tháp Phật có nhiều loại hình và kết cấu Nếu chia theo hình dáng, có tháp hình vuông, hình lục giác, hình bát giác, hình tròn… Nếu chia theo hình khối sẽ có tháp đơn tầng, tháp 3 tầng, 5 tầng, 7 tầng, 9

Trang 14

tầng Nếu chia theo vật liệu kiến trúc thì có tháp gỗ, tháp gạch, tháp sắt, tháp lưu ly… Tháp Phật giáo không chỉ còn là nơi an trí Xá lợi Phật mà nó đã chuyển tải được những ý nghĩa nhân sinh của Phật giáo qua các chi tiết kiến trúc, họa tiết trang trí trên ngôi tháp [27]

Ở Việt Nam tháp được nhiều nhà nghiên cứu và phân loại Những tháp

cổ hiện tại thuộc hai dòng lớn: tháp Phật giáo và tháp Bà La Môn giáo Chúng đều có cội nguồn ở Ấn Độ, đều là những công trình kiến trúc cao tầng dùng chứa đựng thần linh dưới dạng này hay dạng khác Tháp Phật giáo chủ yếu được xây dựng ở miền Bắc (H47) Tháp Phật giáo có hai nhóm: tháp mộ và tháp chùa Tháp mộ có thể là tháp của một vị Phật hay cao tăng cụ thể, cũng

có thể là tháp biểu tượng Phật tức coi như mộ Phật Tháp có 5 loại: tháp hoa sen, tháp Tu Di, Tứ môn tháp, tháp đa giác, Tháp - Thượng điện Tháp hoa sen là kiến trúc mô phỏng một đóa sen chứ không phải là tháp mộ, nó chứa đựng biểu tượng Phật như một mộ Phật Tháp Tu Di là tháp có hình tu - di - tọa, hình thức kiến trúc có ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ tháp Trung Quốc, tháp có nhiều tầng cao, là hình ảnh tượng trưng ngọn núi thiêng Mê Du

ở Ấn Độ nơi Phật Thích Ca Mầu Ni tịnh thiền đạt đến giác ngộ Tháp tứ môn

có nhiều tầng, có bốn cửa tương ứng với bốn diện của tháp Tháp đa giác có bình đồ đa giác (bát giác, lục giác) ảnh hưởng từ kiến trúc tháp của Trung Quốc Tháp - Thượng điện có nguồn gốc là tháp trong kiến trúc - hang, nhà, không có tháp ngoài trời, không mang tính mộ táng mà mang tính chất đối tượng thờ cúng, tháp là biểu tượng về Phật [11]

“Người Lào gọi tháp là “thạt” hay “chê đi” Tháp có công năng như sau:

có loại tháp thờ Phật, có loại tháp là nơi chứa tro thiêu của nhà sư trụ trì trong chùa, có tháp chứa tro thiêu của vua và hoàng hậu các triều đại Một số tháp trước kia là đền thờ của Ấn Độ giáo sau chuyển thành tháp thờ Phật” [26 - tr371]

Trang 15

Tháp Phật giáo ở Lào có phong cách kiến trúc của tháp Phật giáo Tiểu thừa, thường có đồ án mặt bằng hình vuông, hình lục giác, bát giác (H48,49,50) Tháp có nhiều hình dạng, chức năng khác nhau và thường được xây dựng gắn liền với quần thể kiến trúc của chùa Qua tìm hiểu nghiên cứu bước đầu có thể chia tháp Lào thành một số loại theo chức năng tôn giáo và tín ngưỡng: tháp thờ Xá lị Phật, tháp ghi dấu ấn phật pháp, tháp biểu tượng đức Phật, tháp thờ di cốt vua - hoàng hậu, tháp thờ tro cốt các vị sư, tháp thờ người có công sáng lập bản mường, tháp ghi nhận công đức của nhân dân và phật tử

Tóm lại, tháp Phật giáo là công trình kiến trúc nghệ thuật thường phục

vụ nghi lễ, chuyển tải giáo lý của Phật giáo Tháp có nhiều loại, nhiều công năng và ý nghĩa khác nhau tùy theo quan niệm, giáo lý của từng hệ phái Phật giáo Nếu phân loại theo chức năng của tháp Phật giáo Lào thì hệ thống tháp

cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam thuộc loại tháp thờ Phật, tháp là biểu tượng của Phật

1.2 Khái lược về Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc chùa, tháp Lào

1.2.1 Khái lược về Phật giáo Lào

Trước khi Ấn Độ giáo và Phật giáo du nhập vào Lào, ở đây đã tồn tại tín ngưỡng dân gian về thờ “Phi” Người Lào xưa tin rằng có rất nhiều vị thần Thần linh mà người Lào cho là có vị trí cao nhất là Phi Thẻn

Theo nhiều nguồn sử liệu còn để lại cho thấy, vào khoảng thế kỷ thứ VIII, những người Môn đầu tiên di cư xuống vùng Tây Lào đã truyền bá Phật giáo cho những cư dân tại đây Những người Môn này đã mang theo rất nhiều kinh Phật, tượng Phật và những tu sỹ am hiểu Phật giáo từ Srilanka đến truyền bá Phật pháp Đến thế kỷ XIII khi tộc người Lào Thay chinh phục xong toàn bộ phần đất Bắc Lào họ đã tiếp thu đạo Phật theo phái Tiểu thừa và phát triển rộng khắp cả vùng Bắc và Trung Lào Trong khi đó, từ phía Nam,

Trang 16

Phật giáo Lào cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Khmer Dưới thời của đế chế Ăngkor, thống trị từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, Phật giáo Đại thừa cũng đã được truyền bá vào Lào [14]

Sau khi vua Chậu Phà Ngừm dựng nước, chế độ chính trị phần nhiểu

mô phỏng theo vương triều Khmer của Campuchia, thời gian này Phật giáo của Campuchia cũng bắt đầu du nhập vào Lào Nhiều cao tăng, học giả sang Lào để tổ chức công việc truyền thừa giáo lý, dân chúng Lào cũng đã chuyển sang tin vào đạo Phật Năm 1374, thời vua Chậu Phạ Nha Lạn Khăm Đẻng chế độ chính trị bền vững, kinh tế phồn thịnh, nhà vua cho tổ chức nhiều tăng hội nghiên cứu kinh điển Phật giáo Từ năm 1500 đến 1566 Phật giáo tiếp tục được các triều vua Vi Xun La Lạt, Phô Thi Xản quan tâm và phát triển rộng khắp ở Lào Năm 1637, vua Soulina Vongxa lên ngôi, ông rất coi trọng tôn giáo đã cho mở những trung tâm nghiên cứu Phật giáo, Lào trở thành trung tâm Phật giáo ở Đông Nam Á Vào thế kỷ XIX, Lào bị ngoại xâm, trước là Miến Điện, sau là Thái Lan nhiều chùa tháp đã bị tàn phá Năm 1893, Pháp đặt nền đô hộ 3 nước Đông Dương Dưới chế độ thống trị của Pháp tôn giáo không được coi trọng Tuy nhiên, theo truyền thống dân tộc, tuyệt đại đa số nhân dân Lào đều theo Phật Giáo và duy trì tín ngưỡng dân gian Hiện nay, Phật giáo tại Lào tồn tại song song hai hệ phái là hệ phái Tiểu thừa (Thammajutnica) và hệ Đại thừa (Mahalikaya), trong đó hệ phái Tiểu thừa chiếm đa số Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tính cách dân tộc, nhân sinh của người Lào [25]

1.2.2 Khái lược về nghệ thuật kiến trúc chùa, tháp Lào

Mỹ thuật Phật giáo ở Lào có thể xuất từ thời tiền Phà Ngừm, người Lào

đã sáng tạo nên nhiều công trình nghệ thuật đẹp và độc đáo Tuy nhiên, do nhiều biến động của lịch sử các công trình kiến trúc chùa tháp Phật giáo chủ yếu ở Lào ngày nay đều có niên đại không sớm hơn thế kỷ XIV Ở tỉnh Viêng

Trang 17

Chăn, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai khu hang động lớn mang tính chất Phật giáo: khu hang Tham Vang Sang và khu Dan Su-ny vùng Bản Ngang, trong những hang động này có các tượng Phật được làm theo phong cách hỗn hợp Môn - Khơ me với những đặc điểm siêu thoát và trầm tư của nghệ thuật Môn kết hợp với những yếu tố tả thực, khỏe và đầy sinh lực của nghệ thuật Khơ me Những tác phẩm này là những tiền đề, yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển một nền nghệ thuật độc đáo của vương quốc Lào sau này [14]

Vương quốc Lào Lạn Xạng thống nhất dưới triều vua Chậu Phạ Ngừm khoảng năm 1357, nhà vua đã cho lập Xiềng Đông Xiềng Thoong thành thủ

đô, cho xây dựng nhiều chùa tháp thờ phật tại trung tâm này Những ngôi chùa lớn được xây dựng là chùa Mạôlôm, chùa Xiềng Thoong Sau khi Chậu Phạ Ngừm qua đời, các đời vua nối tiếp nhau và mỗi đời vua trị vì vương quốc sau khi qua đời đều được xây cho một ngôi chùa để tưởng nhớ và xây cho một ngôi tháp đựng tro cốt của vị vua quá cố Tiểu biểu là chùa Xiêng Thoong ở Luông Pha Bang, với lối kiến trúc đặc thù Lào, mái cong buông xuống gần mặt đất, ngôi chùa chính bao quanh là những miếu, tháp nhỏ có cùng một lối kiến trúc; từ ngoài vào trong, trên các tường có rất nhiều phù điêu, điêu khắc, chạm trỗ công phu, sắc sảo nội dung dựa theo Phật tích Nghệ thuật thời kỳ này cũng để lại một số kiến trúc tháp lớn như: tháp Xiêng Xẻn, Thạt Luổng, tháp Pà Xắc [25]

Năm 1550, Vi Xun La Lạt lên ngôi, ông cho rời đô từ Xiềng Thong về Viêng Chăn, nhà vua cho xây nhiều chùa tháp ở Viêng Chăn Những ngôi chùa được xây dựng thời kỳ này có chùa Phạ Kẹo, chùa Ông Tự, chùa Xỉ Mương,… Một số ngôi tháp lớn được xây dựng như: Thạt Luổng, Thạt Đăm, Thạt Vi sun (H48) Thạt Luổng được xây dựng vào năm 1566 dưới triều vua Xệt Tha thi lạt Thạt Luổng vốn được xây trên nền một ngôi đền cũ, đây là

Trang 18

một trong những tháp Phật lớn nhất ở Lào với diện tích đáy là 90m x 90m, cao 45m Cấu trúc Thạt Luổng được chia làm ba phần: Phần dưới cùng là

bệ tháp, mỗi cạnh dài 69m (từ phía Tây, Đông) và 68m (từ phía Bắc Nam), cả

4 cạnh được ốp bằng 323 phiến đá Tầng thứ hai, mỗi cạnh dài 48m, vòng quanh cả 4 cạnh được tạo hình những hoa sen lớn với 120 cánh Tiếp giáp giữa tầng hai và tầng ba có 30 tháp nhỏ bao quanh có hình dáng tương tự như tháp trung tâm Tầng trên cùng là khối trung tâm thạt, có hình dáng quả bầu, được đặt trên một khối hình bán cầu trang trí bằng những hình cánh sen đang

nở ra bốn phía Toàn bộ tháp được phủ một màu vàng rực rỡ [14]

Khi tư bản phương Tây thâm nhập đất nước Lào bị chia cắt thành ba tiểu vương quốc Trong hoàn cảnh đó, những tác phẩm, công trình lớn tầm cỡ quốc gia không được phát triển Từ đây, tính đồng nhất của nghệ thuật Phật giáo Lào nói chung của giai đoạn trước đã được thay thế bằng tính chất đa dạng dựa trên cơ sở nhấn mạnh hoặc làm giảm đi yếu tố này hay yếu tố kia những đặc trưng vốn có của nghệ thuật Phật giáo định hình ở thời kỳ trước Nghệ thuật Phật giáo Lào nói chung và nghệ thuật kiến trúc Lào nói riêng dần dần thâm nhập vào từng bản mường làm cho nó có chất mộc mạc, thô sơ hơn nhưng vẫn toát nên vẻ cao quý và linh thiêng nhưng cũng rất bình dị [25]

1.3 Khái lược về điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa, xã hội của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

Khái lược về địa lý

Địa bàn cư trú của người Lào ở vùng Tây Bắc chủ yếu ở các vùng giáp gianh biên giới Việt - Lào, tập trung tại các huyện Điện Biên, Điện Biên Đông (tỉnh Điện Biên), Sông Mã (tỉnh Sơn La), Phong Thổ, Than Uyên (tỉnh Lai Châu), đây là vùng núi cao, rừng rậm, hiểm trở, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Đặc điểm địa hình cư trú của tộc người này bản làng thường định

cư ven các con sông, suối, đất đai tương đối màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng

Trang 19

trọt, chăn nuôi Khí hậu vùng người Lào cư trú thuộc khí hậu nhiệt đới, độ ẩm

trong không khí khá cao [18]

Khái lược về lịch sử

Có thể nói rất khó xác định chính xác thời điểm đầu tiên khi người Lào

có mặt tại vùng Tây Bắc Tìm hiểu nguồn gốc của người Lào ở vùng Tây Bắc, qua hệ thống tư liệu có rất nhiều ý kiến phong phú

Người Lào, Thái, Khơ Mú, Kháng, Xinh Mun ở vùng Tây Bắc đều có chung truyền thuyết về quả bầu mẹ Khi quả bầu mẹ vỡ ra gồm rất nhiều tộc

người chui ra, trong đó có cả tộc người Lào [18]

Truyền thuyết dựng bản lập mường ở Sơn La kể rằng: Vào khoảng cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV một chi nhánh của người Lào do con út vua Lào Pha Nha Nhọt Chom Cằm dẫn đầu đi tìm miền đất mới, qua các vùng Phiêng Luông, Chiềng đi, Chi Lông, rồi đến các vùng Nà Bó (ngày nay thuộc xã

Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) lập bản, lập mường [18]

Ở Lai Châu, người Lào cũng giải thích sự xuất hiện của họ trên mảnh đất này: Người Lào ở xã Nà Tăm, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đến Việt Nam khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 Những người này có nguồn gốc ở Xầm Nưa của nước Ai Lao di cư sang Việt Nam lên định cư ở bản Phiêng Hào xã Mường Khoa, huyện Than Uyên Năm 1948, một bộ phận chuyển lên

ở bản Nà Hiềng, Nà Tăm, Phiêng Rằng [18]

Tác giả Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm trong cuốn: “Điện Biên trong lịch sử” đã khẳng định: người Lào lập nghiệp ở Điện Biên đã từ lâu Những chiếc tháp, những tượng phật là những di tích của họ để lại Vào khoảng thế kỷ XI, X sau công nguyên một bộ phận người Lào và Lự theo các dòng sông Nậm U, Nậm Tà tràn xuống miền Bắc nước Lào hiện nay Người Lào ở đây thuộc nhóm Lào Bốc hay Lào Nọi Trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất vào thế kỷ XVIII ở Điện Biên, cùng với các dân tộc trong

Trang 20

vùng, người Lào đã chiến đấu dưới ngọn cờ của Hoàng Công Chất góp một phần lớn vào công cuộc đánh đuổi giặc Phẻ (tháng 5/1754) Năm 1758 - 1762, tộc người này cũng góp phần xây dựng thành Bản Phủ [18]

Trong quá trình điền dã tại những nơi người Lào cư trú ở xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La và xã Mường Luân, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên một số người cao tuổi là dân tộc Lào đều thông tin rằng: nghe ông cha nói lại tổ tiên của họ là ở bên nước Lào Hiện nay, thỉnh thoảng họ vẫn sang nước Lào thăm anh em họ hàng và ngược lại anh em họ hàng của họ ở bên Lào cũng sang thăm anh em bên Việt Nam

Như vậy, nguồn gốc cũng như thời điểm người Lào xuất hiện ở vùng Tây Bắc Việt Nam còn nhiều giả thuyết cần những công trình nhân học chuyên sâu mới có thể lí giải một cách minh bạch về vấn đề này

Khái lược về Văn hóa

Người Lào nói tiếng Lào, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai - Kadai Tộc người Lào sở hữu nhiều tri thức dân gian trong ứng xử với nguồn nước, với rừng, với đất đai, dùng thuốc nam chữa bệnh, dự báo thời tiết, dự đoán số mệnh con người, xem ngày tốt xấu Hàng năm người Lào thường tổ chức lễ cúng bản, cúng mường, lễ Mừng cơm, lễ hội té nước cầu may Người Lào ở vùng Tây Bắc đã từng có những nghề thủ công làm gốm và dệt vải thổ cẩm Trong kho tàng văn nghệ dân gian của họ có những bài hát dân ca, điệu múa lăm vông, lăm tơi và các nhạc cụ truyền thống

Về văn học dân gian của dân tộc Lào có những huyền thoại về quá trình di cư, tìm đất lập đất dựng bản lập mường và những áng thơ ca cổ, các bài dân ca nghi lễ đời người (sinh đẻ, cưới xin, làm nhà mới, cầu cúng chữa bệnh tật và tang ma ) Đặc sắc trong văn hóa truyền thống của người Lào ở vùng Tây Bắc phải kể đến tín ngưỡng dân gian và những dấu ấn của tín ngưỡng Phật giáo thông qua các hệ thống tháp cổ Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác

Trang 21

nhau, tín ngưỡng Phật giáo không còn trong đời sống của đồng bào Cho đến nay người Lào ở Sơn La, Điện Biên vẫn coi các tháp cổ ở trong vùng là những biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng của họ [18]

Khái lược về Xã hội

Người Lào tại Việt Nam, còn gọi tên khác là Lào Bốc hoặc Lào Nọi, là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc Việt Nam Theo Tổng điều tra dân số

và nhà ở năm 2009, người Lào ở Việt Nam có dân số 14.928 người, cư trú tại

42 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố (trong đó Lai Châu có 5.760 người, Điện Biên có 4.564 người, Sơn La có 3.380 người) Người Lào thường mang họ Lò, Lường, Vi, mỗi họ có kiêng kỵ riêng và con cái lấy họ theo cha Về hôn nhân phổ biến là hình thức gia đình một vợ một chồng Trong phong tục ma chay, người chết được làm lễ và chôn cất chu đáo Trong xã hội người Lào, những ông Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết nhiều truyện cổ, dân ca Người Lào sống định cư, có bản đông tới cả trăm nhà, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy và làm lúa ruộng [18]

1.4 Sơ lược lịch sử, kiến trúc các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam

1.4.1 Tháp Mường Bám

Lịch sử

Tháp Mường Bám thuộc xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn

La Tháp được Bộ VHTTDL xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 24/10/2012 Tên gọi của tháp theo địa danh xã Mường Bám,

có một số giả thiết về thời gian xây dựng tháp: Tháp bản Lào là công trình kiến trúc tôn giáo do người dân tộc Lào theo Phật giáo xây dựng vào khoảng thế kỷ 13 [3] Vào khoảng năm 1569 -1594 cư dân dân tộc Lào tại địa phương

đã xây dựng tháp Trước kia, tại khu vực tháp vào tháng 4 dương lịch hàng

Trang 22

năm có tổ chức "lễ cầu mưa" vào vụ mùa mới, hiện nay tại đây không còn tổ chức nữa [39]

Kiến trúc

Quần thể kiến trúc của tháp trước kia theo tương truyền ngoài khu vực xây dựng tháp còn có khu nhà ở dành cho các nhà sư làm bằng gỗ Khu này

có diện tích khoảng 300m2, cách tháp khoảng 200m về phía bắc [39]

Tháp Mường Bám được xây dựng bên sườn đồi tự nhiên, tựa lưng vào đồi, địa hình tương đối bằng phẳng rộng khoảng 1ha Mặt hướng đông của tháp cách dòng suối Nậm Húa khoảng 300m (đây là một trong những suối đầu nguồn của dòng sông Mã), bên kia suối là cánh đồng thuộc thung lũng Mường Bám, hai bên dòng suối là khu vực cư dân sinh sống (H3) Mặt tháp phía bắc

và phía nam của tháp có các dãy đồi cao chạy theo hình cánh cung, mặt phía tây là đồi cao Từ vị trí của tháp có thể bao quát toàn bộ khu vực dân cư và cánh đồng thuộc thung lũng Mường Bám nơi dòng Nậm Húa chảy qua Tháp được xây đặc toàn bộ bằng gạch vồ màu đỏ, gạch có kích thước dài 35 cm, rộng 15 cm, dày 6 cm, gạch được kết nối với nhau bằng mạch vữa Vữa dùng trong xây dựng và tạo tác các phù điêu được pha trộn bởi các thành phần từ vôi, cát, mật Phần ngoài gạch xây tháp được chát một lớp vữa dày khoảng từ 2,5 cm đến 3 cm Theo tương truyền qua câu chuyện của người dân bản địa trước đây quần thể kiến trúc này gồm 5 tháp: 1 tháp to (tháp Mẹ), 04 tháp nhỏ

ở 4 góc [39] Về kiến trúc hiện tại của tháp, một số cấu trúc, phù điêu đã bị hỏng hoặc bong tróc nhưng vẫn có thể giúp cho việc nghiên cứu giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật của tháp Tháp Mường Bám hiện tại có 2 tháp: một tháp

to và một tháp nhỏ (H4)

Tháp to (tháp Mẹ) cao 7,40m, cấu trúc được chia làm 3 phần lớn: phần

bệ tháp, phần thân tháp và phần ngọn tháp Nhìn tổng quan tháp có hình dáng

Trang 23

cân đối theo trục đứng, từ phần bệ tháp đến thân tháp hình dáng thu nhỏ dần đến hết phần ngọn tháp (H3,4,51)

Phần bệ tháp (H5,6,51,53) có cấu trúc mặt cắt ngang của khối hình vuông, cao 2,05m, rộng 2,74m gồm 3 tầng khối lớn nối chồng lên nhau Khối tầng 1 là phần tiếp giáp mặt đất đã mất hết kết cấu bên ngoài Khối tầng 2 có cạnh chiều dài nhất 211cm Khối tầng 3 gồm hai phần, diện mặt của các khối này được uốn cong Giữa các khối có sự phân tách bởi các khối mỏng tạo thành đường gờ chạy song hành với khối trên và khối dưới, góc của các đường gờ được vuốt nhọn nhô cao ở 4 góc Mặt trên cùng của bệ tháp có hai khối mỏng tạo liên kết với phần thân tháp

Phần thân tháp (H7,8,51) có chiều cao nhất 245cm, rộng nhất 1,4m gồm 4 tầng lớn Phần 1 là khối hình bát úp, trên bề mặt được đắp nổi 8 mảng phù điêu họa tiết có hình giống đầu voi, tương ứng với tám diện mặt của khối Phần 2 là khối hình bát giác đứng được chia làm hai phần (theo chiều dọc) tương ứng và đồng dạng, giữa hai phần có dải gờ nổi hình chữ V kết nối hai phần với nhau; các diện khối là diện phẳng, ở mỗi phần kết nối các khối có dải họa tiết trang trí nhỏ hình cánh hoa cúc cách điệu chạy khép kín theo diện mặt của khối Phần 3 là khối hình giống hình đài sen, chia làm hai tầng; tầng một nối tiếp phần thân tháp, giữa hai tầng có một khối mỏng, cong xòe úp xuống tám diện của khối hình đài sen; khối tầng hai được tạo hình tương tự như tầng một nhưng có độ rộng lớn hơn Phần 4 khối thân tháp có hình bát giác nối tiếp với phần ngọn tháp, tám diện được trang trí họa tiết hoa 8 cánh

và họa tiết hình tràng hạt nhỏ chạy đều phủ kín các diện đứng của khối; trên

bề mặt nằm ngang ở góc các khối này được gắn 08 cặp gạch nung có hình dáng ½ lá đề, bề mặt trang trí họa tiết giống nhau

Phần ngọn tháp (H9,51) là khối hình bầu dài hướng thiên, có chiều cao 2,9m, rộng nhất 55cm chia làm 4 phần Phần 1 là khối bầu dài hình bát giác

Trang 24

tám cạnh, các mặt uốn cong không tranh trí họa tiết Phần 2 có hình bát giác, khối này có các diện thẳng đứng đóng vai trò là khối trung gian nối lên phần 3 của ngọn tháp (có họa tiết trang trí nhưng hiện nay đã bị bong tróc gần hết) Phần 3 khối có hình khối tương đồng khối bầu dài ở phần 1 nhưng nhỏ và ngắn hơn Phần 4 là chóp tháp đã bị gẫy

Tháp nhỏ (tháp con) có hình dáng gần giống với tháp to nhưng toàn bộ khối có mặt cắt ngang hình vuông (H12,53) Tháp ở phía nam của tháp to, cách tháp to 3m Tháp có chiều cao 2,65cm, phần đế rộng nhất 140cm Tháp gồm 3 phần: phần bệ, phần thân, phần ngọn tháp (phần ngọn tiếp theo đã bị gẫy) Phần bệ tháp (H12,53) chiều rộng 1,2m, chiều cao 25cm gồm hai tầng khối hình vuông chồng lên nhau, thu nhỏ dần tiếp giáp với thân tháp; bốn góc của khối tầng 2 được tạo hình hơi cong hướng lên Phần thân tháp (H13,53) cao 120cm, độ rộng nhất 96cm; cấu trúc được tạo bởi 4 khối: khối 1 hình chóp cụt có phù điêu đắp nổi, bố cục phân đều trên bốn cạnh và bốn diện của khối; khối 2 có các diện phẳng, được chia đôi bởi 1 đường gờ nhỏ, có các dải họa tiết nhỏ phân bố đều quanh các diện; khối 3 có hình khối chóp ngược, phần trên được tạo hình uốn cong diện mặt và loe rộng một chút; khối 4 là khối ở vị trí trung gian nối tiếp thân tháp với phần ngọn tháp, khối này chia làm hai tầng, các diện được tranh trí họa tiết và gắn gạch nung trang trí Phần ngọn tháp hiện tại (H13,53) có chiều cao 120cm, độ rộng nhất 49cm, chia làm

2 phần: phần 1 là khối dạng hình bầu dài bốn diện, các diện được uốn cong, không có họa tiết trang trí; phần 2 được chia làm 3 tầng có họa tiết nhỏ xen kẽ nhau

1.4.2 Tháp Mường Và

Lịch sử

Tháp Mường Và được công nhận di tích theo quyết định số 95-1998 QĐ/BVHTT ngày 24/01/1998 Hiện nay có nhiều giả thuyết và truyền thuyết

Trang 25

về lịch sử và quá trình xây dựng tháp [39] Theo truyền thuyết kể lại, cách đây khoảng 400 năm có một ông thầy địa lý người Hoa đi qua vùng đất này, thấy

có cảnh đẹp, thuận lợi về địa lý Ông thầy địa lý đã bàn với Chẩu Hua (người đứng đầu trong vùng) để xây dựng chùa và tháp Chẩu Hua đã huy động nhân dân trong vùng khởi công đắp quả đồi ngay tại trung tâm bản Sau khi đắp đồi xong, Chẩu Hua cho xây tháp và dựng chùa Năm 1965 máy bay Mỹ bắn phá

đã phá hỏng một phần ngọn tháp (ngọn tháp 0,60m) Trận động đất năm 1983 làm cho tháp bị nứt dọc, phù điêu, họa tiết trang trí, vữa trát xung quanh bị bong lở nhiều [39] “Theo cụ Khăm Pheng 142 tuổi cho biết ngôi tháp này được xây trước lúc cụ sinh ra khoảng 10 năm Điều đó được tất cả các cụ già

ở Mường Và hiện nay thừa nhận Như vậy, ngôi tháp này được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18” [36]

Trang 26

thấp Tháp được xây bằng gạch và vữa xi măng, từ vị trí của tháp có thể bao quát toàn bộ phần cánh đồng Mường Và và đoạn suối lớn Nậm Ca (cách khoảng 2km) Cấu trúc tháp các khối có mặt cắt ngang hình vuông, tháp được chia làm 4 phần: phần nền bệ tháp, phần bệ tháp, phần thân tháp và phần ngọn tháp

Phần nền của bệ tháp (H16,54) có bề rộng 8,9m, chiều cao 110cm được chia làm 3 tầng, bốn cạnh các khối được vuốt nhọn hướng thiên hình mui thuyền, giữa các diện đứng của 3 khối có gian thờ nhỏ ở 4 diện

Phần bệ tháp (H17,18) có bề rộng nhất 3,5m, chiều cao nhất 3,1m, cấu trúc gồm 2 phần lớn Phần 1 là khối chóp cụt hướng lên gồm ba tầng khối, phần 2 là khối tháp cụt hướng xuống gồm hai tầng khối Phần 1 và phần 2 được khối kết nối với nhau tạo bởi khối mỏng thu nhỏ Bốn góc phía trên của hình khối tháp cụt hướng lên có điểm xuyến họa tiết hình xoáy ốc

Phần thân tháp rộng (H19) 1,8m, cao 2,7m gồm 3 phần Phần 1 có hai lớp họa tiết Phần 2 là các khối phù điêu lớn có dạng hình vòi voi phân đều 4 diện, khối này có bề mặt được tạo hình uốn cong, nhô cao tạo độ nổi Phần 3 kết nối giữa thân tháp và ngọn tháp là khối hình vuông, chia làm 3 lớp phù điêu họa tiết tranh trí xung quanh các diện của khối

Phần ngọn tháp (H20) có dạng hình giống một đài sen gồm bốn cánh

úp vào nhau cao 7,2m, bề rộng nhất 1,5m, chia làm 3 phần lớn Phần 1 nối tiếp từ thân tháp đến khối trung gian Phần 2 có dạng khối đồng dạng với khối phần 1 nhưng ngắn hơn Phần 3 từ khối trung gian đến phần giáp đỉnh tháp, khối này cũng đồng dạng với phần 1 và phần 2 nhưng nhỏ và ngắn hơn Đỉnh tháp là khối cầu nhỏ có dạng hình búp sen

1.4.3 Tháp Chiềng Sơ

Lịch sử

Trang 27

Tháp Chiềng Sơ được xây dựng ở bản Nà Muông, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tháp đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 1255/QĐ-BVHTTDL ngày 14/4/2011 Theo tương truyền, tháp Chiềng Sơ được dựng cạnh một ngôi chùa có tên là "Vạt" Tháp Chiềng Sơ ở cuối bản Nà Muông, khi người Thái đến đây định canh vào năm 1937 lúc này công trình chùa tháp đã có Các nhà nghiên cứu cho rằng ngôi tháp này được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV - XVI, cùng thời với tháp Mường Luân, tháp Mường Và [2] Hiện vật còn lại xung quanh tháp gồm:

1 bệ thờ xây bằng gạch, 2 tượng ngựa đều không còn nguyên vẹn và một phần ngọn tháp bị gẫy (H36,37)

Kiến trúc

Tháp nằm dưới chân đồi, phía sau là bản Nà Muông Mặt phía đông của tháp hướng về cánh đồng nhỏ và suối Nà Muông (suối chảy vào dòng sông Mã), mặt tháp phía tây tựa vào đồi cao Tháp có kiến trúc giống hình một búp sen đang nở, dưới to trên nhỏ dần (H26,27) Chiều cao hiện tại của tháp (H52)

là 7,3m, phần ngọn tháp bị gãy dài 1,6m (tổng chiều cao cả phần ngọn tháp bị gẫy là 8,9m) Tháp được xây đặc, nguyên liệu là gạch vồ, ngoài lớp gạch được trát một lớp vữa dày khoảng từ 2,5cm đến 3cm Vữa dùng xây tháp được pha trộn bởi các thành phần vôi, cát, mật [2] Tháp được sơn màu trắng, kiến trúc tháp được chia thành ba phần chính: bệ tháp, thân tháp và ngọn tháp (H26,27,52)

Bệ tháp (H28,29,54) có mặt cắt hình vuông, mỗi cạnh dài 2,7m, cao 2,0m Bệ tháp gồm 5 phần, ba phần dưới các diện khối được trát phẳng, các góc của 3 khối được vuốt cong hướng thiên, hình mui thuyền Phần 2 các diện khối được vuốt tròn cạnh Bệ tháp không trang trí hoa văn

Thân tháp (H30,54) chia làm 3 phần lớn, có mặt cắt ngang của khối hình bát giác, cao 2,4m rộng nhất 1,5m Phần 1 nối tiếp vào bệ tháp được

Trang 28

trang trí phù điêu, họa tiết có kích thước khá lớn; phù điêu này được đắp nổi dày khoảng 3cm, gồm 8 mảng phân bố tương ứng tám diện khối, nhìn tổng thể các phù điêu này gợi giống hình đầu voi Điều đặc biệt phần khối này có bốn góc của khối được tạo hình gợi hình đầu voi nhô cao Phần 2, diện khối được trang trí bởi những dải họa tiết nhỏ hình lá đề, có dải họa tiết hướng lên

và có dải họa tiết hướng xuống đăng đối với nhau Phần 3 là khối tiếp giáp với ngọn tháp, được tạo hình giống một đài sen đỡ lấy phần ngọn tháp; mặt trên cùng của khối này có một khối mỏng giống hình cánh dơi phủ xuống thân tháp, khối mỏng có tám cạnh, trên mỗi cạnh có một họa tiết nhỏ; trên bề mặt trên cùng của khối này có hai lớp phù điêu họa tiết gợi hình lá dương sỉ

Phần ngọn tháp (H31,52) có chiều cao 2,9m, độ rộng nhất 1,2m, khối

có mặt cắt hình bát giác, bề mặt trát phẳng không trang trí hoa văn và được chia làm 2 phần chính Phần 1 tiếp giáp với phần thân tháp có hình giống một búp sen, phần dưới của khối này được xây phình to và thu nhỏ dần lên trên Phần 2 là khối trung gian chuyển tiếp giữa hai phần ngọn tháp (phần ngọn tháp này đã bị gẫy), khối này có khối mỏng hình cánh rơi phủ xuống thân tháp,

bề mặt khối có phù điêu, họa tiết nhưng gần như đã bị mất hết

1.4.4 Tháp Mường Luân

Lịch sử

Tháp Mường Luân tên gọi khác là “Thát Mường Luân” nằm ở địa phận bản Mường Luân 1, xã Mường Luân, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Ngày 9/2/1981, Bộ Văn hóa - Thông tin có Quyết định số 10/QĐ-VH-

TT, xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp I cho tháp Mường Luân [40] Tương truyền vào năm 1569, Miến Điện xâm chiếm nước Lào, một số người dân vùng Thượng Lào đã lánh nạn sang các tỉnh biên giới của Việt Nam, trong đó

có Điện Biên Năm 1594 chiến tranh Miến - Lào kết thúc, một bộ phận người

Trang 29

Lào đã định cư lại Điện Biên Khoảng thời gian 1569 - 1594, người dân Lào tại đây đã xây tháp Mường Luân [2]

Kiến trúc

Quần thể kiến trúc của tháp trước đây theo theo mô tả bên phải toà tháp còn có một ngôi chùa được xây bằng gạch Trong chùa có 5 pho tượng, pho lớn nhất cao gần 1m, toạ ở chính tâm; bốn pho nhỏ ngồi bốn hướng đông - tây - nam - bắc [2] Hiện nay còn dấu tích của chùa xây trên gò đất cạnh tháp

và một phần tượng thần đã bị gẫy gắn trên diện nền phía tây của tháp (tư liệu điền dã tháng 11/2016) Tháp Mường Luân hiện tại (H38,39) được xây trên khoảnh sân rộng gần bờ sông Mã, cao 10,5m có phần dưới rộng và phần trên nhỏ dần, các phần khối có mặt cắt ngang hình vuông Tháp chia làm 3 phần chính: bệ tháp, thân tháp và ngọn tháp

Phần bệ tháp (H40,41,54) chiều rộng nhất 3,9m, cao 1,85 m được xây đặc, chia làm 7 phần khối, 3 phần khối có diện phẳng, ở các góc được uốn cong tạo hình giống mui thuyền Hai phần khối tiếp theo có các diện khối được uốn cong Xung quanh các diện khối của bệ tháp không trang trí phù điêu họa tiết

Phần thân tháp (H42) có chiều cao nhất 2,1m, độ rộng nhất 2,6m được chia làm 4 phần chính Phần 1 trên các diện khối có đắp nổi phù điêu, hoạ tiết cách điệu giống hình đầu voi Phần 2 được trang trí các dải phù điêu, họa tiết hoa văn nhỏ hình cánh hoa cúc, hình tràng hạt; các dải họa tiết là các họa tiết nhỏ được sắp xếp đối xứng với nhau và đắp nổi trên bề mặt các diện của khối Phần 3 các khối có dạng hình giống như một đài sen 4 cạnh, đài sen này nở dần hướng thiên Phần 4 các diện đứng của khối được trang trí phù điêu họa tiết hình hoa dây khá dày đặc, phía trên khối này có 3 tầng khối nhỏ được trang trí phù điêu gạch lung hình ngọn lửa, hình hoa chanh, hình lưỡi mác

Trang 30

Phần ngọn tháp (H43) có chiều cao 6,5m, độ rộng nhất 75cm được chia làm 2 phần lớn Phần 1 có dạng hình búp sen 4 cánh, các diện được trát phẳng uốn cong mềm mại, ở giữa phình to, hai đầu thu nhỏ Giữa hai phần khối ngọn tháp có một khối trung gian được gắn trang trí khá nhiều gạch lung hình ngọn lửa, hình hoa chanh,… Phần 2 của ngọn tháp được nối tiếp vào phần khối trung gian có dạng hình khối giống như phần 1 nhưng nhỏ và ngắn hơn Trên cùng là khối trung gian nhỏ nối tiếp vào ngọn tháp (phần ngọn này đã bị gẫy), khối này được trang trí phù điêu, họa tiết trí làm bằng gạch lung hình ngọn lửa, hình hoa chanh, hình lưỡi mác

Tiểu kết

Việc làm rõ các khái niệm cơ bản: nghệ thuật tạo hình, tháp, tháp cổ Phật giáo là tiền đề định hướng các nội dung nghiên cứu, đảm bảo đúng hướng và khoa học Các khái niệm đã thể hiện rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phật giáo là tôn giáo lớn, triết lý, nhân sinh quan của nó lan tỏa đến nhiều nền văn hóa ở nhiều quốc gia khu vực châu Á trong đó có Lào Phật giáo Tiểu thừa là hệ phái ảnh hưởng nhiều nhất ở Lào, tư tưởng và giáo lý của

nó chi phối căn bản đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của Lào Đặc điểm kiến trúc chùa tháp ở Lào mang âm hưởng của nghệ thuật kiến trúc chùa tháp Phật giáo tiểu thừa, có ảnh hưởng phong cách nghệ thuật Môn - Khme Trong quá trình tiếp thu các phong cách nghệ thuật này, người Lào đã thêm vào đó những yếu tố của văn hóa bản địa Tháp Phật giáo ở Lào ngoài những chức năng về tôn giáo nó còn chứa đựng nhiều ý nghĩa về tín ngưỡng dân gian

Người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề lịch sử, địa lý, đời sống cho thấy văn hóa dân tộc Lào vùng Tây Bắc có nguồn gốc từ Lào được biểu hiện qua nhiều lĩnh vực

Trang 31

văn hóa vật thể và phi vật thể Đặc biệt hệ thống kiến trúc nghệ thuật tháp cổ

là những biểu tượng văn hóa, nghệ thuật và tâm linh tiêu biểu của dân tộc Lào vùng Tây Bắc Kiến trúc nghệ thuật tháp cổ đã tạo ra sự khác biệt giữa nghệ thuật của dân tộc Lào với nghệ thuật của các dân tộc khác trong vùng Tháp

cổ người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam là công trình kiến trúc nghệ thuật mang phong cách nghệ thuật Phật giáo tiểu thừa, có nguồn gốc từ Lào Tháp được dân tộc Lào ở một số địa phương vùng Tây Bắc Việt Nam xây dựng từ trước thế kỷ XX Tháp là nơi thờ Phật đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng dân gian của dân tộc Lào nơi xây dựng Tháp

Trang 32

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH CÁC THÁP CỔ CỦA NGƯỜI LÀO VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM

2.1 Nghệ thuật chọn không gian, cảnh quan

Quan niệm về chọn không gian, cảnh quan

Nghệ thuật của người phương Đông và người phương Tây, ngoài những giá trị chung, sự tương đồng còn có những nét khác biệt Những nét khác biệt ấy được quy định bởi môi trường sinh sống, lịch sử xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo… Do vậy, tìm hiểu không gian nghệ thuật phương Đông và phương Tây sẽ thấy được quan niệm thẩm

mỹ, tư duy triết học ẩn chứa trong nội dung và hình thức của tác phẩm

Quan niệm về không gian nghệ thuật của phương Tây thường biểu hiện của lý trí, logic khoa học, sự sáng tạo không ngừng, khám phá tìm ra những quy luật, bản chất của thực tại và tìm cách nắm bắt chế ngự nó Không gian trong nghệ thuật Phương Tây thường mang giá trị sáng tạo của cá nhân ít tính phổ quát sáng tạo của cộng đồng, luôn tìm cách biến đổi và vận động không ngừng mang đến những giá trị nghệ thuật mới Khác với không gian của nghệ thuật phương Tây, không gian trong nghệ thuật phương Đông thường biểu hiện tính vĩnh cửu và tĩnh tại Nghệ thuật Phương Tây là sáng tạo, chân lý,

“chủ biệt”; nghệ thuật Phương Đông là ước lệ, tượng trưng và “chủ toàn”

Quan niệm về không gian trong kiến trúc chùa, tháp Phật giáo luôn coi trọng sự tĩnh tại, gần gũi, an nhiên, linh thiêng và đặc biệt là sự hài hòa khiêm nhường với vũ trụ và con người, vạn vật Có thể nói không gian chùa tháp Phật giáo luôn luôn giàu tính biểu cảm tôn giáo, huyền bí và đầy tính ẩn dụ

Chùa tháp Phật giáo nói chung, chùa tháp ở Lào nói riêng, nó vừa là trung tâm tôn giáo, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng

Trang 33

đồng dân cư Do vậy, chùa tháp ở Lào thường được xây dựng ở những vị trí cảnh quan đẹp nhất Người Lào chọn đất dựng chùa tháp trước hết ở nơi nào

là trung tâm của bản làng, không gian chọn xây dựng chùa tháp không lấy tinh thần vươn cao chế ngự không gian xung quanh mà luôn thấm nhuồn tư tưởng thẩm mỹ truyền thống của Phật giáo tìm đến sự hài hòa giữa công trình kiến trúc với môi trường cảnh quan xung quanh

Các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam thường được xây dựng ở nơi có cảnh quan đẹp, quan niệm chọn không gian cảnh quan phải gần khu dân cư sinh sống, một mặt của tháp hướng ra sông hoặc suối lớn, xung quanh có các dãy đồi hoặc núi, từ vị trí của tháp có thể bao quát toàn bộ khu vực dân cư sinh sống (H3,15,26,38) Ngoài ra, việc lựa chọn không gian xây dựng tháp phải chăng còn dựa vào tri thức dân gian trong việc chọn đất và xây dựng nhà ở của người Lào nói chung và một số dân tộc sinh sống bên các thung lũng có sông, suối vùng Tây Bắc Tri thức dân gian của người Thái và người Lào vùng Tây Bắc quan niệm xây cất nhà cửa nơi có phong thủy đẹp

đó là: “đầu gối đất, chân gối nước”, “trước mặt là hồ nước hoặc sông suối, sau lưng và hai bên có đồi cao…” nếu bản mường nào có địa thế đất như trên đó

là đất tốt mang lại sự bình an, thuận hòa, sung túc cho gia chủ và bản mường

Do vậy bản mường và nhà ở của người dân nơi đây thường hướng mặt chính

ra phía sông, suối

Do vậy, quan niệm về không gian trong việc xây dựng chùa tháp Phật giáo ở Lào và tri thức dân gian trong xây dựng bản mường của người Lào vùng Tây Bắc đã chi phối đến việc lựa chọn vị trí, cảnh quan các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam Không gian của các tháp dù là thiên tạo hay có phần cải tạo của con người vẫn phải luôn đảm bảo các yếu tố gần gũi, hài hòa, khiêm nhường với cảnh quan và vùng dân cư

Trang 34

Không gian, cảnh quan gắn với ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Đối với các chùa tháp của người Việt, khi chọn đất xây chùa người Việt thường rất quan tâm đến phong thủy, xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy: “Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt” Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái

Đó là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ), nước thì nên chảy quanh sang trái Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước Trước mặt có minh đường hay không có đều được [27] Chùa Phật giáo cũng khác với đền miếu Khổng giáo, Đạo giáo vì có tháp, gác chuông và cả nơi ở, tu tập của Tăng Ni lẫn nhà khách Bảo tháp làm đài kỷ niệm hoặc lưu trữ xá lợi và các di vật lễ bái Tháp đặt ở phía trước có nhiều tầng, xung quanh có đường chạy đàn (vừa tụng niệm vừa kinh hành) vòng quanh tháp Tháp mộ thì đặt tự do ở phía sau, gìn giữ tro cốt của nhà sư Công trình chùa luôn gắn bó hài hòa với cảnh quan bao quanh, bố cục cân xứng và thoáng mở, sắp xếp theo phương vị ngang, một số chùa có tháp là vươn cao, nhấn mạnh toàn khu thờ tự theo phương vị đứng, có thể nhìn thấy từ xa Trong không gian kiến trúc này, tháp thường được xây dựng sát ngay sau chùa, không gian được tạo nên bởi tổng thể các đơn nguyên kiến trúc của chùa Như vậy, trong chùa Việt Đại thừa tháp chỉ là một thành tố cấu thành và tồn tại trong cảnh sắc chung của chùa Đối với chùa tháp Lào vùng Tây Bắc, tháp gần như một công trình độc lập về không gian với chùa (tương truyền trước kia trong quần thể kiến trúc của các tháp đều có chùa: ở tháp Mường Bám trước đây có một ngôi chùa nhỏ cách tháp khoảng

50 - 70m; ở khu vực tháp Mường Và có 2 ngôi chùa, chùa thứ nhất cách tháp

Trang 35

50m, chùa thứ hai cách 1,5km; dấu tích còn lại ngôi chùa ở tháp Mường Luân

có quy mô nhỏ, cách tháp khoảng 30m; ngôi chùa ở tháp Chiềng Sơ theo tương truyền cách tháp khoảng 20 - 30m (H2) [2,3] Như vậy, hình dung một cách tổng thể không gian cảnh quan trước khi người ta xây dựng tháp và đối chiếu với chiều cao của các tháp hiện tại sẽ thấy tháp là biểu tượng nổi bật nhất trong tổng thể không gian và cảnh vật nơi xây dựng tháp Điều này cho thấy tháp là hiện thân của Phật, là thành tố chính hợp nhất với không gian tạo

sự hài hòa với cảnh sắc

Mỗi một tôn giáo bao giờ cũng tự xây dựng cho mình một hệ thống tư tưởng mà sở biểu của nó là hệ thống các biểu tượng tương ứng Phật giáo cũng vậy, ngoài việc xây dựng nên vũ trụ quan, tôn giáo này đồng thời cũng

đã dựng nên vô số các biểu tượng về thế giới Các biểu tượng của Phật giáo thường gắn với những không gian và có ý nghĩa nhất định nhằm chuyển tải ý nghĩa, giáo lý của Phật giáo Hệ thống tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam có một số đặc điểm chung đó là: tháp là nơi thờ Phật, hình ảnh của tháp là hình tượng của Phật, là biểu trưng của giáo lý Phật giáo hiện hữu trong đời sống của nhân dân Do vậy, vị trí xây dựng tháp thường trên địa hình là chân đồi cao so với mặt sông, suối, cánh đồng và khu vực dân cư sinh sống Tháp thường nằm ở khu vực có nhiều cây cổ thụ, mặt chính hướng về có sông hoặc suối lớn, mặt phía tây tựa lưng vào đồi; mặt phía bắc và nam có các dãy đồi hình cánh cung, trước mặt là núi hoặc đồi cao Điều này có lẽ không phải

do ngẫu nhiên mà cách chọn vị trí trên xuất phát từ quan niệm theo truyền thuyết của đạo Phật: khi Phật tổ thiền định 49 ngày ông đã chọn bờ sông bên núi Tu Di để hành định, sau 49 ngày Phật tổ giác ngộ ra chân lý Từ truyền thuyết trên nhiều chùa tháp Phật giáo ở Lào đã được xây dựng gần các con sông lớn như tháp Phu Si gần sông Mè nặm Khan, các tháp chùa Xiêng

Trang 36

Thoong nằm bên bờ sông Mè nặm Khỏng và cách bờ phía nam của sông Mè nặm Khan chừng 1km,…

Các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc thường được xây dựng ở trung tâm, ở vị trí trung tâm, đắc địa của một bản hoặc một mường lớn Điều này thuận tiện cho việc tổ chức giảng đạo, tổ chức các nghi lễ tôn giáo hay lễ hội của cư dân bản địa Tháp Mường Bám, Mường Luân, Chiềng Sơ thường chọn vị trí xây trên khu vực đất đủ rộng để tiện ích cho việc thực hành các nghi lễ tôn giáo hoặc tín ngưỡng (H3,16,26,38) Tại tháp Mường Và vào các ngày 23 - 26/3 hàng năm dân bản thường tổ chức lễ hội Xên mường tại khu vực dân cư cạnh chân tháp Đây là lễ hội cầu an là một lễ hội của người dân

và cũng là lễ cúng người lập nên bản mường, tưởng nhớ đến các vị thần linh

đã khai sáng ra mường, cầu mong cho dân bản được ấm no, hạnh phúc, mùa màng bội thu Tại tháp Mường Luân có các phong tục cúng tháp, hàng năm, trước tết âm lịch của người Kinh khoảng 5 ngày, thầy cúng sẽ chọn ngày tốt

để làm lễ cúng thần linh Ngày tốt được chọn nhất quyết không được trùng với ngày xấu theo lịch Thái - Lào cổ như: ngày sinh của thầy mo, ngày mừ hặp, mừ hoại, mừ hoạng (tên gọi ngày xấu của dân tộc Thái - Lào) Việc cúng tháp được thực hiện trong 3 ngày Thời gian diễn ra việc cúng tháp, người dân trong bản không được sát sinh, nếu ai không tuân thủ thì sẽ bị dân bản phạt trâu để làm lễ xá tội trước thần linh [2]

Không gian các tháp Lào vùng Tây Bắc Việt Nam được đặt không gian thực, đó là không gian của núi rừng, sông suối và cư dân nơi xây dựng tháp Giữa núi rừng tháp hiện nên khiêm nhường, tĩnh tại và linh thiêng Không gian của tháp không tạo cảm giác xa cách với con người, vạn vật Khi ở gần tháp con người cảm nhận được sự che chở và an lành

Không gian, cảnh quan hài hòa với điều kiện tự nhiên và vùng dân cư

Trang 37

Vị trí của các tháp Mường Bám, Chiềng Sơ, Mường Luân thường được xây dựng bên sườn đồi tự nhiên, gần sông suối; tháp Mường Và được xây trên một quả đồi do nhân dân tự xây đắp nên Từ vị trí xây dựng của các tháp có

đủ tầm mắt bao quát được cảnh quan và dân cư trong vùng Ngược lại từ vị trí của sông suối, vùng dân cư bản làng quanh đó cũng đủ tầm nhìn để thấy được hình ảnh của tháp Tháp thuộc quyền sở hữu của nhân dân trong phạm vi một bản hoặc một mường

Việc lựa chọn xây dựng tháp Lào vùng Tây Bắc đã được tính toán rất

kỹ về địa thế và địa chất Với đặc điểm địa hình rừng núi có độ dốc cao, khí hậu khắc nghiệt, địa hình rất dễ bị sói mòn và sụt lở nhưng vị trí địa hình các tháp hiện nay đã trải qua hàng trăm năm cơ bản không bị sụt lún, sạt lở Điều này có thể thấy rõ ở tháp Mường Bám, tháp Chiềng Sơ và đặc biệt tháp Mường Luân Tháp Mường Luân nằm sát bên bờ sông Mã trải qua hàng trăm năm mới hơi bị nghiêng và sạt nở một phần đất gần chân tháp (có nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ nguyên nhân cơ bản là do sự sói mòn của dòng chảy Sông Mã mỗi khi mùa mưa về đã ảnh hưởng đến địa chất dưới chân tháp) Khác với tháp Mường Luân, tháp Chiếng Sơ, tháp Mường Bám được xây dựng trên địa hình đồi đất tự nhiên, tháp Mường Và có đặc điểm được xây dựng trên một quả đồi nhân tạo cao 30m, từ vị trí của tháp bao quát được cảnh vật và bản làng quanh tháp (đây là trường hợp khác biệt về so với địa thế của

ba tháp kia) Không gian của tháp Mường Và có sự tham gia tôn tạo của con người, nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu chung về không gian của tháp, mặt phía đông hướng ra suối và cánh đồng, mặt phía tây, bắc, nam có các dãy đồi

tự nhiên tạo thành hình cánh cung bao quanh các mặt tây, bắc, nam của tháp (H15) Về mặt công năng kiến trúc, các công trình kiến trúc tháp luôn đảm bảo ở những vị trí cao, khô thoáng, thuận lợi cho việc đón ánh sáng, gió trời của công trình kiến trúc, thuận lợi trong việc bao quát cảnh quan, tổ chức sinh

Trang 38

hoạt, lao động, sản xuất và phù hợp với cảnh sắc không gian của núi rừng Tây Bắc Đồng thời tháp thường nằm ở vị trí đủ đón nhận ánh sáng, nhiệt lượng từ mặt trời làm cho kết cấu vật liệu của công trình không bị tác động nhiều bởi

độ ẩm của không khí Tháp Mường Và về địa thế diện tích không gian quanh tháp không lớn nhưng với vị trí trên đồi cao 30 m nên tháp luôn đón nhận đủ nhiệt lượng, ánh sáng giúp cho công trình bền vững với thời gian

Không gian, cảnh quan giàu tính thẩm mỹ

Mỗi một biểu tượng của Phật giáo đều được đặt trong một cảnh quan, không gian nhất định, phù hợp với vùng địa lý, dân cư và cảnh sắc thiên nhiên Chùa tháp và không gian cảnh quan có sự tương tác thẩm mỹ qua lại với nhau tạo nên giá trị công năng và thẩm mỹ của công trình

Không gian nơi xây dựng các tháp Lào vùng Tây Bắc được lựa chọn rất

kỹ lưỡng trước khi xây dựng Không gian bao giờ cũng hội đủ các yếu tố động - tĩnh, tự nhiên - nhân tạo, Phật - đời, hiện hữu - vô hình “tĩnh” là hệ thống ổn định của địa thế đồi núi và nội tại kết cấu công trình kiến trúc,

“động” là sự gợi liên tưởng chuyển động của các đường hướng cảnh vật xung quanh kiến trúc công trình (trục thẳng đứng, vững trãi vươn cao của tháp, đường cong tự nhiên đa dạng của hình dạng hệ thống núi đồi), sự chuyển động không ngừng nghỉ của dòng chảy, thanh âm bốn mùa của sông suối, sự vần vũ của không khí, hay đón nhận năng lượng từ ánh sáng của mặt trời và đặc biệt là thanh âm sự sống sôi động của con người và vạn vật; “tự nhiên” là những yếu tố sẵn có của thiên nhiên bao gồm địa hình đồi núi sông suối, hài hòa với đó là việc xây cất nhà cửa, công trình phục vụ nhu cầu đời sống, tín ngưỡng và tôn giáo của con người; “Phật - đời” ở đây là sự hiện hữu của tháp Phật giáo trong đời sống thường nhật của cư dân Chính vì vậy mà hàng năm, người dân bản địa vẫn tổ chức các nghi lễ tín ngưỡng truyền thống bên tháp

để cầu mong sự bình an, mùa màng tươi tốt đến với mọi người; “hiện hữu - vô

Trang 39

hình” con người, vạn vật, công trình tháp cổ, cảnh quan, sông suối,… là những hiện hữu hàng ngày nhưng bên cạnh đó có những cái vô hình như không khí, ánh sáng, gió trời, lòng thành kính tôn giáo, sự hướng thiện lan tỏa trong cuộc sống của cư dân dưới chân tháp cổ, đó là cái vô hình cùng tồn tại với cái hữu hình của vật chất (H3,15,26,38)

Trong không gian thiên tạo của núi rừng Tây Bắc, tháp là điểm kết nối giàu tính thẩm mỹ giữa mặt đất và bầu trời, giữa con người với các thần linh, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa các lớp xa gần, rộng hẹp, cao thấp của không gian, cảnh quan xung quanh tháp Hình ảnh của tháp hòa nhập vào không gian thông qua các nhịp phách của hình khối; hình dạng của tháp có sự chuyển tiếp giữa các phần hài hòa, không đột ngột, đứt quãng mà theo từng lớp, từng tầng, từng diện hướng dần lên cao và hòa nhập vào không gian Cấu trúc hình khối từ phần thân của tháp luôn thay đổi có tầng, có lớp, các phần thu nhỏ dần tiếp nối vào thân tháp; thân tháp thường đóng vai trò trung gian chuyển tiếp lên phần ngọn tháp, từ phần ngọn tháp các phần khối thu nhỏ dần, vút cao mềm mại vào không gian Từ vị trí của tháp nhìn ra không gian, cảnh quan hay ngược lại từ không gian, cảnh quan bên ngoài nhìn vào tháp cũng tạo cho ta cảm nhận được vô số các lớp lang của cảnh vật hiện hữu quanh tháp, đó các lớp lớn của bầu trời, đồi núi, lớp gần xa đa hình của tầng cây cối, sông suối Không gian của tháp còn là không gian màu sắc của thiên nhiên luôn biến đổi không ngừng sắc thái theo suốt bốn mùa (H4,16,27,39)

Không gian của các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc đã cho thấy được phần nào nghệ thuật lựa chọn không gian, cảnh quan của dân tộc Lào để xây dựng các công trình kiến trúc; không gian phù hợp với công năng, mang nhiều tính thẩm mỹ, phù hợp với địa thế và cảnh quan nơi xây dựng Không gian góp phần tăng tôn thêm vẻ đẹp cho tháp và tháp là điểm nhấn thẩm mỹ làm cho không gian có ý nghĩa trong đời sống của cư dân

Trang 40

2.2 Nghệ thuật tạo hình khối

Quan niệm về hình khối gắn với ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Cùng với việc truyền bá ảnh hưởng của Phật giáo và nghệ thuật Phật giáo đến các quốc gia khu vực châu Á, mỗi quốc gia, vùng miền có những cách tiếp thu và biến đổi nghệ thuật Phật giáo khác đi so với hình mẫu ban đầu Tháp Phật giáo Lào được tạo tác hình khối dựa trên cơ sở cấu trúc chung của tháp cổ Phật giáo Ấn Độ, có ảnh hưởng phong cách tranh trí Ấn Độ giáo Trong kiến trúc nghệ thuật của tháp biểu hiện biến đổi này rõ ở công năng, hình thức và ý nghĩa của giáo lý tôn giáo Do quan niệm lấy tháp Phật để thể hiện sự nhập Niếp bàn của Phật nên hình dáng tháp Lào thường mang biểu tượng của Phật Thạt Luổng ở Viêng Chăn (H48) là một ví dụ Đó là hình ảnh tượng trưng cho núi vũ trụ Mê Du (theo truyền thuyết của Bà-la-môn giáo Ấn

Độ, Mê Du là dãy núi thần thoại nơi trung tâm của vũ trụ, nơi cư trú của các thần linh) cùng với cấu trúc ba phần - biểu thị cho quan niệm của Phật giáo tiểu thừa về sự giải thoát con người ra khỏi ba loại khổ gắn liền với ba giới (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) nhằm đạt đến trạng thái vô tướng và siêu thế giới Ba vòng hồi lang của Thạt Luổng là hình ảnh của tam giới và khối trung tâm chính là siêu thế giới Không chỉ cấu trúc ba phần mà ngay cả khối thân hình bán cầu của Thạt Luổng phần nào gợi lại hình dáng tháp Sanchi (Ấn Độ) [25]

Các tháp cổ của người Lào vùng Tây Bắc qua tìm hiểu, đối chiếu với ý nghĩa của các tháp Phật giáo ở Lào, bước đầu có thể nhận định: tháp là biểu tượng của Phật, hình khối của tháp truyền tải giáo lý Phật giáo và tín ngưỡng dân gian của nhân dân bản địa gởi vào trong đó Hình dáng chung của các tháp thường chia làm ba phần: phần bệ tháp (H6,18,29,41) thường là khối có mặt cắt ngang hình vuông tượng trưng cho lý thuyết Tứ diệu đế của Phật giáo

Ngày đăng: 09/05/2018, 21:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm