Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp “Hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào” có mục đích để nghiên cứu lịch sử của các danh nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM
SOULISAK PHAITHO
HÌNH TƯỢNG CÁC DANH NHÂN
TRONG NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC
TƯỢNG ĐÀI TẠI LÀO
LUẬN VĂN THẠC SỸ MỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM
SOULISAK PHAITHO
HÌNH TƯỢNG CÁC DANH NHÂN
TRONG NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC
TƯỢNG ĐÀI TẠI LÀO
LUẬN VĂN THẠC SỸ MỸ THUẬT
Chuyên ngành: Mỹ thuật tạo hình (Điêu khắc)
Mã số : 60210102 Khóa : 18 (2015-2017)
Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS Nguyễn Xuân Thành
HÀ NỘI - 2017
Trang 3BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 CHDCND Lào : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
2 Cm : Xen ti mét
3 H : Hình
4 M : Mét
5 NXB : Nhà xuất bản
6 PGS : Phó giáo sư
7 Tr : Trang
8 TS : Tiến sĩ
Trang 4MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG CÁC DANH NHÂN TRONG ĐIÊU KHẮC TƯỢNG ĐÀI TẠI LÀO 8
1.1 Khái niệm “Hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài” 8
1.2 Sự hình thành và phát triển của điêu khắc tượng đài 8
1.3 Các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào 10
1.3.1 Các vị vua 10
1.3.2 Các vị lãnh tụ 16
Tiểu kết 26
CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ TẠO HÌNH HÌNH TƯỢNG CÁC DANH 27
NHÂN TRONG NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC TƯỢNG ĐÀI TẠI LÀO 27
2.1 Hình khối điêu khắc tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân 27
2.2 Không gian điêu khắc tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân 31
2.3 Nghệ thuật bố cục tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân 36
2.4 Chất cảm trong thể hiện hình tượng các danh nhân 39
Tiểu kết 45
Trang 5CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ VÀ ĐÓNG GÓP NGHỆ THUẬT CỦA TƯỢNG ĐÀI DANH NHÂN TRONG NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC TƯỢNG
ĐÀI 47
3.1 Giá trị nghệ thuật của các tượng đài danh nhân 47
3.2 Những đóng góp về nghệ thuật của tượng danh nhân 50
3.3 Bài học về sự sáng tạo 54
Tiểu kết 56
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 63
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Đất nước Lào trước đây được gọi là Vương quốc Lan Xang-mảnh đất triệu voi và sau khi giành được độc lập về cho đất nước đã tuyên bố trở thành đất nước CHDCND Lào (năm 1975)
Sau khi đất nước Lào giành được độc lập vào ngày mùng 2 tháng 12 năm1975, đã xây dựng tượng đài lịch sử, chính trị như: tượng đài vua PhaNgum, Chao A Nou Vong, Par Nha Si Khot Ta Bong, Ông Kay Son Phom Vi Han Các bức tượng được đặt tại thủ đô Viêng Chăn và các tỉnh trên cả nước
Tượng đài nhân vật lịch sử và các danh nhân Lào đầu tiên được xây dựng là vua Xay Xet Tha Thi Lath vào năm 1956 tại thủ đô Viêng Chăn Đến năm 1973 thì hai tượng đài vua Si Sa Vang Vong được xây dựng Sau khi xây xong thì bức thứ nhất được đặt tại ngã ba Si Mueang thủ đô Viêng Chăn, bức thứ hai đặt tại bảo tàng Hoàng cung Luang Pra Bang Năm 1992 tượng đài của chủ tịch Kay Son Phom Vi Han được xây dựngtại thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Sa Van Na Khet và tỉnh Hủa Phăn cùng với các bức tượng bán thân có ở tất cả các tỉnh trong cả nước Bắt đầu khởi công từ năm 2000 và hoàn thành vào năm 2003 tượng đài vua Pha Ngum được xây để kỉ niệm 650 năm ngày thành lập Vương Quốc Lan Xang Bảy năm sau đó, vào năm 2010 tượng đài vua A Nou Vong được xây dựng để kỉ niệm 450 năm ngày thành lập thủ đô Viêng Chăn [21, tr 298]
Người dân mọi tầng lớp trong xã hội đều tôn trọng và luôn ghi nhớ công
ơn của các danh nhân đã có công lao với đất nước như vua Xay Xet Tha Thi Lath, vào những ngày rằm mùng 5, mùng 8, 15 trong các tháng và ngày hội That Luang của năm, tất cả những dân tộc anh em tại Lào sẽ đến viếng ngài bằng những lễ vật như là hương, nến, hoa, khan ha, khan pet, mark beng và
Trang 7nhiều loại hoa quả Tượng đài kỉ niệm vị vua Pha Ngum cũng tiến hành các nghi lễ theo phong tục truyền thống đó Điều nổi bật nhất ở đây là cách tiến hành về mặt chính trị và tôn giáo như: vào ngày kỉ niệm thành lập tượng đài vua Pha Ngum tròn 5 năm, 10 năm sẽ tổ chức nghi lễ đặt Kong At Tha và Sai Bath, Yath Nam Nghi lễ vào ngày hội truyền thống bao giờ cũng có cách thức cầu nguyện như: đưa các vận động viên đến để cầu mong may mắn vào năm mà Lào là nước chủ nhà tổ chức seagame năm 2011 Hàng năm tượng đài Pha Nha Si Khot Ta Bong cũng diễn ra các nghi lễ tương tự Các ngày hội này được tổ chức rất long trọng và nhộn nhịp [21, tr.312 - 313] Ngoài các vị vua kể trên thì vua A Nou Vong cũng nhận được sự yêu mến và kính trọng từ người dân trên khắp cả nước Hiện nay Tượng đài vua A Nou Vong đã được
tu sửa trở thành nơi thăm quan du lịch của các vị khách trong và ngoài nước đến thăm thủ đô Viêng Chăn Những việc nghiên cứu về hình khối, hình đáng, nghệ thuật điêu khắc tượng đài ở Lào trong thời gian qua chưa được nghiên cứu đầy đủ
Chính vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp “Hình tượng
các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào” có mục đích
để nghiên cứu lịch sử của các danh nhân trong từng thời kì, nghiên cứu để cho thế hệ mai sau biết về lịch sử của các danh nhân và nghệ thuật điêu khắc tượng đài, để tưởng nhớ tới công lao vẻ vang tốt đẹp của các danh nhân đã từng chiến đấu và hy sinh xương máu và tính mạng của mình để giữ gìn bảo
vệ đất nước Lào Vì cuộc sống của nhân dân và vì độc lập tự do của đất nước cho đến nay và cho thế hệ mai sau nghiên cứu học tập, lấy đó làm gương và
áp dụng vào trong cuộc sống và công việc của mình để góp phần vào trong công cuộc giữ gìn và xây dựng phát triển đất nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tìm hiểu các nguồn tư liệu khác nhau Tôi xin liệt kê một số tác phẩm sách, báo, tài liệu có liên quan đến nghiên cứu
đề tài như sau:
Trang 8- Trong cuốn từ điển lịch sử và văn hóa Lào của PGS TS Nguyễn Lệ Thi (2012), có nói đến lịch sử, văn hóa, vua, lãnh tụ, nghệ thuật, kiến trúc,
- Trong cuốn lưu giữ phục hồi hình tượng tượng đài vua A Nou Vong của Bun Lerng Vern Vi La Vong (2014), có nêu rõ về từ bước phác thảo tượng cho đến bước đúc tượng và trang trí họa tiết hoa văn trên bệ của hình tượng tượng đài vua A Nou Vong năm 2010 [15, tr.10]
- Trong tạp chí để chất lượng cuộc sống tốt hơn UPDATE (2010),có nêu
rõ về mặt hình khối, hình dáng của tượng đài vua A Nou Vong và việc trang trí họa tiết hoa văn trên bệ hình tượng
- Trong Luận văn thạc sĩ của Si Som Say Kham Ma Ni Vong Sa (2016),
“Nghệ thuật điêu khắc của Boun Thanh Som Ma Ny” có nói đến nghệ thuật điêu khắc tượng đài, nghiên cứu sâu về mặt bố cục, không gian, chất liệu và
so sánh giữa điêu khắc tượng tròn và phù điêu của nhà điêu khắc
- Trong Luận văn tiến sĩ của My Sing Chan Bout Dy (2014), Trường Đại Học Khon Kaen, Thái Lan, đề tài tượng đài hình ảnh phản chiếu nét đặc trưng lịch sử chính trị và kết nối trong CHDCND Lào, có nói đến việc xây dựng tượng đài các danh nhân ở Lào và sơ yếu lí lịch của các vị vua trong từng thời
kì trong thời gian qua, cùng với chính sách của đảng và nhà nước đối với việc xây dựng tượng đài các danh nhân ở Lào Đây là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu luận văn của tôi
3 Mục đích của đề tài:
Đề tài luận văn nhằm tập hợp các nguồn tư liệu của các tác giả trước đây
đã viết về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử vua, lãnh tụ và công lao của các danh nhân tại Lào nói chung,đã nghiên cứu đến hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào Luận văn tập trung nghiên cứu về hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài Trên cơ sở nghiên cứu luận văn nhằm xác định giá trị của hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài Qua đó thấy được giá trị nghệ thuật điêu khắc tượng đài Từ đó góp phần bảo tồn, phát huy, giá trị nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào Tập trung chủ yếu vào tượng đài danh nhân
+ Phạm vi thời gian: từ năm 1956 - 2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đúng mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật học, mỹ học kết hợp với các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp này sử dụng để thu thập các tài liệu từ nhiều nguồn như sách báo, tạp chí, điền dã, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn, quan sát…
- Phương pháp hệ thống hóa: Hệ thống hóa đầy đủ các tư liệu nghiên cứu có liên quan đến hình tượng danh nhân, nghệ thuật điêu khắc tượng đài
- Phương pháp mỹ thuật học: Dựa vào hệ thống các kiến thức mỹ thuật học
về đường nét, màu sắc, hình khối không gian,…để xem xét phân tích đối chứng cụ thể từng công trình, tác phẩm và nghệ thuật điêu khắc trong tượng đài
- Phương pháp so sánh: So sánh về hình tượng, phong cách của nghệ thuật điều khắc tượng đài với các hình tượng khác tại Lào
- Phương pháp điền dã: Phương pháp này sử dụng để xem xét, đo đạc và ghi lại
- Phương pháp phỏng vấn: Ghi chép trực tiếp lại những kiến thức, những thông tin có được từ những người dân bản địa trong quá trình đi điền dã lấy tư liệu
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để phân tích dữ liệu, hình tượng danh
nhân trong điêu khắc tượng đài, để làm rõ giá trị nghệ thuật điêu khắc tượng
đài tại Lào
Trang 106 Đóng góp của luận văn:
Luận văn là sự tập hợp hệ thống các nguồn tư liệu từ văn bia, nghệ thuật của tác giả trước cùng với sự nghiên cứu riêng của mình sẽ đưa ra những tư liệu tổng hợp, giới thiệu đầy đủ về lịch sử, điêu khắc của hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào
Phát hiện ra những nét đặc trưng, nét văn hóa đặc sắc của hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào Nhằm giới thiệu, nét đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc tượng đài với nhân dân trong nước và nước ngoài
Luận văn không chỉ là tư liệu nghiên cứu giúp cho học viên chuyên ngành tạo hình hiểu hơn giá trị nghệ thuật, văn hóa, lịch sử của hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào mà còn là nguồn
tư liệu quý giá cho các sáng tác sau này cả về tư liệu và ý tưởng nghệ thuật
Đề tài và nội dung luận văn sẽ giúp cho ngành điêu khắc, nghệ thuật có
cơ sở khoa học để bảo tồn, phát huy nghệ thuật điêu khắc của hình tượng các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài của đất nước và phục vụ cho ngành du lịch và sẽ rất có lợi cho đường lối về khuyến khích việc xậy dựng các tượng đài có liên quan đến lịch sử và chính trị của CHDCND Lào để tiếp tục phát triển
7 Kết cấu của luận văn:
Luận văn có 76 trang, trong đó phần mở đầu có 5 trang, kết luận có 2 trang, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quát chung về hình tượng các danh nhân trong
nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào (18 trang)
Chương 2: Ngôn ngữ tạo hình hình tượng các danh nhân trong nghệ
thuật điêu khắc tượng đài tại Lào (19 trang)
trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài Lào (10 trang) Ngoài ra, luận văn còn tài liệu tham khảo 2 trang, phụ lục ảnh minh họa
12 trang
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ HÌNH TƯỢNG CÁC DANH NHÂN TRONG ĐIÊU KHẮC TƯỢNG ĐÀI TẠI LÀO
1.1 Khái niệm “Hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài”
Danh nhân là người có tiếng tăm lững lẫy trong lịch sử thế giới nói chung, Lào nói riêng, có cống hiến lớn lao cho đất nước, được lịch sử, dân tộc biết đến, ghi nhận và đánh giá cao, danh nhân lịch sử là khái niệm chỉ các cá nhân tài năng và đức độ mà sự nghiệp hoạt động có tầm ảnh hưởng sâu rộng
và quan trọng đến lịch sử phát triển của một dân tộc, được cộng đồng dân tộc thừa nhận, khâm phục và tôn vinh, danh nhân cách mạng là khái niệm tôn vinh các cá nhân tài năng - đức độ có sự nghiệp hoạt động cách mạng nổi tiếng, các lãnh tụ có đóng góp to lớn và xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại tự do cho nhân dân, được cả dân tộc khâm phục, thừa nhận và biết ơn
Tượng danh nhân đó là di vật mỹ thuật ghi lại niên đại của hình tượng nhân vật lịch sử điển hình, thông qua những sáng tác ở đương thời hoặc sau đó Tượng đài là một công trình kiến trúc văn hoá đẹp, nhằm tôn vinh các vị vua các vị lãnh tụ và là công trình nghệ thuật gồm một hoặc nhiều bức tượng, được xây dựng ở nơi công cộng ngoài trời để kỷ niệm những sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có công với nước
1.2 Sự hình thành và phát triển của điêu khắc tượng đài
Tượng đài nhân vật lịch sử và các danh nhân Lào đầu tiên được xây dựng là vua Xay Xet Tha Thi Lath vào năm 1956 tại thủ đô Viêng Chăn Đến năm 1973 thì hai tượng đài vua Si Sa Vang Vong được xây dựng Sau khi xây xong thì bức thứ nhất được đặt tại ngã ba Si Mueang thủ đô Viêng Chăn, bức
Trang 12thứ hai đặt tại bảo tàng Hoàng cung Luang Pra Bang Năm 1992 tượng đài của chủ tịch Kay Son Phom Vi Han được xây dựng tại thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Sa Van Na Khet và tỉnh Hủa Phăn cùng với các bức tượng bán thân có ở tất cả các tỉnh trong cả nước Bắt đầu khởi công từ năm 2000 và hoàn thành vào năm 2003 tượng đài vua Pha Ngum được xây để kỉ niệm 650 năm ngày thành lập Vương quốc Lan Xang Bảy năm sau đó, vào năm 2010 tượng đài vua A Nou Vong được xây dựng để kỉ niệm 450 năm ngày thành lập thủ đô Viêng Chăn
Người dân mọi tầng lớp trong xã hội đều tôn trọng và luôn ghi nhớ công
ơn của các danh nhân đã có công lao với đất nước như vua Xay Xet Tha Thi Lath, vào những ngày rằm mùng 5, mùng 8, 15 trong các tháng và ngày hội That Luang của năm, tất cả những dân tộc anh em tại Lào sẽ đến viếng ngài bằng những lễ vật như là hương, nến, hoa, khan ha, khan pet, mark beng và nhiều loại hoa quả Tượng đài kỉ niệm vị vua Pha Ngum cũng tiến hành các nghi lễ theo phong tục truyền thống đó Điều nổi bật nhất ở đây là cách tiến hành về mặt chính trị và tôn giáo như: vào ngày kỉ niệm thành lập tượng đài vua Pha Ngum tròn 5 năm, 10 năm sẽ tổ chức nghi lễ đặt Kong At Tha và Sai Bath, Yath Nam Nghi lễ vào ngày hội truyền thống bao giờ cũng có cách thức cầu nguyện như: đưa các vận động viên đến để cầu mong may mắn vào năm mà Lào là nước chủ nhà tổ chức Seagame năm 2011.Hàng năm tượng đài Pha Nha Si Khot Ta Bong cũng diễn ra các nghi lễ tương tự Các ngày hội này được tổ chức rất long trọng và nhộn nhịp Ngoài các vị vua kể trên thì vua
A Nou Vong cũng nhận được sự yêu mến và kính trọng từ người dân trên khắp cả nước Hiện nay Tượng đài vua A Nou Vong đã được tu sửa trở thành nơi thăm quan du lịch của các vị khách trong và ngoài nước đến thăm thủ đô Viêng Chăn
Trang 131.3 Các danh nhân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài tại Lào
1.3.1 Các vị vua
Vua Chao Xay Xet Tha Thi Lath [H.1, tr 64] vị Vua Lào Lạn Xạng, ông có
công dời đô từ Luangphabang về Viêng Chăn Chao Xay Xet Tha Thi Lath lên ngôi tại Xiêng Mày khi mới 14 tuổi và chỉ trị vì ở đó có 2 năm thì được tin vua cha mất Ông bèn giao lại quyền cai trị Xiêng Mày cho hoàng gia ở đây và trở về Xiêng Thong chịu tang cha Ông được đưa lên ngôi năm 1550 Về danh nghĩa, Chao Xay Xet Tha Thi Lath làm vua cả hai mường Xiêng Thong và Xiêng Mày Vừa lên nhôi, nhà vua đã chấn chỉnh các địa pương trong nước, đưa người thân tín đi cai trị một số mường xa không yên tĩnh Ông đặc biệt quan tâm đến Viêng Chăn và đã cho phạnha Chănthạbuli đi cai trị Viêng Chăn
Năm 1555, được tin Chao Mêcuti ở Xiêng Mày lộng quyền, vua Xay Xet Tha Thi Lath đã đưa quân đội đi đánh mường Xiêng Mày để lập lại trật tự Khi quân đội Lào Lạn Xạng mới đến Xiêng Xẻn thì Chao Mêcuti đã cầu cứu vua Burengnoong của Myanma Quân đội Myanma đã vào và chiếm được Xiêng Mày Từ đó, Xiêng Mày chịu sự đô hộ của Myanma
Năm 1556, Chao Xay Xet Tha Thi Lath đã cho dời đô từ Xiêng Thong
về Viêng Chăn Ông đã cho xây dựng các lâu đài cung điện ở Viêng Chăn Ông cũng cho xây dựng thành lũy kiên cố quanh thủ đô để đề phòng kẻ thù xâm lược, bảo vệ thủ đô Đạo phật phát triển mạnh trong thời trị vì của Xay Xet Tha Thi Lath Ông cung là người xây dựng nhiều chùa tháp ở Viêng Chăn
và các vùng khác trên cả nước như That Luang, Ho Pha Keo, Vat Ông Tự, That Phạ Nôm, That Xỉkhốttạboong
Trong thời kì trị vì của minh, Xay Xet Tha Thi Lath đã hai lãnh đạo nhân dân Lào đánh tan hai cuộc tấn công của phong kiến Myanma Lần thứ nhất vào năm 1563, khi Xay Xet Tha Thi Lath đưa quân đội đi đón công chúa Xỉ Ayutthaya thì bất ngờ quân Myanma tấn công Viêng Chăn Nhà vua vội quay
Trang 14trở về thì quân Myanma đã bỏ chạy khỏi thủ đô Lần thứ hai vào năm 1570, sau khi đã đánh thắng Xỉ Ayutthaya, quân Myanma một lần nữa tấn công Lào Lạn Xạng Bấy giờ Phạnha Xẻnxụlin là bố vợ Xay Xet Tha Thi Lath, là một người có tài chỉ huy quân sự đã cố vấn cho nhà vua đưa nhân dân Viêng Chăn
đi tản cư, bỏ lại thành phố vườn không nhà trống, quân Myanma vào Viêng Chăn nhưng không có lương thực bèn rút về
Xay Xet Tha Thi Lath mất năm 48 tuổi khi đang rong ruổi chinh chiến ở mường Ông Can mà ngày nay người ta cũng chưa xác định rõ ông chết ở vùng nào ở mường này
Là một vị vua có tài thao lược, Xay Xet Tha Thi Lath đã xây dựng đất nước hùng mạnh, chống được thù trong giặc ngoài Lào Lạn Xạng ngày càng hưng thịnh [1, Tr 110-111]
Vua Si Sa Vang Vong [H.2, tr 65] sinh ra tại Luang Pra Bang Cha của
ông là Zakarine, Quốc vương Luang Pra Bang và mẹ là vương hậu Thongsy Ông kế vị ngôi vị quốc vương Luang Pra Bang sau cái chết của cha vào ngày
25 tháng 3 năm 1904 Luang PraBang là một vùng bảo hộ của Pháp thuộc Liên bang Đông Dương Ông kế thừa ngôi vị tại Cung điện vương gia
cũ ở Luang Pra Bang vào ngày 15 tháng 4 năm 1904
Tượng đài vua SiSaVangVong Nằm ở đằng trước của cung họp Phu Xi, vừa là sân khẩu biểu hiện múa Nang Keo,tượng đài quay mặt đi thẳng cung Pra Bang Nếu vào cửa đằng trước của hoàng cung tượng đài sẽ ở bên tay trái tại hoàng cung Luang Pra Bang, phái Đông giáp với đường SiSaVangVong và Phu Xi (núi),phái Tây giáp với đường ZakarinevàTaLathSau (chợ)[21, Tr 215]
Vua Chao Pha Ngum [H.3, tr 66] là vị vua thống nhất đất nước Lào
Năm 1316 là năm Chao Pha Nghiễu làm vua ở kinh đô Xieng Thong và sinh con trai là Chao Pha Ngum Thất Chao Pha Ngum có tướng mạo thông minh nhưng hơi dị thường, mới sinh ra đã có đủ 32 chiếc răng Các quan trong triều
Trang 15cho rằng , đó là điềm có hại cho đất nước vì vậy phải đi khỏi đất nước Chao Pha Nghiễu và các quan trong triều bèn cho làm một chiếc bè để cho Chao Pha Ngum và một số người đi theo cho trôi xuôi theo dòng sông Mè nặm khoỏng Bè của Chao Pha Ngum trôi một sau thì đến thác Li Phỉ Một ông sư Khơ Me tên là Phạmạhả Pạxạmăn đã đưa Chao Pha Ngum lên chùa của minh
để nuôi dạy Đến khi 6 tuổi, Chao Pha Ngum đước nhà sư cho đưa vào nuôi trong triều đình Khơ Me
Ở trong triều học tập, Chao Pha Ngum càng lớn càng tỏ ra thông minh và có tài hơi người Khi đến tuổi trưởng thành, Chao Pha Ngum được vua Khơ Me gả công chúa là Nang KẹokêngNha cho để tạo mối quan hệ với Lào Lạn Xạng Đây là thời kì mà vương quốc Ayutthaya của người Thái đã hùng mạnh và đã
có những cuộc tấn công xâm lấn những vùng đất của Khơ Me và tấn công kinh
đô Ăng Co của người Khơ Me Về phía bắc, người Myanma cũng thường tấn công vào các vùng vốn là thuộc quốc của Khơ Me trước đây Chao Pha Ngum
đã trở thành một vị tướng tài trong quân đội Khơ Me, đã giành thắng lợi nhiều lần trước quân đội Myanma và quân đội Xiêm Chao Pha Ngum đã ở Khơ Me cho đến năm 33 tuổi mới tìm đường quay trở về Lào Lạn Xạng
Năm 1343, Chao Pha Nghiễu là cha của Chao Pha Ngum ở kinh đô Xieng Thong qua đời Chao Pha Khămhiêu (chú của Chao Pha Ngum) lên thay Tin đó khiến cho Chao Pha Ngum vô cùng tức giận Ông đã xin với vua Khơ Me cho đem quân đội về giành lại vương quốc Lào Lạn Xạng
Vào năm 1349, Chao Pha Ngum cùng vợ là Nang KẹokêngNha đưa quân đội trước tiên đánh vào mường Pạc Cốp (sông Nặm Xi thuộc tỉnh U Bôn) rồi đánh chiếm mường Kạ Bong, mường Phạnhaxạmnăng và nhiều mường khác Sau đó, quân đội Chao Pha Ngum tiến đánh mường Viêng (Pạc Nặm Hỉn Bun), mường Pạckạđing đều giành thắng lợi rồi Chao Pha Ngum tiến đánh mường Phuôn- Xiêng Khoảng
Trang 16Chao Pha Ngum cũng phân chia biên giới với Đại Việt chủ yếu dựa vào sông núi và đặc điểm cư trú của dân Ví dụ: người ở nhà sàn thì thuộc dân Lào và ở nhà đất thì thuộc dân Việt,nước mưa chảy về đất Lào thì thuộc Lào, chảy về đất Việt thì thuộc Việt
Chao Pha Ngum tiếp tục tiến quân đánh các mường phía bắc như: mường Thẻn, mường Xay, mường Lày, mường Qoạng, mường Xìng Thạo, mường Hum, mường Vạt và tiến đến vùng Pạc U
Bấy giời tại Xiêng Thong, Chao Pha Khămhiêu vô cùng lo sợ nên đã bỏ trốn Các quan trong triều bèn đến gặp và xin Chao Pha Ngum về Xiêng Thong lên ngôi Chao Pha Ngum lên ngôi ở Xiêng Thong vào năm 1453, năm đó ông 37 tuổi
Một năm sau, Chao Pha Ngum lại đưa quân đi chinh phục các mường khác như: Xiêng Khoảng, Khốc Hằm, Xiêng Tộn, mường Phả, mường Phụa, mường Phu Khun, mường Theng, mường Pạc Thà Chao Pha Ngum cũng đưa quân đến biên giới hai mường Lạn Na và Xiêng Xẻn và phân chia biên giới với hai mường nói trên
Năm 1356, Chao Pha Ngum đưa quân đánh Viêng Chăn và Viêng Khăm Sau khi chiếm được Viêng Chăn, Chao Pha Ngum tiến đánh Viêng Khăm khó khăn nhất trong các trận chiến của Chao Pha Ngum nhưng ông dùng mưu kế nên đã chinh phục được Viêng Khăm
Khi ấy, các mường Thái có tên gọi như sau:
- Vương Quốc Lào gọi là Lạn Xạng (triệu voi)
- Vùng Xiêng Mày gọi là Lạn Na (triệu cánh đồng)
- Kung Xỉ Ayutthaya gọi là Lạn Phịa (triệu vựa lúa)
Năm 1351, Chao Pha Ngum đã đem quân đánh các mường của Lạn Phịa như Hõi Ết, Phạ Xạt, Phạ La Khiển, Phạ Ling, Phạ Nạ Lai, Phôn Phing Đẹt và nhiều mường khác rồi gửi thư khiêu chiến đến Chao Ù Thong là vua Lạn Phịa
Trang 17Chao Ù Thong vô cùng hoảng sợ đã gửi tặng Chao Pha Ngum 51 con voi cái, 50 con voi đực, vàng 2 vạn, bạc 2 vạn, sừng tê và nhiều thứ quý giá khác
Chao Pha Ngum trở về Viêng Chăn và 7 ngày 7 đêm làm lễ khao quân mừng thắng lợi Sau đó ông trị vì ở triều đình Xiêng Thong đến năm 1371 [1, Tr 101-103]
Vua Chao A Nou Vong[H.4, tr 67] là vị Vua của vương quốc Lạn Xạng
Chao A Nou Vong được lên ngôi vua Viêng Chăn vào năm 1804 Bấy giờ vương quốc Lào Lạn Xạng vẫn là thuộc địa của Xiêm nhưng vốn là người có công trong việc giúp Xiêm đánh Myanma nên Chao A Nou Vong được vua Xiêm Rama II yêu quý Sống trong một đất nước nô lệ nên Chao A Nou Vong luôn nuôi chí lớn là đánh đuổi quân Xiêm giành lại nền thống nhất cho Lào Lạn Xạng Vừa lên ngôi, Chao A Nou Vong đã cho xây dựng Viêng Chăn Thành một mường thịnh vượng Để cho nền kinh tế phát triển, nhiều cây cầu được xây dựng bắc trên sông Mè nặmkhoỏng làm đường đi lại giao thương của nhân dân được thuận lợi hơn trước
Những cây cầu đó sẽ phục vụ cho việc chuyển quân của Lào Lạn Xạng sau này Nhà vua đã cho xây dựng chùa Xỉxakệt ở nội thành Viêng Chăn năm
1818 Ngôi chùa này là nơi một năm hai lần các Chao mường địa phương về tuyên theejtrung thành với nhà vua Năm 1821, Chao A Nou Vong xin vua Xiêm cho con trai mình là Latxabút Dỗ lên ngôi ở Chămpaxắc thay cho vua
cũ vừa chết ở Băng Kốc Latxabút Dỗ cũng xây dựng Chămpaxắc thành một mường thịnh vượng
Năm 1825, vua Xiêm Rama II qua đời Là một nước thần thuộc, Chao A Nou Vong phải dẫn đầu một phái đoàn sang dự lễ tang Trước khi về nước, Chao A Nou Vong đã xin yết kiến vua Xiêm Rama III và xin nhà vua một số đặc ân Nhưng vua Xiêm đã bác bỏ hết mọi yêu cầu của Chao A Nou Vong Điều đó đã khiến Chao A Nou Vong vô cùng phẫn uất và là những lí do trực tiếp khiến Chao A Nou Vong quyết định nổi dạy
Trang 18Sau khi đã chuẩn bị lực lượng và có những cuộc họp nhằm liên minh các mường Lào, vua A Nou Vong quyết định xuất quân vào một ngày lành của đầu năm 1827 Trên đường tiến vào đất Xiêm, quân đội của vua Chao A Nou Vong đã giành một số thằng lợi Tháng 3 năm 1827, quân đội Xiêm đã chuẩn
bị được lực lượng và phản công, Chao A Nou Vong cùng gia quyến phải trốn sang Nghệ An của Đại Việt
Chao A Nou Vong khi đến Nghệ An đầu tiên ở Lạc Hoàn Tam Động rồi sai ngươì cầu cứu triều đình nhà Nguyễn Triều đình nhà Nguyễn đã sai quân
đi bảo vệ cho Chao A Nou Vongvà sau vài tháng ở Tam Động, Chao A Nou Vong được đưa đến trấn thành Nghệ An Trong thời gian gần một năm Chao
A Nou Vong ở Nghệ An, triều đình nhà Nguyễn một mặt thương lượng với quân Xiêm để cho Chao A Nou Vong được về nước yên ổn, một mặt bảo vệ biên cương khỏi sự xâm lấn của quân Xiêm Có được sự thỏa thuận giữa quân Xiêm và triều đình nhà Nguyễn, tháng 5 năm 1828,Chao A Nou Vong được quan kinh lược đại thần của triều Nguyễn hộ tống về nước
Quan quân triều Nguyễn về nước ngày 1 tháng 9 năm 1828, thì ngày mồng 2 tháng 9 năm 1828, Chao A Nou Vong và các quần thần do căm phẫn
vì những hành động tàn phá Viêng Chăn của người Xiêm, đẫ bất ngờ tấn công quân Xiêm ở Viêng Chăn và Noỏng khai Quân Xiêm sau choáng váng ban đầu,đã tập hợp lại và phản công Bị nhất bại, một lần nữa Chao A Nou Vong cùng gia quyến lại chạy sang Đại Việt Nhưng mới đến mường Phuôn thì Chao A Nou Vong cùng gia quyến đã bị Chao Nọi mường Phuôn bắt và đưa sang Xiêm Ông bị xử tử tại Xiêm sau 8 ngày bị hành hạ, tra tấn dã man Ông mất khoảng cuối tháng 2 năm 1829 tại Băng Kốc[1, Tr 93-95]
Trang 191.3.2 Các vị lãnh tụ
Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr.68] làm chủ tịch Đảng, chủ tịch nước, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Lào Quê ở bản Na Xeng, huyện Khănthảbuli, tỉnh Sạvẳnnakhệt Bố là Nai Luân làm công chức (gốc Việt), mẹ là nang Đốc (người Lào) Thời trẻ, học trường Trung học Bảo hộ (Lycée Protectorat) và Đại học Luật ở Hà Nội (Việt Nam) Năm 1942, hoạt động trong phong trào sinh viên chống Pháp, Nhật ở Việt Nam Mùa thu 1945, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Sạvẳnnạkhệt Từ tháng 3 đến tháng 12/1946, tham gia công tác trong Ban liên lạc Lào - Việt, đóng trụ sở tại phố Bà Triệu, Hà Nội, nhằm tập hợp Lào kiều thành đoàn thể cứu quốc của người Lào Đầu năm
1947, công tác tại cơ quan tuyên truyền khu 12 phía bắc Việt Nam Đầu năm
1948, gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp, tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam tại Việt Bắc để bàn công việc kháng chiến chống Pháp Tháng 5/1948, nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng "Ban xung phong Lào Bắc" và bắt tay xây dụng khu du kích Hủa Phăn, thành lập đội vũ trang Látxavông Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 6/1/1949 và ngày 20/1/1949, chủ tri lễ thành lập Quân đội Itxala (Quân đội Tự do Lào), tiền thân của Quân đội Nhân dân Lào sau này) Tại đơn vị Látxavông (mường Xiềng Khọ, tỉnh Hùa Phăn), ông được cử làm tổng chỉ huy Tháng 8/1950, tại Đại hội quốc dân Lào, ông được cử vào ủy ban Trung ương Mặt trận Lào Itxala, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Kháng chiến Lào do Hoàng thân Xuphanuvông làm thủ tướng Tháng 2/1951, Kayxỏn Phômvihản dẫn đầu đoàn đại biểu Lào tham dự Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Bắc Ngày 22/3/1955, chủ trì Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào, được cử làm bí thư Ban chi đạo Trang ương; tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng qua ba Đại hội II (1972), III (1982) và IV(1986); chủ tịch Đảng (kể từ Đại hội V, 1991) Tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (ngày 1 và 2/12/1975), ở thủ
Trang 20đô Viêng Chăn, ông trình bày bàn báo cáo quan trọng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và được bầu làm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tại Đại hội Đảng IV (tháng 11/1986), tổng bí thư Kayxỏn Phômvihản phát động công cuộc đổi mới toàn diện ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với việc vận dụng sáng tạo cơ chế kinh tế mới (NEM) vào thực tiễn cụ thể cùa Lào Tháng 8/1991, được Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào bầu làm Chủ tịch nước Trong diễn văn nhậm chức, ông khẳng định "chủ nghĩa xã hội không phải là mục tiêu trực tiếp mà là mục tiêu lâu dài của nước Lào" Ồng và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào là người đề xuất và thực hiện sáng tạo con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa
xã hội ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Là một nhà yêu nước nhiệt thành, một chiến sĩ cách mạng chân chính, một nhà hoạt động lý luận và thực tiễn tài ba, người phát kiến và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện và có nguyên tắc của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Kayxỏn Phômvihản được tôn vinh là vị anh hùng của dân tộc Lào Ông là một trong những lãnh đạo tối cao Lào có cống hiến quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển liên minh chiến đấu, quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa nhân đến hai nước Lào và Việt Nam Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Sao Vàng (1981), Huân chương Hồ Chí Minh (1990) Cũng như các vị lãnh đạo cách mạng Lào khác, Kayxỏn Phômvihản là những người
do lịch sử tạo ra, được nhân dân chọn làm lãnh tụ [1, Tr 199-201]
Ông Pha Nha Si Khọt Ta Bong [H.6, tr.69] là một nhà lãnh tụ, trong thời
điểm Viêng chăn xảy ra biến cố lớn vì những con voi rừng đến quậy phá làm hỏng hoa màu cho đến nhà cửa ruộng vườn của người dân Vì thế trưởng huyện Viêng chăn đã ra lệnh tìm người để tiêu diệt voi nếu ai có thể tiêu diệt được voi sẽ được ban thưởng làm phò mã của đức vua Sikhod một người có
Trang 21vũ khí đặc biệt là cây gậy Kabongphet là một anh chàng dũng cảm có khả năng đặc biệt hơn so với người khác đã tự nguyện xin đi tiêu diệt những con voi hung dữ đó Vì vậy, sau khi đã giết được voi, vua đã dâng con gái mình là công chúa Hieu Khom The Vi cho Pha Nha Si Khọt Ta Bong và xây dựng một lâu đài đá làm nơi ở cho 2 người Về sau, vì sợ Pha Nha Si Khọt Ta Bong tranh dành ngôi vị với mình nên người đã lập ra kế hoạch để tiêu diệt Pha Nha
Si Khọt Ta Bong nhưng đã thất bại,vì dao không thể đâm xuyên qua da thịt của Pha Nha Si Khọt Ta Bong làm cho anh không thể chế Khi không thành công người lại bầy ra kế mới để móc thông tin từ con gái mình rằng: vì sao Pha Nha Si Khọt Ta Bong lại giỏi và không chết được Không biết điệu hổ li sơn của người làm bố nên cô đã đi hỏi chồng mình là tại sao anh lại giỏi và không chết Vì không biết hiểm họa sẽ đến với mình sau này và vì quá yêu thương tin tưởng vợ nên Pha Nha Si Khọt Ta Bong đã kể với người vợ về thời
mà mình từng đi tu làm sư tiểu cho người vợ nghe Anh có sức một sức mạnh phi thường nên có thể tiêu diệt được những con voi hung dữ Ngày xưa trong một lần đi dâng cơm cúng cho sư thầy anh đã lấy một cành cây khuấy bát cơm lên làm cho cơm thành màu đen nên bị sư thầy chừng phạt bằng cách bảo
sư tiểu Pha Nha Si Khọt Ta Bong ăn hết nồi cơm đó một mình Sau khi ăn hết nồi cơm đặc biệt đã đó tự nhiên sư tiểu Pha Nha Si Khọt Ta Bong lại có một sức mạnh phi thường làm thể nào cũng không thể chém vào da thịt người bằng dao kiếm nên người vợ đã hỏi là làm thế nào mới có thể làm cho anh chết được Anh Sikhod không nghĩ là vợ mình có thể ra tay giết mình nên đã trả lời vợ rằng là: lỗ cũ (lỗ đạt tràng) sau đó sẽ chết Sau khi nghe xong câu chuyện của chồng mình cô đã mang tất cả câu chuyện đi kể cho người cha nghe và ngay sau đó người đã lập ra kế mới để giết Pha Nha Si Khọt Ta Bong bằng cách mời Pha Nha Si Khọt Ta Bong đến dự bữa tiệc ăn mừng tại cung điện của mình và ngaygần đó ngài đã dựng một nhà vệ sinh Trong căn nhà vệ
Trang 22sinh ấy ngài đã cài bẫy sẵn trong bồn cầu sau khi ăn xong thì Pha Nha Si Khọt
Ta Bong đã đi vào nhà vệ sinh và lúc đó đã xập vào bẫy được cài đặt sẵn tại đó Nên làm cho những thanh que nhọn từ phía dưới đâm vào lỗ đại tràng nhưng lại không chết theo kế hoạch đã đựơc cài sẵn Ngay lúc đó, Pha Nha Si Khọt Ta Bong đã nhận ra là mình đã thua phụ nữ rồi nên người quyết định rời
về kinh đô Pha Nha Si Khọt Ta Bong trước khi chết người đã nguyền rủa Viêng Chăn là: phải thịnh vượng như voi gập tai, lè lười như rắn vì người Viêng Chăn không có tâm đức đã giúp giết voi mà còn có thể ra tay giếtngười có ơn với mình [34]
Ông SouPhaNouVong [H.7, tr.70] là Chủ tịch Mặt trận Lào Tự do, chủ
tịch Mặt trận Lào yêu nước, chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Con út của Phó vương (U Pa Rat) Bun Không và
bà vợ thứ mười một Mòm Khăm Uôn, anh em cùng cha khác mẹ với các Hoàng thân Phếtxarạt và Xuvanna Phuma Từ 1920 -1931, ông học tại trừơng trung học AnbeXarô (Lycée Albert Sarraut) ở Hà Nội Từ 1931 - 1937, Hoàng thân SouPhaNouVong học và tốt nghiệp kĩ sư cầu đường tại Pháp Năm 1937, ông trở về thuộc địa Đông Dương, làm việc trong ngành công trình ở Lào và Việt Nam, tham gia thiết kế nhiều công trình cầu đường và thủy lợi ở Việt Nam, kết hôn với bà Nguyễn Thị Kì Nam (người Việt Nam lấy tên Lào là Viêng Khăm) tại thành phố Nha Trang
Ngay trong những ngày đầu Cách mạng tháng tám thành công ở Việt Nam, Hoàng thân được tiếp kiến chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội (4/9/1945),bắt đầu cho quá trình tham gia cách mạng Trung tuần tháng 10/1945, ông trở về Lào và tham gia Chính Phủ lâm thời Lào Itxala tại thủ đô Viêng Chăn, giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, kiêm tổng chỉ huy quân đội Lào Itxala Ngày 30/10/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời Lào Itxala kí với Trần Đức Vinh, đai diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Viêng
Trang 23Chăn Hiệp định thành lập liên quân Lào - Việt, đặt dưới quyền chỉ huy của ông Sau đó, ông trực tiếp chỉ đạo nhiều trận đánh Pháp của liên quân Lào - Việt, nổi bật là mặt trận Thà Khẹc ngày 21/3/1946 Trong trận này, ông đã bị thương khi đang tổ chức vượt sông Mènặmkhoỏng Ông đã cùng Chính phủ Lào Itxala tạm lánh sang Thái Lan để tập hợp lực lượng tiến hành kháng chiến Cuối năm 1949, nhận lời mời của chủ tịch Hồ Chí Minh, ông bí mật sang căn cứ địa Việt Bắc để bàn bạc việc hợp tác cứu nước Tháng 8/1950, Đại hội Quốc dân Pa thét Lào, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Lào Tự do (Neo Lào Itxala) và Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Ngày 11/3/1951, ông tham gia Hội nghị thành lập Mặt trận đoàn kết Liên minh Việt - Miên - Lào tại căn cứ địa Việt Bắc
Tháng 5/1953, được kết nạp vào Đảng Công sản Đông Dương, tại bản Toọng, huyện Pua, tỉnh Hủa Phăn Tháng 3/1955, tham dự Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào (Phắc Pạ xa xôn Lào) với tư cách là một trong những thành viên sáng lập Đảng Tháng 5/1955, được bổ sung vào Ban chỉ đạo Trung ương Đảng Nhân dân Lào (sau là Đảng Nhân dân cách mạng Lào) Tháng 1/1956, tại Đại hội thành lập Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào hắc xạt), ông được bầu làm Chủ tịch Măt trận Lào yêu nước Theo chủ trương hòa hợp dân tộc, ông được bầu vào Quốc hội Viêng Chăn với số phiếu cao nhất Tháng 11/1957, giữ chức Bộ trưởng Bộ Kế hoạch, Xây dựng và Đô thị trong Chính phủ Liên hiệp dân tộc lần thứ nhất
Tháng 7/1959,ông bị Chín phủ phản động Phủi Xananicon cầm đầu bắt giữ trái phép tại nhà tù Phôn Khênh Đêm 23/5/1960, bí mật cùng 15 vị lãnh đạo Pa thét Lào vượt ngục trở về căn cứ an toàn Theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ về Lào (1962), Chính phủ Liên hiệp dân tộc gồm 3 phái được thành lập, SouPhaNouVong giữ chức phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Kinh tế Kế hoạch Chỉ 9 tháng sau,do sự phá hoại của phái hữu được Mỹ ủng hộ, Chính
Trang 24phủ Liên hiệp dân tộc 3 phái không hoạt động được, rút về vùng giải phóng cùng Đảng Nhân dân Lào kiên trì lãng đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tháng 2/1972, tại Đại hội II của Đảng, ông được bầu vào Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào Theo tinh thần Hiệp định Viêng Chăn (21/2/1973), và Nghị định thư Viêng Chăn (14/9/1973), ông được cử làm chủ tịch Họi đồng Quốc gia Chính trị Hiệp thương Ngày 2/12/1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập, SouPhaNouVong được bầu làm Chủ tịch nược và Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao Từ 1991, vì sức khỏe yếu,ông giữ chức cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cho đến khi qua đời
Với những đóng góp xuất chúng và vài trò lãnh đạo kiệt xuất của người, Chủ tịch SouPhaNouVong trở thành ngọn cờ của cuộc đấu tranh cứu nược và đoàn kết dân tộc Ngoài là nhà yêu nước vĩ đại, đã lập nên trang sử mới của Lào, xứng đáng là vị anh hùng dân tộc của đất nước Lào trong thời đại ngày nay Là một trong những lãnh tụ tối cao Lào có cống hiến quan trọng hàng đầu vào việc xây dựng và phát triển không ngừng quan hệ đoàn kết đặc biệt
và hợp tác toàn diện Lào và Việt Nam Được nhà nược Việt Nam trao tặng Huân chương Sao vàng (1981) và Huân chương Hồ Chí Minh (1990)[1, Tr 180-182]
Ông Kẹo [H.8, tr.71] là một tù trưởng người bộ tộc Nghé, tên thật là My,
nhân dân thường gọi là Nai My, ở bản Cha Căm, mường Tha Leng, tỉnh Salavan (Nam Lào) Sau khi lãnh đạo phong trào chống Pháp, được nhân dân tôn kính gọi là ông “Kẹo”(có nghĩa là ông “Ngọc”) Vốn là người của phong trào Phu mi bun (người có phúc đức) trước đó, ông Kẹo đã vận động nhân dân không đóng thuế, không nộp chống vật, không đi phu và vào rừng ở Ông đã dùng hình thức tôn giáo tập hợp nhân dân trên núi Phu Khăm để tuyên truyền, giác ngộ tinh thần yêu nước, nổi dậy chống Pháp Buổi đầu, ông Kẹo cùng
Trang 25ông Thông tổ chức lực lượng vũ trang trong bộ tộc người Nghé có tên gọi là
“Xeng”do ông đứng đầu ở bản Toọc, tà xẻng Sê Coong, mường Tha Teng, gồm hơn 200 người với vũ khí tự tạo như súng Kíp, gươm, giáo, cung nỏ Nghĩa quân của ông Kẹo đã liên minhđược với nghĩa quân ở các nơi cùng tham gia chống Pháp như nghĩa quân của người Alắc do ông Xá, ông Lam, ông Bít đứng đầu, với nghĩa quân người Taliêng do ông Nang lãnh đạo Dần dần, nghĩa đã kiểm soát được cả vùng tả, hữu ngạn sông Xê Kông đến vùng Phu Luống giáp biên giới Việt Nam Đặc biệt, đã liên lạc được với nghĩa quân người Laven ở cao nguyên Bolavendo tù trưởng Kom Ma Đam chỉ huy, nơi
có vị trí chiến lực quan trọng ở Nam Lào Đến lúc này, phong trào chống Pháp với sự khởi đầu của ông Khivolảlạt, người Lào Lùm ở Ắttạpư và ông Kẹo, người Nghé, đã phát triển thành một phong trào trên một địa bàn rộng lớn từ miền Đông Nam Lào giáp biên giới Việt Nam đến vùng cao nguyên Bolaven và Salavan
Ngày 12/4/1901, ông Kẹo chỉ huy đội quân hơn 1.000 người tiến đánh quân Pháp đóng ở chùa Tha Teng do tên Công sứ Pháp là Rêmi (Rêmy) phụ trách, buộc chúng phải tháo chạy về thị xã Salavan Ngày 29/5/1901,nghĩa quân cải trang tiến đánh đồn Congtảtu nằm ở hợp lưu giữa hai con sông Pơ Xi và Po Coo Tên đồn trưởng Rôbe (Robert) bị thương nặng, quân Pháp phải tháo chạy về Kon Tum (Tây Nguyên Việt Nam) Thừa thắng nghĩa quân liên tiếp mở các cuộc tiến công đồn binh Pháp và thu được những thắng lợi lớn như đồn bản Cả Xỏ (28/6/1901),đồn bản Tà Xịa (2/7/1901), đồn Sê Piên thuộc tỉnh Ắttạpư (15/8/1901) , đồn bản Cà Bốc (29/11/1901) Ngoài ra, nghĩa quân còn tiến hành nhiều trận phục kích đầy mưu trí khác ở Nỏng Mỉ, Phu Cày khắn, Phu Tăm Nhe gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp
Từ năm 1902 đến 1906, lực lượng nghĩa quân đẩy mạnh hoat động ở vùng Salavan Ngày 30/11/1905, nghĩa quân bất ngờ tiến đánh đồn Nỏng Bốc, trừng trị những tên phản động làm tay sai cho giặc Pháp
Trang 26Ngày 4/1/1906, thực dân Pháp đã phải mở một hội nghị quân sự ở thị
xã Sạvắnnạkhệt để bản kế hoạch tấn công quy mô nhằm tiêu diệt lực lượng nghĩa quân ở Nam Lào
Tháng 4/1906, thực dân Pháp điều động một binh đoàn, có pháo binh yểm trợ, tổ chức bao vây, cắt các nguồn tiếp tế, cô lập nghĩa quân và tấn công vào khu căn cứ đấu não của nghĩa quân ở Phucàtè (Bolaven) Lực lượng nghĩa quân do ông Kẹo, ông Thông chỉ huy đã đánh trả địch linh hoạt và bảo toàn được lực lượng Riêng ông Prơi tạm lánh sang hữu ngạn sông Mènặmkhoỏng nhưng đã bị bọn cầm quyền Xiêm bắt giao nộp cho giặc Pháp và bị chúng giết hai năm 1908 Thấy khó tiêu diệt được lực lương nghĩa quân bằng biện pháp quân sự, thực dân Pháp chuyển sang dùng thủ đoạn hòa giải, thương lượng để lập mưu sát hại những người lãnh đạo phong trào Lúc này,nghĩa quân cũng cần có thời gian hòa hoãn để củng cố lực lượng
Ông Kẹo đã quyết địch bàn giao công việc lại cho ông Kom Ma Đam, để trực tiếp đàm phán với thực dân Pháp,bất chấp sự không tán thành của ông Kom Ma Đam về chủ trương đàm phán với Pháp của ông
Ngày 15/11/1910, ông Kẹo đã đồng ý đi gặp tên Công sứ Pháp Phenle (Fendler) tại chùa Salavan Nhân khi những người bảo vệ của cả hai bên ra khỏi chùa, lợi dụng phong tục của bộ tộc Nghé là cấm sờ vào đầu của người khác, tên Công sứ Phenle bất ngờ lấy khẩu súng ngắn giấu trên mũ bắn chết ông Kẹo
Giết được ông Kẹo, thực dân Pháp tưởng rằng sẽ dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Nam Lào Nhưng hành động phản trắc đó của chúng đã khiến lòng căm thù của nhân dân các bộ tộc Nam Lào càng soi sục Sự nghiệp của Kẹo đã được ông Kom Ma Đam kế tục và phong trào khởi nghĩa chống Pháp ởNam Lào phải đến tận1937mới tạm dừng [1, Tr 284-286]
Trang 27Ông Si Thon Kom Ma Đam [H.9, tr 72] là người bộ tộc La Ven, thủ lĩnh
phong trào chống Pháp ở Nam Lào có quy mô rộng lớn và kéo dài nhất của Lào (1901 - 1937), nhà chính trị, quân sự, văn hóa tài ba Năm tuổi vì có sự chống đối Pháp nên đã bị bắt giam tại mường Mày (Ắt tạ pư) Sau khi được thả ra, ông tìm đến ông Kẹo để tham gia chống Pháp, đồng thời kéo theo nhân dân La Ven, thành lập lực lượng vũ trang do ông chỉ huy Sau khi ông Kẹo bị Pháp giết (1910), nghĩa quân đã tôn Kom Ma Đam làm thủ lĩnh và ông đã chuyển trung tâm chỉ huy về Thông Vải, Bôlôven, quê hương ông Phong trào được nhân dân vùng cao nguyên Bôlôven và nhân dân vùng biên giới Việt - Lào hưởng ứng sâu rộng Kom Ma Đam đã dùng chữ Khỏm làm gốc rồi cải biên thành chữ cho bộ tộc Lào Thơng nhằm xóa nạn mù chữ, song cùng là một phương pháp tốt để tuyên truyền, vận động trong quần chúng Nghĩa quân Kom Ma Đam còn dùng một thứ triện riêng, được nhân dân thừa nhận
và có một quyền lực rất mạnh đối với vùng Nam Lào Kom Ma Đam đã phát triển các khu căn cứ dọc theo sông Sê Cả tang như Thông Vái, Thông Hủng, Thông Linh, Thông xa la, Thông Lống và dọc theo dãy Phu Luống
Trong các khu căn cứ, ông đã tổ chức tăng gia sản xuất và chế tạo vũ khí tại chỗ, đồng thời mua thêm vũ khí từ Xiêm về trang bị cho nghĩa quân Mặc dù trong hoàn cảnh gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về lương thực, vũ khí, đạn dược nhưng những trận tiến đánh quân Pháp vẫn được thực hiện ở Salavan, Pạc Sê và vùng Bôlôve, khiến cho kẻ địch phải mệnh danh vùng này
là “khu dân không khuất phục” Năm 1935, Pháp tâm trung đông bảo quân lính ở các nơi để tổ chức một cuộc càn quét kéo dài suất 1.000 ngày trong phạm vi rộng lớn, bao gồm khoảng 200 bản và bắt khoảng 5.000 người mà chúng nghi là lực lượng nghĩa quân yêu nước Năm 1936, thực dân Pháp tập trung lực lượng đánh vào khu căn cứ bản doanh của Kom Ma Đam, nhưng nghĩa quân dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông và các con ông đã chống trả
Trang 28quyết liệt, giữ vững trận địa, buộc kẻ địch phải rút lui Đến tháng 9/1936, thực dân Pháp lại huy động một lực lượng lớn gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, nhiều đơn
vị kị binh và một đàn voi hơn 50 con,tấn công vào căn cứ chỉ huy của Kom
Ma Đam Nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng, nhưng vì lực lượng quá chênh lệch, lại có nội gián dẫn đường, nên quân Pháp đã vào được khu căn cứ Kom
Ma Đam và 6 người con trai đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hai người con trai còn lại là Nhu Xung và Xi Thôn thoát được ra ngoài vòng vây, về các vùng cơ sở tiếp tục hoạt động chống Pháp Tháng 7/1937, bọn Pháp bắt được hai con trai của Kom Ma Đam, phong trào khởi nghĩa chống Pháp mới tạm thời lắng xuống Đây là phong trào khởi nghĩa vũ trang chống Pháp quy mô nhất, kéo dài nhất của nhân dân Lào trước khi có Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo [1, Tr 217-218]
Ông Nou Hac Phum Sa Van [H.10, tr.73] làm Tổng bí thư Đảng, chủ tịch
nước, chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao Lào Sinh ở bản Phalouka, tỉnh Mục
Đa Hản (Thái Lan), tham gia phong trào yêu nước Lào từ đầu những năm 40 thế kỉ XX Tháng 10/1946, ông làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Đông Lào Năm 1947, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương Tháng 8 năm 1950, làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Tài chính trong Chính phủ Kháng chiến Lào Itxala Tháng 3/1955, tham gia Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào (Pạxaxôn Lào)
và là một trong năm thành viên đầu tiên của Ban Chỉ đạo Trung ương của Đảng Nhân dân Lào (sau đổi tên Đảng Nhân dân Cách mạng Lào)
Tháng 1/1956, trưởng phái đoàn của Mặt trận Lào yêu nước (Neo Lào hắc xạt) tại Viêng Chăn Nou Hac Phum Sa Van cùng một số nhà lãnh đạo khác bị Chính phủ thân Mỹ Phủi Sananicon bắt giam (7/1958 - 5/1960) Tháng 5/1960, ông vượt ngục về vùng giải phóng, làm ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào liên tiếp trong 4 khóa Năm 1975, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Bộ Kinh tế Kế hoạch và Tài chính nước Cộng hòa
Trang 29Dân chủ Nhân dân Lào Năm 1987, chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao (gần giống như Quốc hội), 1992 - 1996, giữ chức tổng bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thay cho tổng bí thư Kay Son Phom Vi Han từ trần, kiêm chủ tịch nước (từ 1992 đến 1998) Từ 1999, cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Nou Hac Phum Sa Van có nhiều đóng góp vào viêc tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Lào và Việt Nam Ông từ trần ngày 9/9/2008 tại thủ đô Viêng Chăn, hưởng thọ 98 tuổi [1, Tr 281]
Tiểu kết
Tượng đài nói chung và tượng đài danh nhân nói riêng, đều nhằm mục đích tôn vinh những danh nhân, lãnh tụ những người có công với đất nước hoặc ghi nhớ những sự kiện lớn…Tượng đài vừa là công cụ tuyên truyền, giáo dục và mang tính nghệ thuật Vì thế tượng đài luôn gữi vai trò quan trọng trong không gian kiến trúc và trong đời sống con người
Nội dung chương này nhằm xây dựng cơ sở mang tính lý thuyết để nghiên cứu đề tài hình tượng danh nhân trong điêu khắc tượng đài Lào đã và đang được xây dựng, có thể nói tượng đài danh nhân đã góp phần không nhỏ vào dòng chảy chung của điêu khắc tượng đài Lào Nhưng việc xây dựng hình tượng danh nhân bằng ngôn ngữ tượng đài là công việc không hề đơn giản, nó đòi hỏi người nghệ sĩ sang tác ngoài sự vững vàng về chuyên môn còn có sự hiểu biết sâu về cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân và trên hết có lẽ là tình cảm yên mến đối với các danh nhân
Trang 30CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ TẠO HÌNH HÌNH TƯỢNG CÁC DANH NHÂN TRONG NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC TƯỢNG ĐÀI
TẠI LÀO
2.1 Hình khối điêu khắc tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân
Mỗi cách tạo khối đưa lại cảm giác khác nhau: lõm, mềm, mở gây cảm giác động và ngược lại Trong điêu khắc khối hình là có thực nó tồn tại trong không gian 3 chiều có thể cảm nhận bằng xúc giác, có thể đi xung quanh nó
và nhận ra sự biến động phong phú của nó qua mỗi hướng nhìn Đây là đặc trưng cơ bản nhất của điêu khắc
Nghệ thuật điêu khắc có tính chất đặc trưng riêng, khác với các hình thức nghệ thuật như hội họa hay đồ họa Nếu như trong hội họa hay đồ họa, hình khối của đối tượng mà tác phẩm biểu đạt được thể hiện bằng đậm nhạt, sự thay đổi sắc độ, ánh sang thì với nghệ thuật điêu khắc tượng đài danh nhân, hình khối đó phải được thể hiện trong thức tế, được cảm nhận tối đa bởi thị giác, và với những điểm nhìn khác nhau sẽ tạo cho người xem những cảm nhận khác nhau Vì vậy, hình khối đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện một tác phẩm điêu khắc và góp phẩn quyết định sự thành công cho tác phẩm đó
Ngôn ngữ của điêu khắc là “Hình khối” Dưới tác động của ánh sáng hình khối tạo ra hình tượng cần miêu tả Nhà điêu khắc dùng khối để biểu đạt, phản ánh nhận thức cá nhân đối với thế giới xung quanh, nói lên tiếng nói của tinh thần thông qua những hình khối tạo hình vật chất Qua hình khối những cung bậc tình cảm như hỉ, nộ, ái, ố được tạc vào đá, gỗ và cùng với thời gian trở thành những bức thông điệp của một xã hội, một thời đại
Trang 31Hình khối là ngôn ngữ của điêu khắc ra hình tượng cân miêu tả, nghệ thuật điêu khắc là một hoạt động sáng tạo và ở đó người ta có thể tìm thấy những chứng cứ của một sự phát triển của nhân loại Đặc trứng cơ bản nhất của ngôn ngữ điêu khắc là “Chất tạo hình đó là sự chuyển động của hình khối, của những lồi - lõm, những đặc - rỗng, những nông - sâu, dầy - mỏng để diễn cảm, là cái thần trong mọi loại hình điêu khắc xưa và nay
Hình khối trong điêu khắc thực ra là phương tiện để biểu diễn tình trạng Cũng giống trong hội họa, màu sắc không phải là cái đích để miêu tả Màu sắc là phương tiện thể hiện khối và không gian Nếu hội họa chỉ diễn tả màu thì không gì hơn cái palette Hình dáng là gì là hình ảnh vật thể khi không có khối, như ta nhìn một người đứng trước một nguồn sáng vậy, chỉ thấy bóng đen trước mặt Cũng có thể gọi là hình bóng cho dễ hình dung Tức
là công việc của nàh điêu khắc họ phải tạo được một hình bóng tách biệt với không gian Điêu khắc đương đại ngày càng có xu hướng triệt tiêu hình khối
và chỉ chú ý xây dựng tác phẩm bằng các hình dẹt, thường được làm bằng chất liệu kim loại Ngay cả chất liệu phổ biến của điêu khắc là đồng cũng có ý không biểu dương hình khối, vì mầu của đồng rất tối, không bắt ánh sáng Và khi chiêm ngưỡng một bức towngj đài, phải nhìn từ xa Vậy thì tạo khối để làm gì - khối làm tăng vẻ đẹp của hình dáng và có nhiệm vụ làm thay đổi hình dáng khi xoay chiều Một hình khối tạo nên những hình dáng khác nhau khi di chuyển điểm nhìn, đó là sự kỳ diệu của điêu khắc Điều này không có được ở phù diêu và hội họa, mặc dù cả hai loại hình này đều có thể tả khối
Hình khối là vật thể tồn tại trong không gian có hình thù nhất định với cấu trúc ba chiều Hình khối kết hợp với ánh sáng sẽ mang lại cho người xem cảm nhận về hình dạng của tác phẩm đồng thời là những hiệu quả về thị giác nhằm nhấn mạnh một ý tưởng nào đó của tác phẩm hay để truyền đạt nội dung Điêu khắc xuất phát từ cách xử lý và thay đổi các hình khối co bản, như
Trang 32khối hợp, khối cầu, khối tam giác, để từ đó giải quyết các mối quan hệ giữ khối lồi - khối lõm, khối động - khối tĩnh, khối đóng - khối mở, khối đặc - khối rỗng, khối thực - khối ảo… Cách người nghệ sĩ xử lý các mối quan hệ trên sẽ định hình trường phái, phong cách, khuynh hướng nghệ thuật mà tác phẩm chịu ảnh hưởng, đồng thời phản ánh tính cách của người nghệ sĩ cũng như thông điệp mà họ muốn truyền tải
Các nhà điêu khắc làm việc bằng cách loại bỏ như khắc, hoặc họ có thể được lắp ráp như hàn, làm cứng như đúc Trang trí bề mặt bằng sơn có thể được áp dụng Điêu khắc đã được mô tả như là nghệ thuật tạo hình công nghiệp vì nó liên quan đến việc sử dụng các vật liệu có thể được đổ khuôn hoặc điều chế Sản phẩm thu được là tác phẩm điêu khắc Đặc trưng cơ bản của tác phẩm điêu khắc là hình và khối
Trong từ điển Tiếng Việt (1997) định nghĩa hình khối là: Đường và mặt bao quanh một vật, tạo nên hình dạng một vật thể nào đó Còn theo từ điển Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, khối là: Một vật thể chiếm một thể tích nhất định trong không gian Khối hình học chính là những khoảng không được giới hạn bởi các mặt phẳng hoặc cong Khối mang tính bản chất không gian ba chiều, được xác định bởi kích thước cơ bản: chiều dài, chiều cao, chiều rộng, chiều sâu Như vật, khối của một vật thể được nhận biết theo cách vật thể ấy được đặt trong một không gian có giới hạn và xác định kể cảkhông gian trong tranh
Hình khối trong điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào
Các công trình tôn vinh điêu khắc tôn vinh tiêu biểu ở Lào có thể kể đến như tượng đài ông Si Thon Kom Ma Dam [H.9, tr.72] ở tỉnh Cham Pa Sak (Miền Nam), tượng đài vua Si Sa Vang Vong [H.2, tr.65] ở tỉnh Luang Pra Bang (MiềnBắc), tượng đài ông Kay Son Phom Vi Han[H.5, tr.68]ở thủ đô Viêng Chăn (MiềnTrung)
Trang 33Các công trình điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào phần lớn là các công trình mang kích thước tương đối lớn Hình khối trong tác phẩm đơn giản, rõ ràng, trang trí cầu kì Tác phẩm chủ yếu tập trung khắc họa cảm xúc, tinh thần của tác phầm để từ đó toát lên không khí trang nghiêm, tôn kính của chủ đề hay nhân vật được thể hiện
Đối với công trình điêu khắc tượng đài tôn vinh tại Lào, người xem dễ dàng bắt gặp các bố cục khá phổ biến.Tượng đài tôn vinh có kích thước khá lớn, góp phần tạo nên sự hoành tráng và tính sử thi cho tác phẩm Với các tác phẩm điêu khắc tượng đài chân dung bán thân, tác phẩm được làm gần với kích thước thật của cơ thể người Phần tượng được đặt trên bệ, tổng thể các tác phẩm cao ngang tầm nhìn của người xem, tạo nên cảm giác gần gũi, thân quen Mục đích của tượng đài tôn vinh là lột tả được tinh thần của các danh nhân Lào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nên hình khối và đường nét của tác phẩm cũng phải toát lên sự rắn rỏi, quyết tâm và sự oai nghiêm Chính vì vậy, tác giả khi thực hiện sẽ sử dụng các hình khối và mảng miếng lớn, dứt khoát, rõ ràng
Bên cạnh đó, tượng đài danh nhân tại Lào đa số làm rõ đường nét vàchi tiết trang trí các nếp vải trên quần áo như: tượng đài vua Pha Ngum [H.3, tr 66], và tượng đài vua A Nou Vong [H.4, tr.67],
Hình khối mạch lạc khỏe khắn phù hợp với yếu tố tạo hình điêu khắc tượng đài hoành tráng mà vẫn không hề đơn điệu bởi các chi tiết trang trí bởi hình khối của các nếp gấp của quần áo Bố cục hình khối chân tay nhịp nhàng thuận mắt mà không làm mất đi dáng dấp uy nghi của tượng
Tượng đài ông Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr.68] ở Thủ đô Viêng Chăn được làm bằng chất liệu đồng với tổng chiều cao bệ và tượng 8m Tác phẩm thể hiện hình ảnh Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr 68] trong tư thế đứng, tay phải đưa lên, hướng mặt nhìn về phía trước Tác giả đã tái hiện chân thực
Trang 34chân dung vị lãnh tụ nổi tiếng Đường nét tinh tế chắt lọc, nếp vải quần áo được tính toán và miêu tả một cách chi tiết nhưng lại không quá nổi bật lấn át mất tổng thể tác phẩm Đường vai khỏe khắn và cách xử lý hình khối dứt khoát phần tay khiến cho tác phẩm toát lên được vẻ cương nghị của một chính trị gia Khuôn mặt là điểm nhấn của tác phẩm theo phương thức tả thực bám sát với chân dung mẫu Hình khối trên khuôn mặt khúc chiết, rõ rang Dưới ánh sáng mặt trời lại làm tôn lên thêm vẻ đẹp và yếu tố biểu cảm của nhận vật Về mặt nghệ thuật tượng đài Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr 68] được đánh giá là công trình điêu khắc tái hiện và tôn vinh thành công hình ảnh vị lãnh tụ cách mạng có tầm ảnh hưởng lớn đối với thế giới và Lào
2.2 Không gian điêu khắc tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân
Không gian: các tác phẩm điêu khắc luôn gắn với không gian thực Có một không gian phù hợp để tồn tại thì giá trị của tác phẩm sẽ được tăng lên nhiều lần Khi làm một tác phẩm điêu khắc, người ta cần tìm hiểu môi trường nơi tác phẩm tồn tại để tìm ra phương thức thể hiện cho phù hợp, để nội dung tác phẩm có thể bộc lộ hết bản thân nó với công chúng thưởng thức
Không gian có thể hiểu là khoảng không xung quanh các khối điêu khắc và định hình các cạnh của tác phẩm điêu khắc Không gian còn được tạo nên
và bao bọc bởi hình khói của tác phẩm, trở thành những khoảng rỗng trong tác phẩm Do đó, không gian tồn tại song song và gắn liền với nghệ thuật điêu khắc và là một phần tạo nên tác phẩm Có nhiều cách giải thích khác nhau về không gian, tuy nhiên ta có thể hiểu không gian là toàn bộ những gì xung quanh một vật chất nào đó
Không gian luôn có ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao), không gian là một trong những yếu tố cơ bản quyết định tính thẩm mỹ của một tác phẩm điêu khắc Đối với một tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân, không gian bao gồm các khoảng không xung quanh nó, dù lớn hay nhỏ Ngoài ra,
Trang 35không gian của nghệ thuật điêu khắc ngoài trời còn bao gồm cả các công trình kiến trúc, các yếu tố tự nhiên cây cối, hồ, ao, song, đường… hay các vật thể hữu hình khác liên quan đến không gian đó Các tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân luôn được đặt ở một vị trí khá lớn nên không gian và tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Môi sinh cho điêu khắc tượng đài danh nhân là điều rất cần thiết, nhưng ngược lại điêu khắc tượng đài danh nhân đã đóng góp được những yếu tố cho không gian công cộng như về mặt ý nghĩa xã hội, chính điêu khắc tượng đài
đã và đang tham gia tích cực vào cuộc sống, hình thành thành “điểm nhấn văn hóa” trong cảnh quan môi trường đô thị Tượng đài Chao A Nou Vong [H.4, tr.67], Par Nha Si Khot Ta Bong [H.6, tr.69], Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr.68]… cũng đạt đến giá trị một địa điểm văn hóa như thế Có được điều đó phải khẳng định có sự đóng góp quan trọng của tượng đài vào không gian công cộng Bởi chính tượng đài đã tạo ra cho không gian công cộng sự lành mạnh, sự bao dung, sự độc đáo, sự vững bền và sự thân thiện
Những tượng đài thành công đã trở thành một địa chỉ văn hóa không chỉ thu hút khách tham quan mà còn với ngay cả những người dân địa phương Những bức ảnh lưu niệm chụp trước tượng đài vua Pha Ngum [H.3, tr.66] của tác giả Bun Lerng Vern Vi La Vong, tượng đài ông Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr.68] của tác giả Nghệ sĩ Trung Quốc, tượng đài Pha Nha Si Khot Ta Bong [H.6, tr.69] của tác giả Bun Lerng Vern Vi La Vong, tượng đài vua Xay Xet Tha Thi Lath [H.1, tr.64] của tác giả Sam Nan Phi Xa Yan từ lâu đã là một mốc đánh dấu “đã tới thăm Lào” của nhiều khách tham quan.Ở đây tượng đài trở thành một địa chỉ văn hóa có tầm mức phổ quát toàn quốc gắn với hình ảnh thủ đô Không chỉ có vậy, cùng với không gian xung quanh, tượng đài trở thành một sân khấu lớn, một địa điểm diễn ra các hoạt động từ vui chơi giải trí của người dân đến các hoạt động nghi thức, nghi lễ của các thành phố lớn
Trang 36- Không gian quy hoạch cảnh quan
Tác phẩm điêu khắc là sự biểu hiện của những mối tương quan trong không gian ba chiều Không gian tự thân của tác phẩm xuất phát từ hình khối, chất liệu tạo nên nó.Tuy nhiên, một số tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào đẹp không chỉ bởi không gian tự thâm của tác phẩm mà còn chịu
sự tác động từ không gian bên ngoài Những thay đổi về diện mạo của đất nước Lào từ 1956 đến 2015 đã phần nào tạo nên sự đa dạng cho không gian điêu khắc tượng đài danh nhân Kích thước không gian phong phú từ những khoảng không lớn như Quảng trường, đồi núi cho đến không gian nhỏ như vườn hoa, công viên, khuôn viên kiến trúc trong mối quan hệ với kích thước của tác phẩm Lào sở hữu một diện tích lớn, vì vậy sự đa dạng phong phú về cảnh quan, không gian… sự thay đổi về địa hình, cảnh quan dẫn tới sự thay đổi về không gian mang lại cho tượng đài Từ những khuôn viên đến những tòa nhà cao tầng, những khu đất bằng phẳn hay những vườn hoa quy mô hoành tráng, người nghệ sĩ luôn phải tìm tòi bố trí, sắp đặt để tìm ra những phương án giải quyết không gian hiệu quả nhất mang lại điểm nhấn, vẻ đẹp cho tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân Lào
- Không gian cảnh quan
Các khu vực trung tâm của các thành phố trên khắp đất nước Lào đều
có hồ, vườn hoa, công viên và đặc biệt còn có một số thành phố có địa hình tương đối không bằng phẳng.Đây là những yếu tố tự nhiên giúp tô điểm cho các công trình kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc ngoài trời Đối với khu vực các quận trung tâm thành phố, phần lớn diện tích nền móng vốn là những cánh đồng, hồ ao, khu đô thị, vòng xuyến nên không vững chắc để có thể xây dựng được những công trình hoành tráng, Với kích thước to lớn chính vì vậy, các công trình điêu khắc ngoài trời ở Lào thường được chọn sự hài hòa với không gian cảnh quan xung quanh thay vì xu thế độc tôn như một số thành
Trang 37phố trên thế giới Hệ thống cây xanh được xử lý tốt sẽ tạo nên điểm nhấn cho công trình, làm phông nền cho tác phẩm điêu khắc Bên cạnh đó, địa hình đồi núi ở tỉnh Hủa Phăn và PhoneSaLy là địa điểm lý tưởng để thực hiện các tác phẩm điêu khắc tượng đài hoành tráng với kích thước lớn nói chung và điêu khắc tượng đài danh nhân nói riêng Đồi núi tại Hủa Phăn và PhoneSaLy không quác dốc và cao nhưng xung quanh được bao bọc bởi đồng lúa tạo nên những không gian rộng cho các tác phẩm điêu khắc, lấy đồi núi làm điểm tựa,
sử dụng lợi thế về độ cao tự nhiên và được tô điểm bởi những cánh đồng lúa xanh, người nghệ sĩ có thể phát huy một cách triệt để được phong thái hùng dũng, oai nghiêm, hay nội tâm sâu sắc của tác phẩm điêu khắc và tạo nên sự liên kết giữa con người và thiên nhiên Nhìn chung, không gian trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào giai đoạn 1956 đến 2015 có thể phân loại theo vai trò, bao gồm không gian đền thờ, không gian tôn vinh và không gian trang trí môi trường cảnh quan
Không gian tôn vinh tái hiện hình ảnh những người có công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước như một vị vua, một vị tướng, một nhà văn, khoa học hay một người anh hùng… Không gian tôn vinh thường nằm ở những địa danh gắn liền với nhân vật được thể hiện trong tác phẩm như tượng đài ông
Si Thon Kom Ma Dam [H.9, tr.72] ở tỉnh Cham Pa Sak được xây dựng năm
2015 với chất liệu đồng (Miền Nam), tượng đài vua Si Sa Vang Vong [H.2, tr.65] ở tỉnh Luang Pra Bang được xây dựng năm 1973 chất liệu đồng (Miền Bắc), tượng đài ông Kay Son Phom Vi Han [H.5, tr.68] ở thủ đô Viêng Chăn với chất liệu đồng (Miền Trung) ,tượng đài ông Sou Pha Nou Vong [H.7, tr.70] ở tỉnh Luang Pra Bang được xây dựng năm 2009 với chất liệu đồng (Miền Bắc) Vị trí của không gian tưởng niệm cũng thường nằm tại các điểm tụ của các không gian quy hoạch kiến trúc như quảng trường, nút giao của các khu
Trang 38phố… Nếu như không gian tôn vinh cần khoảng không tĩnh lặng thì không gian tưởng niệm lại khá gần với khu vực dân sinh hay những nơi có lưu lượng người và phương tiện qua lại giao thông cao Đây là những nơi có địa điểm thường được tổ chức các hoạt động và sự kiện trung của cộng đồng
Không gian trang trí môi trường gắn liền với không gian kiến trúc và là một phần của không gian kiến trúc.Kích thước của không gian trang trí môi trường phụ thuộc vào kích thước và diện tích của không gian xung quanh.Các không gian trang trí môi trường với kích thước lớn tập trung ở các thành phố lớn
- Không gian tự thân của tác phẩm
Không gian tự thân của tác phẩm điêu khắc là không gian được thể hiện thông qua sự thay đổi về hình khối, sự diễn tả chất liệu và màu sắc của sự vật Những nếp vải bay theo chiều gió hay sự thay đổi nhỏ trong dáng đứng cũng tạo nên cảm giác về chiều sâu Một tác phẩm điêu khắc tượng đài tồn tại trong không gian ba chiều nên nó có thể được chiêm ngưỡng từ nhiều phía khác nhau Việc xử lý hình khối và chất liệu tốt sẽ mang lại những vẻ đẹp hoàn thiện hơn cho tác phẩm để người xem, dù đứng ở xa hay gần, bất kỳ hướng nào cũng cảm nhận được hình dáng của tác phẩm và cảm xúc của người nghệ sĩ Không gian tự thân của tác phẩm tạo nên cảm xúc chân thực và tăng hiệu quả thị giác, góp phần quan trọng tạo nên vẻ đẹp của một tác phẩm điêu khắc Một số tác phẩm điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào như tượng đài Pha Nha Si Khot Ta Bong [H.6, tr.69] được xây dựng năm 2008 với chất liệu đồng (MiềnTrung), tượng đài ông Nou Hac Phum Sa Van [H.10, tr.73] ở tỉnh Sa Van Na Khet được xây dựng năm 2015 với chất liệu đồng (MiềnTrung), tượng đài Ông Keo [H.8, tr.71] ở tỉnh Se Kong được xây dựng năm 2012 với chất liệu đồng (Miền Nam)…là những ví dụ tiêu biểu cho việc xây dựng không gian tự thân trong nghệ thuật điêu khắc tượng đài danh nhân tại Lào
Trang 39Tượng đài NouHac Phum SaVan [H.10, tr.73] là một trong những tác phẩm khá thành công trong việc xử lý không gian tự thân của một tác phẩm thông qua trang phục và hướng gió Áo vest ngoài, cho đến chiếc áo sơ mi phía bên trong của nhân vật được diễn tả chi tiết Các tiểu tiết của tác phẩm như cổ áo, hàng khuy, cà vạt, đôi giày hay sự thay đổi độ dày mỏng của các lớp áo tuy không quá cầu kì nhưng được xử lý một cách cẩn thận mang lại cảm giác chân thực cho người xem Đặc biệt lớp áo khoác ngoài bay trong gió
đã tăng thêm cảm giác chiều sâu không gian, từ khoảng cách giữa hai lớp áo cho đến hướng bay của tà áo Bàn tay đưa lên áo cũng giúp cho thế đứng của nhân vật trở nên thoải mái, linh hoạt và mềm mại hơn Bản thân tượng đài Nou Hac Phum Sa Van [H.10, tr.73] là một trong những công trình điêu khắc tượng đài danh nhân đẹp về mặt nghệ thuật, kết hợp với không gian xung quanh càng giúp cho tác phẩm nổi bật hơn, hoàn thiện hơn
Việc chú trọng nghiên cứu không gian tự thân của tác phẩm đã đạt được những thành công nhất định, nhưng bên cạnh đó còn có những nhược điểm nhất định, một số tác phẩm còn mang tính chất minh họa, chưa chú trọng xử lý hình khối do đó không gian tự thân của tác phẩm chưa đạt được hiểu quả thị giác cao
2.3 Nghệ thuật bố cục tượng đài thể hiện hình tượng các danh nhân
Khi ý tưởng thẩm mỹ về nhân vật đã hình thành, ở người nghệ sỹ có nhiều những thông tin để hình dung tưởng tượng về bố cục khối tích cho tác phẩm, và câu hỏi luôn đặt ra sẽ xây dựng hình tượng nhân vật cao lớn hay to nhỏ như thế nào, thể hiện ra sao, kích thước như thế nào là phù hợp và tối ưu nhất Nhân vật được thể hiện trong tư thế toàn thân đứng hay ngồi, tư thế của dáng đứng thể hiện ra sao các động tác biểu hiện của chân tay Tất cả những động thái của nhân vật trong bố cục, đều là những yếu tố trong đó bao hàm chứa đựng hình tượng của nhân vật mang tính sáng tạo