1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN về NGÀNH DU LỊCH BIỂN KINH TẾ BIỂN NEU

39 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 630,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi dulịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và không quá một năm l

Trang 1

BỘ MÔN: KINH TẾ BIỂN NEU

ĐỀ TÀI: TỔNG QUAN KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦU

Bước sang thế kỷ 21,“Thế kỷ của biển và đại dương”, khai thác biển đã trở thành

vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể

cả các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển Trong điều kiện các nguồntài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tớibiển Mặt khác, sự bùng nổ dân số ngày càng gia tăng, theo thống kê đầu năm 2006toàn thế giới có 6,5 tỷ người, dự báo đến 2015 dân số thế giới khoảng 7,5 tỷ người

Sự phát triển của dân số thế giới làm cho không gian kinh tế truyền thống đã trởnên chật chội, nhiều nước bắt đầu quay mặt ra biển và nghĩ đến các phương án biếnbiển và hải đảo thành lãnh địa, thành không gian kinh tế mới Một xu hướng mớinữa là hiện nay, trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng, việcđẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ về biển đang là một xu thế tất yếu của

Trang 2

các quốc gia có biển để tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu,năng lượng, thực phẩm và không gian sinh tồn trong tương lai

Nước Việt Nam ta nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn, quan trọng củakhu vực và thế giới Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thìnước ta ngày nay không chỉ có phần lục địa tương đối nhỏ hẹp “hình chữ S” màcòn có cả vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp hơn ba lần diện tích đất liền.Dọc bờ biển có hơn 100 cảng biển, 48 vụng, vịnh và trên 112 cửa sông, cửa lạch đổ

ra biển Vùng biển Việt Nam có hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ với diện tích phần đất nổikhoảng 1.636 km2, được phân bố chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc và Tây Nam vớinhững đảo nổi tiếng giàu, đẹp và vị trí chiến lược như Bạch Long Vĩ, Phú quốc,Thổ Chu, Côn Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa Tuyến biển

có 29 tỉnh, thành phố gồm: 124 huyện, thị xã với 612 xã, phường (trong đó có 12huyện đảo, 53 xã đảo) với khoảng 20 triệu người sống ở ven bờ và 17 vạn ngườisống ở các đảo Khai thác biển cho phát triển kinh tế là một cách làm đầy hứa hẹn,mang tính chiến lược và được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trongcông cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Đó cũng là một lợi thế lớn giúpcho Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế biển, mà đặc biệt ở đây là ngành

du lịch biển đảo

Cụ thể như Việt Nam là một quốc gia ven biển được thiên nhiên ưu đãi với các bãibiển, nhiều vịnh, đảo, và dải san hô trù phú Việt Nam có 3.260km bờ biển, đi dọctheo bờ biển Việt Nam chúng ta có thể tận hưởng những bãi biển đẹp như: Trà Cổ,Sầm Sơn, Lăng Cô, Non Nước, Nha Trang, Mũi Né, Vũng Tàu, Hà Tiên Có nơinúi ăn lan ra biển tạo nên một vẻ đẹp kỳ vĩ như: Vịnh Hạ Long, đã được UNESCOcông nhận là di sản thiên nhiên thế giới Giữa vùng biển Việt Nam còn có hệ thốngđảo và quần đảo gồm hàng ngàn đảo lớn nhỏ nằm rải rác từ Bắc đến Nam, trong đó

có hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa Hiện nay biển Việt Nam đang được

Trang 3

đưa vào sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Đặc biệt là sử dụng trong hoạtđộng du lịch Du lịch biển là một bộ phận trong các hoạt động kinh tế biển của ViệtNam Nó có những đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế biển, và vaitrò đóng góp ngày càng tăng lên

Du lịch biển trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển củanhững địa phương có tiềm năng về biển Du lịch biển kết hợp với du lịch văn hóa

và du lịch sinh thái đang ngày càng thu hút khách du lịch cả trong và ngoài nước.Nhờ đó ngành du lịch biển Việt Nam đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa; Tuynhiên việc khai thác những lợi thế cho phát triển du lịch biển còn nhiều hạn chế

Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu : “Về ngành du lịch biển Việt nam, thực trạng cũng như các giải pháp chiến lược phát triển du lịch biển bền vững”

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM VÀ KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH BIỂN HIỆN NAY.

1.1 NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM

1.1.1 Thế nào là ngành du lịch

Từ lâu ngành du lịch không chỉ được coi như một ngành kinh tế mà còn là ngành

giúp quảng bá đất nước, con người, văn hoá đến với toàn bộ thế giới Tất cả chúng

ta đều biết ngành du lịch là ngành kinh tế không khói, mà mang lại nguồn lợinhuận lớn Thực tế cho thấy, rất nhiều nước đã cải thiện được đáng kể nền kinh tếcủa mình nhờ việc phát triển hiệu quả ngành du lịch

Ở Việt Nam từ năm 1975, đặc biệt từ năm 1986 cùng với việc phát triển kinh tếnông thôn thì ngành du lịch đã bắt đầu bước vào thời kỳ phát triển, kết quả của nó

là nền kinh tế đã phát triển không ngừng từng ngày Việt Nam của ngày trước rất

Trang 4

nổi tiếng như một đất nước anh hùng, chiến thắng cả thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ Nhưng hiện nay, vào thời đại kinh tế thị trường thì đất nước ta cũng đang cốgắng vươn mình theo đổi thế giới trong cả lĩnh vực kinh tế cũng như phát triểnkhoa học Một trong những ngành rất phát triển của nước ta những năm gần đâychính là ngành du lịch

Các Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi dulịch đến và ở lại ở những nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn

24 giờ và không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đíchkhác không liên đến những nhân viên hướng dẫn viên du lịch của tổ chức thực hiệnviệc du lịch đó."

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chứcthuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người duhành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặctrong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề vànhững mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ởbên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đíchchính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môitrường sống khác hẳn nơi định cư; là một trong những ngành lớn nhất trên toàncầu, có thị trường phát triển nhanh tập trung vào các môi trường còn hoang

sơ như các vùng biển và các Khu bảo tồn biển (KBTB) KBTB đang ngàycàng thu hút sự quan tâm của các du khách nước ngoài cũng như địa phương

Du lịch có thể mang những lợi ích đến cho các cộng đồng địa phương và cácKBTB thông qua việc tạo ra các lợi tức và tuyển dụng

“Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu

sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao ( Trích Pháp lệnh Du lịch,

2/1999).

Trang 5

“ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoàng thời

gian nhất định” ( Trích Pháp lệnh Du lịch, 2/1999).

Đảng và Nhà nước đã xác định “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan

trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” ( Trích Chỉ thị 46/CT-TW Ban Bí thư Trung

ương Đảng khóa VII, 10/1994) và “phát triển du lịch thực sự trở thành ngành

kinh tế mũi nhọn” (Trích Văn kiện Đại hội Đảng XI).

Mặc dù ngành du lịch được hình thành và phát triển đã hơn 40 năm, song hoạtđộng du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi động từ thập kỷ 90 gắn liền với chính sách mởcửa hội nhập của Đảng và Nhà nước Từ năm 1990 đến năm 2002, lượng khách dulịch quốc tế tăng 10,5 lần, từ 250 nghìn lượt lên 2,62 triệu lượt; khách du lịch nộiđịa tăng 13,0 lần, từ 1,0 triệu lên 13,0 triệu lượt Đây là mức tăng cường khá cao

so với các nước trong khu vực và thế giới Thu nhập xã hội từ du lich cũng tăngvới tốc độ đáng kể, thường đạt mức trên 30% /năm, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng,đến năm 2002 đạt 23.500 tỷ đồng

Để đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặcbiệt là cơ sở lưu trú cũng phát triển nhanh Năm 1991, cả nước mới có trên 11,4nghìn phòn khách sạn thì đến năm 2002 đã có trên 72 nghìn phòng Nhiều kháchsạn cao cấp được xậy dựng làm thay đổi cơ bản diện mạo của hệ thống khách sạnViệt Nam, đáp ứng yêu cầu lưu trú và tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế lớn.Một số khu du lịch, cơ sở vui chơi giái trí, thể thao, sân gofl đã được đưa vào hoạtđộng, đáp ứng một phần nhu cầu của khách du lịch và nhân dân đia phương Songsong với việc nâng cấp, phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường không,đường sắt và đường biển trên phạm vi cả nước, phương tiện vận chuyển khách du

Trang 6

lịch chuyên ngành gồm khoảng 6.000 xe, tàu, thuyền, các loại đã góp phần nângcao năng lực vận chuyển hành khách và năng lực cạnh tranh.

Du lịch là ngành thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Đến năm

2002, đã có 194 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành du lịch được cấpphép với tổng số vốn đăng ký là 5,78 tỷ USD

Du lịch phát triển đã góp phần thúc đầy các ngành kinh tế, xã hội, phát triển, tăng

tỷ trọng dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân; khôi phục nhiều nghề, lễ hội truyềnthống, ở một số nơi du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị, nông thông vàđời sống cộng đồng dân cư Những hiệu quả trên lại tác động tích cực thúc đẩytoàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển du lịch, tạo nhiều việc làm mới, gópphần tăng trường kinh tế, hạn chế tác động của xã hội đến môi trường tự nhiên.Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ ba.Nhu cầu về du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coitrọng Có một dạng du lịch nữa, đó là du lịch xúc tiến thương mại, vừa đi du lịchvừa kết hợp làm ăn, cũng rất phổ biến tại Việt Nam

1.1.2 Các loại hình du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới đã phân loại các loại hình du lịch chính theo các mục

đích cơ bản của thị trường khách: nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, nghỉ mát; thăm

người thân, bạn bè; thương mại, công vụ; chữa bệnh; tín ngưỡng và các mục đích

khác Tất cả những mục đích này đều hoặc là đi du lịch vì ý thích (nghỉ dưỡng, tiêu khiển, giải trí, nghỉ mát) hoặc đi du lịch vì nghĩa vụ (thương mại, công vụ,

chữa bệnh).

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, có các dạng du lịch:

 Du lịch làm ăn,

 Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt,

 Du lịch nội quốc, quá biên,

Trang 7

 Du lịch tham quan trong thành phố,

 Du lịch trên những miền quê (du lịch sinh thái),

 Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm

 Du lịch hội thảo, triển lãm MICE

 Du lịch giảm stress, Du lịch ba-lô, tự túc khám phá

 Du lịch bụi, du lịch tự túc

 Du lịch tình dục

2.1 NGÀNH DU LỊCH BIỂN

2.1.1 Thế nào là ngành du lịch biển

Ai cũng biết, Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc

tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván…).Loại hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thường được tổ chức vào mùa nónghoặc mùa hè với nhiệt độ nước biển và không khí trên 20 độ C Nếu bờ biển ít dốc,môi trường sạch đẹp thì khả năng thu hút mọi người càng lớn

“Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển ở các vùng địa lý đặc thù là vùng ven biển và hải đảo trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tài nguyên môi trường du lịch biển, tài nguyên nhân văn nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch về nghĩ dưỡng, vui chơi giải trí, khám phá mạo hiểm,…”

Tài nguyên du lịch biển: Là các điều kiện về địa hình, mà cụ thể là cảnh

quan thiên nhiên ven biển, quần thể sinh vật trên cạn, dưới nước như câu

cỏ, tôm, cá, ; khí hậu ( số ngày mưa, số giờ nắng, lượng mưa trung bình, độ

ẩm không khí, nhiệt độ trung bình của nước biển, cường độ gió, hướng gió,

…)

Tài nguyên nhân văn: Tổng thể các giá trị văn hóa, lịch sử các thành tựu

chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch biển: viện bảo tàng hải dương học, các làng chài ven biển, làng nghề thủ công truyền thống, di tích lịch sử cổ xưa….

Trang 8

Du lịch biển là một bộ phận của ngành du lịch, bao gồm các hoạt động du lịch cóliên quan đến tài nguyên môi trường biển và hải đảo.

Du lịch biển có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển du lịch Việt Nam vàngày càng phát triển với tư cách là một trong những ngành kinh tế biển chủ yếu.Các sản phẩm du lịch biển như là du lịch hội nghị, hội thảo; du lịch nghỉ dưỡngbiển Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch bổ trợ như du lịch tham quan di tích lịch sử -văn hóa; du lịch sinh thái ; du lịch khám phá, nghiên cứu khoa học tại các vườnquốc gia, khu bảo tồn; du lịch lễ hội và tâm linh; du lịch tàu biển

1.1.3 Đặc điểm ngành du lịch biển

Du lịch biển có một số đặc điểm như sau:

- Có tính thời vụ: Đối với những vùng biển có khí hậu 4 mùa rõ rệt thì du lịch biểnthường phát triển mạnh mẽ nhất vào mùa hè, thời điểm này lượng khách đến với

du lịch biển rất đông, dẫn đến sự quá tải, gây ô nhiễm môi trường, chất lượng dịch

vụ không đảm bảo, không thỏa mẵn được nhu cầu tiêu dùng của khách du lịch.Ngược lại về mùa đông khách đến với loại hình du lịch này không nhiều, nguồnnhân lực phục vụ lao động không có việc làm, các cơ sở vật chất kỹ thuật bị bỏkhông một thời gian dài Gây nên tình trạng lẵng phí nguồn tài nguyên, làm ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng của các cơ sở vật chất khỹ thuật

- Phụ thuộc rất lớn vào khí hậu, thời tiết: Du lịch biển gắn với tự nhiên, cảnh quanvùng biển đảo, các bãi biển Do vậy các hiện tượng thời tiết bất thường có ảnhhưởng rất lớn đến các hoạt động du lịch như: gió bão, sóng thần, hạn hán …làmảnh hưởng đến tâm lý khách du lịch, kìm hãm sự phát triển du lịch, gây ra nhữngtổn thất nặng nề về cơ sở vật chất kỹ thuật

1.1.4 Các loại hình du lịch biển

Cũng giống như các loại hình của ngành du lịch nói chung, có thể chia loại hình du

lịch biển thành 2 nhóm chính là đi du lịch vì ý thích và đi du lịch vì nghĩa vụ.

Trong nhóm đi du lịch vì ý thích có hai loại : đi du lịch vì những sở thích chung và

đi du lịch vì sở thích đặc biệt Thị trường khách đi du lịch có sở thích chung

Trang 9

thường là những thị trường chính trong khi đi du lịch và sở thích đặc biệt là thị

trường nhỏ, đặc biệt (niche market)

Hình 1: Phân loại các loại hình du lịch biển

Trang 10

Nguồn: Tài liệu “Khóa tập huấn Quốc Gia về Quản lý khu bảo tồn biển”

Trang 11

2 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

2.1 Thị trường khách du lịch

2.1.1 Khách du lịch quốc tế:

- Về lượng khách: Đối với cả nước, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

trong thập kỷ vừa qua, từ năm 1990 đã đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là

22,5%/năm, mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước khu vực Đông Nam Á,như Thái Lan (tăng 4,1%/năm), Malayxia (tăng 5%/năm)

Vùng ven biển là khu vực thu hút phần lớn khách du lịch quốc tế Nếu tínhtrên toàn lãnh thổ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vùng ven biển, hàngnăm trên 60% - 70% tổng số lượt khách quốc tế (lưu trú) đã đến khu vực này: năm

1995 số lượt khách du lịch quốc tế đến các tỉnh, thành phố vùng ven biển đạt 1.284ngàn, năm 2000 là 3.299 ngàn và đến năm 2002 các tỉnh ven biển đã đón gần 5,3triệu lượt khách quốc tế; năm 2004, số lượt khách quốc tế lưu trú là 2.702.129 ,bằng 63% số khách lưu trú quốc tế của cả nước

- Thị trường khách theo khu vực địa lý: thị trường khách du lịch quốc tế đến

Việt Nam rất đa dạng, đến từ nhiều nguồn khác nhau kể từ các thị trường gần đến

các thị trường xa Các thị trường khách quốc tế chủ yếu đến Việt Nam bao gồmTây Âu, Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, châu Úc và Đông Nam Á Cơ cấu thị trường kháchquốc tế đến Việt Nam có nhiều biến động trong thập kỷ vừa qua Từ năm 1993 trởlại đây thị trường Đông Bắc Á chiếm tỷ lệ lớn nhất - trên 40% và tăng mạnh, năm

2002 chiếm một nửa tổng lượng khách; thị trường châu Âu chiếm khoảng 13%tổng lượng khách quốc tế; thị trường Bắc Mỹ, Đông Nam Á chiếm tỷ lệ tươngđương như khách châu Âu, dao động trong khoảng 10 - 13% với mỗi khu vực; thịtrường châu Úc chiếm tỷ lệ nhỏ - 4% Những thị trường chủ chốt gồm: TrungQuốc, Đài Loan, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, vùng Đông Nam Á Khách Trung Quốc đếnViệt Nam và vùng ven biển ngày càng tăng và hiện đang chiếm tỷ trọng cao nhất(27% tổng số khách quốc tế), sau đó là Việt Kiều, khách Mỹ (12%), Nhật Bản (>6%)

- Lượng khách theo phương tiện du lịch: vùng biển và ven biển đang trở thành

đầu mối phân bố thị trường khách du lịch quốc tế vào Việt Nam: tuy lượng khách

quốc tế đến Việt Nam chủ yếu bằng đường hàng không (chiếm trung bình 67,9%tổng số khách), lượng khách đi bằng đường biển cũng bắt đầu tăng nhanh kể từnăm 1995 với tốc độ tăng trung bình rất cao 46,1%/năm giai đoạn 1995 - 2002

Trang 12

Năm 1993 mới có 18.414 khách (chiếm 3,07% thị phần) đến năm 2001 đã tăng lên284.612 khách (chiếm 12,2 thị phần khách QT; 1-2% thị phần về thu nhập), tốc độtăng bình quân 40,5%/năm

- Thị trườg khách theo mùa vụ: vùng biển và ven biển Việt Nam thu hút quanh

năm khách quốc tế Khác đến vào các tháng 2 là dịp tết Nguyên đán chiếm trung

bình 10% thị phần; tháng 12 và tháng 5 - 9% Các tháng còn lại chiếm 7 - 8% mỗitháng Sau năm 2000, tháng tập trung khách du lịch là mùa hè, tháng 7,8

- Theo mục đích du lịch: khách quốc tế đến vùng biển và ven biển Việt Nam

nói riêng và Việt Nam nói chung theo nhiều loại hình du lịch đa dạng: tham quan

di tích văn hoá, lịch sử cách mạng; tham quan thắng cảnh thiên nhiên; nghỉ dưỡngbiển, du lịch thương mại và tham dự hội thảo, hội nghị Một số khác kết hợp thămngười thân với tham quan nghỉ dưỡng Với tốc độ tăng trưởng ổn định vùng biển

và ven biển Việt Nam tiếp tục là điểm du lịch thu hút khách từ nhiều nơi đến vớimục đích nghỉ dưỡng, tham quan

- Theo phân bố vùng du lịch: khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển Việt

Nam phân bố không đồng đều theo lãnh thổ, tập trung tại khu vực Quảng Ninh

-Hải Phòng; Huế - Đà

Nẵng Quảng Nam ; Nha Trang – Khánh Hoà, Bình Thuận Bà Rịa – Vũng Tàu

-TP Hồ Chí Minh và Kiên Giang Các điểm du lịch tập trung gồm các đô thị venbiển như Hạ Long, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết,Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đà Nẵng; các nơi có di sản văn hoá thế giới:Huế, Hội An, Mỹ Sơn; các nơi có thắng cảnh biển đảo độc đáo: Quảng Ninh, HảiPhòng, Nha Trang; các nơi có các khu nghỉ dưỡng biển như: Hải Phòng, QuảngNinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Thuận, Phú Quốc

- Chi tiêu của khách du lịch: theo như WTO dự tính thì khách quốc tế đến

Việt Nam nhìn chung chi tiêu trung bình khoảng 60-80USD/ngày (không kể khách

vùng biên giới như

Trung Quốc, Lào, Cămpuchia) Khả năng chi tiêu của các loại khách rất khác nhau.Những khách du lịch có khả năng chi tiêu cao như khách Mỹ (107 USD/ngày/khách), Nhật Bản (97USD/ngày/khách), Đài Loan (93 USD/ngày/khách).Chi tiêu ở mức thấp hơn có khách

Anh, khách Úc và Niu Zi Lân, khách Tây Âu ở mức 50 – 80 USD/ngày/khách(Nguồn: kết quả nghiên cứu của JICA) Việt Kiều chi ở mức thấp hơn, dưới 30USD/ngày/khách

- Một số thị trường khách trọng điểm :

Trang 13

+ Khách Nhật Bản thường kết hợp nhiều điểm du lịch trong chuyến đi và cácđiểm du lịch chính là TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hội An, Thừa Thiên - Huế, NhaTrang, Vịnh Hạ Long, tham quan các di tích lịch sử, tìm hiểu lối sống bản địa, tìmhiểu văn hoá ẩm thực, thăm cảnh quan thiên nhiên, mua sắm

+ Khách Trung Quốc đến Việt Nam tương đối đều trong năm, đến bằng đườngbiển chiếm tỷ lệ không đáng kể -1%, mục đích du lịch: tìm hiểu văn hoá,thiên nhiên Việt Nam các tỉnh phía Bắc, Hải Phòng và Hạ Long là ba địađiểm được yêu thích nhất

+ Thị trường khách Đài Loan tập trung ở TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, BìnhThuận, Khánh Hoà, Đà Nẵng Là loại khách chi tiêu nhiều cho mua sắmhàng hoá, các dịch vụ vui chơi giải trí

+ Thị trường khách Mỹ: năm 2002 khách Mỹ dành vị trí thứ ba sau Nhật Bản

và Trung Quốc, với các mục đích du lịch nghỉ dưỡng: 63%, thương mại,công vụ: 17% (Nghiên cứu của JICA); điểm du lịch thường tập trung ở Tp

Hồ Chí Minh, Hạ Long, các khu nghỉ mát ven biển như Phan Thiết, NhaTrang, Đà Nẵng, Vũng Tàu

+ Thị trường khách Pháp: là một trong những thị trường truyền thống của ViệtNam, mục đích du lịch nghỉ dưỡng tắm biển (77%), tham quan các di tích, disản văn hoá, các di tích cách mạng, tìm hiểu lối sống của người Việt Nam lởcác trung tâm du lịch lớn như Hải Phòng - Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế -

Đà Nẵng - Quảng Nam, Nha Trang - Ninh Chữ và TP Hồ Chí Minh

Trang 14

Nguồn: Tổng cục Du lịch

Trang 15

2.1.2 Thị trường khách du lịch nội địa:

Vùng ven biển trong những năm qua đã thu hút tới trên 50% số lượt khách

du lịch nội địa trong cả nước Năm 1997 toàn vùng đón được 5.742 ngàn lượtkhách; năm 2000 đón được 7.465 ngàn lượt khách; và năm 2004 đạt 6.910.702 lượtkhách lưu trú, chiếm 52,5 % số khách nội địa lưu trú của cả nước Những khu vựcthu hút cao khách du lịch nội địa ( lưu trú) năm 2004 gồm: Quảng Ninh, 10,4%;Hải Phòng, 7,9%; Thanh Hoá, 9,8%; Nghệ An, 7,9% TT Huế, 7,8%; Đà Nẵng,6,5%; Bà Rịa Vũng tàu, 8,2%; TP Hồ Chí Minh, 16,3%; Kiên Giang, 2,3%

Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng này là: các khu du lịch biển có sức hấpdẫn nhiều khách nghỉ dưỡng theo mùa vào dịp hè ở phía Bắc và vào mùa khô ởphía Nam; các hoạt động du lịch lễ hội khu vực ven biển ngày càng phát triển; cáckhu, điểm du lịch được đầu tư, phát triển và đưa vào khai thác ngày một nhiều, vớichất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao Nhu cầu của khách nội địa đa dạng,

có nhu cầu hưởng thụ các dịch vụ vui chơi giải trí gắn với du lịch biển nhiều hơntrước

Trang 16

Hình 2 : Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000-2013

Nguồn : Tổng cục Du lịch 2.2 Thu nhập du lịch

Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng nhanh về khách du lịch, thunhập từ du lịch của cả nước tăng trưởng với tốc độ tương đối cao Năm 1995 thuđược trên 8.000 tỉ đồng, năm 2000 thu nhập du lịch đạt 17.400 tỷ và đến năm 2005ước tính thu nhập do ngành du lịch thu được khoảng 30.000 tỷ đồng Tốc độ trăngtrưởng bình quân về thu nhập du lịch thời kỳ 1992 - 2002 đạt 23,29%/năm

Thu nhập du lịch ở các tỉnh ven biển luôn chiếm tỷ lệ lớn (trên 70%) trongtổng thu nhập xã hội từ du lịch của cả nước Năm 2002 tỷ lệ này là 73,21% tức đạtkhoảng 17.204 tỷ đồng

Về cơ cấu doanh thu từ khách du lịch quốc tế năm 1999 chiếm khoảng77,7% tổng doanh thu du lịch Việt Nam; doanh thu từ khách du lịch nội địa chiếm

Trang 17

tỷ trọng nhỏ, khoảng 22,3% Đến năm 2001 các tỷ lệ này là 79,8% và 20,2% Hiệnnay khách du lịch quốc tế và khách nội địa ở Việt Nam đều dành phần lớn cho chiphí cho ăn uống và lưu trú Khách quốc tế chi khoảng 55-60% cho ăn uống và lưutrú, khách nội địa khoảng 50-55% Các phần chi cho vận chuyển, mua sắm, và cácdịch vụ khác chiếm tỷ trọng nhỏ Đây là một điểm hạn chế

của du lịch Việt Nam ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững Mức chi tiêu trungbình của một du khách quốc tế khoảng 65-70USD/ngày, khách nội địa khoảng 8USD/ngày

2.3 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch vùng biển và ven biển được đa dạng hoá, từng bước đượcnâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh, được xây dựng trên cơ sở khai tháctài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Các địa phương đã đẩy mạnh việc khaithác tiềm năng và thế mạnh về tài nguyên du lịch, bảo tồn và phục hồi các lễ hộitruyền thống, tổ chức nhiều hoạt động du lịch với nhiều chủ đề độc đáo, hấp dẫn

Hệ thống các sản phẩm du lịch biển và ven biển được phân bố theo vùng lãnh thổ

sau:

- Du lịch biển, nghỉ dưỡng biển, đảo tập trung ở khu vực Quảng Ninh-Hải Phòng;Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng - Hội An; Khánh Hoà, Bình Thuận, Vũng Tàu; KiênGiang

- Du lịch văn hoá, lịch sử cách mạng; tham quan tìm hiểu văn hoá dân tộc, dulịch lễ hội tập trung ở Thừa Thiên - Huế, Quảng nam, Ninh Thuận, KhánhHoà

- Du lịch thành phố, MICE, tập trung ở TP Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hội An,Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh

- Du lịch sinh thái biển, vùng ngập mặn tại các địa phương Quảng Ninh-Hải Phòng;Thái Bình; Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà; Bà Rịa- Vũng Tàu; ven biển vùng đồngbằng Sông

Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang

2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

2.4.1 Cơ sở lưu trú:

- Về quy mô: hệ thống cơ sở lưu trú rất phong phú và đa dạng phần lớn đềutập trung tại các địa phương vùng ven biển: đến 10/2004 có 3.096 cơ sở lưu trú với

Trang 18

tổng số 73.996 buồng chiếm 52,9% tổng số cơ sở lưu trú và 60,6% tổng số buồngtrong cả nước.

Toàn bộ vùng ven biển có 2055 khách sạn các loại với 59.753 buồng, bằng61,3% tổng số khách sạn và 65,6% tổng số buồng phòng khách sạn cả nước Ngoài

ra tại khu vực này chiếm phần lớn các loại hình cơ sở lưu trú khác: 74 % số làng

du lịch, 81% số nhà khách, nhà nghỉ, 100% số bãi cắm trại và 64% số cơ sở lưu trúkhác

- Về chất lượng: số khách sạn đạt tiêu chuẩn và xếp hạng cũng tập trung tạicác địa phương vùng ven biển: 59 % khách sạn 1 sao, 64,5% khách sạn 3 sao,68,3% khách sạn 4 sao, 55,5 % khách sạn 5 sao Nơi có nhiều cơ sở lưu trú vàkhách sạn từ 3 sao trở lên chủ yếu là TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Khánh Hoà,Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Phòng, Đà Nẵng

Tuy nhiên trong thời gian gần đây, do sự phát triển thiếu qui hoạch, số lượngcác cơ sở lưu trú, đặc biệt là các khách sạn mini, ở vùng ven biển tăng nhanh, tạotình trạng thừa vào mùa vắng khách, ảnh hưởng đến công suất sử dụng phòng trungbình năm Mặc dù số lượng cơ sở lưu trú ở vùng ven biển nhiều, song qui mô nhìnchung còn nhỏ, chất lượng chưa cao, các dịch vụ bổ sung còn nghèo nàn

Nhìn chung chất lượng của hệ thống khách sạn vùng biển và ven biển ViệtNam còn ở mức độ thấp so với các nước trong khu vực Số lượng khách sạn vàphòng khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên còn ít Khách sạn đạt tiêu chuẩn từ

1 đến 2 sao chiếm tỷ trọng lớn trong số khách sạn được xếp hạng Đây cũng là mộttrong những yếu tố làm cho sản phẩm du lịch vùng này chưa có sức hấp dẫn khách,chưa chiếm được ưu thế cạnh cạnh tranh trên thị trường du lịch quốc tế

2.4.2 Các cơ sở dịch vụ ăn uống

Cùng với sự gia tăng nhanh của khách du lịch cũng như các cơ sở lưu trú, hệthống các cơ sở ăn uống ở các tỉnh trong vùng phát triển nhanh Hầu hết các kháchsạn, nhà nghỉ đều có các phòng ăn (restaurant), quầy bar v.v không những chỉphục vụ cho khách nghỉ tại khách sạn mà còn phục vụ cả khách bên ngoài Ngoài

ra, các cơ sở ăn uống nằm ngoài khách sạn cũng phát triển mạnh, chất lượng đadạng, đáp ứng được nhu cầu không những cho nhiều loại đối tượng khách du lịchkhác nhau mà còn cho cả nhân dân địa phương

Tuy nhiên kinh doanh ăn uống trong khách sạn thường có hiệu quả thấp.Doanh thu từ nhà hàng ăn uống trung bình chiếm 22-25% trong tổng doanh thu củakhách sạn Sản phẩm phục vụ nhu cầu ăn uống mặc dù rất đa dạng, phong phú ởnhưng việc khai thác để phục vụ khách du lịch còn bị hạn chế

Trang 19

2.4.3 Các dịch vụ du lịch khác

- Các cơ sở dịch vụvui chơi - giải trí: tại các khu, điểm du lịch vùng biển

nhiều cơ sở vui chơi giải trí từng bước được đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu giải

trí của khách du lịch như: sân tennis, bể bơi, phòng tập thể thao, quầy bar, vũtrường, phòng karaoke; dịch vụ y tế phòng xông hơi, massage; dịch vụ thương mạigồm phòng họp, hệ thống các cửa hàng, quầy hàng lưu niệm và dịch vụ khác phục

vụ khách du lịch

Tuy nhiên loại hình còn nghèo nàn, qui mô nhỏ, hình thức đơn điệu, chưađáp ứng được nhu cầu của du lịch, thiếu tính cạnh tranh hấp dẫn Đây cũng là mộtnguyên nhân chính làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch

- Về dịch vụ vận chuyển khách du lịch: vận chuyển hàng không được đổimới và không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo các chuyến bay quốc tế và nộiđịa được thông suốt và an toàn đến các điểm, khu du lịch vùng ven biển thông quacác sân bay như Tân Sơn

Nhất, Đà Nẵng, Phú Bài, Nha Trang, Cát Bi, Phù Cát, Vinh, Rạch Giá, Cà Mau

Về vận chuyển đường sắt, chất lượng các đoàn tàu đang từng bước đượcnâng cao chất lượng phục vụ và rút ngắn thời gian chạy đặc biệt các chuyến tàuBắc - Nam liên kết toàn bộ vùng ven biển từ Hải Phòng đến TP HCM, thu hút ngàycàng nhiều khách du lịch

Vận chuyển khách du lịch bằng các phương tiện đường bộ phát triển nhanh

cả về số lượng, chất lượng và chủng loại với ôtô buýt chở khách du lịch chuyêndụng hiện đại, phục vụ nhuu cầu đi lại cho khách du lịch giữa các khu, vùng dulịch và nội vùng du lịch ven biển Vận chuyển bằng đường biển: còn rất hạn chế,chỉ có một số ít tàu nước ngoài cập cảng Sài Gòn, Vũng Tàu

2.5 Lao động trong ngành du lịch vùng biển và ven biển

Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng nhanh của khách du lịch, lựclượng lao động phục vụ trong ngành du lịch cũng gia tăng mạnh mẽ Năm 1992nếu chỉ tính riêng lao động phục vụ trong các doanh nghiệp Nhà nước ngành Dulịch Việt Nam có trên 35 ngàn lao động, năm 1994 tăng lên là 55 ngàn lao động Tỷ

lệ lao động bình quân trên 1 phong khách sạn năm 1994 đạt khoảng 1,35 (ở nhiềunước trên thế giới tỷ lệ này dao động từ 1,2 - 1,7 lao động), có thể thấy rằng ở thời

kỳ này lực lượng lao động ngành đạt mức trung bình của thế giới và khu vực

Đối với lao động trong ngành du lịch vùng ven biển cũng tăng nhanh, nhằmđáp ứng nhu cầu, từ 3,5 vạn lao động trực tiếp năm 1992 lên 9,9 vạn năm 1996, 13vạn lao động năm 1999 và năm 2003 đạt 22,0 vạn Tốc độ tăng trung bình hàng

Ngày đăng: 09/05/2018, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w