Nội dung nghiên cứu - Cơ sở lý luận và thực tiễn Bài viết khái quát lý luận chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chính sách thu hồi đất của nhà nước đối với người dân bị ảnh hưở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN MINH ĐỨC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HỒI ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN Ô MÔN,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN MINH ĐỨC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HỒI ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN Ô MÔN,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐÌNH HẢI
Đồng Nai, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2017
Người cam đoan
(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)
Trần Minh Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các thầy, các cô, các đơn vị, gia đình và bạn bè
về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo TS Lê Đình Hải, Trưởng Khoa Kinh tế, Phân hiệu Trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Ban giám hiệu Trường đại học Lâm Nghiệp, Khoa đào tạo sau đại học, các Thầy giáo, Cô giáo trong Bộ môn Kinh tế Phân hiệu Trường đại học Lâm Nghiệp, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm, đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành bản luận văn này
- Lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ công chức, viên chức UBND quận, UBND các phường của quận Ô Môn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất quận Ô Môn đã cộng tác và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu tại địa phương
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo điều kiện để tôi an tâm học tập và nghiên cứu./
Ô Môn, ngày 05 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Minh Đức
Trang 5BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH LÀM LUẬN VĂN
học viên cao học
I Những thông tin chung
Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Đình Hải
Họ và tên học viên: Trần Minh Đức
Lớp : K23
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Tên đề tài: Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất cho phát
triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
II Nội dung nhận xét
1 Tinh thần thái độ: Học viên có thái độ nghiêm túc trong thực hiện luận văn tốt
nghiệp theo đúng đề cương mà hội đồng đề cương phê duyệt và thường xuyên trao
đổi với giáo viên hướng dẫn về tiến độ thực hiện luận văn
2 Thực hiện kế hoạch: Học viên tuân thủ đúng theo kế hoạch thực hiện đề tài
nghiên cứu của nhà trường và của giáo viên hướng dẫn
3 Thu thập số liệu, tài liệu: Số liệu học viên thu thập được tương đối phong phú
bao gồm cả số liệu sơ cấp và thứ cấp Số liệu và tài liệu thu thập được của học viên
đảm bảo độ tin cậy cao
4 Kết quả luận văn: Nhìn chung luận văn đạt kết quả tốt Kết quả nghiên cứu của
luận văn có thể làm tài liệu tham khảo có giá trị cho địa bàn nghiên cứu
Đề nghị cho học viên bảo vệ trước Hội đồng khoa học Nhà trường
Đồng Nai, ngày 6 tháng 7 năm 2017
Giáo viên hướng dẫn
TS Lê Đình Hải
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH LÀM LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH, ẢNH, BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
4 Nội dung nghiên cứu 5
5 Kết cấu chi tiết các chương của luận văn 5
Chương 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án trên địa bàn quận Ô Môn 6
1.1.1 Thu hồi đất và người dân bị thu hồi đất 6
1.1.2 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất ở Việt Nam 12
1.2 Cơ sở thực tiễn của công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất 32
1.2.1 Kinh nghiệm về công tác thu hồi đất, BTHT&TĐC quốc tế 32
1.2.2 Kinh nghiệm về công tác thu hồi đất, BTHT&TĐC ở một số địa phương trong nước 35
Trang 7Chương 2 40
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Đặc điểm cơ bản của quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ 40
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40
2.1.3 Đánh giá chung 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 47
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 48
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 49
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 49
Chương 3 52
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
3.1 Thực trạng quá trình thực thi chính sách thu hồi đất, BTHT&TĐC trên địa bàn quận Ô Môn 52
3.1.1 Tình hình thu hồi đất của quận Ô Môn qua các năm 2014-2016 52
3.1.2 Chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Ô Môn 53
3.1.3 Quy trình tổ chức thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư dự án trên địa bàn quận Ô Môn 65
3.1.4 Quy trình kiểm kê bắc buộc (hiện trạng đất, nhà, vật kiến trúc và tài sản khác gắn liền với đất bị thu hồi) 85
3.2 Đánh giá của đối tượng được khảo sát đến công tác thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn quận Ô Môn 89
3.2.1 Ý kiến của các hộ điều tra về vấn đề thu hồi đất trên địa bàn quận Ô Môn 89
3.2.2 Nhận xét của cán bộ, lãnh đạo về công tác thu hồi đất 91
3.2.3 Các ảnh hưởng của thu hồi đất 93
3.2.4 Đánh giá chung về quá trình thực thi chính sách thu hồi đất trên địa bàn quận Ô Môn 95 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách thu hồi đất trên địa bàn
Trang 8quận Ô Môn 97
3.3.1 Yếu tố về cơ chế chính sách: 97
3.3.2 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 98
3.3.3 Yếu tố từ phía nhà đầu tư 99
3.3.4 Yếu tố từ phía người dân có đất bị thu hồi 99
3.4 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu hồi đất, BTHT&TĐC trên địa bàn quận Ô Môn 99
3.4.1 Một số vấn đề cần sửa đổi bổ sung chính sách 101
3.4.2 Giải pháp đối với đơn vị thực hiện công tác BTHT&TĐC 103
3.4.3 Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật đất đai liên quan đến BTHT&TĐC khi nhà nước thu hồi đất 104
3.4.4 Tổ chức thực hiện BTHT&TĐC khi thu hồi đất và tổ chức tái định cư cho người dân trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 104
3.4.5 Giải pháp chính sách tài chính về đất đai 105
3.4.6 Giải pháp tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác BTHT&TĐC 105
3.4.7 Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch thu hồi đất 106
3.4.8 Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi đất tại địa bàn quận Ô Môn 107
3.4.9 Vấn đề sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất trên địa bàn quận 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 124
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1 Tình hình thu hồi đất của quận Ô Môn qua các năm 2014-2016 53
Bảng 3.2 Giao đất tái định cư 63
Bảng 3.2 Ý kiến của cán bộ, lãnh đạo về số lượng dự án, dự án treo 66
Bảng 3.3 Ý kiến của người dân về số lượng dự án, dự án treo 67
Bảng 3.4 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về các thủ tục để tiến hành thu hồi đất 68
Bảng 3.5 Ý kiến của người dân về các thủ tục để tiến hành thu hồi đất 69
Bảng 3.6 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về công khai phương án BTHT 71
Bảng 3.7 Ý kiến của người dân về công khai phương án BTHT 71
Bảng 3.8 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về niêm yết lấy ý kiến người dân về phương án BTHT 75
Bảng 3.9 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về công tác THĐ, phê duyệt PA BTHT 77
Bảng 3.10 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về công khai phương án BTHT 79
Bảng 3.11 Ý kiến của người dân về thủ tục BTHT hiện nay 79
Bảng 3.12 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về chi trả và nhận tiền BTHT 81
Bảng 3.13 Ý kiến của người dân về nhận bồi thường và hỗ trợ 82
Bảng 3.14 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo về thủ tục BTHT và bàn giao đất 83
Bảng 3.15 Thực tế bồi thường và nguyện vọng bồi thường của người dân 90
Bảng 3.16 Kiến nghị của hộ gia đình mất đất với cơ quan có thẩm quyền 90
Bảng 3.17 Tình hình hỗ trợ đào tạo nghề và xin việc làm 91
Bảng 3.18 Ý kiến của cán bộ, lãnh đạo về công tác thu hồi đất 91
Bảng 3.19 Hình thức chuyển đổi nghề phù hợp nhất ở địa phương 92
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến thu nhập của người dân 93
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến chất lượng hệ thống giao thông 94
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến chất lượng hệ thống thủy lợi 94
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến an ninh, đời sống xã hội 95
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến môi trường sinh thái 95
Bảng 3.25 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quận Ô Môn 98
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần quan trọng hàng đầu để phát triển kinh tế nông nghiệp, là môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở văn hóa, kinh tế, xã hội, an
ninh quốc phòng
Nước ta là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Khu vực nông thôn có 23 triệu hộ trong đó có khoảng 20,5 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp Vì thế đảm bảo sinh kế bền vững cho hộ nông dân là vấn đề được quan tâm nhiều trong nông thôn khi mà hiện nay quá trình thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ngày càng diễn ra với tốc độ nhanh chóng
Quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đô thị hóa, xây dựng các công trình, dự
án đã mang lại nhiều kết quả tốt, giúp nhiều địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại dịch vụ Tuy nhiên cùng với đó chính sách thu hồi đất sản xuất đã có tác động đến đời sống của hàng ngàn hộ gia đình Các hộ bị thu hồi đất phần lớn là những hộ sản xuất nông nghiệp Sau khi bị thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất có nhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm Hàng năm có hơn 10 dự án lớn, nhỏ cần hơn 50ha đất phải thu hồi và chuyển mục đích khác Việc thu hồi đất không chỉ làm các người dân mất đi tài sản, thu nhập đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội Điều này dẫn đến việc không còn hoặc còn rất ít đất sản xuất nông nghiệp, hộ dân phải chuyển sang tìm kiếm ngành nghề khác Với trình độ dân trí có hạn, quen lao động chân tay, người nông dân đã xoay xở như thế nào với cuộc sống mới? Nhiều người phải đổ ra thành thị để tìm kiếm việc làm và phải đối mặt với rủi ro của cuộc sống nơi đô thị,
Trang 13một số ít lao động trẻ được tuyển dụng vào làm việc trong khu công nghiệp, một số lao động tìm việc làm tại các địa phương khác hoặc mở các dịch vụ (mở quán nước, xây dựng nhà ở cho thuê ) Bên cạnh những người dân không bị thu hồi đất cũng
bị tác động đến sản xuất của mình, một phần lao động trong gia đình chuyển sang làm việc trong nhà máy hoặc dịch vụ trong khu công nghiệp Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều công tác tổ chức thực hiện chính sách nhằm ổn định đời sống cho người dân, cho phát triển kinh tế, xã hội sau khi bị thu hồi đất như: Chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư (BTHT&TĐC), chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề… Mặc dù thế vấn đề thu nhập của người dân mất đất sản xuất còn gặp rất nhiều khó khăn
Như vậy, cùng với tốc độ thu hồi đất để phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của cả nước nói chung, trên địa bàn quận Ô Môn nói riêng đã ảnh hưởng ra sao đến đến đời sống của người dân Trong đó một số hộ đã thích nghi được với điều kiện mới và tìm được việc làm đảm bảo cho cuộc sống, xây dựng mô hình để có thu nhập phù hợp với điều kiện của hộ, tăng thu nhập, song nhiều hộ lại rơi vào tình trạng thiếu việc làm, vì vậy rất cần sự trợ giúp của các cấp, ngành và của địa phương để họ ổn định với cuộc sống mới
Quận Ô Môn có vị trí trung tâm của quận cách trung tâm của thành phố Cần Thơ 20km, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Nhiều lao động được nhận vào làm việc trong nhà máy thuộc khu công nghiệp và cũng có nhiều lao động chỉ có việc làm tạm thời hoặc rơi vào cảnh thiếu việc làm Nhìn chung đời sống của những hộ dân này cũng còn nhiều khó khăn Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất ảnh hưởng ra sao đến người dân, đến phát triển kinh tế, xã hội? Có đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của họ hay không? Mức sống, thu nhập của họ thay đổi ra sao? Làm sao để ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho họ?
Để tìm hiểu vấn đề này, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác tổ chức thực
hiện chính sách thu hồi đất cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ” làm luận văn cao học của mình
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá chính sách thu hồi đất, công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án đầu tư phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn của quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực thi chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư của các dự án trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng về chính sách thu hồi đất, công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
- Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung:
+ Đề tài tập trung điều tra nghiên cứu các chủ trương, chính sách thu hồi đất, công tác tổ chức thực thi chính sách về thu hồi đất, các chính sách về bồi thường hỗ
Trang 15trợ và tái định cư của các dự án cho phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung
và trên địa bàn quận Ô Môn nói riêng, từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục, hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án trên địa bàn quận Ô Môn
+ Điều tra, đánh giá công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ, dự án Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 91 đoạn km14+000 – km50+889 theo hình thức hợp đồng BOT; dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn và các dự án khác trên địa bàn quận Ô Môn
+ Điều tra việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của người dân tại dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ, dự án Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 91 đoạn km 14+000 – km 50+889 theo hình thức hợp đồng BOT; dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn, Khu xử lý chất thải rắn Ô Môn…
+ Đánh giá, đề xuất giải pháp việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận Ô Môn Cụ thể tại dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ,
dự án Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 91 đoạn km 14+000 – km 50+889 theo hình thức hợp đồng BOT; dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn và các dự án khác trên địa bàn quận
- Phạm vi về không gian:
Các dự án Nâng cấp đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cần Thơ, dự án Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 91 đoạn km 14+000 – km 50+889 theo hình thức hợp đồng BOT; dự án Kè chống sạt lở sông Ô Môn, dự án Khu xử lý chất thải rắn Ô Môn, tiêu chí để chọn dự án này là: Các dự có quy mô lớn, có ảnh hưởng nhiều đến đời sống người dân bị mất đất, các chính sách của công tác BTHT&TĐC được thực hiện đủ
Đề tài được nghiên cứu tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
- Phạm vi về thời gian:
Trang 16Điều tra, thu thập số liệu giai đoạn 2014 - 2016 vì đây là thời gian thực hiện theo Luật Đất đai 2013 mới nhất (có hiệu lực thi hành kể thừ ngày 01/7/2014), cơ sở
để so sánh các chính sách theo Luật đất đai 2013 và Luật đất đai 2003
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn
Bài viết khái quát lý luận chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chính sách thu hồi đất của nhà nước đối với người dân bị ảnh hưởng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, thu hồi đất cụ thể là Luật đất đai 2003 và Luật đất đai 2013 trong việc thu hồi đất của người dân
- Thực trạng nghiên cứu
Đánh giá thực trạng về việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án trên địa bàn quận Ô Môn và công tác tổ chức thực hiện các chính sách này
Đánh giá thực trạng chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến sinh kế của người dân và các tiêu chí khác của đời sống xã hội cộng đồng dân cư trước và sau khi Nhà nước thu hồi đất
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
- Giải pháp nghiên cứu
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
5 Kết cấu chi tiết các chương của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Bảng biểu đồ, sơ đồ, danh mục chữ viết tắt và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHI N CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư của các dự án trên địa bàn quận Ô Môn
1.1.1 Thu hồi đất và người dân bị thu hồi đất
1.1.1.1 Đất đai trong đời sống kinh tế xã hội
Đất đai là tài nguyên có hạn về diện tích mà nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng do dân số tăng, kinh tế phát triển, đặc biệt là quá trình CNH - HĐH đất nước đang diễn ra ồ ạt và Việt Nam lại vừa gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO Chính những điều này đã làm cho việc phân bổ đất đai vào các mục đích khác nhau ngày càng khó khăn, các quan hệ đất đai thay đổi với tốc độ lớn và ngày càng phức tạp, quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp vì phải dành cho phát triển công nghiệp, quá trình đô thị hóa và cho cả những nhu cầu ngày càng cao của con người Vì vậy, vấn
đề quản lí sử dụng đất có hiệu quả là vấn đề bức thiết, để đảm bảo sử dụng đất đai một cách có hiệu quả cũng như công tác bảo vệ, quản lí tốt đất đai thì công tác đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất đai là việc làm rất quan trọng, nhằm đưa
ra các giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại để đem lại hiệu quả thiết thực nhất phục vụ đời sống xã hội
Bao đời nay đất đai đã được thừa nhận là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
Ngày nay, khi dân số trên trái đất tăng lên, đất đai càng có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước và cải thiện chất lượng sống cho người dân Có lẽ vì tầm quan trọng như thế của đất đai nên Hiến chương về đất (đã được Uỷ ban các Bộ trưởng Châu Âu biểu quyết tại Nghị quyết số 19 năm 1972) đã tuyên bố như sau: "Ruộng đất là một trong những của cải quý nhất của loài
Trang 18người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên mặt đất"
Ở nước ta, do điều kiện lịch sử, tự nhiên quy định đất đai có tầm quan trọng đặc biệt: Trước hết đất đai là nguồn tài nguyên số một của ngành nông nghiệp, lĩnh vực không chỉ cung cấp gần ¼ GDP mà còn nuôi sống hơn một nửa dân số nước ta Hơn nữa trên mặt đất, trong lòng đất cũng chứa đựng nguồn tài nguyên phong phú
là điều kiện tiên quyết để đất nước khai thác sử dụng cho phát triển công nghiệp, dịch vụ Cho đến nay, giá trị khai thác từ đất còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị gia tăng của đất nước ta
Với vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt, đất đai tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất đảm bảo nhiều nhu cầu của con người mà trước hết là ăn,
ở, mặc Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các vật phẩm phục vụ cho con người ngày một đa dạng và phong phú, song nhu cầu các sản phẩm được tạo ra
từ đất vẫn không giảm
Đất đai là địa điểm, mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, phân bổ lực lượng sản xuất và phân bổ dân cư, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, cửa hàng, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, v.v Nói cách khác, đất với tư cách mặt bằng diễn ra các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên khan hiếm so với nhu cầu phát triển kinh tế Chính vì thế cuộc đấu tranh nội bộ để giành quyền sử dụng đất phù hợp với lợi ích của mỗi người và nhóm người ngày càng căng thẳng Trong bối cảnh đó quyền sử dụng đất trở thành hình thức cất trữ tài sản của nhiều nhà đầu cơ đất
Đất đai là môi trường con người xây dựng nhà ở, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục, Chính vì thế đất là điều kiện để tạo dựng các điều kiện sinh hoạt trực tiếp như phân bổ dân cư, để tổ chức các hoạt động xã hội, xây dựng cơ sở quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác phục vụ cuộc sống của con người
Đất đai là cơ sở để phát triển các hệ bảo tồn sinh thái như: trồng rừng, khoanh nuôi tái tạo rừng, giữ gìn nguồn nước, vệ sinh môi trường Đây là những hoạt động có tầm quan trọng hàng đầu để bảo tồn môi trường sống của con người và sinh vật ở bất cứ nước nào nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 19Tóm lại, đất đai là toàn bộ lãnh thổ gắn liền với chủ quyền của một quốc gia Không thể quan niệm về một quốc gia không có đất đai Chủ quyền của một quốc gia trước hết là chủ quyền về lãnh thổ của mình Vì vậy, đất đai được coi là yếu tố
cơ bản nhất xác định vị trí chủ quyền lợi ích của một quốc gia, một dân tộc, yếu tố
cơ bản xác định cội nguồn của một con người Dưới góc độ phát triển kinh tế, đất đai là nguồn lực hàng đầu để phát triển bền vững Dưới góc độ lợi ích, đất đai là tài sản Đất đai không chỉ tạo nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước mà còn là tài sản thế chấp, vay vốn của các doanh nghiệp, cá nhân dùng đất đai để góp vốn liên doanh
Ngày nay đất đai trở nên khan hiếm so với nhu cầu nên cần được quản lý, sử dụng hiệu quả
1.1.1.2 Chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
Khái niệm về thu hồi đất
Cho đến nay, về cơ bản, mọi khoảnh đất có thể sử dụng vào phát triển kinh tế (trừ phần mặt biển sở hữu chung) đều đã có chủ Theo cách hiểu thông dụng truyền thống, người chủ đất có mọi quyền đối với đất thuộc sở hữu của mình, đặc biệt là quyền sử dụng, thu lợi và trao đổi Trong xã hội hiện đại, do đất vừa là tài sản, vừa là môi trường sống chung nên chủ sở hữu đất đã bị Nhà nước lấy bớt một số quyền đối với đất, ví dụ như quyền tùy ý sử dụng đất đã bị bó hẹp trong quy hoạch không gian chung, trong các quy định về bảo vệ môi trường Tuy bị thu bớt một số quyền như thế, người nắm giữ quyền sở hữu đất vẫn có nhiều đặc quyền, trong đó các quyền cơ bản là: Sử dụng phục vụ nhu cầu của mình, thu lợi trên đất, trao đổi với người khác với
tư cách hàng hóa độc lập [1]
Ở các nước duy trì sở hữu tư nhân đối với đất đai, người chủ đất nắm toàn bộ các quyền về đất Khi đó, nếu Nhà nước hoặc cá nhân khác muốn sử dụng đất đó phải mua hoặc thuê lại Ở các nước này không có khái niệm Nhà nước thu hồi lại đất
Ở các nước duy trì sở hữu toàn dân đối với đất đai như nước ta, xuất hiện khái niệm giao và thu hồi đất Thu hồi đất là quyền lực của Nhà nước ta được quy
Trang 20định trong luật căn cứ vào vị thế đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai Thu hồi đất là việc các cơ quan nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất của những cá nhân
và tổ chức nào đó để giao cho cá nhân hoặc tổ chức khác sử dụng hiệu quả hơn hoặc
để Nhà nước sử dụng vào mục đích chung
Thu hồi đất hiểu theo nghĩa này, khác với thu hồi đất của chủ cho thuê đất khi hết kỳ hạn thuê Thu hồi đất ở đây là hành vi lấy lại quyền sử dụng đất đã giao của Nhà nước để sử dụng vào mục đích khác Người bị thu hồi đất không có vị thế giao kết hợp đồng của người thuê, không có quyền từ chối chuyển giao quyền sử dụng đất cho Nhà nước, thậm chí không có quyền thỏa thuận giá cả đền bù Trong khi đó đối với người bị thu hồi đất, thường là nông dân, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng đối với họ, nhiều trường hợp là sống còn Do đó đi đôi với thu hồi đất, Nhà nước phải có chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người bị thu hồi đất
Sự cần thiết thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Các quan hệ về sở hữu và sử dụng đất đai luôn gắn chặt với lịch sử và chế độ chính trị của một nước Ở nước ta, sau khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm
1993, hầu hết đất đai có thể sử dụng đã được giao cho các gia đình và các tổ chức khác nhau kèm theo việc quy định mục đích sử dụng cho từng loại đất Sau khi đất
đã được giao hết, về cơ bản quyền sử dụng đất và mục đích sử dụng đất đã được định vị Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhiều khoảnh đất cần phải thay đổi mục đích sử dụng và có thể phải chuyển giao chủ sử dụng mới Chính vì thế có hoạt động thu hồi đất
Sử dụng đất không đúng mục đích, không hiệu quả, đất lấn chiếm, đất được Nhà nước giao, đất không sử dụng Trong luận văn này chỉ quan tâm đến thu hồi đất
đã được giao cho người dân sử dụng và còn trong thời hạn giao đất Lý do Nhà nước thu hồi loại đất này thường là:
Thay đổi quy hoạch, cần chuyển mục đích sử dụng đất Xây dựng các công trình công cộng, an ninh, quốc phòng Xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp tập trung Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta, việc thu hồi đất
Trang 21chuyển sang làm đường, xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị hiện đại sẽ còn tiếp tục Đi đôi với quá trình thu hồi đất đó, số lượng người dân bị thu hồi đất sẽ ngày càng tăng mà nếu không có chính sách hợp lý, bài bản, dài hạn với họ thì nguy
cơ bùng phát các vụ khiếu kiện, điểm nóng sẽ nhiều hơn
1.1.1.3 Tác động của việc thu hồi đất đối với sinh kế của người dân
Đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là môi trường sống của người dân Do đó mất đất, đồng nghĩa với mất chỗ ở, mất nơi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Nói cách khác, việc thu hồi đất của Nhà nước đã ảnh hưởng bất lợi đến người dân bị mất đất trên các phương diện sau đây:
sẽ khó khăn hơn Hơn nữa, khi chuyển nhà, các chi phí phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, vườn tược, tạo dựng hạ tầng sinh hoạt, dịch vụ chung, v.v… khá lớn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều người dân mất đất không thể tự giải quyết được Đặc biệt, khi di dời bất đắc dĩ chỗ ở do đất bị thu hồi, nhiều người dân có tâm lý không thoải mái, tâm lý bị thua thiệt Nếu không có sự đả thông tư tưởng và một số hình thức bồi thường thích hợp, những người dân mất chỗ ở có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với chính sách thu hồi đất của Nhà nước
Mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản xuất quan trọng của người sử dụng đất cũ Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường bằng diện tích đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt trên các
Trang 22phương diện: mất địa thế của địa điểm đã quen dùng; mất một phần thành quả đầu
tư vào đất Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất cho Nhà nước nếu không được bồi thường thỏa đáng
Ngay cả khi Nhà nước bồi thường thỏa đáng bằng tiền cho người có đất bị thu hồi thì họ cũng mất việc làm do không còn địa bàn Nếu Nhà nước bồi thường cho
họ một diện tích đất ở nơi khác thì họ cũng mất chi phí xây dựng lại từ đầu hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều điểm bất lợi hơn trước
Sự mất mát, thua thiệt, tâm lý lo sợ tương lai không rõ ràng khiến nhiều người tìm mọi cách để không phải giao đất cho Nhà nước, từ vận động hành lang quy hoạch đến chây ì, phản đối tập thể, v.v… Muốn thu hồi đất hiệu quả, Nhà nước phải có phương án giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn này
Bức xúc vì phân chia lợi ích không công bằng
Do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất thu hồi sẽ làm cho một số chủ thể kinh tế có lợi ích tăng lên (ví dụ như doanh nghiệp nhận đất xây khu đô thị, người có đất hai bên đường mới làm…) đi đôi với thua thiệt trông thấy của người mất đất dẫn đến các xung đột lợi ích gay gắt Người mất đất sẽ càng cảm thấy mình bị đối xử bất công hơn khi hàng xóm của mình giàu lên không nhờ công sức của họ mà nhờ đất của mình bỏ ra làm đường, hoặc sẽ phẫn nộ khi giá bồi thường cho họ thấp hơn nhiều giá đất doanh nghiệp bán cho họ…
Công tác tái định cư khó khăn cũng làm cho người dân bị mất đất thua thiệt
Do nhiều địa phương thiếu quỹ đất nông nghiệp để bồi thường thích đáng cho nông dân, nên nhiều người dân, sau khi nhận tiền đền bù, đã không có công ăn việc làm, không có kinh nghiệm kinh doanh nên tiền bồi thường nhanh chóng tiêu hao Nơi ở mới nhiều khi không được xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn thiện làm cho cuộc sống của họ càng khó khăn hơn Chính vì thế, nhiều người dân mất đất, hoặc rơi vào nghèo khó, hoặc rơi vào tệ nạn xã hội, trở thành gánh nặng cho chính họ và cho xã hội
Ngoài ra, việc thu hồi đất không chỉ gây tác động bất lợi cho người mất đất mà còn tạo thêm sức ép cho Nhà nước về phương diện tài chính, quản lý và điều hành
Trang 23Chính vì thu hồi đất có nhiều tác động không mong muốn như vậy nên Nhà nước, một mặt phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý, dài hạn, ổn định, nhằm hạn chế xáo trộn; mặt khác, phải xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư đối với người dân bị mất đất một cách hợp lý
1.1.2 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân
bị thu hồi đất ở Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
là một dạng chính sách công có nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực giáp ranh như đất đai, tài chính, an ninh, chính trị… Giống như các chính sách công khác, có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất Một số người cho rằng quyền sử dụng đất là hàng hóa nên Nhà nước cần đối xử với người có đất bị thu hồi như là bên bán quyền sử dụng đất Quan niệm này quá cực đoan, không phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân vế đất đai
và chế độ quản lý theo mục đích sử dụng đất của Nhà nước ta Một số người khác cho rằng, đất đai thuộc quyền quản lý của Nhà nước, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo luật và chỉ bồi thường theo quy định của Nhà nước Quan niệm này quá cứng nhắc, không phù hợp với chủ trương sử dụng thị trường để điều tiết việc sử dụng đất có hiệu quả ở nước ta [7]
Quan điểm trong luận văn này cho rằng, về mặt lý luận, có thể coi chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một dạng chính sách đặc biệt của Nhà nước thể hiện cách ứng xử vừa đại diện cho chủ sở hữu đất đai, vừa phản ánh thái độ của cơ quan được xã hội trao quyền quản lý đất đai, vừa bao hàm nội dung điều hòa lợi ích theo hướng bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên liên quan phục vụ mục tiêu hiệu quả kinh tế xã hội và công bằng, trong đó các cơ quan nhà nước sử dụng nhiều công cụ tổ chức, tài chính, giá cả để đạt được các mục tiêu của mình Khi bàn về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải chú ý các phương diện sau:
Trang 24- Về mặt quan điểm, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải kết hợp hợp lý các yêu cầu quản lý hành chính với các yêu cầu của cơ chế quản lý thị trường trong xác định mức bồi thường và các thủ tục liên quan Ở đây nhấn mạnh hai yêu cầu: dân chủ và công bằng Yêu cầu dân chủ là khi xác định mức bồi thường, phương thức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải tham vấn ý kiến người mất đất và thể hiện được ý kiến, nguyện vọng của họ một cách hợp lý Yêu cầu công bằng là khi phân chia lợi ích, phải đảm bảo các bên được hưởng lợi ích phù hợp với đóng góp của họ Phần lợi ích thuộc xã hội phải được sử dụng chung một cách công khai, minh bạch
Về mặt chủ thể: Chế độ phân cấp cho các cơ quan nhà nước trong việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tổ chức tái định cư phải rõ ràng, trách nhiệm, quyền hạn, lợi ích tương xứng, có sự phối hợp và kiểm tra giám sát chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa
sự lạm quyền tư lợi
Về mặt mục tiêu: Cần kết hợp hài hòa mục tiêu của người sử dụng đất, của
xã hội và người dân, trong đó ưu tiên cao nhất cho việc sử dụng có hiệu quả quỹ đất phục vụ đời sống người dân
Về mặt công cụ và cơ chế tác động: Cần phối hợp hài hòa với nhau có tính đến các giới hạn về sử dụng đất, ngân sách nhà nước và năng lực tổ chức thực hiện của các chủ thể
Nói tóm lại, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là tổng thể các quan niệm, chủ trương, phương tiện và hành động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với những người dân có đất bị thu hồi nhằm đạt tới sự hài hòa, hợp lý về lợi ích, hiệu quả và phát triển bền vững
1.1.2.2 Mục tiêu, nguyên tắc thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chính sách BTHT&TĐC đối với người dân bị thu hồi đất ở Việt Nam
Mục tiêu, nguyên tắc xây dựng quy hoạch, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất ở Việt Nam
Mục tiêu thứ nhất của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, sở hữu nhà ở
Trang 25Về mặt lịch sử, đất đai là thành quả xây dựng và bảo vệ của nhiều thế hệ liên kết trong một quốc gia Theo ý nghĩa đó đất đã là tài sản chung Chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã hiện thực hóa quan hệ pháp lý của tài sản chung đó Tuy nhiên,
sử dụng đất đai lại phân cấp cho các tổ chức và các gia đình riêng lẽ Vì thế cần có
cơ chế phân định hợp lý quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích của xã hội (đại diện là Nhà nước) và công dân trong quan hệ đất đai
Như vậy: Về mặt pháp lý, dù người sử dụng đất được hưởng thành quả từ việc sử dụng đất vào các hoạt động kinh tế, xã hội nhưng đất đai phải được sử dụng nhằm mục đích phục vụ sự tồn tại và phát triển của xã hội mà Nhà nước là người đại diện Mục tiêu của xã hội là đất chung phải được sử dụng sao cho phục vụ tốt nhất cho phát triển kinh tế, kiến thiết xã hội xã hội chủ nghĩa và cải thiện chất lượng sống nói chung của dân cư Vì thế đất phải được sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch chung của Nhà nước
Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước thường không phải là người trực tiếp sử dụng đất Người dân mới là người khai thác quỹ đất Họ chỉ khai thác quỹ đất hiệu quả khi quyền lợi của họ được tôn trọng và bảo hộ Làm sao để mục tiêu chung của
xã hội và mục tiêu riêng của người sử dụng đất hài hòa với nhau tạo điều kiện cho phát triển nhanh, bền vững là mục tiêu quan trọng của chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư Ở đây, xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất cũng như vận dụng các công cụ tổ chức, tuyên truyền, tài chính của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là rất quan trọng
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Quyền sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta là quyền sở hữu về mặt pháp lý (Nhà nước quy định trách nhiệm của mình cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất) Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quyền sử dụng đất thực tế và phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước Nếu quan hệ này được thiết lập hợp
lý thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ dễ triển khai hơn
Ở nước ta, Nhà nước còn nắm một phần quyền sử dụng đất về mặt pháp lý, tức nắm quyền quy định mục đích sử dụng cho các thửa đất theo quy hoạch Nhà
Trang 26nước nắm quyền này là để định hướng sử dụng đất đai cho phù hợp với lợi ích của toàn xã hội về các phương diện đảm bảo an ninh lương thực, cân đối các nhu cầu sử dụng đất, sử dụng đất hiệu quả, hạn chế tình trạng đất để hoang hoá, vô chủ, sử dụng lãng phí, không bảo vệ đất, Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân để đảm bảo đất có chủ sử dụng thực sự và hiệu quả Ngoài ra, Nhà nước giao quyền sử dụng đất đúng mục đích cũng tạo điều kiện cho thị trường quyền sử dụng đất sau khi hoạt động để khuyến khích sử dụng đất hiệu quả
Trong rất nhiều mối quan hệ chồng chéo đó, làm thế nào để bảo đảm lợi ích hợp lý giữa xã hội và cá nhân là vấn đề vô cùng phức tạp Song, nếu không giải quyết được các quan hệ này thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ khó triển khai Bởi vì, Luật Đất đai ở nước ta quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người dân bị mất đất
Vậy bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như thế nào để đảm bảo sự hài hòa lợi ích?
Thông thường, việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải đáp ứng các yêu cầu:
Tạo điều kiện để người bị mất đất có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn trước khi mất đất Điều tiết phần lợi ích gia tăng không do các cá nhân tạo ra về ngân sách nhà nước Tạo điều kiện để người sử dụng đất sau này hoàn thành mục tiêu đã được
xã hội chấp thuận Bảo tồn được quỹ đất và môi trường Mục tiêu thứ hai của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là khuyến khích người dân giao đất Vì đất là điều kiện để xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng khu đô thị, là điều kiện để thực hiện các dự án kinh tế, xã hội, quốc phòng nên chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải hướng đến khuyến khích người dân tự nguyện giao đất
Trên thực tế, người dân không muốn giao đất vì việc mất đất ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của họ Để họ tự nguyện và nhanh chóng giao đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không những phải có mức bồi thường, hỗ trợ, hợp
Trang 27lý, phải tổ chức tốt công việc tái định cư, mà còn phải cung cấp cho người mất đất đầy đủ thông tin trung thực để họ tự quyết định
Ngoài ra chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được hoạch định
và thực hiện nhất quán, tránh các mâu thuẫn, xung đột trong quá trình triển khai
Nếu chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không đáp ứng mục tiêu này, quá trình thu hồi đất sẽ nảy sinh rất nhiều khó khăn không đáng có như khiếu kiện, chống đối, chây ì, chậm tiến độ giải phóng mặt bằng
Mục tiêu thứ ba của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là ổn định cuộc sống, ổn định việc làm cho người dân bị mất đất Việc thu hồi đất ở nước ta không hoàn toàn mang tính thị trường nên quan tâm đến cuộc sống của người dân bị mất đất là một mục tiêu quan trọng Để ổn định cuộc sống cho người mất đất cần xây dựng khu tái định cư đồng bộ, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, văn hóa ít nhất không được thấp hơn địa điểm cũ, nhất là các dịch vụ thiết yếu như giao thông, điện, nước, y tế, giáo dục, hành chính
Ở nước ta, mục tiêu này thường khó hoàn thành do kinh phí của Nhà nước cấp eo hẹp và do tổ chức thiếu chặt chẽ Nếu khu tái định cư không được xây dựng tốt thì dân chúng sẽ bất mãn, hậu quả là họ không di dời Để ổn định lâu dài cho người dân bị mất đất, cần tạo điều kiện cho họ có việc làm thông qua các chương trình đào tạo, hỗ trợ đầu tư, lập nghiệp hoặc xúc tiến việc làm Trên thực tế việc làm của cơ quan tái định cư và người dân không trùng khớp, do dịch vụ hỗ trợ không phù hợp với điều kiện của người dân
Mục tiêu thứ tư của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, xây dựng và phát triển nhà ở, phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ Nhà nước bố trí, sắp xếp các loại đất và nhà ở cho đối tượng sử dụng theo không gian và thời gian phù hợp với mục tiêu sử dụng đất hiệu quả và thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi đã được xây dựng có căn cứ khoa học và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển
Trang 28kinh tế - xã hội của đất nước là phương án sử dụng đất tốt nhất để Nhà nước và nhân dân thực hiện
Để chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần chủ động hoạch định chính sách cụ thể cho các khu đất ở, các dự án xây dựng vùng, phát triển các ngành nghề khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc là việc chuyển các loại đất khác nhau sang các mục đích sử dụng khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện Nói cách khác, trước khi mở rộng một con đường, xây dựng một khu đô thị mới hay xây dựng khu công nghiệp, xây dựng khu chung cư cao tầng, xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng v.v cần tuân thủ quy hoạch trong việc lựa chọn sử dụng các khu đất mới hoặc lấy các khu đất đang sử dụng vào một mục đích cụ thể nào đó để sử dụng cho các mục đích khác trên cơ sở đó xây dựng các định mức, phương thức bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư thích hợp Không nên xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư một cách tùy tiện Khi tính tiền bù đắp thiệt hại cho người sử dụng đất do bị thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế, các cơ quan liên quan phải căn cứ vào quy hoạch để xem xét tính hợp lý của khu tái định cư cũng như để điều hòa lợi ích phát sinh theo quy hoạch
Nguyên tắc xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất
Nguyên tắc công bằng: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu quyết định
thành công của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nếu chính sách công bằng những người bị thu hồi đất sẽ tự nguyện chấp hành Ngược lại, họ sẽ chống đối, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc thất bại, hoặc trả giá đắt Công bằng ở đây là công bằng về chính sách, công bằng về chế độ, về đơn giá, về mức bồi thường, hỗ trợ, về đối tượng thụ hưởng, v.v Công bằng không có nghĩa là cào bằng bình quân Để có chính sách công bằng phải họach định chính sách sát thực tế, xem xét lợi ích một cách phân minh Nguyên tắc công bằng phải được quán triệt và thực hiện nhất quán từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên Ví dụ, hai hộ liền
Trang 29kề có nguồn gốc đất như nhau, quá trình sử dụng như nhau, điều kiện hạ tầng như nhau thì giá bồi thường và mức bồi thường phải như nhau Hai hộ dân, một hộ ở huyện này, một hộ ở huyện kia đều bị thu hồi nhà 2 tầng đã được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà thì phải được bồi thường 100% giá trị đất ở, 100% giá trị tài sản
Nguyên tắc hiệu quả: Nguyên tắc này đòi hỏi người có thẩm quyền thực thi
chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải cân nhắc tính toán kỹ càng về mọi mặt trước khi quyết định Hiệu quả ở đây được hiểu trước hết là hiệu quả về kinh tế sau đó là hiệu quả về mặt xã hội (ổn định tình hình, ổn định đời sống) Nói cách khác, phải tạo được sự đồng thuận của người dân trong vùng dự án Nguyên tắc hiệu quả phải đạt được cả trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn Tuyệt đối không
vì lợi ích trước mắt mà không tính đến lợi ích lâu dài cho các thế hệ sau
Nguyên tắc dân chủ: Nguyên tắc này đòi hỏi trong hoạch định chính sách bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư phải tham khảo ý kiến của dân cư, nhất là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp Khi quyết định phải theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, tập thể bàn bạc cân nhắc kỹ trước khi quyết định Tuyệt đối không được áp đặt quyết định từ một phía, không được tuyệt đối hoá vai trò của cá nhân cán bộ có chức quyền Dân chủ nhưng phải tập trung, đồng thời tập trung nhưng phải dân chủ cả ở khâu hoạch định chính sách cũng như thực hiện chính sách, phải đối xử với mọi người một cách bình đẳng, tôn trọng quyền và nghĩa vụ của họ
Nguyên tắc tiết kiệm ngân sách nhà nước: Nguyên tắc này đòi hỏi người
có thẩm quyền, người thực thi công vụ có quyền quyết định chi ngân sách nhà nước phải hết sức tiết kiệm, không được lãng phí Vì ngân sách nhà nước có hạn, mà nguồn tiền để bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lại rất lớn Tiết kiệm chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhưng vẫn phải đảm bảo yêu cầu về lợi ích của người dân và điều kiện sống của họ Tiết kiệm không có nghĩa là bớt xén, là thực hiện không đúng chế độ chính sách Tiết kiệm là tổ chức công việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một cách khoa học, quy củ, tránh làm rồi sửa, phá
Trang 30Nguyên tắc hỗ trợ người khó khăn: Nguyên tắc này hướng tới việc thực
hiện các chính sách xã hội đối với các trường hợp đặc thù, có hoàn cảnh đặc biệt
Đó chính là tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, là bản chất tốt đẹp của xã hội ta
Những nguyên tắc cơ bản nêu trên đều có vị trí quan trọng và có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, ràng buộc nhau Trong quá trình cụ thể hoá chính sách và tổ chức thực hiện ở địa phương phải tôn trọng các nguyên tắc nêu trên Tuyệt đối không được xem nhẹ nguyên tắc này, xem nặng nguyên tắc kia mà ngược lại, phải căn cứ vào chế độ chính sách của nhà nước và tình hình thực tiễn ở địa phương để vận dụng một cách linh hoạt nhằm đạt mục tiêu của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là ổn định tình hình, phát biển bền vững và công bằng
xã hội
1.1.2.3 Nội dung của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất ở Việt Nam
Quy định mức và phương pháp bồi thường khi thu hồi đất
Ở các nước có kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân về đất đai, Nhà nước tiến hành thương lượng với dân để mua lại đất (chứ không phải thu lại) theo giá hai bên chấp nhận được Mặc dù tính cưỡng chế rất ít được thể hiện, nhưng đa phần dân cư cũng chấp nhận bán lại đất cho Nhà nước vì mục đích chung Ở nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên khi thu hồi đất, Nhà nước không mua lại đất của người đang sử dụng mà chỉ bồi thường cho người sử dụng theo các mức và chế độ khác nhau tùy theo từng thời kỳ lịch sử
Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai năm 2003
Giai đoạn này, Chính phủ ban hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2014 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Tinh thần chung của những Nghị định này là:
Trang 31- Phạm vi điều chỉnh:
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn Nghị định số 22/2004/NĐ-CP của Chính phủ như: Ngoài quy định bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng như Nghị định số 22/2004/NĐ-CP, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP còn quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các
dự án phát triển kinh tế theo Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; quy định đối với những dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nếu việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quy định tại Nghị định này thì trước khi ký điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản đầu tư phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định tại Nghị đinh này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó
Đồng thời, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP cũng quy định các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này như:
Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân hoặc nhà nước hỗ trợ; Khi nhà nước thu hồi đất không thuộc trường hợp đã giao cho người dân sử dụng
- Bồi thường về đất:
Đây là nội dung quan trọng nhất, phức tạp nhất Nội dung này quy định về trình tự, thủ tục, nguyên tắc và phương pháp xác định nguồn gốc sử dụng đất đối với các trường hợp sử dụng đất mà không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai; Quy định rõ những trường hợp được bồi thường, những trường hợp không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; Quy định những trường hợp không được bồi thường và cũng không được hỗ trợ; Quy định về bồi thường đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác; Quy định về diện tích đất được bồi thường là đất ở cho các trường hợp sử dụng đất cụ thể; Quy định về nghĩa vụ tài chính và các khoản phải trừ đối với các
Trang 32trường hợp sử dụng đất ở nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước theo phương pháp khấu trừ trực tiếp trên phương án bồi thường; Quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất ở để tính bồi thường cho sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường; Quy định rõ mức hỗ trợ cụ thể đối với một số trường hợp cụ thể như diện tích hỗ trợ, mức hỗ trợ đối với đất vườn, ao liền kề với đất ở trong cùng một thửa đất có nhà ở; Quy định trách nhiệm của các bên trong việc bồi thường chậm thì xử lý về giá như thế nào; Quy định tỷ lệ phân chia đất ở trong trường hợp người sử dụng đất là thuê của nhà nước, nhà chung cư cao tầng; quy định tỷ lệ bồi thường đối với các loại đất mà Nhà nước chỉ thu hồi tạm thời để phục vụ cho thi công; quy định xử lý về bồi thường, hỗ trợ với một số trường hợp đặc biệt như nhà thầu thi công gây mất an toàn cho hộ dân, làm mất đường đi, gây ngập úng thì việc bồi thường, hỗ trợ được tiến hành như thế nào; v.v
- Bồi thường về tài sản:
Tài sản của hộ gia đình, cá nhân xây dựng trên đất đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường 100% theo giá trị xây mới của công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương, không phân biệt quy mô, kết cấu, thời gian xây dựng (trước đây Nghị định số 90/CP chỉ đền bù theo giá trị còn lại; Nghị định số 22/2004/NĐ-
CP đền bù theo theo chất lượng còn lại đối với nhà kiên cố như nhà mái bằng, nhà tầng, nhà biệt thự còn nhà cấp 4 và nhà tạm thì được đền bù 100% theo giá xây mới); Quy định về việc tính đơn giá vận chuyển đối với những công trình có thể tháo dời để di chuyển; Quy định xử lý đối với các trường hợp nhà và công trình chỉ
bị phá dỡ một phần mà phần còn lại vẫn sử dụng được thì xác định như thế nào và bồi thường, hỗ trợ ra sao; Quy định về bồi thường cây trồng, vật nuôi, đình chùa, miếu, nhà thờ họ tộc, quy định xử lý đối với tài sản sau thu hồi có giá trị lớn thì phải thu hồi và tổ chức bán đấu giá để giảm trừ tiền đầu tư cho công trình
Quy định hỗ trợ người bị thu hồi đất
Nội dung này quy định về hỗ trợ của Nhà nước khi di chuyển đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở phải di chuyển đến nơi ở mới (khu tái định cư) thì được hỗ trợ về tiền để di chuyển đồ dùng gia đình, hỗ trợ gạo, hỗ trợ
Trang 33tiền thuê nhà ở tạm trong thời gian xây nhà mới tại khu tái định cư; Quy định hỗ trợ
ổn định đời sống; Quy định chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản thì áp dụng các hình thức chuyển nghề như: đào tạo nghề, hỗ trợ bằng đất sản xuất kinh doanh như xây kiốt để bán hàng, hỗ trợ bằng đất ở kết hợp với sản xuất kinh doanh; Quy định hỗ trợ đối với đất công ích của xã, phường, thị trấn; quy định về
hỗ trợ tiền đất tái định cư đối với trường hợp người bị thu hồi đất không đủ tiền để mua đất tại khu tái định cư; Quy định mức hỗ trợ bằng tiền đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân tự tìm đất tái định cư (không vào khu tái định cư tập trung do nhà nước xây dựng) Điểm rất lưu ý trong phần nội dung hỗ trợ là quy định về "Hỗ trợ khác" Tức là ngoài những quy định hỗ trợ kể trên, căn cứ tình hình thực tế chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định "hỗ trợ khác" cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương Nội dung này được coi là điểm nút để tháo gỡ ách tắc trong công tác bồi thường hỗ trợ nhằm ổn định đời sống và sản xuất cho người dân bị thu hồi đất
Quy định phương thức và mức hỗ trợ tái định cư
Nội dung tái định cư quy định về điều kiện bắt buộc phải xây dựng các khu tái định cư đa dạng về diện tích, kích thước Cụ thể, khu tái định cư phải được xây dựng đồng bộ về cơ sở hạ tầng (mặt bằng, hệ thống hạ tầng, cấp thoát nước, cây xanh, thông tin liên lạc )
Khu tái định cư phải được chuẩn bị trước khi tiến hành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Các khu tái định cư phải được lập theo trình tự về đầu tư xây dựng Việc bố trí tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc ưu tiên hộ chấp hành, hộ gia đình chính sách và phải được thực hiện một cách công khai, dân chủ để mọi người dân bị thu hồi đất biết, có điều kiện tham gia, lựa chọn Tuyệt đối không được áp đặt, không được bố trí tái định cư trái với các nguyên tắc nêu trên [17]
Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai năm 2013
Giai đoạn này, Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước
Trang 34thu hồi đất; Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về giấy CNQSD đất, QSHNƠ, và tài sản khác gắn liền với đất trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Phạm vi điều chỉnh:
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ như: Ngoài quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng như Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP còn quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các
dự án phát triển kinh tế theo Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; quy định đối với những dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nếu việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo yêu cầu của nhà tài trợ khác với quy định tại Nghị định này thì trước khi ký điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản đầu tư phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định tại Nghị đinh này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó Đồng thời, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cũng quy định các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này như: Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân hoặc nhà nước hỗ trợ; Khi nhà nước thu hồi đất không thuộc trường hợp đã giao cho người dân sử dụng [15]
- Bồi thường về đất:
Đây là nội dung quan trọng nhất, phức tạp nhất Nội dung này quy định về trình tự, thủ tục, nguyên tắc và phương pháp xác định nguồn gốc sử dụng đất đối với các trường hợp sử dụng đất mà không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai; Quy định rõ những trường hợp được bồi thường, những trường hợp không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; Quy định những trường hợp không được bồi thường và
Trang 35cũng không được hỗ trợ; Quy định về bồi thường đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác; Quy định về diện tích đất được bồi thường là đất ở cho các trường hợp sử dụng đất cụ thể;
Quy định về nghĩa vụ tài chính và các khoản phải trừ đối với các trường hợp
sử dụng đất ở nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước theo phương pháp khấu trừ trực tiếp trên phương án bồi thường;
Quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất ở để tính bồi thường cho sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường;
Quy định rõ mức hỗ trợ cụ thể đối với một số trường hợp cụ thể như diện tích
hỗ trợ, mức hỗ trợ đối với đất vườn, ao liền kề với đất ở trong cùng một thửa đất có nhà ở;
Quy định trách nhiệm của các bên trong việc bồi thường chậm thì xử lý về giá như thế nào;
Quy định tỷ lệ phân chia đất ở trong trường hợp người sử dụng đất là thuê của nhà nước, nhà chung cư cao tầng; quy định tỷ lệ bồi thường đối với các loại đất
mà Nhà nước chỉ thu hồi tạm thời để phục vụ cho thi công; quy định xử lý về bồi thường, hỗ trợ với một số trường hợp đặc biệt như nhà thầu thi công gây mất an toàn cho hộ dân, làm mất đường đi, gây ngập úng thì việc bồi thường, hỗ trợ được tiến hành như thế nào; v.v [15]
- Bồi thường về tài sản:
Tài sản của hộ gia đình, cá nhân xây dựng trên đất đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường 100% theo giá trị xây mới của công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương, không phân biệt quy mô, kết cấu, thời gian xây dựng (trước đây Nghị định số 90/CP chỉ đền bù theo giá trị còn lại; Nghị định số 22/2004/NĐ-
CP đền bù theo theo chất lượng còn lại đối với nhà kiên cố như nhà mái bằng, nhà tầng, nhà biệt thự còn nhà cấp 4 và nhà tạm thì được đền bù 100% theo giá xây mới);
Quy định về việc tính đơn giá vận chuyển đối với những công trình có thể tháo dời để di chuyển;
Trang 36Quy định xử lý đối với các trường hợp nhà và công trình chỉ bị phá dỡ một phần mà phần còn lại vẫn sử dụng được thì xác định như thế nào và bồi thường, hỗ trợ ra sao;
Quy định về bồi thường cây trồng, vật nuôi, đình chùa, miếu, nhà thờ họ tộc, quy định xử lý đối với tài sản sau thu hồi có giá trị lớn thì phải thu hồi và tổ chức bán đấu giá để giảm trừ tiền đầu tư cho công trình
Quy định hỗ trợ người bị thu hồi đất
Nội dung này quy định về hỗ trợ của Nhà nước khi di chuyển đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở phải di chuyển đến nơi ở mới (khu tái định cư) thì được hỗ trợ về tiền để di chuyển đồ dùng gia đình, hỗ trợ gạo, hỗ trợ tiền thuê nhà ở tạm trong thời gian xây nhà mới tại khu tái định cư;
Quy định hỗ trợ ổn định đời sống;
Quy định chuyển đổi nghề và tạo việc làm đối với trường hợp nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản thì áp dụng các hình thức chuyển nghề như: đào tạo nghề, hỗ trợ bằng đất sản xuất kinh doanh như xây kiốt để bán hàng, hỗ trợ bằng đất ở kết hợp với sản xuất kinh doanh;
Quy định hỗ trợ đối với đất công ích của xã, phường, thị trấn; quy định về hỗ trợ tiền đất tái định cư đối với trường hợp người bị thu hồi đất không đủ tiền để mua đất tại khu tái định cư;
Quy định mức hỗ trợ bằng tiền đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân tự tìm đất tái định cư (không vào khu tái định cư tập trung do nhà nước xây dựng)
Điểm rất lưu ý trong phần nội dung hỗ trợ là quy định về "Hỗ trợ khác" Tức
là ngoài những quy định hỗ trợ kể trên, căn cứ tình hình thực tế chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định "hỗ trợ khác" cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương Nội dung này được coi là điểm nút để tháo gỡ ách tắc trong công tác bồi thường hỗ trợ nhằm ổn định đời sống và sản xuất cho người dân bị thu hồi đất [15]
Quy định phương thức và mức tài trợ tái định cư
Trang 37Nội dung tái định cư quy định về điều kiện bắt buộc phải xây dựng các khu tái định cư đa dạng về diện tích, kích thước Cụ thể, khu tái định cư phải được xây dựng đồng bộ về cơ sở hạ tầng (mặt bằng, hệ thống hạ tầng, cấp thoát nước, cây xanh, thông tin liên lạc )
Khu tái định cư phải được chuẩn bị trước khi tiến hành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Các khu tái định cư phải được lập theo trình tự về đầu tư xây dựng Việc bố trí tái định cư phải đảm bảo nguyên tắc ưu tiên hộ chấp hành, hộ gia đình chính sách và phải được thực hiện một cách công khai, dân chủ để mọi người dân bị thu hồi đất biết, có điều kiện tham gia, lựa chọn Tuyệt đối không được áp đặt, không được bố trí tái định cư trái với các nguyên tắc nêu trên [15]
1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hồi đất, BTHT&TĐC
Cơ sở pháp lý liên quan đến việc thu hồi đất
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất là chính sách công liên quan đến nhiều cơ quan và lĩnh vực quản lý nhà nước, nên cần dựa trên cơ sở pháp lý đầy đủ, nhất quán, có hiệu lực thực thi cao
Cơ sở pháp lý quan trọng nhất là Luật Đất đai Đây là căn cứ pháp lý nền tảng để người thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dựa vào khi xác định cách thức bồi thường, mức bồi thường, giá bồi thường và các biện pháp hỗ trợ di chuyển, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống cho người dân bị thu hồi đất
Cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai là văn bản luật về tổ chức nhà nước Bởi vì,
để công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện nhanh, chính xác và có hiệu quả thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được hoạch định ở cấp có đủ thông tin, thẩm quyền và giao cho cấp có năng lực thực hiện Ngược lại, nếu chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không được hoạch định và thực hiện như vậy
sẽ gặp nhiều khó khăn vướng mắc, thậm chí thất bại
Cơ sở pháp lý quan trọng thứ ba là văn bản luật về quản lý tài chính công Bởi vì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư liên quan đến nhiều chính sách khác như chính sách tài chính trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
Trang 38dụng đất, chuyển nhượng đất; chính sách thuế đất; chính sách định giá đất v.v Ngoài ra các quy định về chi ngân sách nhà nước hỗ trợ quá trình thu hồi đất cũng
có vai trò quan trọng, quyết định tỷ lệ bồi thường giữa những người sử dụng đất có nguồn gốc khác nhau, quyết định các mức bồi thường khác nhau, v.v
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xây dựng và phát triển nhà ở
Ở nước ta quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng là một công cụ của Nhà nước nhằm thống nhất quản lý đất đai và xây dựng công trình trên đất Thông qua công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, Nhà nước thực hiện chủ trương phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi sinh, môi trường, điều chỉnh việc sử dụng đất đai, xây dựng v.v ngăn chặn những tiêu cực trong sử dụng đất đai và trong xây dựng các bất động sản Các quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của Nhà nước đều căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội [2];
Căn cứ vào điều kiện và thực trạng sử dụng đất đai, gắn với quy hoạch xây dựng Quy hoạch chỉ ra tổng thể quỹ đất sử dụng vào xây dựng đô thị, quỹ đất xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình công cộng, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, quỹ đất xây dựng khu dân cư nông thôn, đất dùng cho phát triển các ngành kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, thể dục thể thao Cụ thể hơn, Nhà nước còn quy hoạch từng khu đất, từng lô đất của từng vùng, từng đô thị, từng khu dân cư nông thôn, khu phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, các ngành, các địa phương, các
tổ chức, hộ gia đình cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất phải triển khai sử dụng đất theo đúng quy hoạch và quy chuẩn xây dựng
Việc đền bù, hỗ trợ, tái định cư phải theo quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất đai Các công trình xây dựng, phát triển nhà ở không đúng theo quy hoạch thường không được hưởng chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Chính vì vậy mức độ khoa học, chuẩn xác, đúng đắn và ổn định của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ảnh hưởng rất lớn đến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Nếu khi lập quy hoạch, kế hoạch không tính toán, cân nhắc kỹ khiến cho quy hoạch, kế hoạch không khoa học, không khả thi, tùy tiện thay đổi thì việc hoạch
Trang 39định và thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ gặp gấp bội khó khăn Nếu quy hoạch, kế hoạch khiến phải thu hồi nhiều đất đai thuộc khu dân cư, những công trình lớn thì chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng sẽ rất lớn
Ngược lại, nếu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, xây dựng và phát triển nhà ở ổn định, được tiến hành bài bản, nhất quán, được công khai cho toàn dân biết, thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sẽ thuận lợi hơn
Hoạt động giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
Hoạt động giao đất, cho thuê đất quyết định đến tiến độ của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Nếu hoạt động giao đất, cho thuê đất tiến hành nhanh thì công tác bồi thường sẽ tiến hành nhanh và ngược lại Trong quá trình giao đất, cho thuê đất hoạt động thẩm duyệt giữ vai trò quan trọng và mất nhiều thời gian do liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp Nếu hoạt động này được đẩy nhanh thì quá trình bồi thường sẽ thuận lợi hơn Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà ở cũng có vai trò quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của đất
và tài sản gắn liền với đất để làm căn cứ xác định thửa đất đó có được bồi thường hay không Trong quá trình cấp chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
ở thì hoạt động điều tra, đo đạc, làm các thủ tục nhà đất giữ vai trò quyết định Nếu các hoạt động này làm có chất lượng việc bồi thường sẽ dễ dàng hơn
Nguồn vốn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
Nguồn vốn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn của chủ dự án và các nguồn vốn khác
Vốn từ Ngân sách nhà nước là cơ bản, quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn và thường được bố trí cho những công trình trọng điểm như giao thông, thuỷ điện, đê điều, điện, nước, sân bay, bến cảng, các công trình an sinh xã hội v.v Đây là những công trình có số vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu
Các nguồn vốn khác, bao gồm vốn của các doanh nghiệp, vốn vay của các tổ chức phi chính phủ; vốn nhận viện trợ từ nước ngoài và vốn huy động từ sự đóng
Trang 40góp của nhân dân đều là những nguồn vốn quan trọng và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là một trong những nhân tố quyết định đến tiến độ của công tác giải phóng mặt bằng Thực tiễn cho thấy, rất nhiều công trình do thiếu vốn hoặc bố trí vốn không kịp thời nên quá trình thực hiện đã phát sinh rất nhiều vướng mắc Về nguyên tắc ngay sau khi phương án bồi thường được phê duyệt thì phải chi trả ngay tiền bồi thường cho các
hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nhưng do không có tiền hoặc thiếu tiền nên không chi trả kịp thời Đến khi có tiền chi trả thì giá đất, giá vật liệu xây dựng tăng cao, người dân không nhận tiền và đề nghị phải tính trượt giá (tính lại theo giá thị trường) làm nảy sinh thêm vô vàn khó khăn
Chính sách định giá quyền sử dụng đất của Việt Nam
Điều 11 Nghị định số 69/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định:
1 Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, cho thuê đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và trường hợp doanh nghiệp Nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất
cụ thể cho phù hợp
2 Giá đất cụ thể được xác định lại theo quy định tại khoản 1 Điều này không
bị giới hạn bởi các quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 123/2014/NĐ-CP ngày
27 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2014 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất