Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô hình của người hoặc công ty thực hiện hoặc sản xuất và là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ, nhưng tùy theo luật ở mỗi quốc gia, nhãn hiệu cần đăng ký để trở thành thương hiệu được bảo hộ theo luật định. Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Quốc tế: Tuy Công ước Paris, Thỏa ước Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu. Nhãn hiệu hàng hóa theo định nghĩa của WIPO là: Dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên. Nhãn hiệu hàng hóa chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm. Định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trên đây của WIPO xác định các điều kiện về bản chất của nhãn hiệu hàng hóa. Định nghĩa này được thể hiện trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (được viết tắt là Hiệp định TRIPS); cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 của Hiệp định TRIPS quy định:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT
- -BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Luật Sở hữu trí tuệ
Đề tài: Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu và tên thương mại
Nhóm 2
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Nguyệt
Lớp học phần: 1610PLAW2211
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Trang 2Nhóm đánhgiá
GV đánhgiá
Trang 3I NHÃN HIỆU
1 Khái niệm
Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản vô hình của người hoặc công ty thực hiện hoặcsản xuất và là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ, nhưngtùy theo luật ở mỗi quốc gia, nhãn hiệu cần đăng ký để trở thành thương hiệu được bảo hộtheo luật định
* Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Quốc tế:
Tuy Công ước Paris, Thỏa ước Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng đãquy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sỡ hữu công nghiệp(Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu (Hệ thốngMadrid) Riêng TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa theo định nghĩa của WIPO là: Dấu hiệu dùng để phân biệt hànghóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm cácdoanh nghiệp đó Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh,biểu tượng, màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệttrên bao bì, bao gói sản phẩm Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên.Nhãn hiệu hàng hóa chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanhnghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không đượctrùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước
đó cho cùng loại sản phẩm
Định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa trên đây của WIPO xác định các điều kiện về bản chấtcủa nhãn hiệu hàng hóa Định nghĩa này được thể hiện trong Hiệp định về các khía cạnhliên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (được viết tắt là Hiệp định TRIPS); cụthể tại Khoản 1 Điều 15 của Hiệp định TRIPS quy định:
“Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ,
kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng
Trang 4như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phô thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải nhìn thấy được”
* Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa theo quy định Việt Nam:
- Điều 785 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
- Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi và bổ sung 2009 quy định:
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”
2 Phân loại
Nhãn hiệu gồm hai loại cơ bản là nhãn hiệu dùng cho hàng hóa và nhãn hiệu dùngcho dịch vụ
- Nhãn hiệu dùng cho hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của cá nhân,
tổ chức kinh doanh khác nhau
Nhãn hiệu dùng cho hàng hóa thường được gắn trên sản phẩm, bao bì của sản phẩmgiúp người tiêu dùng phân biệt sản phẩm cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau
- Nhãn hiệu dùng cho dịch vụ là những dấu hiệu để phân biệt dịch vụ của cá nhân, tổchức kinh doanh khác nhau
Nhãn hiệu dùng cho dịch vụ thường được gắn trên phương tiện dịch vụ, biển hiệugiúp người sử dụng phân biệt dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh
Nhãn hiệu sẽ được pháp luật bảo hộ trong trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu đăng kýbảo hộ, nhãn hiệu là tài sản trí tuệ của tổ chức, cá nhân và việc đăng ký bảo hộ độc quyềnnhãn hiệu là tự nguyện
Trang 5Với chức năng của công cụ marketing - truyền đạt tới người tiêu dùng uy tín của sảnphẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu được hình thành bởi trí tuệ mà doanh nghiệp đầu tư chosản phẩm, dịch vụ đó - nhãn hiệu được pháp luật coi là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết hợp với hìnhảnh, đợc thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
- Các loại nhãn hiệu khác
+ Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành
viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhânkhông phải là thành viên của tổ chức đó (Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT)
+ Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá
nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặctính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấpdịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch
vụ mang nhãn hiệu.(khoản 18 Điều 4 Luật SHTT)
+ Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự
nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại tương tự nhau hoặc có liên quan đến nhau.(Khoản 19 Điều 4 Luật SHTT)
+ Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn
lãnh thổ Việt Nam (khoản 20 Điều 4 Luật SHTT)
3 Đặc điểm
Từ định nghĩa có thể thấy Nhãn hiệu có một số đặc điểm sau đây:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được: Với chức năng dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của tổ chức, cá nhân này với tổ chức, cá nhân khác thì nhãn hiệu phải là một dấu hiệunhìn thấy được Chính vì đặc điểm này các dấu hiệu như mùi hương, âm thanh sẽ khôngthể được coi là nhãn hiệu
Trang 6- Là dấu hiệu có khả năng phân biệt: Đặc điểm này của nhãn hiệu khiến cho nhãn
hiệu có thể thực hiện được chức năng của mình Với đặc điểm này của nhãn hiệu thì cácdấu hiệu không có khả năng phân biệt sẽ không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu
Theo đó, thứ nhất, đó phải là một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu Các dấu hiệu đó
có thể là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình học và tổ hợp cácmầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó
Thứ hai, các dấu hiệu đó có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thể là bất kỳ dấuhiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu
Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của mộtdoanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác
4 Điều kiện bảo hộ
Theo Điều 72 Luật SHTT, để có thể được bảo hộ, nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìnthấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kếthợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; đồng thời, phải có khảnăng phân biệt Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện không bảo hộ các nhãn hiệu dạng âmthanh hoặc mùi hương do không nhìn thấy được, ngay cả khi âm thanh hoặc mùi hương
đó có khả năng phân biệt cao
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình
ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,dịch vụ của chủ thể khác
Đối với Nhãn hiệu thông thường:
Phải xúc tiến thủ tục đăng ký
Phải nhìn thấy được;
Phải có khả năng phân biệt và nhận biết rộng rãi
Trang 7 Không được là: Quốc kỳ, quốc huy của các nước; Biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên …của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội; Tên thật, biệt hiệu, bút danh, hìnhảnh của lãnh tụ, anh hùng, danh nhân…; Dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảohành của tổ chức quốc tế; Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tínhchất lừa dối người tiêu dùng.
Đối với Nhãn hiệu nổi tiếng:
Không cần phải đăng ký;
Chỉ cần đã được sử dụng và nhận biết rộng rãi
Tiêu chí đánh giá:
Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến Nhãn hiệu;
Phạm vi lưu hành sản phẩm;
Doanh số hoặc số lượng hàng hoá hay dịch vụ đã cung ứng;
4 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu:
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhânkhác nhau (Khoản 16 Điều 4) có cùng hoạt động trong cùng lĩnh vực hay nói cách khácdựa vào nhãn hiệu có thể phân biệt được các tổ chức, cá nhân có các sản phẩm hàng hóa,dịch vụ khác nhau với cũng lĩnh vực hoạt động Vì vậy, điều kiện đặt ra đầu tiên đối vớinhãn hiệu là phải có khả năng phân biệt
Một nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt khi nó được tạo thành từ một từhoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổngthể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ (Khoản 1 Điều 74 Luật SHTT)
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào nhãn hiệu được tạo thành từ các yếu tốnói trên đều được coi là có khả năng phân biệt Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định rõ một sốtrường hợp mà nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu là cácdấu hiệu quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ
Phân tích:
- Thứ nhất, khả năng tự phân biệt:
Trang 8Pháp luật quy định nhãn hiệu được coi là có khẳ năng phân biệt được tạo thành từ cácyếu tố dễ nhận biết Mà yếu tố dễ nhận biết ở đây chính là xuất phát từ những đặc điểm cơbản vốn có của nhãn hiệu Hay còn được gọi là khả năng tự nhận biết của nhãn hiệu.Quy định tại các Điểm a, b, c, d Khoản 2 Điều 74:
“a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thôngdụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danhnghĩa một nhãn hiệu;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch
vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biếtđến;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chấtlượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tảhàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông quaquá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;”
- Thứ hai, khả năng nhận biết qua sử dụng:
Một nhãn hiệu có khả năng nhận biết thông qua quá trình sử dụng Qua quá trình nhãnhiệu được đưa vào sử dụng thông qua sự thừa nhận nhãn hiệu của thị trường mà tạo nênkhả năng nhận biết đối với các nhãn hiệu khác
Quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 74:
“đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó
đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng kýdưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;”
Đây là một trong những khả năng phân biệt rất quan trọng, khả năng này chỉ đượccông nhận khi nó đáp ứng được 2 điều kiện:
+ Thứ nhất: dấu hiệu đã và đang được sử dụng với chức năng nhãn hiệu
+ Thứ hai: là dấu hiệu được người tiêu dung biết đến một cách rộng rãi
Trang 9Đảm bảo 2 điều kiện này thì khả năng này mới được công nhận.
- Thứ 3, các dấu hiệu phân biệt khác:
Một nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt không chỉ dựa vào yếu tố tự phânbiệt của nhãn hiệu hay qua sử dụng mà còn dựa cào mức tương tự hay gần giống với cácnhãn hiệu khác Với khả năng này pháp luật quy định cụ thể ở từng khía cạnh khác nhau
để đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu:
“e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫnvới nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơnđăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký đượchưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế màCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đãđược sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trướcngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;
h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đãđăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứthiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu khôngđược sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổitiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự,nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệunổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác,nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hànghoá, dịch vụ;
l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấuhiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;
Trang 10m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa,phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệuđược đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khuvực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của ngườikhác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặcngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.”Như vậy ở góc độ này hay góc độ khác, một nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt thìmới đảm bảo được sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường đối với hoạt động kinh doanh
5 Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là “nhãn hiệuđược người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (Khoản 20 – Điều 4– Luật SHTT 2005)
“Điều 75 Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng (Luật SHTT)
Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3 Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5 Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.”
Trang 11Từ đó có thể rút ra:
- Đặc điểm của nhãn hiệu nổi tiếng
+ Sự nổi tiếng của nhãn hiệu
+ Giá trị thương mại cao
+ Thời gian sử dụng liên tục và lâu dài
+ Được sử dụng phổ biến
+ Là đối tượng dễ bị xâm phạm
Theo các tiêu chí quy định tại Điều 75 -LSHTT 2005, trước hết, một nhãn hiệu nổitiếng phải được nhiều người biết đến về các đặc điểm nhãn hiệu hàng hóa, chất lượng sảnphẩm được gắn với nhãn hiệu đó cũng như tên nhà sản xuất
Ví dụ: Điện thoại Samsung được phần đông người tiêu dùng Việt Nam biết đó là điệnthoại có xuất sứ từ Hàn Quốc, chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp
Nhãn hiệu nổi tiếng phải được phổ biến rộng rãi đến một số lượng lớn người tiêudùng thông qua mua bán, sử dụng hoặc các phương tiện truyền thông khác Đây là mộtquy định phù hợp với Hiệp định TRIPs mà Việt Nam tham gia kí kết đồng thời là căn cứ
để bảo hộ tối đa các nhãn hiệu nổi tiếng Đồng thời, nhãn hiệu phải đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện như phải được biết đến rộng rãi trên rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, có uytín lớn trên thị trường; doanh thu mà nhãn hiệu này đem lại cho nhà đầu tư từ việc bánhàng hóa, cung cấp dịch vụ phải lớn
Ví dụ: CocaCola là một trong những nhãn hiệu nổi tiếng nhất thế giới với giá thị trườngthương mại năm 2008 là 66.667 tỷ USD
Nhãn hiệu phải được sử dụng liên tục trong một thời gian dài từ khi xuất hiện trên thịtrường đến khi được công nhận và còn duy trì là nhãn hiệu nổi tiếng
Bên cạnh đó, một nhãn hiệu nổi tiếng là một nhãn hiệu được bảo hộ bởi nhiều quốcgia – nghĩa là có nhiều quốc gia công nhận việc bảo hộ nhãn hiệu đó; số lượng quốc giacông nhận cũng là điều kiện cơ bản để đánh giá một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không
Trang 12Ví dụ: Nhãn hiệu sữa Vinamilk có thể coi là nhãn hiểu nổi tiếng ở Việt Nam, đượcnhiều người tiêu dùng biết đến rộng rãi nhưng hoàn toàn không phải là nhãn hiệu nổitiếng trên thế giới vởi số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu này gần như chỉ có ViệtNam.
Ngoài ra, yếu tố giá chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu
tư của nhãn hiệu cũng là điều kiện quan trọng khẳng định tính nổi tiếng của nhãn hiệu.Nhãn hiêu nổi tiếng có giá trị thương mại lớn hơn rất nhiều so với giá trị thương mại củanhãn hiệu bình thường
Ví dụ: P/S là nhãn hiệu có uy tín ở Việt Nam, giá trị chuyển nhượng của P/S là 7,3triệu USD; trong khi của Malboro là 19 tỷ USD; Microsolf là 56.647 tỷ USD
Nhận xét : Ở Việt Nam, thuật ngữ NHNT lần đầu tiên được ghi nhận trong hệ thốngpháp luật tại Nghị định sửa đổi Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quyđịnh chi tiết về SHCN Trước thời điểm này, thuật ngữ NHNT chưa từng được đề cậptrong luật Theo Nghị định 63/CP, quyền SHCN đối với NHNT phát sinh trên cơ sở quyếtđịnh công nhận của Cục SHTT Tuy nhiên, vào thời điểm đó, do thiếu các quy địnhhướng dẫn các tiêu chí đánh giá NHNT nên không có một nhãn hiệu nào được Cục SHTTcông nhận theo cách này Năm 2005, Luật SHTT đã có quy định về NHNT Theo quyđịnh này có thể hiểu, để được công nhận là NHNT, nhãn hiệu đó phải được người tiêudùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam biết đến Rất khó cho chủ nhãn hiệu có thể chứng minhđược điều này khi muốn nhãn hiệu của mình được công nhận là nổi tiếng Quy định nàydường như đã đi xa hơn những yêu cầu quy định bởi Điều 16.2 Hiệp định TRIPS vìTRIPS chỉ đòi hỏi "khi đánh giá liệu một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, các nướcthành viên sẽ xem xét đến sự biết đến rộng rãi nhãn hiệu của nhóm công chúng tươngứng” Vậy liệu một NHNT là phải được biết đến bởi tất cả mọi người hay chỉ cần đượcbiết đến trong số nhóm người tiêu dùng mà hàng hoá, dịch vụ đó có liên quan tới? Có lẽdiễn giải hợp lý nội dung Điều 16.2 của Hiệp định TRIPS là để được coi là nổi tiếng nhãnhiệu thì nhãn hiệu đó cần được biết đến bởi nhóm công chúng có liên quan hay nói cáchkhác là những nhóm công chúng nhất định mà hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm hướng tới.Tức là cần phải tập trung vào loại hàng hóa hoặc bản chất của dịch vụ có liên quan khi