Trong khi đó, tập đọc là phân môn rất quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 1, rất nhiều bài tập đọc là ngữ liệu dạy học cho các phân môn khác trong môn Tiếng Việt cũng như các mô
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU:
1.1 Lý do chọn đề tài:
Qua quá trình dạy học thực tế và theo chương trình - SGK Tiếng Việt 1 chương trình hiện hành nói chung và tập đọc lớp 1 nói riêng Trong quá trình công tác và giảng dạy ở vùng đồng bào dân tộc ít người Tôi đã nhận thấy việc nói và viết Tiếng Việt của các em còn sai nhiều, đặc biệt là đọc thế nào viết thế
đó, sử dụng từ và đặt câu còn gặp nhiều khó khăn, vốn ngôn ngữ còn nghèo nàn nên khi nói và viết chưa lưu loát, sai lỗi nhiều Từ đó tôi thấy một số điều bất cập sau:
- Học sinh đọc chưa đạt yêu cầu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng (nhiều em khi đọc còn phải đánh vần và đọc chậm)
- Học sinh ít hiểu nội dung bài đọc
- Học sinh phát âm còn sai nhiều
- Học sinh ngắt, nghỉ hơi chưa đúng chỗ
- Học sinh chưa hiểu các từ ngữ trong văn bản, nhất là các từ ngữ mới
- Nội dung bài tập đọc khá dài, trong khi đó học sinh đọc chậm, dẫn đến 2 tiết học rất khó cho giáo viên hoàn thành một bài tập đọc
- Học sinh còn đọc vẹt (đọc theo giáo viên, đọc theo bạn mà một lúc sau không đọc được, không hiểu nội dung bài đọc) khá nhiều
Trong khi đó, tập đọc là phân môn rất quan trọng trong chương trình Tiếng Việt lớp 1, rất nhiều bài tập đọc là ngữ liệu dạy học cho các phân môn khác trong môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp dạy - học tăng thời lượng môn Tập đọc cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số" để áp dụng
vào công tác giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn tập đọc cho học sinh vùng dân tộc thiểu số
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Phương pháp dạy - học tập đọc được rất nhiều tác giả nổi tiếng nghiên cứu và đã có nhiều đề tài có ứng dụng thực tế như tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Nguyễn Minh Thuyết,…Và cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về
phương pháp dạy học tập đọc cho học sinh vùng khó Song đề tài "Một số giải pháp dạy - học tăng thời lượng môn Tập đọc cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số" là một đề tài rất mới mẻ mà tôi trong quá trình dạy học đã rút ra để
nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ cho việc dạy học của các thầy, cô giáo ở vùng dân tộc ít người
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính là việc dạy học tập đọc cho học sinh lớp 1 ở vùng dân tộc thiểu số Vì vậy, tạo điều kiện cho các em viết được, đọc được, đến đọc thông, viết thạo và hiểu được nội dung của bài tập đọc Đây là vấn đề đang được xã hội, ngành giáo dục và đặc biệt là những giáo viên trực tiếp giảng dạy học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số quan tâm
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh khối 1 trường Tiểu học Trung Xuân
Trang 21.5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chính đó là dựa vào kinh nghiệm giảng dạy của mình và đồng nghiệp, dựa vào chương trình- SGK Tiếng Việt 1 nói chung và tập đọc nói riêng, và tham khảo một số tài liệu như: Dạy tập đọc của tác giả: Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt của tác giả: Nguyễn Trí – Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt I (Tập hai) của tác giả: Đặng Thị Lanh, Dạy học Tiếng Việt cho học sinh tiểu học theo chương trình mới của tác giả: Nguyễn Trí – NXB Giáo dục 2003,
1.6 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua quá trình dạy học thực tế và theo chương trình - SGK Tiếng Việt 1 chương trình hiện hành nói chung và tập đọc lớp 1 nói riêng Trong quá trình công tác và giảng dạy ở vùng đồng bào dân tộc ít người Tôi đã nhận thấy việc nói và viết Tiếng Việt của các em còn sai nhiều, đặc biệt là đọc thế nào viết thế
đó, sử dụng từ và đặt câu còn gặp nhiều khó khăn, vốn ngôn ngữ còn nghèo nàn nên khi nói và viết chưa lưu loát, sai lỗi còn nhiều Việc dạy cho học sinh biết đọc và đọc đúng, đọc chuẩn là vấn đề day dứt của tất cả giáo viên trong trường tiểu học Trung Xuân - Quan Sơn - Thanh Hóa Vì vậy, qua đề tài này, tôi mong
sẽ góp phần cho việc dạy học tập đọc cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số
có hiệu quả và thành công Làm sao khi hoàn thành chương trình lớp 1, học sinh
có thể đọc được tối thiểu 30 tiếng/phút, hiểu đúng nội dung bài tập đọc, đọc đúng ngữ điệu, đúng chính âm và biết sử dụng Tiếng Việt như sử dụng tiếng mẹ
đẻ của các em
2 PHẦN NỘI DUNG:
2.1 Cơ sở lý luận:
a) Đặc điểm tâm, sinh lí, nhận thức của học sinh lớp 1 nói chung:
* Đặc điểm tâm, sinh lí:
- Đây là giai đoạn bắt đầu của bậc tiểu học, các em đều đến lứa tuổi 6 - 7,
cơ thể các em đã phát triển khá hoàn thiện, bộ máy cấu âm khá hoàn chỉnh giúp các em giao tiếp dễ dàng Ở lứa tuổi này các em bước đầu đã biết quan tâm dến bản thân và mọi người Song tính cách của các em chưa mạnh dạn trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô giáo, còn rụt rè, e sợ Trong giai đoạn này, các em đã có một suy nghĩ và hành động mới Đó là diều kiện thuận lợi cho các em trong học tập và cuộc sống Nhưng trong lứa tuổi này các em vẫn chưa xác định được việc học là trọng tâm Chính vì vậy, khi dạy học giáo viên phải chú ý đến những đặc điểm tâm, sinh lí của các em
* Đặc điểm nhận thức:
- Bước qua lứa tuổi 6 - 7, tư duy của các em có sự phát triển mới Nhưng trong quá trình học tập, các kiến thức được các em ghi nhớ chưa chắc chắn và chưa có lôgic Các em có thể tìm hiểu được các nội dung bài học mà phải có sự giúp đỡ, “cầm tay chỉ đường” của giáo viên Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên phải dựa vào trình độ học sinh để phát huy khả năng tư duy vốn có của các em
Trang 3b) Đặc điểm tâm, sinh lí, nhận thức của học sinh lớp 1 ở vùng dân tộc thiểu số:
* Đặc điểm tâm, sinh lí:
- Ở lứa tuổi này cơ thể của các em phát triển khá hoàn thiện, bộ máy cấu
âm cũng khá hoàn chỉnh Song đặc điểm tâm, sinh lí nổi bật của các em là:
+ Còn ham chơi: Vì các em chưa quan tâm đến việc học tập và do phong tục tập quán của người dân, khi cần các em có thể bỏ học nhiều ngày để đi chơi Nhiều em đến lớp chỉ với mục đính đơn giản là có nhiều bạn để chơi
+ Rụt rè, nhút nhát: Cho dù các em đã học đến lớp 1, đã quen với trường lớp, bạn bè, thầy cô, nhưng các em vẫn không tự tin vào mình Nhiều em thấy thầy, cô mới là tròn mắt ngạc nhiên, có em sợ đến phát khóc Trong học tập, thầy cô hỏi thì cứ ngồi lì một chỗ không dám đứng lên trả lời cho dù các em đã biết câu trả lời Nhiều em thấy thầy, cô đến nhà là bỏ chạy, thấy thầy cô là trốn + Ngại đến trường vì xấu hổ : Nhiều em không dám đến trường đơn giản chỉ vì là không có quần áo mới để mặc, không có cặp sách mới,…sợ các bạn chê cười Mặt khác, nhiều em do học lực hạn chế nên luôn bị áp lực và rồi cũng không đến trường
+ Bỏ học để đi làm giúp đỡ gia đình: Kinh tế gia đình của các em đa phần
là khó khăn nên việc đi làm nương rẫy đã ăn vào máu thịt của các em từ khi các
em đang nằm trên lưng mẹ Vì vậy nhiều em bỏ học dài ngày để đi làm: Chăn trâu, giữ em, thả lưới, lượm sắn,…
+ Sợ thầy, cô: Nhiều em không dám tới trường vì sợ thầy, cô Không biết trong dạy học giáo viên đã làm gì mà học sinh sợ đến vậy Song theo tôi thì đây
là bản chất của các em vì tôi cũng đã làm nhiều cách, vậy mà có em vẫn sợ Các
em sợ thầy, cô đánh đập, la mắng,…mà điều này là do các em tưởng tượng ra
mà thôi
+ Luôn cho mình là người học dốt: Nhiều em không dám tới trường vì cho rằng mình không biết đọc, không biết viết, không biết làm toán,…ngay cả bố,
mẹ các em cũng cho rằng: “Nó học không được đâu cô ơi!”
+ Gầy yếu do suy dinh dưỡng: Nhiều học sinh lớp 1 nhưng thể lực còn yếu, cơ thể phát triển chậm, do gia đình các em còn khó khăn nên việc ăn uống của các em không đảm bảo dẫn đến thiếu chất dinh dưỡng Mặt khác, việc ăn ở của các em còn thiếu vệ sinh nên mắc nhiều bệnh tật
* Đặc điểm nhận thức:
- So với học sinh lớp 1 vùng thuận lợi thì trình độ nhận thức của học sinh lớp 1 ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng cao còn rất hạn chế, tư duy còn phiến diện Các em chưa (hoặc rất ít) phân tích, khái quát hoá vấn đề mà trong khi đó các bài học của các em đều yêu cầu các thao tác tư duy đó
- Đặc điểm nổi bật trong nhận thức của các em là:
+ Chưa nhận thức đúng vấn đề học tập: Đây là do lịch sử để lại, bởi nhận thức của người dân còn rất hạn chế Nhiều em còn ngây thơ bảo rằng: “Học để làm gì?”, “Vì sao phải đi học?”, “Đi học có no cái bụng không?”, Vì vậy, nhiều
em không muốn đi học
Trang 4+ Nhận thức còn phiến diện: Nhiều học sinh vẫn còn suy nghĩ rằng: Chỉ cần đi làm rẫy có cơm ăn là tốt rồi, không cần phải học, các em đâu biết rằng nếu muốn làm rẫy có thu hoạch cao phải biết tính toán, phải học cái hay Các em chỉ mới biết nghĩ cho ngày hôm nay thôi, không cần nghĩ cho mai sau
+ Chưa ghi nhớ được vấn đề: Nhiều em cứ học trước quên sau, mới học hôm qua thì hôm nay đã quên, thậm chí có em mới học xong giáo viên hỏi lại là không nhớ rồi Chính vì vậy, chỉ cần nghỉ khoảng 1 tháng thì bài của thầy cô, các em đã “trả lại” đủ
+ Học vẹt: Nhiều em cứ đọc, nói vanh vách nhưng khi hỏi nội dung thì không biết Chẳng hạn có nhiều em đọc một bài tập đọc học thuộc lòng thì thuộc vanh vách, nhưng khi giáo viên hỏi về nội dung bài thì các em không trả lời được, hoặc nếu trả lời thì không đúng nội dung
- Nói chung, nhận thức của các em còn yếu, vì thế việc truyền thụ kiến thức cho các em là rất khó khăn cho giáo viên Đây chính là sự băn khoăn của tất cả giáo viên đang công tác tại huyện vùng cao Quan Sơn này
2.2 Thực trạng trước khi áp dụng:
- Việc dạy cho các em đọc được quả là rất khó khăn, đó là chưa nói đến
việc dạy cho các em đọc hiểu, đọc diễn cảm ở mức đơn giản Mỗi giờ dạy tập đọc là mỗi giờ giáo viên phải vất vả, khó khăn mới truyền thụ được kiến thức cho các em Những khó khăn chủ yếu đó là:
a) Do ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ của các em:
- Học sinh dân tộc khi tới trường mới bắt đầu tiếp xúc làm quen và học tập bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới là tiếng Việt Tuy đầu năm các năm học, Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Quan Sơn đều có kế hoạch dạy tiếng Việt cho học sinh chuẩn bị vào lớp 1, nhưng với khoảng thời gian hơn hai tuần không thể
đủ cho giáo viên cung cấp vốn tiếng Việt cho các em, từ đó vốn tiếng Việt của học sinh khi vào lớp 1 không thể được như học sinh người Việt (Kinh) Như vậy, ngay những ngày mới tới trường, học sinh phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Các em phải làm quen với một hệ thống ngữ âm không giống với tiếng mẹ đẻ Với người học ngôn ngữ thứ hai thì học phát âm đúng âm, vần đóng vai trò quan trọng ; khi đã biết cách phát âm thì những khâu tiếp theo như đọc tiếng, từ, câu sẻ trở nên dễ dàng hơn Bởi vậy, cần phải dạy cho các em phát âm đúng ngay từ khi học âm, vần của tiếng Việt
- Từ lúc mới chào đời, các em đã làm quen với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) Ngôn ngữ đó đã ngự trị trong cuộc sống sinh hoạt của các em
Vì thế, việc học Tiếng Việt đối với các em như chúng ta học tiếng nước ngoài vậy, cho dù một số em có tiếp xúc với người Kinh hoặc nghe bố, mẹ, anh, chị,… nên có một số ít ngôn ngữ tiêng Việt, nhưng chừng đó quả là quá ít đối với việc học Tiếng Việt - là một ngôn ngữ chính thống Trong khi đó những học sinh người Kinh thì nhiều em vào lớp 1 đã biết đọc, biết viết
- Mặt khác, các em học Tiếng Việt nhưng không giao tiếp bằng tiếng Việt nên học xong lại chóng quên Nhiều em mới biết đọc thì sau 3 tháng hè đã không còn nhớ mặt chữ nữa
Trang 5- Hơn nữa, trong ngôn ngữ của các em rất nặng, đa số những tiếng có thanh trắc (hỏi, ngã, nặng) và rất ít thanh bằng (huyền, không); trong khi nói, đọc các em thường kéo dài những tiếng cuối từ, cuối câu nên nhiều em phát âm sai với chuẩn chính âm của Tiếng Việt
Ví dụ:
+ Thênh thang - đọc thành: thêênh th…a ng
+ Thấm thía - đọc thành: Thớm thé
Trong khi đọc, các em còn chẻ từ ra để ngắt, nghỉ hơi, ngắt câu Đây là do các em chưa hiểu về cấu tạo từ, đơn vị từ, cấu tạo câu của Tiếng Việt Các em đọc ngắt, nghỉ rất tự do, cứ khi nào hết hơi là các em ngắt, nghỉ để lấy hơi cho
dù giáo viên nhắc nhiều lần
Ví dụ:
+ Nghe lời chị, tôi đem những chú chim/ non đặt lại vào tổ
( Bài: Không nên phá tổ chim) + Cúc đỏ mặt, ngượng/ nghịu cảm ơn Hà
( Bài: Người bạn tốt)
+ Hoa lan lấp/ ló qua kẽ lá
( Bài: Hoa ngọc lan) Nhiều em vừa đọc, vừa đánh vần, đọc câu nọ sang câu kia mà không tính đến nghĩa các câu Đó là do các em chưa có kĩ năng đọc, chưa thuộc cấu trúc từ, câu của Tiếng Việt
Nói chung, việc ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ của các em đã làm cho việc dạy tập đọc hết sức khó khăn và đây là khó khăn bậc nhất cho giáo viên
b) Do chương trình và sách giáo khoa:
- Chương trình - sách giáo khoa khá nặng về kiến thức đối với học sinh, nhất là học sinh ở vùng dân tộc thiểu số Nội dung kiến thức thì nhiều, trong khi vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của các em lại có hạn, nên việc truyền đạt kiến thức cho học sinh trong 1 tiết học là điều quá khó khăn Ở nước ta, nền giáo dục đã
có sự điều chỉnh và giảm tải cho các đối tượng học sinh, nhưng dù vùng thuận lợi hay khó khăn đều học cùng một chương trình, nên vẫn còn thiệt thòi cho các học sinh vùng khó khăn Nên chăng cần phải có sự chỉnh sửa hợp lí đối với học sinh vùng khó khăn và chuẩn kiến thức riêng, bởi lẽ yêu cầu tất cả học sinh đều phải đạt theo chuẩn kiến thức kĩ năng đã quy định chung
c) Do tầm quan trọng của bài tập đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1:
- Phân môn tập đọc lớp 1 mỗi tuần có 6 tiết (mỗi bài 2 tiết), trong đó rất nhiều bài tập đọc lại là ngữ liệu dạy học của các môn học khác Vì vậy, chỉ khi đọc được, hiểu được bài tập đọc đó thì các em mới có thể vận dụng vào các môn học khác Chính vì thế, càng khó khăn và nặng nề cho giáo viên khi dạy tập đọc
* Trong năm học 2016-2017, khi chưa thực nghiệm dạy - học tăng thời lượng môn tập đọc cho học sinh lớp 1 tôi đã khảo sát ngẫu nhiên 10 học sinh khối 1 Kết quả như sau:
Bảng khảo sát chất lượng sau khi chưa thực hiện dạy - học tăng thời lượng môn tập đọc lớp 1:
Trang 6Tổng số học sinh Số học sinh đọc đạt 30tiếng/ phút Số học sinh đọc chưa đạt 30tiếng/ phút
10 Số lượng4 Tỷ lệ %40% Số lượng6 Tỷ lệ %60% Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt còn thấp và tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành cao Từ thực trạng trên tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng các phương pháp, giải pháp phù hợp vào quá trình dạy học dựa trên trình độ, đặc điểm tâm lý của học sinh lớp tôi chủ nhiệm nhằm giải quyết thực trạng trên
2.3 Các sáng kiến, các giải pháp đã sử dụng để dạy học Tập đọc lớp 1:
a Vị trí của việc dạy Tập đọc lớp 1:
* Đọc là gì:
- Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với chúng là 4 kĩ năng: Nghe, đọc, nói, viết Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng từ chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị có nghĩa không có
âm thanh (ứng với hình thức đọc thầm)
* Ý nghĩa của việc đọc:
- Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học,
tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết Vì vậy, việc đọc có ý nghĩa sau:
+ Tiếp thu được nền văn minh của loài người: Kho tàng, văn minh của loài người là rất phong phú và được ghi lại bằng chữ viết Vì thế, chỉ khi nào đọc được, hiểu được các em mới có thể tiếp thu được các kiến thức đó
+ Hiểu và đánh giá cuộc sống; nhận thức được mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy
+ Giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác; thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác,…Từ đó, có những nhận thức và rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, lòng nhân ái, lòng vị tha,…Qua đó, bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách cho học sinh
* Nhiệm vụ của dạy tập đọc lớp 1:
- Tập đọc là phân môn thực hành Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của
nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh
- Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh
- Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
- Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
b Mục tiêu phân môn Tập đọc lớp 1:
Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho học sinh, cụ thể là:
Trang 7* Đọc thành tiếng:
- Phát âm đúng
- Ngắt nghỉ hơi hợp lí
- Cường độ đọc vừa phải (không đọc to quá hoặc đọc lí nhí)
- Tốc độ đọc vừa phải (không ê a, ngắc ngứ hay liến thoắng), đạt yêu cầu tối thiểu 30 tiếng/phút
* Đọc thầm và hiểu nội dung:
- Biết đọc thầm, không mấp máy môi
- Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); trả lời được các câu hỏi trong bài
- Có khả năng trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến nội dung bài đọc luyện nói theo mẫu, phát biểu ý kiến của bản thân về một nhân vật hoặc một vấn
đề trong bài đọc
* Nghe:
- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài
- Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy, cô
- Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn
Trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống, cụ thể:
- Làm giàu và tích cực hoá vốn từ, vốn diễn đạt
- Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, cung cấp mẫu để hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân
- Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản
Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng trong cuộc sống; hứng thú đọc sách và yêu thích tiếng Việt, cụ thể:
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu,
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt
c Nội dung chương trình và sách giáo khoa Tập đọc lớp 1:
Nội dung chương trình và sách giáo khoa phân môn tập đọc lớp 1 hiện hành là:
- Tổng số tiết: 6 tiết/tuần x 13 tuần = 78 tiết
(Trong đó có 6 tiết dành cho ôn tập)
- Gồm có: 3 chủ điểm và mỗi chủ điểm được học trong 4 tuần
+ Nhà trường: 4 tuần: 24 tiết
+ Gia đình: 4 tuần: 24 tiết
+ Thiên nhiên - đất nước: 4 tuần: 24 tiết
+ Một tuần dành cho ôn tập - kiểm tra
Trang 8- Về hình thức: Sách giáo khoa trình bày đẹp, phù hợp với nội dung:
+ Về kênh hình: Đa dạng và phong phú, đẹp về hình thức, rõ về nội dung Giúp cho học sinh định hướng được nội dung bài tập đọc sẽ học
+ Về kênh chữ: Trình bày rõ ràng, mực in tốt Giúp học sinh có thể đọc thầm một cách dễ dàng
d Nội dung dạy - học Tập đọc lớp 1:
* Củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh:
- Thông qua 36 bài tập đọc, trong đó có 22 bài văn xuôi (truyện, văn miêu
tả, văn bản khoa học và văn bản thông thường), 14 bài thơ, phân môn tập đọc lớp 1 bước đầu nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm, bước đầu rèn luyện kĩ năng đọc hiểu
- Bám sát các chủ điểm, nội dung tập đọc phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, từ gia đình, nhà trường, thiên nhiên - đất nước, các vùng miền và các dân tộc anh em trên đất nước ta đến các hoạt động văn hoá, khoa học, thể thao và các vấn đề của xã hội như bảo vệ môi trường sống, rèn luyện kĩ năng sống hằng ngày, nói về thiên nhiên đất nước Việt Nam
- Qua phần hướng dẫn sư phạm cuối bài (bao gồm các mục từ ngữ, tìm tiếng trong bài, ngoài bài, nối câu theo mẫu, câu hỏi, nói theo bài ), phân môn tập đọc còn giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc - hiểu văn bản, cụ thể là:
- Tìm tiếng trong bài và ngoài bài có chứa vần đã học
- Biết nói câu theo mẫu
- Trả lời các câu hỏi trong nội dung bài
- Nắm được nội dung bài tập đọc
- Luyện nói theo bài vừa học giúp cho học sinh phát triển thêm lời nói, ngôn ngữ của mình
* Mở rộng vốn hiểu biết; bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, nhân cách cho học sinh.
- Nội dung các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 1 phản ánh một số vấn
đề lớn đang đặt ra trước nhân dân ta và toàn nhân loại thông qua ngôn ngữ văn học và những hình tượng giàu chất thẩm mĩ và nhân văn, do đó có tác dụng mở rộng tầm hiểu biết, tầm nhìn về tự nhiên, xã hội, đất nước và đời sống; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh
e Nguyên tắc dạy - học Tập đọc lớp 1:
* Nguyên tắc giao tiếp:
+ Học sinh phải được giao tiếp: Thể hiện qua việc đọc, hiểu nội dung bài tập đọc, học sinh biết trao đổi với bạn về bài tập đọc, phải để học sinh tự nêu ý kiến của mình nhằm tạo cho học sinh nhu cầu được giao tiếp
+ Phải đặt học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức trong giờ học tập đọc, phải làm sao cho tất cả học sinh đều được đọc, được trao đổi ý kiến
+ Hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp trong giờ tập đọc, phải đảm bảo trong một giờ tập đọc các em được giao tiếp với thầy (cô) giáo và với các bạn trong lớp Từ đó tạo cho các em sự mạnh dạn, lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp thường ngày
Trang 9+ Đối với đối tượng học sinh vùng dân tộc thiểu số thì giáo viên phải tạo cho học sinh có thói quen sử dụng tiếng Việt để giao tiếp: Trong quá trình học tại lớp giáo viên phải nhắc nhở các em phải sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với bạn bè và thầy (cô) Đây là cách rất tốt để các em sử dụng tiếng Việt có kĩ năng
và có kĩ xảo
* Nguyên tắc tư duy:
- Xuất phát từ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy “Ngôn ngữ là quá trình phản ánh trực tiếp của tư duy”, nên khi dạy học tập đọc cần phát triển tư duy cho học sinh, cụ thể là:
+ Rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy cho học sinh: Các thao tác
tư duy phải đi từ cụ thể đến trừu tượng: Phân tích - tổng hợp - so sánh, đối chiếu
- khái quát hoá - trừu tượng hoá
+ Phải làm cho học sinh thông hiểu các đơn vị, ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ trong từng bài tập đọc
+ Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung bài tập đọc và sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong giờ tập đọc
* Nguyên tắc chú ý đến tiếng mẹ đẻ của học sinh:
- Đối với học sinh người Kinh thì tiếng mẹ đẻ của các em là tiếng Việt nên các em đã có có một vốn ngôn ngữ nhất định, hơn nữa các em đã được học phần Học vần thì các em bước đầu đã có kĩ năng đọc, có em đã đọc trơn được các từ Đây là điều kiện thuận lợi cho giáo viên
Tuy nhiên, đối tượng mà tôi nghiên cứu là học sinh ở vùng dân tộc thiểu
số đa số các em đều là con em dân tộc thiểu số, tiếng dân tộc chính là tiếng mẹ
đẻ của các em Chính vì vậy, khi dạy tập đọc, giáo viên cần chú ý:
+ Khảo sát vốn ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh: Các em bắt đầu bước vào lớp 1, vì thế các em có một số vốn ngôn ngữ tiếng Việt rất hạn chế, song rất nhiều em còn chậm trong việc đọc, nhút nhát có em còn bập bẹ đánh vần Vì vậy, giáo viên phải lấy học sinh đọc tốt đọc mẫu nhằm mục đích giúp cho học sinh hạn chế về đọc có hướng đọc theo, những từ nào mà các em còn lẫn lộn hay đọc sai đã có bạn giúp đỡ
Điều quan trọng là giáo viên phải khảo sát kĩ càng vốn ngôn ngữ tiếng Việt của từng học sinh một, xem vốn ngôn ngữ tiếng Việt của từng em như thế nào để có những biện pháp cụ thể để hướng dẫn các em
g Các phương pháp chung của dạy học Tập đọc lớp 1:
* Phương pháp phân tích ngôn ngữ:
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp xem xét các đơn vị ngôn ngữ trên các bình diện để thấy rõ: Cấu trúc, ý nghĩa đặc trưng của các đơn
vị ngôn ngữ đó, nhằm giúp học sinh sử dụng các đơn vị ngôn ngữ có kĩ năng
* Các dạng phân tích là:
- Quan sát ngôn ngữ: Khi dạy tập đọc phải để các em quan sát mặt chữ của văn bản nhằm giúp các em định hướng tốt khi đọc
- Phân tích ngữ âm: Nhằm giúp học sinh phát âm đúng các âm khó đọc trong tiếng, trong từ
Trang 10- Phân tích ngữ pháp: Nhằm giúp học sinh xác định được câu trong văn bản.
- Phân tích chính tả: Nhằm giúp học sinh đọc đúng chính tả, không đọc sai từ, tiếng, nhất là các dấu thanh (mà học sinh người ở vùng dân tộc thiểu số thường mắc phải)
- Phân tích văn chương: Thường được sử dụng khi đọc - hiểu và đọc diễn cảm, nhằm giúp học sinh hiểu được nội dung bài tâp đọc, tính cách nhân vật trong các bài văn Qua đó, giúp cho học sinh có năng lực cảm thụ văn học
* Cách sử dụng:
- Khái quát hoá các bước phân tích trong các dạng ngôn ngữ
- Sử dụng phối hợp với các phương pháp khác
* Phương pháp luyện theo mẫu:
- Phương pháp luyện theo mẫu là phương pháp nhằm giúp học sinh tạo ra đơn vị ngôn ngữ, lời nói theo mẫu
- Đây là phương pháp phù hợp với học sinh người dân tộc thiểu số, bởi
nó phù hợp với tâm lí và trình độ nhận thức của các em (bắt chước, tư duy trực quan cụ thể cao)
* Để thực hiện tốt phương pháp này giáo viên cần chú ý:
- Phải có mẫu đúng, hợp lí, phong phú, đa dạng, nhưng chú ý phải phù hợp với trình độ của học sinh và nội dung bài tập đọc:
+ Giáo viên làm mẫu
+ Đồ dùng dạy học trực quan
+ Học sinh đọc tốt làm mẫu
- Phát huy tính sáng tạo của học sinh tùy theo nội dung bài tập đọc
- Sử dụng phối hợp với các phương pháp khác
Tuy nhiên, giáo viên không nên lạm dụng phương pháp này bởi ít phát huy tính sáng tạo, tính tích cực của học sinh vì các em chỉ biết bắt chước
* Phương pháp giao tiếp:
- Phương pháp giao tiếp là phương pháp dựa vào lời nói, dựa vào thông báo sinh động của cuộc sống, qua đó phát triển lời nói cho học sinh
* Trong quá trình dạy học tập đọc, khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần chú ý:
- Tạo được môi trường giao tiếp: Không gian lớp học, thái độ thầy và trò, ánh mắt của thầy, tạo sự gần gũi giữa giáo viên và học sinh …
- Tạo cho học sinh có hứng thú giao tiếp
- Có nội dung giao tiếp: Trong hệ thống câu hỏi, trong tình huống dạy học Tuy nhiên, nội dung giao tiếp gắn với hoàn cảnh và mục đích giao tiếp
- Có phương tiện giao tiếp
h Coi trọng nguyên tắc trực quan trong dạy học Tập đọc lớp 1:
- Sự cần thiết phải coi trọng nguyên tắc trực quan trong giờ dạy tập đọc
lớp 1, nhất là đối với học sinh ở vùng dân tộc thiểu số là rất cần thiết Lê-nin nói: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của quá trình nhận thức”