1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 7 cách học về cấu trúc ngữ pháp dùng cụm chủ vị để mở rộng câu

22 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 313,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mục đích chính của tôi nghiên cứu đề tài này nhằm giúp cho học sinh hiểuđược thế nào là dung cụm chủ- vị để mở rộng câu Tức dùng cụm chủ- vị để làmthành phần câu hoặc thành phần của cụ

Trang 1

MỤC LỤC

1 cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2 cơ sở thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm 3

CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5

Trang 2

1.1.Lí do chọn đề tài.

Tiếng việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là tiếng phổ thông, Tất cả các đân tộc anh em trên đất nước Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm cùng với sự phát triển của dân tộc, tiếng việt càng ngày càng phát triển

Tiếng việt là phương tiện giao tiếp giao tiếp quan trọng nhất của xã hội Việt nam hiện nay, là ngôn ngữ chính thống trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu tất cả các bậc học, nghành học; Là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật ; Là cụng cụ nhận thức , tư duy của người việt

Mặt khác, tiếng Việt còn mang rõ dấu ấn của nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sốngcủa người Việt, nó là phương tiện tổ chức và phát triển xã hội Chính những vaitrò và chức năng trên cho thấy sự cần thiết của môn tiếng Việt và việc giảng dạytiếng Việt trong nhà trường

Môn tiếng Việt ở trường THCS nói chung và phần ngữ pháp nói riêng cónhiệm vụ cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống những đơn vị kiến thức

cơ bản tối thiểu, cần thiết, vừa sức về từ loại, cú pháp, ngữ pháp văn bản để họcsinh vận dụng những kiến thức đó một cách chủ động, sáng tạo, đầy hứng thúvào nói, viết chuẩn mực, mạch lạc trong các hoạt động giao tiếp Đồng thời,khơi dậy, phát triển, củng cố khả năng tư duy, óc sáng tạo; Bồi dưỡng năngkhiếu thẩm mỹ, lòng tự hào, yêu quý tiếng mẹ đẻ

Từ những nhiệm vụ đó, trong giờ dạy tiếng Việt, yêu cầu người dạy phải

có cách thức làm việc và tổ chức cho học sinh làm việc sao cho học sinh chủđộng chiếm lĩnh tri thức, hình thành các kĩ năng, kĩ sảo Từ đó trang bị cho mìnhcông cụ để nhận thức và phương tiện để giao tiếp

Có thể nói, câu trong tiếng Việt là vấn đề tương đối phức tạp Có nhiều ýkiến khác nhau về câu tiếng Việt Sách ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Lân cho

rằng: Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý kiến dứt khoát về động tác, tình hình, tính chất của sự vật được gọi là một câu.

V.V Vinogradov cho rằng: Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng

Trong dạy học tiếng Việt ở trường THCS, phần câu (cả lí thuyết và bài tập)

là phần thực sự khó đối với cả người dạy và người học Do đó, việc dạy họctiếng Việt, đặc biệt là phần câu đòi hỏi giáo viên không chỉ có năng lực mà cầnphải có kinh nghiệm và phương pháp tốt cho học sinh hiểu Đặc biệt là nhữnghọc sinh vùng núi về cấu trúc từ học sinh cũng mơ màng, không nắm chắc cấu

trúc câu Chính vì thế mà tôi chọn đề tài: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh

Trang 3

nghiệm hướng dẫn học sinh khối 7 cách học về cấu trúc ngữ pháp dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu

1.2 Mục đích nghiên cứu.

- Mục đích chính của tôi nghiên cứu đề tài này nhằm giúp cho học sinh hiểuđược thế nào là dung cụm chủ- vị để mở rộng câu (Tức dùng cụm chủ- vị để làmthành phần câu hoặc thành phần của cụm từ)

- Nắm được các trường hợp dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu

- Luyện kĩ năng : phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu; xác định cụm chủ- vịdùng để mở rộng câu

- Học sinh có thái độ trân trọng ngôn ngữ tiếng việt

1.3.Đối tượng nghiên cứu:

Bản thân áp dụng cho hoc sinh trường THCS Sơn Hà cụ thể là học sinh lớp

7, khi dạy bài Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu tôi tìm những

ví dụ đơn giản trong các tác phẩm văn xuôi, tìm hiểu kĩ nội dungbài học ở sách giáo giáo khoa và chuẩn kiến thức kĩ năng

1.4.Phương pháp nghiên cứu:

Bản thân dùng phương pháp điều tra khảo sát thực tế ở lớp 7 trường THCSSơn Hà để biết lực học của từng học sinh, phương pháp phân tích, phương pháp

tổng hợp, phương pháp lấy học sinh làm trung tâm Tất cả những phương pháp

trên nhằm giúp cho học sinh nắm chắc về câu Đặc biệt là dùng cụm c-v để mởrộng câu

1.5.Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

Là đối tượng học sinh vùng núi, nhiều em chưa thành thạo về cấu tạonòng cốt của câu Chính vì thế muốn học sinh thích thú, ham học về ngữ phápthì giáo viên phải tìm được phương pháp phù hợp tìm Chính vì thế tôi đã lấynhững ví dụ gần gũi , thực tế và để dễ hiểu ví dụ đó phải ngắn gọn học sinh nắmnòng cốt câu thật chắc sau đó mới xác định được thành phần mở rộng câu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 4

Văn học phải gắn với đời sống, chú ý đến học sinh Đặc biệt là học sinh vùng núi Chính vì thế mà sự sáng tạo và tiếp nhận tính học sinh phải nắm được cấu trúc từ, câu để vận dụng vào bài viết của mình, phát huy vai trò chủ thểcủa học sinh, phải chú ý đến mối quan hệ tái hiện, mang tính độc lập của học sinh Trong đó phân môn tiếng Việt là rất quan trọng, học sinh phảinắm từ vựng,cấu trúc ngữ pháp, dấu câu để vận dụng vào bài viết Có như thế thì những bài viết mới đạt kết quả cao Một bài viết hay phải có sự trau chuốt về ngôn từ và vận dụng những kiểu câu thích hợp đã học vào bài làm Chính vì thế mà phần tiếng việt rèn luyện câu và đoạn văn trong làm văn là rât quan trọng.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Từ trước đến nay, nói đến môn Ngữ Văn nói chung, môn tiếng Việt nóiriêng, học sinh ít có hứng thú học tập Do đó, trong giờ dạy học Văn- Tiếng Việtngười dạy tổ chức cho học sinh học tập một cách nhiệt tình, sôi nổi, nắm bài mộtcách hiệu quả và yêu quý bộ môn này là một vấn đề khó so với các môn họckhác

Có thể nói, theo cảm nhận của bản thân, chương trình sách giáo khoa mớiđưa nội dung kiến thức về câu vào chương trình giảng dạy sớm (Lớp 2) so vớikhả năng nhận thức của độ tuổi Ở độ tuổi này, khả năng nhận thức về câu tiếngViệt của học sinh có hạn nên một số em bị “chột” kiến thức, càng lên lớp trênhọc sinh càng không nắm được kiến thức Do đó các em viết câu hầu như chưađúng cấu trúc, chưa đủ nội dung thông báo, ngắt câu tùy tiện Đặc biệt là việcphân tích cấu trúc câu còn hạn chế

Chương trình tiếng Việt lớp 7 có nhiều đơn vị kiến thức khó, phức tạp so

với độ tuổi của các em Đặc biệt là thao tác biến đổi câu: Dùng cụm chủ- vị để

mở rộng câu học sinh còn rất lúng túng trong việc phân biệt chủ ngữ, vị ngữ

của câu với chủ ngữ, vị ngữ được mở rộng

Nội dung bài này khó cắt nghĩa cho học sinh nếu chỉ dựa trên lời thuyếtgiảng của giáo viên Mặt khác, đặc trưng của bộ môn, của bài là phải từ bài tậpđến lí thuyết và quay trở về bài tập để củng cố và khắc sâu lí thuyết Tức là họcsinh phải được luyện nhiều Trong khi đó nội dung lí thuyết của bài không ít

Việc sử dụng phối kết hợp đồ dùng dạy học với phương tiện dạy học hiệnđại còn hạn chế Để duy trì không khí lớp học, gây hấp dẫn, hứng thú

đối với học sinh, dành nhiều thời gian để học sinh luyện tập, hiệu quả bài họcđạt kết quả cao, yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị chu đáo, công phu không chỉgiáo án mà cả đồ dùng dạy học và phương tiện dạy học hiện đại (Máy chiếu đanăng)

Trang 5

2.3 Kết quả của thực trạng trên:

Năm học 2017- 2018 tôi được trường phân công dạy môn Ngữ văn lớp 7.Lúc này tôi chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, chỉ thực hiêngiảng dạy bình thường là sử dụng bảng phụ và ít đưa ngữ liệu vào để khai tháchơn Với cách dạy đó thì:

- Trong giờ học, học sinh ít được luyện tập qua các ví dụ

- Số học sinh lúng túng khi xác định cụm chủ- vị để mở rộng câu còn nhiều

- Học sinh hay lẫn lộn giữa cụm chủ- vị của câu với cụm chủ- vị

Kết quả điều tra qua bài kiểm tra sau tiết học

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

3 Khi tiến hành giờ dạy trên lớp, giáo viên:

- Phối kết hợp nhịp nhàng giữa bảng đen (ĐDDH truyền thống), bảngphụ và phương tiện dạy học hiện đại (máy chiếu đa năng) Muốn vậy trước khitiến hành giờ dạy trên lớp, giáo viên phải thuộc và hình dung trong đầu toàn bộtiến trình lên lớp từ ghi nội dung trên bảng đen, thao tác treo bảng phụ đến tháctác bấm máy

Trang 6

- Tổ chức, duy trì và điều khiển học sinh học tập tích cực, chủ động Chú

ý tới tất cả các đối tượng học sinh đặc biệt là một số em học yếu Với đối tượnghọc sinh này các em hay có tâm lí chán học hoặc có cảm giác bị bỏ rơi trong giờhọc, do đó trong quá trình dạy, giáo viên nên khuyến khích các em Có thể chocác em này đọc ngữ liệu để gây sự chú ý, hứng thú đầu tiên ở đối tượng này

- Học sinh lên bảng trực tiếp thực hành trên bảng phụ, học sinh dưới lớpcùng làm sau đó quan sát kết quả bạn làm trên bảng và nhận xét Giáo viên chốtlại kết quả đúng bằng cách thực hiện trên máy chiếu để học sinh so sánh kết quả

để xác định hướng tiến hành thực hiện giờ dạy trên lớp

Mặt khác, do ở bài này sách giáo khoa đưa ra ít ngữ liệu và bài tập, trongkhi đó đặc trưng của bộ môn, của bài là phải từ bài tập đến lí thuyết và quay trở

về bài tập để củng cố và khắc sâu lí thuyết, (Tức là học sinh phải được luyệnnhiều) nên thông qua sách giáo viên và các tài liệu tham khảo khác, tôi tìm vàđưa thêm nhiều ngữ liệu bên ngoài vào nội dung bài học để học sinh được luyệnnhiều

Sau khi nghiên cứu thấu đáo sách giáo khoa, sách giáo viên và tài liệutham khảo, tôi tiến hành soạn giáo án

c Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:

* Đối với giáo viên:

- Đồ dùng dạy học truyền thống (Bảng phụ): Để dạy tiết này tôi chuẩn bị

7 cái bảng phụ để: Ghi ngữ liệu (Sách giáo khoa), các ví dụ, bài tập củng cố vàbài tập trong sách giáo khoa

- Phương tiện dạy học hiện đại (Máy đa năng):

+Tất cả nội dung ghi ở bảng phụ tôi đều cùng ghi và trình chiếu ở máy đanăng

+Khác với ở bảng phụ, ở đây ngoài ngữ liệu tìm hiểu và các bài tập ra, tôighi luôn cả đáp án đúng

+Nội dung ghi nhớ ở sách giáo khoa sau khi tìm hiểu ngữ liệu của mỗiphần

+Tranh ảnh

Trang 7

Có thể nói theo sự chuẩn bị của tôi sẽ có nhiều ý kiến cho rằng mất nhiềuthời gian, tốn công sức hoặc đã dùng máy đa năng rồi thì thôi không cần bảngphụ vì như thế là đã ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy rồi Nhưng tôithiết nghĩ:

Thứ nhất: Một tiết dạy thành công hay không trước hết là ở khâu chuẩn

bị giáo án, đặc biệt ở phân môn tiếng Việt là còn ở đồ dùng dạy học và thiết bịdạy học Giáo viên chuẩn bị và sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy trước hếttiết dạy sẽ thực hiện được nguyên tắc trực quan; Tiết kiệm thời gian, rút ngắnthời gian đi quãng đường từ “cái cụ thể, cảm tính” đến “cái trừu tượng”; Gâyhứng thú học tập; Tập trung được sự chú ý của học sinh, làm cho lớp học sôinổi; Học sinh theo dõi bài dễ dàng và có nhiều thời gian thực hành luyện tập.Qua đó, học sinh tự rút ra được nội dung bài học cần nắm Từ nội dung bài học

đó học sinh lại vận dụng vào làm bài tập, chuyển nội dung bài học thành các kĩnăng, kĩ xảo

Thứ 2: Nếu chỉ dùng mình máy chiếu đa năng để trình chiếu thì tôi cảm

thấy học sinh làm việc một cách máy móc, chỉ đứng tại chỗ trả lời, lại khó lưuđược các ý kiến trả lời của học sinh để đối chiếu với kết quả đúng

Đặc biệt sau khi học sinh trả lời, giáo viên trình chiếu đáp án đúng tôi có cảmtưởng nó mang tính áp đặt nhiều hơn đối với học sinh Do đó tôi sử dụng bảngphụ trước để học sinh được lên bảng làm bài một cách trực tiếp vào bảng phụ.Sau khi học sinh này làm xong, cả lớp ở dưới sẽ quan sát được và nhận xét kếtquả bạn làm Để xem học sinh làm và các ý kiến nhận xét có đúng không, giáoviên trình chiếu đáp án đúng ở máy đa năng để cả lớp quan sát, đối chiếu kết quảđúng với kết quả ở bảng phụ

Cách làm kết hợp ĐDDH với phương tiện dạy học hiện đại này tôi thấy có hiệuquả sau:

- Học sinh được làm việc trực tiếp (Khắc phục điểm hạn chế của máy đanăng)

- Rút ngắn khoảng thời gian giáo viên đưa ra kết quả đúng tới học sinh

- Học sinh dễ quan sát, so sánh, đối chiếu và tự rút ra kết quả học tập củamình

- Tất cả các đối tượng trong lớp đều được tham gia

* Đối với học sinh:

Có thể nói một giờ dạy dù chuẩn bị kĩ đến đâu nếu như không có sự chuẩn

bị và ủng hộ nhiệt tình của học sinh thì giờ dạy đó cũng khó có thể thành công

Trang 8

theo mong muốn Do vậy, trước khi bài học này diễn ra giáo viên yêu cầu họcsinh phải chuẩn bị tốt các nội dung sau:

- Học và nắm vững bài cũ: “Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động”

- Luyện thành thạo kĩ năng phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu (Xácđịnh chủ ngữ, vị ngữ, các thành phần phụ khác của câu)

- Nắm vững kiến thức về từ loại, về cụm từ loại đã được học ở lớp dưới

- Đọc và phân tích cấu trúc ngữ pháp của các ngữ liệu trong sách giáokhoa bài “Dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu” (Trang 68 và 69)

d Tiến hành giờ dạy trên lớp:

Cũng như các tiết học khác, sau khi kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới tôitiến hành hoạt động tìm hiểu thế nào là dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu?

Để học sinh nắm được khái niệm này trước hết tôi treo bảng phụ 1 lên,yêu cầu học sinh lên bảng xác định trên bảng phụ cụm danh từ trong ví dụ vàyêu cầu học sinh ở dưới lớp nhận xét kết quả bạn lên làm Để không tốn nhiềuthời gian, học sinh nhanh chóng nhận ra kết quả bạn làm trên bảng và xem bạnnhận xét có đúng không, tôi chiếu luôn đáp án ở máy đa năng đồng thời khẳngđịnh đây là đáp án đúng và chữa lại trên bảng phụ (nếu sai)

Tiếp đó, học sinh tiếp tục lên bảng thực hiện các yêu cầu ở bảng phụ thứ 2

(Phân tích cấu tạo của cụm danh từ vừa tìm được: những tình cảm ta không có, những tình cảm ta sẵn có vào bảng mô hình cụm danh từ và phân tích cấu trúc của phụ ngữ sau của mỗi cụm danh từ: ta không có, ta sẵn có ) Cách

tiến hành giữa bảng phụ và máy chiếu tương tự trên

Đến đây tôi cho học sinh nhận xét cấu trúc ngữ pháp của các phụ ngữ sau

của mỗi cụm danh từ: -“ta không có”

CN VN

- “ta sẵn có ”

CN VN

Qua nhận xét, học sinh dễ dàng thấy được : Phụ ngữ sau của cụm danh

từ có cấu tạo hình thức giống câu đơn bình thường (Gồm một kết cấu vị) Tôi sẽ chốt kết quả nhận xét này lên bảng đen.

chủ-Tiếp đó, để học sinh thấy được không chỉ thành phần của cụm từ có cấutạo hình thức giống câu đơn bình thường mà thành phần câu cũng có cấu tạohình thức giống câu đơn bình thường, tôi tiếp tục treo bảng phụ 3 cho học sinhtìm hiểu nhanh một ví dụ khác nữa

Bạn lớp trưởng, gương mặt rạng rỡ.

Trang 9

Ở ví dụ này, tôi yêu cầu học sinh : Xác định cấu trúc ngữ pháp của câu.

Từ kết quả đúng vừa xác định (Bạn lớp trưởng, gương mặt rạng rỡ),

tục chốt kết quả nhận xét này lên bảng đen

Với kết quả học sinh tìm hiểu từ 2 ngữ liệu đã chốt trên bảng, tôi yêu cầuhọc sinh nhìn lên bảng đồng thời khái quát lại và dẫn dắt học sinh nhận thấy kếtquả từ 2 ngữ liệu vừa tìm hiểu có 2 cụm từ làm thành phần cụm danh từ và 1cụm từ làm thành phần vị ngữ của câu có cấu tạo hình thức giống câu đơn bìnhthường Và tôi khẳng định luôn: Cách dùng các cụm từ có cấu tạo hình thứcgiống câu đơn bình thường làm thành phần câu hoặc thành phần cụm từ ở trongcâu người ta gọi là dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu Từ đó yêu cầu học sinhrút ra khái niệm thế nào là dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu? Đó chính là nộidung ghi nhớ 1 được trình chiếu trên máy

Sau khi rút ra ghi nhớ 1, tôi treo bảng phụ 4 yêu cầu học sinh làm bài tập

để củng cố kiến thức lí thuyết vừa rút ra, đặc biệt là luyện kĩ năng xác định cụmchủ- vị dùng để mở rộng câu

Để đạt được yêu cầu trên và học sinh không lẫn lộn giữa kết cấu chủ- vịcủa câu với cụm chủ- vị dùng để mở rộng, tôi lần lượt yêu cầu học sinh thựchiện các yêu cầu sau:

- Phân tích cấu trúc ngữ pháp của từng câu

- Xác định cụm chủ- vị dùng để mở rộng câu

- So sánh rút ra điểm khác giữa cụm vị của câu với cụm

chủ-vị dùng để mở rộng câu

(Cách tiến hành giữa bảng phụ và máy chiếu tương tự trên.)

Học sinh sau khi làm xong và đối chiếu kết quả giữa bảng phụ và máychiếu sẽ thu được kết quả:

1.“Cả lớp đã làm xong bài tập thầy giáo giao.”

C V

CN VN

Trang 10

Xuất phát từ mục đích trên, khi chuyển sang phần II, tôi giữ nguyên kếtquả bài tập củng cố trên bảng phụ (đã chữa đúng) và trên máy chiếu đồng thờiyêu cầu học sinh lên thực hiện yêu cầu tiếp theo là: Trong mỗi câu cụm chủ- vịdùng để mở rộng câu làm thành phần gì ?

Học sinh sẽ thực hiện được:

Câu 1: Cụm chủ- vị dùng để mở rộng câu làm phụ ngữ của cụm danh từ.

Câu 2: Cụm chủ- vị dùng để mở rộng câu làm phụ ngữ của cụm động từ

Câu 3: Cụm chủ- vị dùng để mở rộng câu làm chủ ngữ trong câu.

Câu 4: Cụm chủ- vị dùng để mở rộng câu làm vị ngữ trong câu.

Với kết quả trên, tôi cho học sinh rút ra các trường hợp dùng cụm chủ- vị

để mở rộng câu Đó chính là nội dung ghi nhớ 2

Đến đây, cùng với việc hướng dẫn học sinh nắm lại toàn bộ nội dung líthuyết của bài, tôi nhấn mạnh cho các em các bước xác định cụm chủ- vị dùng

để mở rộng câu Theo tôi, đây là việc làm rất quan trọng của giáo viên trong tiếthọc nay Nó sẽ giúp cho học sinh không lúng túng khi xác định cụm chủ- vịdùng để mở rộng câu và dễ dàng phân biệt được kết cấu chủ- vị của câu với cụmchủ-vị dùng để mở rộng câu Cụ thể là:

Bước 1: Phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu để xác định kết cấu chủ- vị

của câu.(Nòng cốt câu)

Trang 11

Bước 2: Quan sát các thành phần của câu vừa xác định, xem xét có thành

phần nào có cấu tạo hình thức giống câu đơn bình thường không

- Nếu chủ ngữ có cấu tạo hình thức giống câu đơn bình thường thì trường hợpnày là dùng cụm chủ- vị mở rộng thành phần chủ ngữ

- Nếu vị ngữ có cấu tạo hình thức giống câu đơn bình thường thì trường hợp này

là dùng cụm chủ- vị mở rộng thành phần vị ngữ

- Nếu cụm chủ- vị được mở rộng bổ nghĩa cho từ ngữ nào đó trong thành phầnchủ ngữ hoặc vị ngữ thì trường hợp này cụm chủ- vị được dùng để mở rộng phụngữ của cụm từ

Để khắc sâu kĩ năng trên, tôi chuyển các ngữ liệu chưa tìm hiểu của phầnII(Sách giáo khoa) thành bài tập củng cố nội dung của cả bài Đó là nội dung ghi

Để thay đổi không khí lớp học, tạo không khí vui vẻ và củng cố lại kĩnăng xác định cụm chủ- vị dùng để mở rộng trong câu, trước khi kết thúc giờ

học tôi tổ chức cho cả lớp chơi trò chơi với tên gọi là: “Trò chơi tiếp sức”.

Cách tiến hành như sau:

- Giáo viên treo bảng phụ 7 (được viết vào tờ giấy cỡ lớn)

- Chia lớp thành 2 đội Trong thời gian 2 phút lần lượt từng người

một của mỗi đội lên bảng tìm câu có dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu và gạchchân dưới cụm chủ- vị đó

- Cứ đội này lên bảng làm xong về chỗ, đội kia mới xuất phát Nếu độinào chậm lên làm hoặc lên làm chậm sẽ mất lượt

- Trong thời gian 2 phút đội nào xác định được nhiều câu có dùng cụmchủ- vị để mở rộng câu đội đó sẽ thắng

Trên đây là kinh nghiệm của bản thân được rút ta qua thực tế giảng dạy và

đã tiếp tục ứng dụng tiếp vào thực tế dạy bài Dùng cụm chủ- vị để mở rộng câu Bản thân thấy giờ dạy và học đạt hiệu quả cao.

Ngày đăng: 09/05/2018, 08:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w