Tìm hiểu lỗi dấu câu của học sinh giúp ta tìm ra nguyên nhân, cách khắc phục những lỗi, làm cho phương thức biểu đạt, quan hệ giữa các thành phân câu, ý nghĩa của câu được hay hơn, phát
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những lần cầm bút để chấm bài cho học sinh khối 6 đầu cấp nói riêng và học sinh khối 7,8,9 nói chung, tôi không khỏi băn khoăn suy nghĩ mỗi khi nhận xét bài làm của các em và hạ bút cho điểm Không phải vì bản thân tôi khó tính trong điểm chác hay vì tôi đang chạy theo bệnh thành tích trong thi cử mà vì tôi luôn trăn trở về bài viết của các em đang còn vụng về trong việc diễn đạt câu và sử dụng các dấu câu còn chưa linh hoạt Trong các bài viết của học sinh, lỗi
về dấu câu còn rất phổ biến Sự không hiểu đầy đủ chức năng hay công dụng và quy tắc dùng dấu câu đã hạn chế rất lớn khả năng diễn đạt trong sáng, chính xác, tư tưởng, tình cảm Một trong những nguyên nhân của việc dạy dấu câu chưa tốt là do giáo viên chưa tiếp cận được các công trình nghiên cứu và chưa nắm rõ quy tắc dấu câu
Nghiên cứu về dấu câu tiếng Việt là góp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt Vì vậy nhiệm vụ của môn Ngữ văn trong nhà trường THCS hiện nay là: “Làm cho học sinh dần dần có ý thức, có trình độ, thói quen và viết đúng tiếng Việt phải dạy cho học sinh cách trình bày một bài văn cho đàng hoàng từ chữ viết đến chấm câu, bố cục”
Thực tế trong quá trình chấm bài của các thế hệ học sinh đầu cấp nói riêng và học sinh toàn khối của trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện nói chung suốt 10 năm qua, bản thân tôi nhận thấy các em còn mắc nhiều lỗi, trong đó lỗi về dấu câu là một lỗi thường gặp Việc dùng sai dấu câu hạn chế rất lớn khả năng diễn đạt trong sáng, chính xác, tế nhị những tư tưởng, tình cảm của người viết
Tìm hiểu lỗi dấu câu của học sinh giúp ta tìm ra nguyên nhân, cách khắc phục những lỗi, làm cho phương thức biểu đạt, quan hệ giữa các thành phân câu, ý nghĩa của câu được hay hơn, phát huy tác dụng của dấu câu
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học thực tiễn nêu trên về dấu câu, với tư cách là một giáo viên Ngữ văn, tôi nghĩ rằng đề tài này sẽ giúp tôi thực hiện tốt việc giảng dạy môn Ngữ văn ở trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện nói chung và đối với khối lớp 6 nói riêng nên tôi chọn đề tài: “Hướng dẫn học
Trang 2sinh lớp 6 trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện sử dụng dấu chấm
và dấu chấm phẩy nhằm nâng cao khả năng diễn đạt trong câu”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Học sinh lớp 6 là khối đầu cấp tuy ở cấp dưới các em đã được làm quen với việc sử dụng các dấu câu dưới hình thức tập đọc và luyện câu nhưng các em đang còn thói quen làm bài văn giản đơn và giờ đây các
em phải làm quen vào việc trình bày câu, bài văn theo một yêu cầu chặt chẽ và nâng cao hơn so với chương trình bậc tiểu học Hơn nữa, cách diễn đạt cũng phong phú hơn, ngữ pháp cũng phức tạp hơn, vì vậy yêu cầu về việc sử dụng các dấu câu cũng cao hơn nên tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này để giúp các em sử dụng dấu câu một cách hợp lí
và đạt hiệu quả cao trong quá trình diễn đạt, tạo tiền đề cho các em phát triển vốn văn ở các khối lớp cao hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh khối lớp 6 trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện được đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp như sau:
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
* Phương pháp khảo sát từ thực tế
* Phương pháp phân loại thống kê
* Phương ph¸p thùc nghiÖm
2 PHẦN NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận.
Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết Tác dụng của
nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp Nói chung nó thể hiện ngữ điệu lên câu văn, câu thơ Cho nên có trường hợp nó không phải chỉ là, mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng,
về cả tình cảm thái độ của người viết Dấu câu dùng thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn Không dùng dấu câu, có thể gây ra
Trang 3hiểu lầm Có trường hợp vì dùng sai dấu câu mà thành ra sai ngữ pháp, sai nghĩa
Cho nên quy tắc dùng về dấu câu cần được vận dụng nghiêm túc Xuất phát từ vai trò của dấu câu nên dấu câu được giải thích được cả
ba tiêu chí: Ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ điệu
Về mặt ý nghĩa: Dấu câu biểu thị những ý nghĩa khái quát trong cấu
trúc cú pháp nhất định Mặt ý nghĩa không tồn tại độc lập nếu không có mặt hình thức biểu đạt nó (hình thức đó chính là cấu trúc cú pháp)
Ngữ điệu cũng là phương thức cú pháp quan trọng để biểu đạt tư tưởng, là nhân tố bắt buộc phải có của câu Do đó nó cũng là cơ sở của dấu câu Cơ sở dùng dấu câu là quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp trong lời nói
Hiện nay, cách dùng sai dấu câu là hiện tượng khá phổ biến của học sinh Hiện tượng đó có thể do nguyên nhân khách quan của người viết Điều
đó đôi khi gây ra những nhầm lẫn đáng tiếc Ý nghĩa của câu có thể bị hiểu sai hoặc phần nào gây nên khó khăn đối với cách lĩnh hội ngôn ngữ
Lỗi dấu câu là sai sót do không thực hiện đúng quy tắc nên dùng dấu sai vị trí, sai chức năng Vì thế cần phải căn cứ vào hoạt động của dấu câu trong câu và trong các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn để vạch ra các tiêu chí phân loại lỗi
2.2 Thực trạng của vấn đề.
Trong chương trình ngữ văn 6 phần tiếng Việt, yêu cầu đối với học sinh về việc nắm dấu câu: Hiểu và vận dụng trong bài làm văn trên lớp còn chưa linh hoạt, bị nhầm lẫn giữa các dấu câu Bài văn đặt dấu chấm chấm, dấu phẩy không rõ ràng
Để điều tra thực tế về trình độ sử dụng dấu câu của học sinh lớp 6A
và lớp 6B trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện, tôi đã tập trung khảo sát vào 3 bài viết của các em:
* Viết bài tập làm văn số 1 – văn kể chuyện.
Đề bài: Kể lại một truyện đã biết (truyền thuyết, cổ tích) bằng lời văn của
em.
* Viết bài tập làm văn số 2 - kể chuyện đời thường.
Đề bài: Kể về một việc tốt mà em đã làm.
* Viết bài tập làm văn số 3 - Kể chuyện đời thường.
Đề bài: Kể về một người thân của em (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị …)
Trong khi yêu cầu của chương trình (như đã trình bày ở trên) thì qua khảo sát bài làm học sinh, tôi thấy các em chưa đạt được yêu cầu, còn tồn tại một số lỗi về dấu câu thường hay sử dụng như sau:
2.2.1 Lỗi về dấu chấm.
Trong bài làm, các em thường đặt dấu chấm khi câu mới chỉ có một
vế, một thành phần hoặc một bộ phận, chưa trọn ý, chưa đủ kết cấu ngữ pháp như trong bài viết số 1, rất nhiều em viết như thế này:
“Một hôm Tôi đi ra đồng thấy một dấu chân khác lạ”
Trang 4Lại có những em thường không dùng dấu chấm để ngắt câu khi câu
đã kết thúc
Cụ thể như đoạn văn sau đây:
“Mẹ - người em yêu nhất trong cuộc đời này hình ảnh mẹ bao giờ cũng làm em cảm động, làm em nhận ra mình rõ hơn mỗi lúc làm việc gì tốt hay xấu em rất yêu mẹ, mẹ là tất cả đối với em”
Bên cạnh những em mắc phải 2 loại lỗi trên, khi chấm bài, tôi còn thấy tình trạng lẫn lộn chức năng của các dấu câu đưa đến hiện tượng trong bài làm của các em có khi đánh dấu chấm hỏi, dấu chấm cảm sau những câu
có tính chất tường thuật … Dùng dấu chấm ở chỗ lẽ ra phải dùng dấu chấm than, dấu chấm hỏi,…Có những em lại dùng dấu chấm giữa các vế câu có liên quan chặt chẽ với nhau về ngữ pháp và liên kết bằng cặp quan hệ từ
Ví dụ như:
“ Mẹ tôi đôi lúc mắng mõ Quát tháo tôi Mẹ rất thương tôi.”
2.2.2 Lỗi về dấu phẩy.
Trong bài làm của học sinh, tôi thấy các em thường không đánh đấu phẩy để ngắt các bộ phận của câu:
+ Không dùng dấu phẩy để ngắt giữa các thành phần nòng cốt và thành phần không nòng cốt
Ví dụ: Có những em viết: “Từ xưa đến nay Tháng Gióng luôn là hình
ảnh rực rỡ về lòng yêu nước.”
Giữa thành phần phụ trạng ngữ “ từ xưa đến nay’’ và thành phần chính “ Thánh Gióng luôn là hình ảnh rực rỡ về lòng yêu nước” không có dấu phẩy ngăn cách
+ Không dánh đấu phẩy ở thành phần liệt kê, thành phần đẳng lập ( không có từ nối)
Ví dụ: Có em viết: “Sứ giả đem ngựa sắt roi sắt áo giáp sắt.
Lẫn lộn chức năng dấu phẩy với các dấu khác
Ví dụ: Có những em viết: “Vừa lúc đó Sứ giả đem ngựa sắt; roi sắt;
áo giáp sắt.”
Học sinh mắc những lỗi về dấu phẩy như đã nói ở trên là các em đã vi phạm quy tắc tách các bộ phận của câu Kết quả cụ thể từng bài như sau:
* Lớp 6A sĩ số học sinh 30 em.
Chất lượng sử dụng
dấu câu
Tên bài
Dấu chấm
Dấu phẩy
Dấu chấm
Dấu phẩy
SL TL SL TL SL TL SL TL
Bài viết số 1 - Đề bài
- Kể lại 1 truyện đã biết (Cổ
tích, TT) bằng lời văn của
em.
10 33% 20 67% 20 67% 10 33%
Bài viết số 2 - Đề bài
- Kể về một việc tốt mà em
17 57% 22 73% 13 43% 8 27%
Trang 5đã làm
Bài viết số 3 - Đề bài
- Kể về một người thân của
em
18 60% 23 77% 9 40% 7 23%
* Lớp 6B sĩ số học sinh 31 em.
Chất lượng sử dụng
dấu câu
Tên bài
Dấu chấm
Dấu phẩy
Dấu chấm
Dấu phẩy
SL TL SL TL SL TL SL TL
Bài viết số 1 - Đề bài
- Kể lại 1 truyện đã biết (Cổ
tích, TT) bằng lời văn của
em
20 65% 23 74% 11 35% 8 26%
Bài viết số 2 - Đề bài
- Kể về một việc tốt mà em
đã làm
22 71% 19 61% 9 29% 12 39%
Bài viết số 3 - Đề bài
- Kể về một người thân của
em
23 74% 21 68% 8 26% 10 32%
2.3 Các nguyên nhân, giải pháp.
2.3.1 Lỗi về dấu chấm.
Qua việc khảo sát bài làm của học sinh, tôi thấy nguyên nhân dẫn tới lỗi về dấu câu của học sinh là do các em chưa nắm được thành phần hạt nhân (Nòng cốt của câu)
Đối với những em thường không dùng dấu chấm để ngắt câu khi câu
đã kết thúc là do các em không nắm vững quy tắc dùng dấu chấm, tư duy không rành mạch
Những em thường đặt dấu chấm khi câu mới chỉ có một vế, một thành phần hoặc một bộ phận, chưa trọn ý Là bởi kiến thức về cú pháp của các
em còn mơ hồ
Đối với một số em thường hay lẫn lộn chức năng của các dấu câu, đưa đến hiện tượng trong bài làm của các em có khi đánh dấu chấm hỏi, chấm than sau những câu có tính chất tường thuật Dùng dấu chấm lẽ ra phải dùng dâu chấm than, dấu chấm hỏi Là do các em chưa nhận biết được mục đích nói của câu Tức là chưa chưa xác định được các kiểu câu phân loại theo mục đích nói
Ví dụ: Nó hỏi tôi mai có đi học không.
Đây là một câu trần thuật, cuối câu phải đặt dấu chấm Nhưng thay vì kết thúc câu có dạng nghi vấn nên học sinh rất dễ đặt dấu chấm hỏi Đặt như vậy là không đúng, tuy nhiên, nếu đó là lời dẫn trực tiếp thì lại cần đặt dấu chấm hỏi:
Trang 6Ví dụ: Nó hỏi tôi: “Mai có đi học không?”
2.3.2 Lỗi về dấu phẩy.
Nguyên nhân dẫn đến học sinh mắc lỗi về dấu phẩy củng do nguyên nhân là do các em chưa nắm được thành phần cốt lõi (nòng cốt) của câu
Qua chấm bài, tôi thấy đối với những em thường không dùng dấu phẩy để ngăn cách các bộ phận, giữa các thành phần nòng cốt và thành phần ngoài nòng cốt là do các em không nắm được quy tắc dùng dấu phẩy kiến thức về cú pháp mờ nhạt dẫn đến lỗi dấu phẩy là điều không thể tránh khỏi
Có một số em hay lẫn lộn chức năng của dấu phẩy với các dấu khác như dấu chấm phẩy Nguyên nhân này là do các em chưa nắm rõ về chức năng của dấu phẩy, công dụng của dấu phẩy
Ngoài những nguyên nhân đã nêu trên, còn phải nói tới một nguyên nhân khác khiến cho học sinh mắc lỗi về dấu câu Đó là nguyên nhân thuộc
về ý thức, thái độ của học sinh: Thói tuỳ tiện cẩu thả, mỏi tay đâu thì đấu phẩy đặt ở đấy, mắc lỗi nhiều lần không chịu sửa
Nắm được những nguyên nhân dẫn đến lỗi về dấu câu của học sinh, tôi đã tìm ra một số giải pháp để khắc phục sau:
+ Phân loại học sinh cùng mắc phải các lỗi sai giống nhau
+” Mổ xẻ’ từng câu văn sai trong các tiết trả bài
+ Lựa chọn các biện pháp thích hợp để uốn nắn, sửa chữa cho từng
em với từng lỗi cụ thể
+ Hình thành cho học sinh nhu cầu tự học, tự luyện viết
* Lỗi về dấu chấm.
Dấu chấm là dấu dùng để kết thúc câu, ngắt một câu đã trọn ý, ngăn cách câu với câu
a Đối với nhóm học sinh thường không dùng dấu chấm để kết thúc câu.
Đối với nhóm học sinh này thì điều quan trọng nhất là giáo viên là phải giúp học sinh nắm vững quy tắc dùng dấu chấm câu dựa vào vai trò chức năng của nó
Trường hợp không dùng dấu chấm khi câu đã kết thúc thì giáo viên cần đặt ra câu hỏi: Câu này diễn đạt đã trọn vẹn một nội dung thông báo chưa? Hoặc câu đã trọn nghĩa chưa?
Một câu được coi là trọn nghĩa khi nó diễn đạt trọn vẹn một nội dung thông báo Nếu thấy câu đã trọn ý thì dùng dấu ngắt câu, không nên viết nhiều, viết thừa
Ví dụ: Mẹ là người em yêu nhất trong cuộc đời này.
Hỏi: Câu này đã diễn đạt trọn vẹn một nội dung thông báo chưa?
Vậy nó đã thành câu hỏi? Từ đó giáo viên đưa ra cách sử dụng dấu chấm
Trang 7b Đối với trường hợp thường chấm câu khi câu mới chỉ có một vế, một thành phần hoặc một bộ phận.
Ngoài việc đặt vấn đề để hỏi: Câu đã trọn nghĩa chưa thì còn phải xem xét mối quan hệ giữa các thành phần câu, các vế câu, các bộ phận câu trên trên phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp cụ thể Nếu thiếu thành phần, thiếu bộ phận hoặc vế nào đó thì phải thêm vào để cho câu vặn trọn ý mới được dùng dấu chấm
Ví dụ: Trên con đường làng quen thuộc.
Câu này mới có thành phần phụ trạng ngữ mà dùng dấu chấm là sai, bởi nội dung thông báo chưa trọn vẹn, người nghe chưa hiểu được ý người viết thế nào Bây giờ cần phải: Một là thêm bộ phận nòng cốt vào để câu được hoàn chỉnh:
Ví dụ: Trên con đường làng quen thuộc, tôi tung tăng đến trường.
Hoặc là chúng ta không thêm thành phần nòng cốt câu vào mà chỉ cần
bỏ đi một từ (Trên) thì cụm từ ấy lại trở thành một câu rất tường minh:
“ Con đường làng quen thuộc.”
Muốn vậy người giáo viên phải nắm vững cơ sở ngữ nghĩa - ngữ pháp, khi dạy giáo viên phải dự tính trước các lỗi sai của học sinh để sắp xếp các lỗi đó sửa theo một trình tự:
+ Luyện viết những câu văn có cấu tạo đơn giản (Câu đơn 2 thành phần)
+ Luyện viết những câu văn có thành phần nòng cốt câu và thành phần ngoài nòng cốt câu
+ Luyện cách tạo câu hoàn chỉnh
c Đối với một số em thường hay lẫn lộn chức năng của các dấu câu
(Đánh dấu sai mục đích phát ngôn của câu)
Trong bài làm của học sinh, có nhiều em thường hay lẫn lộn chức năng của các dấu câu Đối với những trường hợp này, thì giáo viên phải chủ động trong cách dạy các em cách xác định kiểu câu phân loại theo mục đích nói Để luyện câu xác định kiểu câu cho học sinh thì trước tiên giáo viên cần luyện cho các em cách tạo câu (Câu kể, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến)
Đối với câu kể, miêu tả thì cần đặt dấu chấm ở cuối câu
Đối với câu tỏ ý nghi nghờ, hoặc chưa hiểu ý thì cần đặt dấu hỏi Đối với câu thể hiện tình cảm thì phải đặt dấu cảm thán
Đối với câu cần người khác làm theo ý minh hoặc khuyên bảo thì phải đặt dấu chấm than hoặc dấu chấm
Trên cơ sở giáo viên định hướng để các em tìm ra cách sử dụng dấu câu cho phù hợp
Để việc sử dụng dấu chấm câu có hiệu quả, cần kết hợp các phương pháp luyện tập như:
Phương pháp luyện tập có ý thức
Phương pháp luyện tập không có ý thức
Trang 8Phương pháp so sánh (giữa bài viết của học sinh với học sinh)
Mặt khác giáo viên phải tạo điều kiện để các em được thực hành viết nhiều hơn Giao việc cụ thể cho từng em thực hành khi ở nhà hay lúc ra chơi Luôn theo sát nhắc nhở động viên khích lệ các em để các em phát biểu
ý kiến xây dựng bài trong giờ trả bài, nhất là chữa: đặc biệt câu dài, đoạn văn sau mỗi lẫn chữa lỗi giáo viên có nhận xét đánh giá, khen sự tiến bộ của các em
- Những giải pháp tôi đã áp dụng chữa lỗi dấu chấm cho học sinh: Đối với những học sinh hay mắc lỗi mỗi tuần viết hai bài chính tả: + Viết theo mẫu – trích từ các văn bản đang học
+ Viết theo sự cảm nhận - tập dựng đoạn văn theo chủ đề tự chọn Sau đó cho cả lớp mổ xẻ sản phẩm cưa các em để từ đó các em rút kinh nghiệm cho bản thân trong cách sử dụng các dấu câu vào bài viết
Ngoài ra tôi còn phải kết hợp với gia đình phụ huynh để thông tin kịp thời về tình hình học tập của các em cho gia đình các em biết để có hướng khắc phục
Từ chỗ các em sử dụng dấu câu còn yếu, sau một thời gian kiên trì với cách làm này, tôi thấy việc sử dụng dấu câu đã có sự chuyển biến, các
em dần hiểu được công dụng của các dấu câu và xác định được mục đích nói của câu để việc sử dụng các dấu câu không bị lúng túng
* Lỗi về dấu phẩy.
Như chúng ta đã biết, dấu phẩy là dấu thường xuất hiện ở giữa câu, nó được dùng rất phổ biến và có chức năng dùng để phân cách, tách biệt các bộ phận, các thành phần câu
Thực hiện chức năng phân cách, dấu phẩy thường được dùng trong các trường hợp sau:
Dùng để chỉ ra giữa bộ phận nòng cốt và các thành phần ngoài nòng cốt câu, giữa các bộ phận câu khi cần
Dùng dấu phẩy để ngăn cách các vế, các đoạn câu trong câu phức hợp không có từ nối …
Dấu phẩy còn dùng trong các trường hợp liệt kê sự vật, hiện tượng để nhấn mạnh ý
a Xuất phát từ chức năng công dụng của dấu phẩy như đã nói ở trên đối với nhóm học sinh mắc lỗi về dấu phẩy trong bài viết và thường không dùng dấu phẩy để ngắt các bộ phận câu thì giáo viên cần giúp học sinh nắm lại quy tắc dùng dấu phẩy Cần chú ý hướng dẩn cho học sinh nhận biết được: Trong câu thành phần nào, bộ phận nào có thể ngăn cách ra làm cho câu rõ ràng hơn, mạch lạc hơn Người đọc không hiểu sai về nghĩa của câu
Ví dụ có em viết: Hôm nay trời ửng nắng mẹ lại cầm chiếc nón cũ đi
ra ngoài cách đồng Lòng tôi lại thương mẹ biết bao
Chúng ta thấy rằng: Giữa thành phần phụ trạng ngữ “Hôm nay trờ ửng nắng” và thành phần chính “mẹ lại cầm chiếc nón cũ đi ra ngoài cánh đồng” học sinh không dùng dấu phẩy
Trang 9Trong phần lỗi dấu phẩy, có thể chữa bằng cách: Thêm dấu phẩy vào
vị trí danh giới giữa thành phần phụ trạng ngữ với thành phần chính (thành phần nòng cốt câu) câu trên trở thành:
“Hôm nay trời ửng nắng, mẹ lại cầm chiếc nón cũ đi ra ngoài cánh đồng.”
Đối với các em học sinh còn mắc lỗi không dùng dấu phẩy để ngăn cách các bộ phận, các thành phần câu, các vế câu thì giáo viên phải nắm vững cơ sở ngữ nghĩa - ngữ pháp của dấu câu Dự tính những chỗ học sinh thường không dùng dấu phẩy khi viết đặc biệt là những câu dài Từ đó xác định rõ những chỗ cần đặt dấu phẩy trong khi diễn đạt Đồng thời chỉ rõ học sinh thấy tác dụng của dấu phẩy
Xác định được những chỗ học sinh đặt dấu câu sai, giáo viên sẽ chủ động trong cách dạy các em đặt đúng dấu câu Xét về mặt nghĩa nếu đặt dấu như vậy, em hiểu nội dung câu văn đó như thế nào? Từ đó giáo viên đưa ra cách sử dụng dấu câu:
Ví dụ: Cả ngày đó, mẹ không sai bảo con làm việc gì cả Còn con
nhiều lần muốn xin lỗi mẹ, nhưng sao lời nói sao ngập ngừng
Giáo viên so sánh cách trình bày bài văn như đã dẫn ở trên cho học sinh thấy: Ở cách trình bày sau mới đúng quy tắc
Để sửa lỗi sai về dấu phẩy cho học sinh, thì giáo viên phải luyện cho các em cách xác định các thành phần trong câu: thành phần chủ ngữ, thành phần vị ngữ, thành phần phụ
Dấu phẩy là dấu được dùng trong nội bộ câu, không phải là dấu kết thúc câu Cho nên, giáo viên cần phải luyện cho học sinh tìm ranh giới giữa thành phần phụ với thành phần phụ với thành phần chủ ngữ và vị ngữ Tìm ranh giới giữa các cụm chủ ngữ - cụm vị ngữ (giữa các vế của câu ghép)
Muốn vậy, giáo viên phải tăng cường cho học sinh luyện tập và phải luyện tập trong thời gian dài để xoá bỏ thói quen không dùng dấu phẩy hoặc dùng dấu phẩy tuỳ tiện
b Đối với nhóm học sinh còn lẫn lộn chức năng dấu phẩy với dấu khác hay gặp nhất là dấu phẩy với dấu chấm phẩy thì cách khắc phục tốt nhất là giáo viên giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả, nắm vững chức năng, các trường hợp dùng của dấu phẩy
Giáo viên phải luyện cho học sinh viết câu ghép
Luyện viết câu có từ hai chủ ngữ - vị ngữ trở lên
Luyện cho học sinh viết câu, dựng đoạn có thành phần chú thích
Để việc sử dụng dấu câu (dấu phẩy) có hiệu quả, cũng như muốn nâng cao hiệu quả sử dụng dấu chấm thì giáo viên cũng cần phải kết hợp với các phương pháp luyện tập cho học sinh:
Phương pháp luyện tập có ý thức
Phương pháp luyện tập không có ý thức
Phương pháp so sánh (bài của học sinh với nhau)
Giáo viên nên tạo điều kiện cho các em được thực hành viết nhiều hơn
Trang 10Đối với từng nhóm, từng cá nhân mắc lỗi thì giáo viên phải chủ động
để có những phương pháp giao việc cụ thể cho từng đối tượng thực hành khi
ở nhà hay lúc ra chơi Khuyến khích cách học đối soát giữa bài của học sinh với bài của học sinh Khích lệ các em phát hiện ra lỗi sai và chữa lỗi sai, sau mỗi lần học sinh phát hiện ra lỗi sai và chữa lỗi sai, giáo viên phải có nhận xét, đánh giá và biểu dương sự tiến bộ của các em
Sau một học kỳ áp dụng cách trên ở lớp 6A, 6B Trường PTDT bán trú THCS Sơn Điện, tôi đã khảo sát lại với 3 bài viết tiếp theo:
Bài 1: Nêu cảm nhận của em về người mẹ qua văn bản: “Mẹ hiền dạy
con”(thời gian làm bài là 15 phút).
Bài 2: Em hãy tưởng tượng ra mình là người gặp Thánh Gióng ngay
tại núi Sóc Sơn, lúc tráng sĩ chuẩn bị bay về trời Em và tráng sĩ đã nói với nhau những gì?
Hãy viết một đoạn văn kể lại đoạn kết đó (Thời gian làm bài 15 phút).
Bài 3:
“Đóng vai bà đỡ Trần kể lại sự việc trên”.
Tôi nhận thấy: Chất lượng sử dụng dấu câu của học sinh đã có sự tiến
bộ, khác biệt giữa hai lớp (Một lớp áp dụng cách làm trên “lớp 6A” và một lớp áp dụng cách truyền thống “lớp 6B”)
Kết quả cụ thể như sau:
Lớp 6A – Sĩ số: 30 (Học sinh)
Chất lượng sự dụng
dấu câu
Tên bài
Dấu chấm
Dấu phẩy Dấu
chấm
Dấu phẩy
Bài 1: Nêu cảm nhận của em
về người mẹ qua văn bản:
“Mẹ hiền dạy con”
22 73% 20 67% 8 27% 10 33%
Bài 2 : Em hãy tưởng tượng
ra mình là người gặp Thánh
Gióng ngay tại núi Sóc Sơn,
lúc tráng sĩ chuẩn bị bay về
trời Em và tráng sĩ đã nói
với nhau những gì?
Hãy viết một đoạn văn kể lại
đoạn kết đó
24 80% 23 77% 6 20% 7 23%
Bài 3: Bài kiểm tra tổng hợp
cuối kỳ I - phần II: Tự luận:
“Đóng vai bà đỡ Trần kể lại
sự việc trên”.
25 83% 26 87% 5 17% 4 13%
Lớp 6B – Sĩ số: 31 (Học sinh)