ĐỀ TÀIQUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY VÀ CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á BỐ CỤC I.. MỞ ĐẦUTrước khi chủ nghĩa thực dân phươn
Trang 1ĐỀ TÀI
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY VÀ CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
BỐ CỤC
I Mở đầu
II Nội Dung
2.1 Quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân vào các nước Đông Nam Á
2.1.1 Nguyên nhân các nước Đông Nam Á bị xâm lược
2.1.2 Quá trình xâm lược
2.2 Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc của các nước Đông Nam Á 2.2.1 Phong trào chống thực dân Hà Lan của nhân dân In-đô-nê-xi-a
2.2.2 Phong trào chống thực dân ở Phi-lip-pin
2.2.3 Phong trào đấu tranh của nhân dân Mã Lai
2.2.4 Phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia
2.2.5 Phong trào đấu tranh của nhân dân Lào
2.2.6 Phong trào đấu tranh của nhân dân Miến Điện
2.2.7 Xiêm( Thái Lan ) giữa thế kỷ XIX – đầu thế kỉ XX
III Tổng kết
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
Trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và thống trị, có thể nói lịch sử phát triển của các nước Đông Nam Á khá cao Nơi đây đã xuất hiện sớm những nền văn minh ở trình độ cao, tuy nhiên, sự phát triển của những quốc gia ở ĐNÁ không đồng nhất Ở thời Trung đại, chế độ phong kiến đạt tới đỉnh cao cực thịnh, rực rỡ cũng không thua kém gì phương Tây, quan hệ sản xuất kinh tế mới cũng đã manh nha nhưng đã bị chế độ phong kiến kìm hãm, mầm mống kinh tế TBCN không có điều kiện phát triển như
ở phương Tây Khi chế độ phong kiến đạt đến trình độ phát triển cao đã dần dần chuyển sang giai đoạn suy yếu Đến thế kỷ XVI, trong khi các nước phương Tây CNTB phát triển nhanh chóng thì ở châu Á còn chìm đắm trong chế độ phong kiến lạc hậu.Tuy vậy, cùng với sự áp đặt của chủ nghĩa thực dân ở khu vực này, thì tiền đồ phát triển lịch sử của Đông Nam Á cũng từng bước có những thay đổi
Các cuộc phát kiến địa lý thời cận đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó đã mở ra một trang mới trong lịch sử của loài người Sau các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại, người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã khai mở thành công con đường từ châu Âu qua châu Phi đến châu Á vào cuối thế kỷ thứ XV Nhiều vùng đất mới trên thế giới được người châu Âu phát hiện trong đó có Đông Nam Á, một trong những vùng đất màu mỡ của châu Á, rất phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đây là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược thuộc địa Cùng với sự phát triển của CNTB, nhu cầu thị trường cấp thiết, đây là nơi chủ yếu để cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ
Các nước phương Tây lần lượt xây dựng các thương điếm buôn bán, những trạm tiếp tế cho các hạm thuyền ở một số địa điểm của Đông Nam Á Bước sang thế kỉ XIX, các nước thực dân phương Tây tranh chấp nhau, xâm chiếm các quốc gia ở khu vực ĐNÁ, thiết lập chế độ thuộc địa hoặc lôi kéo các quốc gia này vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, làm biến dạng cấu trúc xã hội truyền thống của các nước, điều đó cũng có nghĩa làm biến dạng quá trình phát triển triển lịch sử của Đông Nam Á
Song song với quá trình xâm lược của thực dân phương Tây là phong trào đấu tranh của nhân dân các nước ĐNÁ để bảo vệ độc lập và chủ quyền của dân tộc mình Tuy nhiên mỗi dân tộc mỗi quốc gia tùy theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cũng như phong trào đấu tranh của các giai cấp trong xã hội mà việc lựa chọn đường lối đấu tranh, hình
Trang 3thức đấu tranh, giai cấp lãnh đạo trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cho phù hợp và ở mỗi nước cũng có sự khác nhau
2.1 QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA CNTD VÀO CÁC NƯỚC ĐNÁ
2.1.1 Nguyên nhân ĐNÁ bị xâm lược
Các nước tư bản cần thị trường, thuộc địa nên đẩy mạnh xâm lược thuộc địa.
Bước sang thời cận đại, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập ở nhiều nước Châu Âu, mặc dù có những nước chưa trải qua cách mạng tư sản Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Châu Âu ngày càng đòi hỏi vốn, nguyên liệu, thị trường, nhất
là khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền Để đáp ứng nhu cầu này, các nước Châu Âu
đã hướng sang phương Đông và họ tìm đường sang phương Đông, trong đó có các nước Đông Nam Á mà đi đầu là các thương nhân Từ những hoạt động buôn bán, trao đổi, truyền đạo người phương Tây chuyển sang chính sách xâm lược, biến các nước phương Đông nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng thành thuộc địa
Trong bối cảnh chung của thế giới vào cuối thế kỷ XVIII, nền kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa đang ở vào giai đoạn phát triển cực thịnh; giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước lớn làm tăng nhu cầu vế thuộc địa, cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa Các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ngày càng được đẩy mạnh Bước vào đầu thế kỷ XIX vùng Đông Nam Á rộng lớn trở thành mục tiêu của các nước đế quốc
Đông Nam Á có vị trí chiến lược quan trọng.
Đông Nam Á là một khu vực thuộc châu Á, có diện tích khá rộng khoảng 4,5 triệu km² bao gồm các nước nằm ở phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía bắc của
Úc, về mặt địa lý hành chính bao gồm 10 quốc gia Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam (hiện nay có 11 nước, thêm Đông Timo) Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đưởng hàng hải nối liền giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải Thậm chí đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là "ống thông gió" hay "ngã tư đường"
Trang 4 Giàu tài nguyên thiên nhiên, có nền văn hóa lâu đời.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ĐNÁ có những vùng đất trù phú, những đô thị đông đúc thịnh vượng, những khu rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông, những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như: hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi quế, trầm hương… đặc biệt là cây lúa nước ĐNÁ được coi là “cái nôi” của cây lúa nước
và là 1 trong 5 trung tâm cây trồng lớn nhất thế giới Đông Nam Á là một khu vực lịch sử văn hoá , có nền tảng chung từ thời tiền sử, được sản sinh và phát triển trong một môi trường sinh thái tự nhiên xã hội của khu vực Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước
Từ giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng triền miên về chính trị , kinh tế, xã hội
Từ giữa thế kỉ XIX, khi các nước châu Âu và Bắc Mĩ căn bản đã hoàn thành cách mạng tư sản, đua nhau bành trướng thế lực, xâm chiếm thuộc địa thì ở hầu hết các nước khu vực ở Đông Nam Á, chế độ phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị và đều lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên về chính trị, kinh tế, xã hội Sự mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ
và nông dân ở châu Á diễn ra gay gắt, làm bùng nổ nhiều phong trào đấu tranh có qui mô lớn Chính yếu tố này đã làm tăng cường độ về sự sụp đỗ nhanh chóng của chế độ phong kiến, chế độ phong kiến suy yếu nghiêm trọng và mất sức sống đã đẩy các quốc gia ở châu Á vào vòng xoáy của sự khó khăn Chính điều này, đã tạo nên những “mùi thơm” lan tỏa mạnh mẽ tạo cơ hội cho thực dân châu Âu tiến hành các cuộc chinh phục
Như vậy, dù các nước Đông Nam Á có nhiều điều kiện cho sự phát triển cao hơn cho tiến trình phát triển của nhân loại, song vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, do những điều kiện chủ quan và khách quan những nước này lần lược bị thực dân Âu - Mĩ xâm lược, biến thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa (trừ Xiêm)
2.1.2 Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân vào các nước Đông Nam Á
Tên các nước
Đông Nam Á
Thực dân xâm lược Thời gian hoàn thành xâm lược
In-đô-nê-xi-a Bồ Đào Nha,
Tây Ban Nha,
Giữa XIX Hà Lan hoàn thành xâm chiếm và lập
Trang 5Hà Lan ách thống trị
Phi-lip-pin Tây Ban Nha,
Mĩ
Giữa thế kỉ XVI Tây Ban Nha thống trị
- Năm 1898 Mĩ chiến tranh với Tây Ban Nha, hất cẳng Tây Ban Nha khỏi Phi-lip-pin
- Năm 1899-1902 Mĩ chiến tranh xâm lược Philíppin, biến quần đảo, này thành thuộc điạ của Mĩ
Miến Điện Anh Năm 1885 Anh thôn tính Miến Điện
Ma-lai-xi-a Anh Đầu thế kỉ XIX Mã - lai trở thành thuộc địa của
Anh
Việt Nam
-Lào-
Cam-pu-chia
Pháp Cuối thế kỉ XIX, Pháp hoàn thành xâm lược 3
nước Đông Dương
Xiêm
(Thái Lan)
Anh - Pháp tranh chấp
Xiêm vẫn giữ được độc lập
Tiểu kết
Nhìn chung, thời điểm các nước Đông Nam Á trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây khác nhau, quá trình chinh phục và xâm lược của thực dân phương Tây trải qua 1 thời gian khá dài , không thể nhanh như họ mong muốn được, bởi do cuộc kháng
cự của các dân tộc nơi đây Có những nơi, thực dân phải trải qua cuộc chinh phục kéo dài trên dưới 3 thế kỷ mới hoàn thành như ở Inđônêxia hay Miến Điện… song có những khu
Trang 6vực chưa đầy nửa thế kỷ như cuộc chinh phục của Pháp ở Đông Dương Rõ ràng quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương tây diễn ra không đồng đều và phức tạp Đông Nam Á là nơi có nhiều thực dân xâm lược nhất, bởi đây là khu vực hấp dẫn,
có tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lí thuận lợi, khu vực địa- chính trị; địa- kinh tế quan trọng, dân số đông đảo… Đông Nam Á trở thành nơi có sức hút các nước châu Âu đang bước vào thời cận đại hoá
Công cuộc xâm lược của thực dân Đông Nam Á có nét chung, đủ phương thức, đủ thủ đoạn như ngoại giao, buôn bán, khống chế chính trị, rồi dùng vũ lực thôn tín; nhưng
cũng có nét riêng mang đặc trưng của từng nước thực dân: Thủ đoạn xâm lược của Anh
khác của Pháp Để tiến hành xâm lược Pháp lợi dụng Giáo sĩ Giáo sĩ và bọn thực dân
gắn với nhau như “hình với bóng” Giáo sĩ trở thành tham mưu, cố vấn có khi trực tiếp chỉ huy những cuộc chém giết Bọn Giáo sĩ và thực dân bị những người dân ĐNÁ chống lại Chúng vịn cớ tôn giáo bị đàn áp để đẩy mạnh hoạt động quân sự, khi cắm được cơ sở trong giáo dân bản xứ, chúng lại lấy cớ bảo vệ giáo hội để lấn bước, bắt ký hiệp ước bảo
vệ giáo hội Với Anh, phương cách tiến hành xâm lược theo kiểu “thương nhân đi đầu
trong quá trình xâm lược” Để làm chủ được vùng lãnh thổ trù phú ở Đông Nam Á, thực dân Anh xâm lược bằng nhiều con đường theo sơ đồ: lập thương điếm chiếm các thuộc địa (của thực dân khác) chinh phục các tiểu quốc sát nhập thành các vùng thuộc địa
Buổi đầu tiến hành xâm lược Đông Nam Á, các chính phủ thực dân châu Âu thường
sử dụng các công ty buôn bán đi tiên phong Sự làm ăn phát đạt của các công ty này khiến chính phủ châu Âu chú ý, sau đó trao cho họ những quyền hạn lớn, tổ chức lại công
ty theo mô hình nhà nước con, có đầy đủ quyền lực như một chính phủ Họ thay mặt chính phủ đến phương Đông, Đông Nam Á tiến hành xâm lược và tổ chức thống trị Các công ty này đã thành công khi xâm lược và thống trị các vùng lãnh thổ Đông Nam Á từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII Từ thế kỷ XIX trở đi, các công ty này suy yếu, không còn đáp ứng được yêu cầu của chủ nghĩa tư bản đang phát triển, thì chúng bị loại bỏ, các chính phủ châu Âu này trực tiếp nắm lấy quyền xâm lược và thống trị ở Đông Nam Á Như vậy, công cuộc thôn tính Đông Nam Á của thực dân Âu - Mĩ kéo dài trong gần
4 thế kỷ Kể từ khi đặt thương điếm đầu tiên vào đầu thế kỷ XVI, sau đó là các cuộc xâm chiếm bằng nhiều thủ đoạn, lúc mềm mỏng, lúc lừa bịp, khi cứng rắn trắng trợn, thực dân châu Âu và tiếp đến là cả Mĩ, đến cuối thế kỷ XIX công cuộc xâm lược Đông Nam Á
Trang 7hoàn tất các quốc gia phong kiến Đông Nam Á hoặc tiền phong kiến, còn ở trình độ bộ tộc chưa bao giờ có giao lưu với thế giới bên ngoài đã bị thực dân châu Âu từng bước biến thành miền đất thuộc địa Và cũng từ đây, cuộc đấu tranh chống thực dân không lúc nào ngừng ở Đông Nam Á
2.2 Phong trào đấu tranh của các nước Đông Nam Á
2.2.1 Phong trào chống thực dân Hà Lan của nhân dân In-đô-nê-xi-a
a Giai đoạn đầu
Sau cuộc cách mạng tư sản thế kỉ XVI, Hà Lan thoát khỏi sự đô hộ của Tây Ban Nha, quan hệ sản xuất mới TBCN thắng thế, trước sự phát triển của Hà Lan, Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha công khai tuyên bố cấm thuyền buôn của Hà Lan vào cảng hai nước này
Hà Lan phải tự tìm con đường đi đến phương Đông Công ty Đông Ấn Độ (V.O.C) được thành lập
Sau khi chiếm được Anbom và Técnát từ tay Bồ Đào Nha, Hà Lan đã hối lộ để được xây dựng nhà ở, kho tàng, tự động xây dựng pháo đài ởJakarta
Thế kỉ XVII, Hà Lan đã kiểm soát miền đông Inđônêxia Cùng lúc đó Mataram yếu dần đi nhân dân nổi dậy trong đó có cuộc khởi nghĩa của Tơrunô Giêgiô, lúc đầu Hà Lan muốn lợi dụng tình hình để trục lợi tuyên bố giúp Tơrunô Giêgiô kèm theo những điều kiện buôn bán và ruộng đất nhưng bị cự tuyệt Những người khởi nghĩa nêu cao khẩu hiệu chống nước ngoài và khôi phục vương triều Magiapahít Hà Lan liền chuyển từ trạng thái “bàng quang” sang giúp vương quốc Mataram; năm 1677, kí hiệp ước đầu hàng
Hà Lan
Từ năm 1678, thực dân Hà Lan ráo riết trấn áp khởi nghĩa trong vòng 3 năm, khôi phục vương quốc Amangkurát
b Cuộc khởi nghĩa Surapátti
Thời kì xâm lược của công ty Đông Ấn là thời kì Hà Lan tiến hành công cuộc tích lũy tư bản đầu tiên, tư sản Hà Lan càng giàu lên chúng còn sử dụng các lãnh chúa phong kiến tay sai vào việc ép buộc nông dân trồng cây công nghiệp, nông dân sống nghèo khổ, không có gạo ăn phải làm thuê cho bọn quý tộc và công ty Đông Ấn Một số quý tộc
Trang 8cùng nhân dân đứng lên đấu tranh chống Hà Lan., trong giai đoạn này đáng kể có cuộc khởi nghĩa của Surapátti
Surapátti là con một lãnh chúa ở Bali, bị người Hà Lan bắt làm nô lệ đưa về Batavia, lớn lên ông gia nhập quân đội V.O.C, ông đã chứng kến những cảnh àn sát dã man của Hà Lan đối với dân tộc oongvaf nhất là thái độ khinh rẽ thù hằn chủng tộc của binh sĩ da trắng Không chịu được ông đã đứng lên phản kháng
Là người thông minh, dũng cảm, có tài năng ông đã nhiều lần đánh tan quân Hà Lan, chiếm cứ một vùng, dựng nên một vương quốc độc lập bao gồm hầu hết phía đông Giava và Bali Mặc dù bị kẻ thù truy kích nhưng ông vần kiên trì đấu tranh trong 10 năm Năm 1719, tại cuộc chiến tại Pasuruan, ông bị thương và hi sinh nhưng ngĩa quân dưới sự chỉ huy của con ông kéo về gần Malang tiếp tục chiến đấu đến năm 1767
c Cuộc khởi nghĩa của Đippônêgôrô (1825 - 1830)
Ngày 20.07.1825, do việc phản đối hành động của thực dân Hà Lan về việc phế lập các Sutan và sự can thiệp của chúng vào quyền thế tập kinh tế của các lãnh chúa, Đippônêgôrô bị quân Hà Lan tấn công Đippônêgôrô liền triệu tập các lãnh chúa theo ông chống Hà Lan
Là con của Sutan Gioogiacácta, tín đồ của đạo Islam, ông rất có uy tín trong các vị lãnh chúa nên khi vừa phát đi lời kêu gọi thì lập tức có đến 70 lãnh chúa và hàng vạn quần chúng nhân dân từ khắp nơi trên đaot Giava và các đảo khác tham gia
Quân của Đippônêgôrô đóng ở Sêlarông, thức dân Hà Lan điều quân ở Sêmarang về tiếp viện nhưng bị nghĩa quân chặn đánh giữa đường và bị tiêu diệt sạch, sau đó quân khởi nghĩa liên tiếp thu được những thắng lợi
Thực dân Hà Lan huy động hết quân đội ở Giava trấn áp quân khởi nghĩa Thực dân
Hà Lan một mặt dùng thủ đoạn mua chuộc các lãnh chúa phong kiến, hứa hẹn trả lại những quyền hạn trước kia; một mặt dùng vũ khí tán công uy hiếp Kết quả, nhiều lãnh chúa đã rời bỏ cuộc chiến, phản bội lại nghĩa quân
Tuy vậy khởi nghĩa vẫn được tiếp tục, không thể dùng vũ lực để kết thúc, thực dân
Hà Lan dùng con bài lừa đảo thương lượng, chúng bắt Đippônêgôrô trong lúc đàm phán
Trang 9Ngày 03.03.1830, ông bị đày ở Mênađô, các lãnh chúa theo ông một số bị bắt, một
số đầu hàng Phong trào đấu tranh xuống dần
*Đánh giá:
Đây là cuộc khởi nghĩa lớn kéo dài 5 năm, đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia Nó phản ánh sự quật cường của nhân dân Inđônêxia dưới sự ãnh đạo của Đippônêgôrô
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng mãi mãi để lại cho nhân dân Inđônêxia những bài học quý báu Đippônêgôrô – người lãnh đạo đến cùng cuộc khởi nghĩa, đã sống chêt như một vị anh hùng được nhân dân Inđônêxia yêu kính
d Cuộc chiến đấu của nhân dân Achê
Sau khi kênh Xuyê được đào xong (1869), eo biển Malacca có vị trí quan trọng trên đường sang Viễn Đông, Hà Lan muốn chiếm lấy eo biển này nhưng sự tồn tại của vương quốc Achê là trở ngại lớn cho việc Hà Lan làm chủ vùng này
Tháng 4 1873, thực dân Hà Lan phái 3000 quân đổ bộ lên Achê Cuộc chiến đấu của nhân dân Achê đã chặn từng bước tiến của giặc, sau 17 ngày đổ bộ quân Hà Lan chỉ tiến được một vài cây số và bọ thiệt hại 1000 tên
Nhưng vì quyền lợi, Hà Lan vẫn phái hàng ngàn quân quay trở lại Achê Tháng 10
1873 đội quân này đổ bộ lên Achê, nhưng sau vài trận đầu đã bị nhân dân Achê chặn đứng
Ngày 26.12, quân Hà Lan tập trung quân tiến đánh hoàng cung nhưng chỉ chiếm được cung điện trống Hà Lan không thể chinh phục vùng này buộc phải chuyển sang chính sách đồn trú
2.2.2 Phong trào chống thực dân ở Phi-lip-pin
Ngày 10.08.1519, Magienlăng dẫn 5 thuyền rời đất nước, hai tháng sau đến Braxin Ngày 16.03.1521 đến Philippin, rồi tiếp tục cuộc hành trình về đảo Xêbu Tiểu vương quốc ở đây là Humabon có 2000 quân và 8 tù trưởng Magienlăngđã được đón tiếp tốt theo truyền thống song Magienlăng đã gây chiến với tù trưởng Lapu Lapu và trong một
Trang 10trận chiến ông đã bị bắn chết Các thủy thủ của Magienlăng trở về châu Âu với của cải cướp bóc được đã thôi thúc giới cầm quyền Tây Ban Nha tìm cách chiếm lấy xứ này Năm 1565, chính phủ Tây Ban Nha hái quân biễn chinh sang chinh phục Philippin, cuộc chiến tranh ăn cướp tán ác đã diễn ra Nhân dân Philippin đặc biệt là nhân dân Xêbu
đã chiến đấu anh dũng
Sau một thời gian, Lơgátspi khống chế đảo Xêbu và gây ảnh hưởng tới các đảo xung quanh
Năm 1570 – 1571, Tây Ban Nha mở rộng quyền thống trị đến Batanggát Năm
1571, vua Tây Ban Nha phong cho Lơgátspi làm toàn quyền Philippin Năm 1572, nền thống trị của Tây Ban Nha ở đây đã hoàn thành về cơ bản
Nhân dân Philippin đã anh dũng chiến đấu nhưng đến cuối thế kỉ XVI, thực dân Tây Ban Nha đã khống chế toàn quần đảo
2.2.3 Phong trào chống thực dân ở Mã Lai
Đối với chủ nghĩa đế quốc Anh, Mã Lai không chỉ là cú điểm chiến lược và thị trường tiêu thụ, mà còn là nơi đầu tư và khai thác nguyên liệu vô cùng phong phú Những điều này đã thôi thúc Anh đẩy mạnh công cuộc chinh phục bán đảo
Thực dân Anh quyết dành được quyền khai thác thiếc Năm 1874, quân Anh tấn công xâm lược Pêrắc và buộc Sutan Pêrắc kí hiệp ước nô dịch Anh phái một khâm sứ bên cạnh Sutan nắm mọi việc giao dịch với nước ngoài và thu nhập của Sutan
Phong trào chống Anh bùng nổ năm 1879, lan rộng ra toàn vương quốc gây khó khăn, thực dân Anh điều lính từ Hương Cảng và Ấn Độ đến để đàn áp Hàng ngàn dân thường bị chặt đầu, tất cả trẻ em, phụ nữ, người già đều bị sát hại
Ở Sêlango năm 1874, thực dân Anh mượn cớ bảo vệ thuyền buôn khỏi bị cướp đã
đổ bộ Sêlango, buộc Sutan phải kí hiệp định như Pêrắc Nhưng nhân dân Sêlango không khuất phục đã tiến hành kháng chiến kiên cường Nghĩa quân lợi dụng điều kiện thiên nhiên rừng, núi, đại hình quen thuộc để duy trì cuộc chiến tranh trong thời gian khá lâu Thực dân Anh khốn đốn trong nhiều năm