1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển khai thác hải sản ở thành phố đà nẵng

111 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy biển sẽ tạo ra vị thế cho thành phố Đà Nẵng phát triển trong ngành khai thác thủy sản, chế biến thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí đóng tàu, vận tải biển và đặc biệt là thực hi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN ĐÂY

PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN ĐÂY

PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ BẢO

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Đây

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu đề tài 6

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN 13

1.1 CÁC KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KHAI THÁC HẢI SẢN 13

1.1.1 Khái niệm về phát triển 13

1.1.2 Khái niệm về phát triển khai thác hải sản 13

1.1.3 Đặc điểm của khai thác hải sản 15

1.1.4 Vai trò của khai thác hải sản 17

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KTHS 18

1.2.1 Gia tăng số lượng và nâng cao công suất tàu thuyền 19

1.2.2 Chuyển dịch về cơ cấu nghề khai thác hải sản 19

1.2.3 Gia tăng các nguồn lực trong KTHS: 20

1.2.4 Các hình thức tổ chức sản xuất KTHS trên biển 22

1.2.5 Nâng cao kết quả và hiệu quả trong KTHS 23

1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KTTS 24

1.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên 24

1.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế 25

1.3.3 Nhóm nhân tố xã hội 26

Trang 5

1.3.4 Nhóm nhân tố về an toàn, an ninh trên biển 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30

2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KTHS CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế thành phố Đà Nẵng 37

2.1.3 Đặc điểm tình hình xã hội 41

2.1.4 Đặc điểm tình hình về an toàn, an ninh trên biển 43

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTHS THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ 2010 - 2014 46

2.2.1 Thực trạng về số lượng và công suất tàu thuyền 46

2.2.2 Thực trạng về cơ cấu nghề khai thác hải sản 52

2.2.3 Thực trạng các nguồn lực trong KTHS 60

2.2.4 Các hình thức tổ chức sản xuất và chính sách hỗ trợ KTHS 65

2.2.5 Thực trạng về kết quả và hiệu quả KTHS thành phố Đà Nẵng 71

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTHS THÀNH PHỐ TRONG THỜI GIAN QUA 78

2.3.1 Những kết quả đạt được 78

2.3.2 Những mặt hạn chế 80

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 81

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 84

3.1 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KTHS THÀNH PHỐ 84

3.1.1 Quan điểm 84

Trang 6

3.1.2 Phương hướng phát triển KTHS thành phố Đà Nẵng 84

3.1.3 Mục tiêu phát triển KTHS Thành phố Đà Nẵng 85

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KTHS THÀNH PHỐ ĐẾN NĂM 2020 86

3.2.1 Phát triển khai thác xa bờ, chuyển đổi cơ cấu tàu thuyền, cơ cấu nghề khai thác 86

3.2.2 Nhóm giải pháp về vốn 88

3.2.3 Giải pháp về lao động tham gia KTHS 89

3.2.4 Giải pháp về nghiên cứu áp dụng khoa học và công nghệ 90

3.2.5 Giải pháp tổ chức sản xuất 91

3.2.6 Đẩy mạnh triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân 91

3.3 KIẾN NGHỊ 92

KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KTHS : Khai thác hải sản

GTSX : Giá trị sản xuất

Giá CĐ : Giá so sánh cố định năm 2010

Giá HH : Giá hiện hành

GDP : Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)

PCI : chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial

Competitiveness Index)

CV : Công suất động cơ của tàu cá (Cheval Vapeur, 1CV = 0,746

kw) DANINA : Tổ chức Hợp tác phát triển quốc tế Đan Mạch

LLLĐ : Lực lượng lao động

AN-QP : An ninh, quốc phòng

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tốc độ tăng GDP

giai đoạn 2010 – 2014 (Theo giá so sánh 2010) 38 Bảng 2.2 Cơ cấu GDP phân theo nhóm ngành (giá thực tế) 38

Bảng 2.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2014 của thành

Bảng 2.7 Biến động số lượng thúng máy khai thác hải sản 48

Bảng 2.8 Thống kê số lượng tàu cá cải hoán và đóng mới qua các

Bảng 2.9 Số lượng tàu cá năm 2014 các quận thuộc thành phố Đà

Bảng 2.10 Cơ cấu tàu cá của các quận thuộc thành phố Đà Nẵng 51

Bảng 2.11 Tình hình số lượng tàu và cơ cấu nghề của thành phố

Trang 9

Bảng 2.22 Kết quả khảo sát nghề KTHS có hiệu quả trong năm

Bảng 2.23 Tổng kết các tỷ suất đánh giá của các nghề 74

Bảng 2.24 Năng suất lao động bình quân KTHS thành phố Đà

Bảng 2.25 Hiệu suất sử dụng công suất tàu thuyền KTHS 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

Biểu đồ 2.1 Biến động tổng số lượng tàu, công suất máy

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia ven biển, với bờ biển dài trên 3.260 km, ngư

trường rộng khoảng 1 triệu km2, trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ với thềm lục địa,

vùng đặc quyền kinh tế rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, tài nguyên thủy sản

khá phong phú và đa dạng với 2.000 loài sinh vật biển; khoảng 510 loài cá

trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đảm bảo trữ lượng khai thác hàng

năm hơn 2 triệu tấn Khai thác thủy sản nước ta những năm qua đã phát triển

nhanh, tạo cho ngành thủy sản Việt nam thực sự có một chỗ đứng ngày một

vững chắc trên thị trng thế giới, góp phần vào tăng trưởng kinh tế trong nước,

giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân cho các tỉnh ven biển nói

chung, góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền biển đảo

Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, là một trong 3

mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Năm 2014, Tổng sản

lượng thủy sản của Việt Nam đạt 6,3 triệu tấn, sản lượng khai thác đạt 2.684

nghìn tấn, tăng 3,9% so với năm 2013, trong đó khai thác hải sản đạt 2.495

nghìn tấn, tăng 4,2% Tổng giá trị sản xuất thủy sản của Việt Nam (tính theo

giá so sánh 2010) đạt 188 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm

ngoái Trong đó, giá trị khai thác thủy sản đạt hơn 73 nghìn tỷ đồng; Tổng giá

trị xuất khẩu đạt trên 7,84 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm ngoái,

trong đó giá trị đóng góp từ việc khai thác hải sản chiếm tỷ trọng cao Đây là

mức xuất khẩu kỷ lục của ngành thủy sản Lĩnh vực thuỷ sản cung cấp việc

làm thường xuyên cho khoảng 1,1 triệu người, tương ứng với 2,9% lực lượng

lao động có việc làm Những năm qua, ngành thủy sản đã có những đóng góp

đáng kể cho tăng trưởng kinh tế của cả nước [31]

Trang 12

Thành phố Đà Nẵng có chiều dài bờ biển hơn 92km là một trong 28

tỉnh, thành phố ven biển của cả nước và thuộc khu vực miền Trung, có 6

trên 8 quận, huyện tiếp giáp với biển, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa, với

80% dân số đang sinh sống tại các quận, huyện ven biển Vì vậy biển sẽ tạo

ra vị thế cho thành phố Đà Nẵng phát triển trong ngành khai thác thủy sản,

chế biến thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí đóng tàu, vận tải biển và đặc

biệt là thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng trên biển.[5][6]

Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì

ngư trường miền Trung có trữ lượng nguồn lợi khoảng 1.140.000 tấn, chiếm

43% tổng trữ lượng của cả nước, có trên 670 loài, trong đó hải sản có giá trị

kinh tế cao là 110 loài Khai thác hải sản là nghề truyền thống của ngư dân

thành phố Đà Nẵng, đóng góp giá trị của ngành thủy sản trong cơ cấu nông

nghiệp chiếm tỷ trọng cao Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của thành phố đạt

khoảng 150 triệu USD/năm, giải quyết việc làm, thúc đẩy kinh tế biển ngày

càng phát triển Những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng đã đầu tư xây dựng

hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nghề cá khá hoàn thiện, đẩy mạnh thực hiện

các chính sách hỗ trợ vốn cho ngư dân nâng cấp tàu thuyền khai thác xa bờ,

hỗ trợ nhiên liệu, khắc phục thiên tai địch họa để ngư dân an tâm vươn khơi

bám biển Đến nay, số lượng tàu cá của thành phố Đà Nẵng có 1.288 chiếc,

với tổng công suất 131.606 CV, trong đó có 280 chiếc có công suất từ 90 CV

trở lên đủ khả năng đánh bắt xa bờ [15]

Nếu so với số lượng đội tàu đánh bắt xa bờ của cả nước, khu vực Bắc

Trung bộ và duyên hải miền Trung thì số lượng tàu đánh bắt xa bờ của thành

phố Đà Nẵng còn rất khiêm tốn, năm 2013 chỉ bằng 0,77% cả nước và bằng

1,35 % khu vực Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung So với Quảng Ngãi,

Bình Định, Phú Yên thì số lượng tàu đánh bắt xa bờ của thành phố Đà Nẵng

lần lượt bằng 7,7%, 7,25 % và 17,26 % [26]

Trang 13

Với thực trạng chung của cả nước, hiện nay hoạt động KTHS của thành

phố Đà Nẵng nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, bất cập như: công tác quản lý

tàu cá; nghề KTHS phát triển tự phát không kiểm soát được; tổ chức sản xuất

trên biển mang tính nhỏ lẻ, phân tán, tự phát chưa có sự liên kết và hợp tác

trong tổ chức sản xuất; tàu thuyền KTHS chủ yếu là tàu có công suất nhỏ,

công nghệ khai thác, công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu

còn lạc hậu so với cả nước và các tỉnh lân cận; sự cạnh tranh trong khai thác

ngày càng tăng; Trong khi đó, KTHS xa bờ còn gặp nhiều rủi ro như vấn đề

an ninh trật tự và thời tiết trên biển diễn biến phức tạp, đặc biệt là Trung Quốc

dùng uy lực quân sự của mình đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt hải

sản vô lý vào mùa hè hàng năm từ vĩ tuyến 12 độ Bắc trở ra đã ảnh hưởng đến

hoạt động khai thác hải sản của ngư dân thành phố Đà Nẵng

Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 được Thủ

tướng Chính phủ ký ngày 16/9/2010 nêu rõ: Phát triển thủy sản thành một

ngành sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao

trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy lợi thế của một ngành

sản xuất – khai thác tài nguyên tái tạo, lợi thế của nghề cá nhiệt đới, chuyển

nghề cá nhân dân thành nghề cá hiện đại, tạo sự phát triển đồng bộ, đóng góp

ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, thực hiện thắng

lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, đưa nước ta trở thành quốc gia

mạnh về biển và giàu lên từ biển

Do đó việc nghiên cứu thực trạng KTHS thành phố để đề ra các giải

pháp khắc phục những tồn tại nêu trên; kiểm soát được hoạt động tàu cá trên

biển, cường lực khai thác trên cơ sở sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn

lực, các hoạt động hỗ trợ phục vụ cho KTHS để phát triển bền vững, gắn

KTHS với bảo vệ nguồn lợi, đảm bảo AN-QP vùng biển đảo của Tổ quốc và

Trang 14

sự hội nhập quốc tế là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay và những năm

tiếp theo Đó là lí do mà tôi chọn đề tài: “ Phát triển Khai thác hải sản ở thành

phố Đà Nẵng” để làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển KTHS

- Phân tích thực trạng về phát triển KTHS thành phố Đà Nẵng

- Đưa ra hệ thống các giải pháp phát triển KTHS thành phố Đà Nẵng

trong thời gian đến

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu lĩnh vực khai thác hải sản của thành phố

Đà Nẵng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung về phát

triển KTHS thành phố Đà Nẵng:

- Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng

- Thời gian: Thực trạng được phân tích từ năm 2010 đến 2014 Các giải

pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong 5 năm tới

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập các thông tin, số liệu từ các cơ quan ngành Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, Chi Cục Thủy sản, Cục Thống kê thành phố; sách báo,

internet để đánh giá hiện trạng hoạt động khai thác hải sản, tìm ra những hạn

chế, nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp phát triển khai thác hải sản của

thành phố Đà Nẵng

4.2 Phương pháp xử lý số liệu

Việc xử lý số liệu được thực hiện bằng máy tính dựa trên phần mềm Excel

Trang 15

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn đã sử dụng các

phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích thống kê

- Phương pháp phân tích tổng hợp,

- Phương pháp phân tích so sánh;

- Các phương pháp khác

Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích Thống kê để đánh giá thực

trạng hoạt động của KTHS Thay đổi tăng hay giảm về quy mô số lượng tàu

thuyền, nghề nghiệp nhằm phát triển bền vững KTHS của thành phố Mặt

khác việc đánh giá các yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội có liên quan

đến KTHS sẽ cho thấy các nhân tố quan trọng làm nên động lực chính của sự

phát triển

Phương pháp so sánh thường được sử dụng để so sánh kết quả thực

hiện được với nhiệm vụ, mục tiêu trong kỳ nhằm đánh giá mức độ hoàn thành

kế hoạch So sánh mức độ của cùng một hiện tượng không gian hoặc thời gian

khác nhau, so sánh từng bộ phận với tổng thể và giữa các bộ phận trong tổng

thể với nhau nhằm nghiên cứu kết cấu So sánh giữa các chỉ tiêu, các hiện

tượng khác nhau nhưng có liên quan với nhau Khi sử dụng phương pháp so

sánh trong thống kê cần phải bảo đảm tính chất có thể so sánh được của các

số liệu thống kê Các số liệu so sánh với nhau phải có nội dung cùng loại hoặc

giữa chúng phải có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, cùng phương pháp

tính toán, cùng độ dài không gian và thời gian Phương pháp chỉ số có ý nghĩa

rất quan trọng về lý luận cũng như việc thực hiện : Biểu hiện sự biến động của

hiện tượng qua thời gian (chỉ số phát triển); các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình

hình thực hiện kế hoạch (chỉ số kế hoạch); biến động của hiện tượng qua

không gian (chỉ số địa phương); Phân tích vai trò và mức độ ảnh hưởng của

Trang 16

các nhân tố đối với sự biến động của hiện tượng Phương pháp dãy số thời

gian là dãy các trị số của một chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời

gian Các chỉ tiêu phân tích chỉ số thời gian: Mức độ bình quân theo thời gian;

Lượng tăng (giảm) tuyệt đối; Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về chỉ số tuyệt

đối của chỉ tiêu giữa hai thời gian nghiên cứu Nếu mức độ của hiện tượng

tăng lên thì trị số của chỉ tiêu mang dấu (+) và ngược lại mang dấu (-) Tốc độ

phát triển, chỉ tiêu này phản ánh xu hướng phát triển của hiện tượng qua thời

gian Chỉ tiêu này phản ánh mức độ của hiện tượng nghiên cứu giữa hai thời

gian tăng (+) hoặc giảm (-) bao nhiêu lần (hoặc bao nhiêu phần trăm)

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo đề tài được

chia làm 3 chương

- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển Khai thác Hải sản

- Chương 2: Thực trạng phát triển Khai thác Hải sản thành phố Đà Nẵng

- Chương 3: Các giải pháp phát triển Khai thác Hải sản thành phố Đà Nẵng

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Ngành thủy sản Việt Nam, những năm gần đây có các công trình

nghiên cứu về ngành thủy sản nói chung và hoạt động khai thác hải sản nói

riêng Để thực hiện luận văn của mình, tác giả đã tìm hiểu một số đề tài

nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài đang thực hiện của mình Một số

công trình nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thủ tướng chính phủ(2010), Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam

đến năm 2020 Chiến lược của Chính phủ đã xác định tầm quan trọng của

ngành thủy sản Việt Nam trong những năm tới; đề ra lộ trình, mục tiêu phát

triển ngành thủy sản một cách đồng bộ từ khâu khai thác, nuôi trồng, chế

biến, tiêu thụ, đào tạo nguồn nhân lực Phát triển ngành thủy sản thành một

ngành sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao

Trang 17

trong hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển nghề cá nhân dân thành nghề cá hiện

đại, theo hướng chất lượng và bền vững, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia

và an ninh quốc phòng trên các vùng biển Là cơ sở để các Bộ, ngành, các

tỉnh/thành phố cụ thể hóa chiến lược ở từng địa phương trong thời gian đến

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Đề án tổ chức lại

khai thác hải sản Đề án đánh giá chuyên sâu về hiện trạng hoạt động khai

thác hải sản từ năm 2001- 2011 của cả nước, chỉ ra những hạn chế, tồn tại,

nguyên nhân yếu kém để tổ chức lại khai thác hải sản trên biển, trên cơ sở cơ

cấu lại tàu thuyền, nghề nghiệp phù hợp với các vùng biển, tuyến biển, với

môi trường tự nhiên, nguồn lợi hải sản Đổi mới và ứng dụng khoa học công

nghệ trong khai thác thủy sản, bảo quản sản phẩm để giảm tổn thất sau thu

hoạch Củng cố và phát triển các mô hình tổ chức sản xuất khai thác hải sản,

hoàn thiện hệ thống thông tin tàu cá nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng

phó với các tai nạn, rủi ro trên biển, cứu hộ cứu nạn Tăng cường bảo vệ, hỗ

trợ đảm bảo an toàn cho ngư dân và quốc phòng an ninh trên biển và hải đảo

- Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (2013), Đề án Quy hoạch tổng

thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Dự

án đã đánh giá các yếu tố về điều kiện phát triển ngành thủy sản giai đoạn

2001-2011 Dự báo các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển thủy sản

từ đó lập qui hoạch, giải pháp phát triển thủy sản đến năm 2020, định hướng

2030 Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa vào năm 2020, hiện đại

hóa vào năm 2030 và tiếp tục phát triển toàn diện, hiệu quả bền vững, trở

thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản

xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao,

hội nhập vững chắc vào nền kinh tế quốc tế, từng bước nâng cao thu nhập và

mức sống của nông, ngư dân; đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn

lợi thủy sản và góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo

Trang 18

của Tổ quốc Trong Đề án có quy hoạch về sản lượng KTHS, đối tượng khai

thác, quy hoạch cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp KTHS của cả nước nói chung

và từng vùng biển nói riêng

- Nguyễn Duy Chỉnh (2008), Dự án DANIDA: Tổng quan nguồn lợi

thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam Dự án

đã đánh giá chung được sự phát triển của ngành thủy sản trong gần 2 thập kỷ

qua; tổng quan nguồn lợi thủy sản Việt Nam; hiện trạng khai thác, nuôi trồng,

chế biến hải sản ở Việt Nam Dự án nêu ra một số tồn tại, như việc đẩy nhanh

đóng tàu khai thác nhằm tăng sản lượng mà chưa chú trọng mạnh đối với việc

quản lý hoạt động khai thác dẫn đến có dấu hiệu của sự cạn kiệt nguồn lợi hải

sản cũng như giảm sút hiệu quả các nghề khai thác hải sản Sự thiếu hụt hạ

tầng dịch vụ, yếu kém trong quản lý và sự gia tăng phát triển, gây áp lực đến

tài nguyên sinh vật biển, nguy cơ nảy sinh suy thoái môi trường, tiềm ẩn

những rủi ro cao trong hoạt động sản xuất Ngành thủy sản cần phải cải thiện

“chất lượng của sự phát triển”, đảm bảo đáp ứng yêu cầu “nhanh, hiệu quả,

bền vững với sức cạnh tranh cao” Dự án là cơ sở để các nhà khoa học, các

địa phương, bộ, ngành Trung ương kế thừa các số liệu về thủy sản để tiếp tục

thực hiện các đề tài, dự án phát triển ngành thủy sản nước nhà

- Vũ Duyên Hải (2006), Dự án “Đánh giá trình độ công nghệ khai thác

hải sản xa bờ”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dự án đã đánh giá

được công nghệ khai thác của ngư dân Việt Nam và tốc độ du nhập công nghệ

khai thác của các nước tiên tiến vào Việt Nam trong những năm gần đây, góp

phần tăng sản lượng khai thác, hiệu quả khai thác của từng chuyến biển

- Ronald D.Zweig chủ nhiệm Vụ phát triển Nông thôn và Tài nguyên

thiên nhiên Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới; Hà

Xuân Thông Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Bộ Thủy sản, Hà Nội, Việt

Nam; Lê Thanh Lựu Viện nghiên cứu thủy sản 1 Tỉnh Hà Bắc, Việt Nam;

Trang 19

Jonathan R Cook Sloane Cook & King Pty.Ltd.North Sydney, Australia;

Michael Phillips Mạng lưới các Trung tâm thủy sản khu vực Châu Á – Thái

Bình Dương, Trng Đại Học Kasetsart, Bangkok, Thailand (2005) Báo cáo

Nghiên cứu “Việt nam: Nghiên cứu ngành thủy sản” Nội dung của nghiên

cứu này là nghiên cứu toàn diện về phát triển ngành thủy sản Việt Nam, xem

xét hiện trạng và các nhu cầu trong lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thủy sản

và quản lý nguồn lợi ở Việt Nam; tập trung nêu rõ một số nội dung về các

nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành thủy sản nói chung và khai thác hải

sản nói riêng và xác định những lĩnh vực then chốt nhất để có những tác động

nhằm xóa đói, giảm nghèo, tăng sản lượng và cải thiện quản lý môi trường

trên cơ sở phát triển bền vững.

- Phan Thị Dung (2010), Báo cáo khoa học: Phân tích các nhân tố ảnh

hưởng phát triển bền vững khai thác thủy sản vùng duyên hải nam Trung bộ

Nội dung của nghiên cứu này là nghiên cứu phát triển bền vững trên nền tảng

tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trng là đòi hỏi tất yếu

trong phát triển ngành và vùng Bài viết này tập trung luận giải những yếu tố

tác động của điều kiện tự nhiên, lao động và tổ chức sản xuất trên tàu cá, quản

lý nhà nước, các đặc trưng kỹ thuật tàu thuyền, các đặc trưng về ngư cụ cũng

như thị trường đến phát triển khai thác thủy sản vùng duyên hải nam Trung

bộ Trên cơ sở đó đề xuất một số gợi ý quản lý nhằm phát triển thủy sản trong

vùng theo hướng bền vững như là: Quản lý cấp giấy phép khai thác, đào tạo

nguồn nhân lực có trình độ; quản lý việc đóng mới tàu thuyền; đầu tư thiết bị

và kỹ thuật khai thác

Nghiên cứu tổng quát các vấn đề liên quan đến phát triển ngành thủy

sản thành phố Đà Nẵng đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng (2012),

Đề án “Nâng cao hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng đến năm 2020” Đánh giá hiện trạng năng lực đánh bắt hải sản trong

giai đoạn 2008-2012, phân tích các điểm mạnh, yếu và các cơ hội, thách thức

Trang 20

của hoạt động nghề cá trong thời gian đến Là cơ sở để các ngành, địa phương

thực hiện đồng bộ những giải pháp nâng cao hoạt động của nghề cá, giải

quyết việc làm nâng cao đời sống ngư dân; gắn khai thác, bảo vệ và phát triển

nguồn lợi thuỷ sản với bảo vệ chủ quyền quốc gia Đề án tập trung thực hiện

các giải pháp cụ thể là: Đóng mới, cải hoán tàu thuyền và giảm tàu ven

bờ (trong đó ưu tiên đóng mới, cải hoán tàu thuyền công suất lớn, đặc biệt đối

với tàu có công suất 400CV trở lên nhằm giảm áp lực khai thác ven bờ; giảm

dần tàu đánh bắt ven bờ); chuyển đổi nghề khai thác với cơ cấu nghề chuyển

đổi theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, phù hợp với tiềm năng nguồn

lợi thủy sản, ưu tiên một số nghề như: lưới rê, nghề câu, lưới vây; tiến đến

không còn nghề cấm hoạt động trên các vùng biển; nâng cao năng lực lao

động (chú ý nâng cao nhận thức của ngư dân về trang bị những điều kiện đảm

bảo an toàn cho người, tàu cá khi tham gia đánh bắt hải sản; nâng cao ý thức

chấp hành quy định của pháp luật nhằm bảo vệ môi trường, nguồn lợi thủy

sản, an ninh quốc gia trên các vùng biển; đào tạo nghề, đào tạo thuyền trưởng,

máy trưởng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi nghề và các quy định liên quan đến

lao động đánh bắt hải sản); ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đánh bắt

hải sản; phát triển dịch vụ hỗ trợ đánh bắt hải sản xa bờ (hình thành các đội

tàu dịch vụ hậu cần trên biển; hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghề cá gồm cảng cá,

khu neo đậu tàu thuyền, chợ cá ; tổ chức liên kết trong các tổ, đội để tiêu thụ

sản phẩm có hiệu quả); tăng cường quản lý nhà nước về đánh bắt hải sản

- Trần Thị Thơm (2010), Đề tài "Phát triển bền vững ngành Thủy sản

thành phố Đà Nẵng đến năm 2020" Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý

luận và thực tiễn về phát triển thủy sản bền vững Trên cơ sở phân tích các

mặt mạnh, mặt yếu trong thực tiễn phát triển ngành thủy sản thành phố Đà

Nẵng từ năm 2005 – 2009 và luận giải những nguyên nhân của tình trạng trên,

kế hợp với đánh giá những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của

ngành, dự báo tình hình tiêu thụ và tác động môi trường đến năm 2020, từ đó

tác giả đã xây dựng hệ thống các giải pháp phát triển bền vững ngành thủy

Trang 21

thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường

Trong đó, hệ thống các giải pháp phát triển bền vững về kinh tế được trình

bày thông qua các giải pháp bền vững trong nuôi trồng, khai thác, chế biến và

dịch vụ thủy sản Để tiếp tục đẩy nhanh tăng trưởng gắn với công nghiệp hóa,

hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế; phát triển các thành phần kinh tế để

tập trung phát triển nền kinh tế thủy sản hàng hóa hướng mạnh vào xuất khẩu;

phát triển nền kinh tế thủy sản hàng hóa lớn trong mọi lĩnh vực sản xuất của

ngành để tạo sức cạnh tranh cao; gắn phát triển kinh tế thủy sản với cải thiện

đời sống cộng đồng lao động nghề cá với mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho

các cộng đồng nghề cá về phát triển bền vững

- Nguyễn Ngọc Oai (2011), Đề tài “Giải pháp phát triển khai thác hải

sản xa bờ của thành phố Đà Nẵng” Tác giả sử dụng 4 nhóm chỉ số chính:

kinh tế – xã hội – môi trường (nguồn lợi) và quản lý (thể chế chính sách) để

đánh giá mức độ phát triển của khai thác hải sản trong mối quan hệ tác động

qua lại của các chỉ số này Đề tài cũng đánh giá ưu, nhược điểm về năng lực

tàu thuyền, năng lực sản xuất, hoạt động khai thác hải sản, cơ sở hạ tầng phục

vụ khai thác hải sản từ năm 2005 – 2009 của thành phố Đà Nẵng, tác giả nêu

những bài học kinh nghiệm nghề cá ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc,

Nhật Bản; từ đó đề xuất giải pháp phát triển khai thác hải sản xa bờ theo

hướng ổn định Kiến nghị ngành chức năng điều chỉnh các chính sách, hướng

tới quản lý nghề khai thác hải sản bền vững và hiệu quả Là cơ sở khoa học để

xây dựng các giải pháp bền vững về nghề khai thác hải sản một cách hiệu quả

- Võ Phúc Đông (2012), Đề tài “ Phát triển đánh bắt thủy sản Quận

Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” Là quận có số lượng tàu thuyền lớn nhất thành

phố Đà Nẵng, tác giả đã nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên

quan đến nghề đánh bắt thủy sản; phân tích hiện trạng, hiệu quả hoạt động

đánh bắt thủy sản từ năm 2007 – 2011 của quận Sơn Trà; đề tài cũng chỉ ra

các yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh tế của đánh bắt, cũng như

xu hướng và mức độ tác động của các yếu tố này Với các kết quả như vậy,

Trang 22

đề tài cũng sẽ đưa ra một số giải pháp làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính

sách có thể xây dựng các chính sách một cách hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy

gia tăng hiệu quả kinh tế của đánh bắt khai thác thủy sản đồng thời cũng có

thể xây dựng các chính sách nhằm làm giảm bớt áp lực đối với nguồn lợi thủy

sản Các kết quả nghiên cứu của đề tài bao gồm các giải pháp, khuyến nghị

đối với từng nghề khai thác thủy sản cụ thể cũng như các khuyến nghị về

chính sách chung có thể hữu ích đối với Quận Sơn Trà nhưng cũng có thể là

tài liệu tham khảo có giá trị đối với một số tỉnh ven biển khác của Việt Nam

có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tương tự Là cơ sở đề xuất các giải

pháp thúc đẩy đánh bắt thủy sản quận Sơn Trà phát triển bền vững

Đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về phát triển

KTHS thành phố Đà Nẵng, nên đề tài mà bản thân tác giả lựa chọn để nghiên

cứu không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã được công bố Là

một công chức đang thực hiện nhiệm vụ theo dõi, tham mưu, đề xuất, xử lý

những vấn đề liên quan đến ngành nông nghiệp, tôi thấy việc nghiên cứu và

đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy KTHS thành phố phát triển là rất thiết

thực

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHAI THÁC HẢI SẢN

1.1 CÁC KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KHAI THÁC

HẢI SẢN

1.1.1 Khái niệm về phát triển

Phát triển là một quá trình vận động đi lên, phải là một quá trình lâu

dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện Khái

niệm phát triển cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn

thiện về mọi mặt của nền kinh tế[4]

* Những vấn đề cơ bản của Phát triển kinh tế

- Điều kiện đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy

mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối

dài và ổn định)

- Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền,

ngành, thành phần kinh tế thay đổi Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn

giảm tuơng đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ,

công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ

- Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp

hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi

trường được đảm bảo

- Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi Để có thể thay đổi trình độ tư

duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế

- Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những

nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó

1.1.2 Khái niệm về phát triển khai thác hải sản

- Khai thác thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên biển,

Trang 24

sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác Khai thác thủy sản chủ

yếu công nghiệp KTHS trên biển.[14]

- Khai thác hải sản: là thuật ngữ mô tả những hoạt động đánh bắt, thu

nhặt các nguồn lợi hải sản có ở biển

- Khai thác hải sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và

nhiều phương pháp khác nhau để tác động tới đối tượng các tài nguyên sinh

vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu

của con người và xã hội về các sản phẩm hàng hóa hải sản [8]

Quá trình khai thác hải sản cũng chính là quá trình tương tác giữa con

người và tự nhiên vì mục đích của con người hay đây là hoạt động chủ quan

của con người Trong điều kiện các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự

nhiên tồn tại vận động theo các quy luật của tự nhiên Do vậy, nếu quá trình

khai thác này phù hợp với tự nhiên thì sẽ tác động tốt và ngược lại

Theo Cục trưởng cục Khai thác hải sản- Bộ Nông nghiệp và phát triển

nông thôn: “Khai thác hải sản là ngành khai thác tài nguyên tái tạo, góp phần

đảm bảo an ninh - lương thực, cung cấp sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất

khẩu” [32]

Có thể thấy, lĩnh vực KTHS cũng bị chi phối mạnh bởi nguyên tắc cơ

bản của kinh tế là nguyên tắc khan hiếm – các tài nguyên hải sản mà con

người cần là rất hạn chế và sẽ khan hiếm Bởi thế, con đường đúng đắn nhất

để phát triển KTHS là hướng bền vững: nguồn lợi hải sản và tài nguyên phải

được sử dụng lâu dài, vừa thỏa mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức

chống chịu của hệ sinh thái vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ

mai sau

Như vậy có thể hiểu phát triển KTHS là:

- Phát triển KTHS đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích lâu dài và

một nghề cá có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế

Trang 25

Tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ

nần cho thế hệ mai sau

- Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng các hệ thống tài

nguyên hải sản, các hệ sinh thái thủy vực, các hệ sinh thái biển và vùng ven bờ

- Đảm bảo quyền lợi của cộng đồng dân cư hưởng dụng nguồn lợi hải

sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi hải sản giữa các thế hệ, góp phần xóa đói

giảm nghèo nông ngư dân

KTHS nước ta được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, giải quyết

việc làm cho hàng triệu người lao động, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế

quốc dân cũng như kim ngạch xuất khẩu của cả nước Chính vì vị thế quan

trọng của ngành, Đảng và Chính phủ đã đề ra những chiến lược phát triển

KTHS Việt Nam và phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hoá

lớn, sản phẩm hải sản phải có sức cạnh tranh cao trên các thị trường để tiếp

tục phát triển nhanh và bền vững Trong khi xuất phát điểm vốn là một nghề

cá quy mô nhỏ với phương thức khai thác truyền thống, tiếp cận ngư trường

tự do với thực trạng sản xuất của ngành còn manh mún, bị cắt khúc giữa các

khâu, quản lí dựa vào kinh tế hộ gia đình Mâu thuẫn giữa các yếu tố phát

triển như vậy đã tạo ra thách thức rất lớn đối với mục tiêu phát triển và sẽ làm

nảy sinh không ít khó khăn trong quá trình phát triển ngành

1.1.3 Đặc điểm của khai thác hải sản

KTTS phụ thuộc nhiều vào những thay đổi của tự nhiên, của môi

trường sinh thái biển, phải thường xuyên đối mặt với rủi ro hơn các lĩnh vực

kinh tế khác Hơn nữa, sản phẩm sau khi khai thác thuộc loại mau ươn, chóng

thối, sản lượng hao hụt nhanh dễ dàng dẫn đến thất thu, thua lỗ trong kinh

doanh Yêu cầu về các dịch vụ hầu cần, đặc biệt là khâu sơ chế bảo quản lạnh

và vận chuyển là chặt chẽ và không thể thiếu [17]

Trang 26

KTHS ở nước ta trải qua hàng thế kỷ hoạt động Phương tiện KTHS trên

biển hầu hết là tàu vỏ gỗ, số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ vẫn đang còn

chiếm đa số, các loại tàu vỏ thép, vật liệu mới composite chiếm tỷ lệ không

đáng kể dẫn đến khả năng vươn khơi còn hạn chế, trong thời gian qua dù được

các cấp, các ngành quan tâm khuyến khích ngư dân đầu tư, cải hoán, đóng mới

tàu thuyền nhưng việc nâng cấp tàu thuyền phát triển chậm do tình hình kinh tế

của ngư dân còn khó khăn, vốn đối ứng chưa đảm bảo vì vậy việc đầu tư của

ngư dân trong những năm qua chưa nhiều

Đối tượng của KTHS là các sinh vật sống trong môi trường nước biển -

chủ yếu là tầng nước mặt Mà những sinh vật này thì lại có những đặc điểm

sau:

- Nguồn lợi hải sản Việt Nam đa dạng, cá biển đa loài, kích cở cá thể và

quần đoàn khác nhau, cho nên đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho

KTHS khi phải lựa chọn các thông số kỹ thuật cho ngư cụ Khó khăn để xác

định chính xác trữ lượng hải sản ở khu vực đánh bắt Đặc biệt, ở các vùng mặt

nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do từ vùng này đến vùng khác

không phụ thuộc vào địa giới hành chính Hướng di chuyển của các luồng hải

sản chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết, khí hậu, dòng chảy của

nước biển và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên Do đó, để bảo vệ, tái tạo và

khai thác hải sản có hiệu quả, một mặt cần phải phân chia ranh giới giữa các

địa phương, quốc gia, nhưng mặt khác cũng cần sự hợp tác chặt chẽ giữa các

địa phương, quốc gia trong quá trình đánh bắt hải sản Đối với từng địa

phương hay từng quốc gia, nếu không ngăn chặn có hiệu quả các phương

pháp khai thác lạc hậu làm hủy diệt các sinh vật trong nước biển thì nguồn

thức ăn tự nhiên sẽ bị cạn kiệt, do đó có thể làm thay đổi nơi cư trú hoặc

hướng di chuyển của các loài hải sản, dẫn đến nghèo nàn hoặc cạn kiệt nguồn

lợi hải sản [17]

Trang 27

- Các loài hải sản sinh trưởng và phát triển chịu nhiều tác động của điều

kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy… nên hoạt động đánh bắt hải sản cũng bị

ảnh hưởng của tính mùa vụ về cả không gian lẫn thời gian một cách rất phức

tạp: sinh sản theo mùa, di cư theo mùa, di cư theo dòng nước,… Điều này đã

tạo nên cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển nhiều ngành nghề

khai thác khác nhau của ngư dân [17]

- Hải vực là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của hoạt động

KTHS Thêm vào đó, các điều kiện khí hậu thủy văn của vùng biển rất khắc

nghiệt, nhiều giông bão, làm cho nghề KTHS thêm nhiều rủi ro và tăng thêm

chi phí sản xuất KTHS, mà đặc biệt là khai thác xa bờ phụ thuộc rất nhiều

vào những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn

1.1.4 Vai trò của khai thác hải sản

KTHS có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả

nước nói chung và của các địa phương ven biển nói riêng KTHS được cho là

lĩnh vực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia

a Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân,

đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm của Việt Nam

50% sản lượng KTHS ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản

lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực

phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực

phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi

dào, góp phần, đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm của quốc gia Trong

thời gian tới, các mặt hàng hải sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ

thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam

b Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo

Không những thế KTHS còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội việc làm

cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng ven biển, có thu nhập

ổn định, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất

nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ KTHS

Trang 28

c Nguồn xuất khẩu quan trọng

Trong nhiều năm liền, KTHS là nguồn nguyên liệu đầu vào trong

ngành chế biến thủy sản xuất khẩu của thành phố Đà Nẵng là ngành luôn giữ

vị trí là một trong những lĩnh vực có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của

địa phương Hằng năm thu về một lượng ngoại tế lớn, có đóng góp không nhỏ

vào GTSX của thành phố

d Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở

vùng biển và hải đảo

KTHS luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền

trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo,

góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân

Chính phủ có nhiều chương trình, kế hoạch đầu tư phát triển cho các dự án

đóng mới, cải hoán tàu cá, tàu dịch vụ hậu cần phục vụ KTHS xa bờ Việc

gia tăng số lượng tàu lớn, tàu vỏ thép, trang thiết bị hiện đại không chỉ nhằm

KTHS cung cấp nguyên liệu cho chế biến mà còn giúp ngư dân an tâm bám

biển, vươn khơi thể hiện sự hiện diện dân sự trên vùng biển, góp phần bảo

vệ ANQP

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN KTHS

Để tồn tại và phát triển, từ xa xưa con người đã tiến hành các hoạt

động KTHS Hoạt động KTHS là việc khai thác tài nguyên hải sản – những

tiềm năng của nguồn lợi thiên nhiên sinh vật sinh sống trong mặt nước, mặt

đất trên biển…Đây là loại tài nguyên tái tạo được, nhưng thường rất nhạy cảm

và chịu rủi ro rất cao trước các diễn biến của tự nhiên (đất, nước, khí hậu…)

và các tác động nhân sinh trong quá trình phát triển, nên thường chịu rủi ro về

môi trường và dịch bệnh Đồng thời bản thân các hoạt động KTHS cũng đã

làm nảy sinh các vấn đề môi trường rất khác nhau, tác động mạnh đến chất

lượng môi trường các hệ sinh thái quan trọng, nguồn giống hải sản tự nhiên

Trang 29

và đa dạng sinh học thủy sinh thay đổi theo chiều hướng xấu, bị phá hủy, bị

suy thoái, suy giảm, thậm chí có nơi mất hẳn, khó phục hồi hoặc phục hồi

chậm…điều này sẽ đi đến kết cục là nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm ảnh

hưởng đến các mục tiêu phát triển lâu dài của các cộng đồng địa phương, các

ngành và của đất nước

1.2.1 Gia tăng số lượng và nâng cao công suất tàu thuyền: Năng lực

tàu thuyền là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển

KTHS Việc nâng cao và sử dụng hợp lý năng lực tàu thuyền là một vấn đề

hết sức quan trọng trong lĩnh vực KTHS hiện nay Muốn nâng cao năng lực

KTHS cần phải có vốn và nâng cao năng lực như thế nào để phát triển KTHS

là vấn đề mà các cấp các ngành quan tâm

Nhóm chỉ tiêu số lượng và nâng cao công suất tàu KTHS

- Số tàu và mức tăng số lượng tàu thuyền: Xác định được số tàu và mức

tăng số lượng tàu thuyền đánh giá được trong thời gian qua tàu thuyền KTHS

tăng giảm như thế nào?

- Công suất và mức tăng công suất tàu thuyền KTHS: Chỉ tiêu này giúp

cho việc xác định công suất và mức tăng công suất có phù hợp với phát triển

KTHS hay không

Nếu số lượng tàu thuyền tăng ít mà công suất tăng nhiều điều đó chứng

tỏ số tàu thuyền tăng lên là số tàu thuyền có công suất lớn và ngược lại

1.2.2 Chuyển dịch về cơ cấu nghề khai thác hải sản: Trong KTHS có

thể là sự thay đổi cơ cấu nghề khai thác theo hướng bền vững, gắn khai thác với

bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản giảm mạnh các nghề cấm, huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản,

tăng các nghề khai thác tuyến lộng, tuyến khơi có hiệu quả kinh tế cao

Nhóm chỉ tiêu phản ánh thay đổi cơ cấu nghề KTHS

- Tỷ lệ và mức thay đổi tỷ lệ tàu thuyền KTHS cho mỗi phương thức

khai thác

Trang 30

- Tỷ lệ và mức thay đổi tỷ lệ sản lượng đánh bắt từ mỗi phương thức

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi tỷ lệ tàu thuyền và sản lượng

cho mỗi phương thức KTHS đánh giá được việc chuyển đổi cơ cấu ngành

nghề KTHS như thế nào, những ngành nghề nào phát triển và những ngành

nghề nào không phát triển Từ đó giúp các cấp các ngành trong thời gian đến

cần tập trung phát triển những phương thức khai thác nào phù hợp với việc

vươn khơi đánh bắt xa bờ và những phương thức khai thác gần bờ nào cần

hạn chế và nghiêm cấm để bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.2.3 Gia tăng các nguồn lực trong KTHS:

a Nguồn vốn: Vốn có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội

nói chung và phát triển KTHS nói riêng Sự gia tăng nhanh nguồn vốn đồng

thời với việc phân bổ và sử dụng chúng một cách hiệu quả sẽ tác động rất lớn

đến phát triển KTHS

b Nguồn nhân lực cho KTHS: Nguồn lực trong một ngành kinh tế nói

chung và trong KTHS nói riêng bao giờ cũng không thể thiếu được đó là

nguồn lực con người …Thiếu lao động của con người thì các nhân tố sản xuất

như máy móc, tàu thuyền … không thể hoạt động được

c Kỹ thuật, công nghệ khai thác hải sản: Việc cải tiến, du nhập các

loại nghề khai thác thủy sản mới Các trang thiết bị trên tàu như máy bộ đàm,

định vị, dò cá, hầm bảo quản đã được trang bị cho tàu khai thác xa bờ

Nhóm chỉ tiêu phản ánh gia tăng các nguồn lực trong KTHS

+ Nguồn vốn

- Tổng tài sản cố định và mức tăng tài sản cố định trong KTHS

Tiêu chí phản ánh tăng vốn là một tiêu chí rất quan trọng Nhóm chỉ

tiêu tăng vốn phản ánh được trong thời gian qua việc đầu tư vốn cho KTHS

như thế nào? Đầu tư vốn cho khai thác có đúng hướng hay không?

Trang 31

Tài sản cố định là một trong những thành phần cấu thành nên vốn Đối

với KTHS tài sản cố định rất quan trọng Mức tăng giảm tài sản cố định sẽ

đánh giá được sự công nghiệp hóa và hiện đại hóa đối với lĩnh vực khai thác

Mức tăng tài sản cố định càng lớn điều đó chứng tỏ việc đầu tư cho lĩnh vực

khai thác nhiều và ngược lại mức tăng tài sản ít thì thể hiện việc đầu tư cho

lĩnh vực KTHS chưa có trọng tâm, chưa đúng định hướng đã đề ra

+ Nguồn nhân lực cho KTHS

- Tổng số lao động và mức tăng lao động cho KTHS

Lao động và mức tăng lao động cũng là một trong những quan tâm hiện

nay Mức tăng lao động phản ánh lao động KTHS tăng như thế nào ? lao động

tăng về số lượng hay chất lượng lao động ?

+ Kỹ thuật, công nghệ KTHS

- Các chỉ tiêu đặc trưng kỹ thuật của tàu, thuyền: Bao gồm đặc trưng về

vỏ tàu (vật liệu đóng tàu, hình dáng, chiều dài, chiều rộng, trọng tải tàu), máy

tàu (công suất máy chính, máy phụ, loại máy, tình trạng máy) Các đặc trưng

này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ

trong khai thác hải sản, tác động đến kết quả hoạt động KTHS ở các ngư

trường khác nhau

- Các chỉ tiêu đặc trưng của ngư lưới cụ và thiết bị khai thác: Đặc trưng

này thể hiện thông qua nghề khai thác, mỗi nghề có các đặc trưng riêng biệt

Đối với nghề câu cá ngừ đại dương đặc trưng ngư cụ có thể kể đến như: số

lưỡi câu, chiều dài vàn câu, độ sâu thả câu Đối với nghề lưới rê là số tấm

lưới, loại lưới rê cố định hay rê trôi, rê một lớp hay ba lớp, kích thước mắc

lưới, đối với nghề lưới kéo có thể là chiều dài giềng chì, giềng phao…

Nghề khai thác quyết định đến việc trang bị ngư lưới cụ, nhưng để khai

thác có hiệu quả thì cần có thêm những thiết bị khai thác như máy dò ngang,

máy định vị, máy tầm ngư, Ngày nay với khoa học công nghệ phát triển, các

Trang 32

thiết bị khai thác hải sản góp phần không nhỏ, nâng cao hiệu quả KTHS của

ngư dân

1.2.4 Các hình thức tổ chức sản xuất KTHS trên biển

Có nhiều hình thức tổ chức sản xuất KTHS trên biển như: hộ gia đình,

tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp Hiện nay, kinh tế hợp tác trong khai thác

hải sản chủ yếu dưới hình thức tổ hợp tác theo thuyền nghề phát triển mạnh,

phát triển khai thác, nhưng phải đảm bảo an toàn cho người và tài sản, đi đôi

với bảo vệ chủ quyền an ninh trên biển, nhất là khi Chính phủ ban hành Nghị

định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về đảm bảo an toàn cho người và

phương tiện khai thác hải sản trên các vùng biển Việt Nam; Nghị định số

151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 về tổ chức và hoạt động của tổ

hợp tác các địa phương đã hình thành được nhiều tổ sản xuất với mô hình

trên như: Quảng Nam, Bình Định, Hải Phòng, Bạc Liêu, Quảng Bình, Ninh

Thuận , có địa phương đã ban hành những chính sách riêng để hỗ trợ cho

KTHS theo mô hình THT như: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, …

Theo Quyết định số 06/2005/QĐ-UB của UBND thành phố Đà Nẵng

thì tổ hợp tác KTHS (có địa phương gọi là tổ đoàn kết KTHS) được thành lập

ít nhất từ 03 chủ tàu cá trở lên theo nguyên tắc tự nguyện, hoạt động theo Quy

chế tổ chức hoạt động của tổ do các thành viên trong tổ cùng thống nhất xây

dựng và được UBND phường xác nhận Vai trò của tổ hợp tác KTHS

- Tổ hợp tác KTHS thúc đẩy phát triển ngành KTHS, làm được những

việc mà từng người, từng chủ tàu không làm được hoặc làm được, nhưng

hiệu quả không cao Tổ hợp tác KTHS thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo điều

kiện thuận lợi để hình thành các HTX nghề cá, các tập đoàn nghề cá, góp

phần nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong

hoạt động KTHS; huy động được nhiều nguồn lực tham gia; hỗ trợ, giúp đỡ

lẫn nhau trong công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển; cung cấp nhiều sản phẩm

Trang 33

hải sản cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân

sách nhà nước

- Tổ hợp tác KTHS là mô hình tổ chức sản xuất tiên tiến trên biển hiện

nay Trước hết, đó là các đơn vị hoạt động sản xuất trên biển thực hiện cung

ứng sản phẩm khai thác cho các doanh nghiệp chế biến hải sản, cung ứng thực

phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho tiêu dùng của xã hội mà không một ngành

nào có thể thay thế được

- Tổ hợp tác KTHS thể hiện tính xã hội sâu sắc, tập hợp được đông đảo

mọi người tham gia nhằm giúp đỡ lẫn nhau trên biển, tạo công ăn việc làm

cho ngư dân nghèo ven biển

Ngoài ra, tổ hợp tác KTHS còn góp phần cùng cơ quan nhà nước thực

hiện bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đảo một cách hiệu quả, thiết thực

trong giai đoạn hiện nay

1.2.5 Nâng cao kết quả và hiệu quả trong KTHS

a Nâng cao giá trị và sản lượng KTHS: Sản lượng đánh bắt tăng lên

và đảm bảo chất lượng sẽ đem tới cho người sản xuất khả năng có được thu

nhập cao và lợi nhuận để tích lũy mở rộng sản xuất và nâng cao đồi sống hay

có thể thực hiện tái sản xuất mở rộng trên mọi khía cạnh

b Nâng cao hiệu quả KTHS: Tăng hiệu quả khai thác sẽ là cơ sở tăng

thu nhập lợi nhuận cho người sản xuất vì khi đó với nguồn lực cho trước

nhưng kết quả sẽ cao hơn do đó KTHS mới có thể phát triển được

Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả KTHS

+ Sản lượng KTHS: là kết quả sản xuất của ngành KTHS thành phố

trong một năm, đánh giá sự tăng trưởng và cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả theo cơ cấu nghề KTHS: Đánh giá hiệu quả nghề khai thác

thông qua khảo sát ý kiến các chủ tàu để biết hiện nay nghề nào hiệu quả và

nghề nào kém hiệu quả

Trang 34

+ Hiệu quả sử dụng vốn theo nghề KTHS: chỉ tiêu này phản ánh kết

quả sản xuất trên một đồng vốn, một đồng vốn tạo ra bao nhiêu đồng lợi

nhuận, hiệu quả sử dụng vốn càng lớn, chứng tỏ tổ chức hoạt động có hiệu

quả, mang lại lợi nhuận cao và ngược lại

+ Năng suất lao động bình quân: Năng suất lao động bình quân có thể

được xác định trên cơ sở so sánh chỉ tiêu kết quả sản xuất với nguồn lực về

lao động

+ Hiệu quả sản xuất tính trên 1 đơn vị công suất tàu: Chỉ tiêu này phản

ánh hiệu quả sản xuất trên 01 đơn vị công suất tàu tham gia KTHS, một đơn

vị công suất tàu tạo ra bao nhiêu tấn sản phẩm, năng suất càng cao chứng tỏ

khai thác càng có hiệu quả

1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KTTS

Phát triển KTHS chịu tác động của nhiều nhân tố Các nhân tố này gắn

bó với nhau, tác động qua lại tạo thành một hệ thống tác động thúc đẩy hoặc

cản trở quá trình phát triển Vì vậy, để quá trình phát triển KTHS nhanh và

bền vững thì việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nó một cách khoa học

có ý nghĩa quan trọng

1.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên

Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên thì đất đai, mặt nước,

nguồn lợi, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý… ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát

Hiệu quả sử dụng vốn

Tổng lợi nhuận Tổng vốn

=

Năng suất khai thác

Sản lượng khai thác hải sản

Tổng công suất tàu cá

=

Trang 35

triển của KTHS, là điều kiện tiên quyết của KTHS Sở dĩ như vậy là vì,

KTHS là ngành kinh tế sinh thái; tất cả các khâu trong quá trình khai thác đều

gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, dựa vào sự chiếm hữu và lợi dụng tự nhiên để

tồn tại và phát triển

Yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến phát triển KTHS là tài nguyên thiên

nhiên và nguồn lợi hải sản xét cả về mặt trữ lượng, sự phân bố, đặc điểm sinh

học, điều kiện khai thác… Rõ ràng, nều nguồn lợi hải sản dồi dào, giá trị kinh

tế cao và điều kiện khai thác thuận lợi sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng và

phát triển KTHS theo hướng thuận chiều

Đặc điểm này quy định cơ cấu nghề nghiệp, công nghệ khai thác, phân

công lao động phù hợp Đối tượng của KTHS là những sinh vật sống dưới

nước và mỗi đối tượng thủy sinh chỉ tồn tại trong một môi trường sinh thái

thích ứng Bởi vậy, khi xây dựng chiến lược phát triển KTHS phải chú ý đến

tính đặc thù của từng vùng, từng địa phương, từng đối tượng thì mới phát huy

được tiềm năng, lợi thế của từng vùng, địa phương đó Điều kiện tự nhiên còn

quyết định phân công lao động theo vùng lãnh thổ, từng khâu trong cơ cấu

sản xuất, trong đầu tư và tổ chức quản lý lao động, thiết lập các hình thức hợp

tác, các loại hình tổ chức SXKD phù hợp để huy động tối đa nguồn lực của xã

hội nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời hạn chế những thiệt hại do tự

nhiên gây ra

1.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế

a Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế là đo lường sự tăng trưởng tổng sản lượng

của một quốc gia hay địa phương theo thời gian Chỉ tiêu này cao hay thấp

ảnh hưởng đến nhiều các vấn đề khác như: giá cả, việc làm, thị trường tiêu

thụ, tâm lý tiêu dùng trong dân chúng… Những nhân tố này tác động trực

tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của KTHS Nếu môi trường vĩ mô phát triển

Trang 36

theo chiều hướng tốt, thuận lợi thì tác động tích cực đến sự phát triển KTHS

và ngược lại

b Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của nước ta hiện nay được chia thành 3 ngành: nông

nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch vụ Đặc điểm của nước ta, tỷ trọng của

cơ cấu kinh tế đang dịch chuyển theo hướng: tăng tỷ trọng của khu vực công

nghiệp, khu vực dịch vụ tăng nhưng chưa ổn định, còn tỷ trọng của ngành

nông nghiệp thì giảm xuống Cơ cấu kinh tế phản ánh phân công các nguồn

lực của xã hội, cho biết trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thông qua

sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế các ngành của khu vực này ta đánh giá được

KTHS phát triển như thế nào

c Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm: hệ thống giao thông, hệ thống điện, hệ thống

cấp thoát nước, viễn thông, các công trình phụ trợ phục vụ cho đời sống dân

sinh… chức năng của cơ sở hạ tầng là phục vụ phát triển cho các ngành Nếu

cơ sở hạ tầng phát triển, đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho KTHS phát

triển theo Hiện nay, nhiều địa phương trên cả nước tiến hành xây dựng, nâng

cấp cơ sở hạ tầng

1.3.3 Nhóm nhân tố xã hội

Phát triển KTHS chịu sự tác động của nhóm nhân tố xã hội như dân số,

tập quán xã hội, truyền thống văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực… Những

nhân tố này tác động đến xu hướng, tính chất và bước đi của phát triển KTHS

- Chất lượng nguồn nhân lực: Muốn nâng cao năng lực KTHS mà chỉ

có các phương tiện công nghệ thì chưa đủ, mà còn cần phải phát triển một

cách tương ứng năng lực của con người để sử dụng những phương tiện đó

nữa Con người vừa là mục đích vừa là động lực, là nhân tố trung tâm của sự

phát triển kinh tế - xã hội nói chung và KTHS nói riêng Đặc điểm về chủ tàu,

Trang 37

thuyền trưởng, nhân công liên quan đến lao động như trình độ văn hóa, thời

gian làm nghề, truyền thống nghề, kinh nghiệm, sức khỏe, bằng cấp

Nghề KTHS của Việt Nam là nghề tự phát, chủ yếu dựa vào kinh

nghiệm theo kiểu “cha truyền con nối”, phương tiện khai thác nhìn chung lỗi

thời, lạc hậu và đặc điểm của ngành KTHS nặng nhọc, luôn tiềm ẩn nhiều rủi

ro, nên đòi hỏi người lao động phải là nam giới, có sức khỏe Hầu hết lao động

tham gia khai thác hải sản là ngư dân ven biển, trình độ văn hóa chưa học hết

phổ thông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, do

trình độ thấp nên hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức về quản lý, kỹ thuật đánh

bắt và các khả năng chuyển đổi nghề; phần lớn thuyền trưởng chỉ qua các lớp

đào tạo ngắn hạn, còn tổ trưởng tổ hợp tác khai thác được trưởng thành từ kinh

nghiệm đi biển, kinh nghiệm nhiều năm làm trưởng thuyền trưởng; việc sử

dụng các thiết bị khai thác như máy dò ngang, máy định vị, máy tầm ngư còn

hạn chế, chưa khai thác hết tính năng của máy làm giảm hiệu suất ngư cụ, việc

tiếp thu công nghệ đánh bắt cá từ nước ngoài và cải tiến công cụ đánh bắt của

thuyền trưởng, tổ trưởng tổ hợp tác KTHS còn nhiều bất cập; công tác quản lý,

điều hành của tổ trưởng tổ hợp tác còn nhiều hạn chế mà nguyên nhân chính là

do trình độ văn hóa của người lao động chưa được đào tạo, bồi dưỡng các kiến

thức cơ bản về quản lý, điều hành

1.3.4 Nhóm nhân tố về an toàn, an ninh trên biển

Biển có vị trí hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều

quốc gia trên thế giới Biển là nguồn lực, là cơ hội quan trọng để phát triển kinh

tế, đặc biệt trong hợp tác, phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và quốc

tế Ngoài ra, trong giai đoạn hiện nay, khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên

đất liền đang dần cạn kiệt thì việc phát triển kinh tế biển càng được xem là vấn

đề then chốt Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và tiềm năng, sự phát triển

kinh tế biển cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt đối với công tác an

Trang 38

ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi ích trên biển Quốc phòng, an ninh trên biển được

đảm bảo sẽ tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế trên biển nói

chung và hoạt động khai thác hải sản nói riêng

- An ninh, quốc phòng trên biển: Biển Đông có vị trí hết sức quan trọng

trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh

những thuận lợi và tiềm năng, sự phát triển kinh tế biển cũng đặt ra nhiều khó

khăn, thách thức, đặc biệt đối với công tác an ninh, bảo vệ chủ quyền và lợi

ích trên biển

- Thiên tai ảnh hưởng phát triển KTHS:

Theo tài liệu thống kê, hằng năm bão thường xảy ra vào tháng 10÷11 ở

vùng Đà Nẵng đến Bình Định, tháng 10÷12 ở vùng Phú Yên đến Khánh Hòa

Để hoạt động khai thác phát triển tốt công tác dự báo thời tiết tác động lớn

đến hoạt động này cũng như các phương tiện thông tin đối với các tàu khai

thác là vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho người cũng như

tàu thuyền Chiến lược phát triển KTTS cần định hướng đầu tư đồng bộ cả tàu

thuyền, các thiết bị an toàn trên biển cùng kỹ thuật khai thác và con người

nhằm nâng cao hiệu quả khai thác bên cạnh định hướng tàu hiện đại.[8]

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đề cập đến phát triển KTHS thành phố Đà Nẵng, trước hết cần phải hệ

thống hóa lại một số cơ sở lý luận về KTHS và phát triển KTHS Sau khi làm

rõ khái niệm, vai trò và đặc điểm của KTHS, đề tài đã đưa ra được nội dung

và các tiêu chí phát triển KTHS, các nhân tố tác động đến KTHS và phát triển

KTHS

Trang 40

1080 20’ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía Tây giáp tỉnh

Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông Đà Nẵng cách Thủ đô Hà Nội

khoảng 764km về hướng Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 964 km

về hướng Nam [27]

Thành phố Đà Nẵng ở vào trung độ của cả nước, nằm trên trục giao

thông xuyên quốc gia cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng

không, thành phố Đà Nẵng có nhiều lợi thế trong việc giao lưu kinh tế với các

tỉnh trong khu vực, là động lực để trở thành một trong những trung tâm kinh

tế quan trọng của vùng trọng điểm miền Trung

Về tổ chức hành chính, thành phố Đà Nẵng có 6 quận nội thành là: Hải

Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ và 2 huyện là

Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa, với 56 xã, phường Có tổng diện tích tự

nhiên là 1.283,42 km2, trong đó đất nông nghiệp 117,22 km2, đất chuyên dùng

385,69 km2, đất ở 30,79 km2 và đất chưa sử dụng 207,62 km2 Bờ biển thành

phố dài 92 km từ núi Hải Vân đến giáp giới xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn,

tỉnh Quảng Nam, có vịnh nước sâu với các cửa ra biển như Tiên Sa, Liên

Chiểu, ngư trường khoảng 15.000 km2 Có vùng lãnh hải thềm lục địa từ bờ trải

ra 125km tạo thành vành đai nước nông, rộng thích hợp với phát triển KTHS

Ngày đăng: 08/05/2018, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w