1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết việc làm cho lao động tại thành phố pleiku, tỉnh gia lai

95 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 647,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển sản xuất giải quyết việc làm cho lao động trong nông nghiệp Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng để vừa tạo thêm việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HOÀNG THỊ NGUYỆT NGA

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

HOÀNG THỊ NGUYỆT NGA

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm

Đà Nẵng – Năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Nguyệt Nga

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG 5 1.1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG 5

1.2 NỘI DUNG, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.2.4 Chính sách hỗ trợ tín dụng giải quyết việc làm 11 1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.4 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở

Trang 5

1.4.1 Giải quyết việc làm ở huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây 20 1.4.2 Giải quyết việc làm thông qua mô hình kinh tế trang trại hiệu

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI 25 2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ PLEIKUẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

2.2 TÌNH HÌNH VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ PLEIKU 35 2.2.1 Lao động và nhân khẩu của thành phố Pleiku 35 2.2.2 Lao động phân theo trình độ văn hoá 37 2.2.3 Lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của thành

2.3 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHOLAO ĐỘNG

2.3.1 Hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề cho lao động và giới

2.3.2 Phát triển sản xuất thu hút lao động 49

2.3.4 Chính sách tín dụng hỗ trợ giải quyết việc làm 54 2.4 KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TRONG

Trang 6

2.5.1 Những thuận lợi trong quá trình giải quyết việc làm cho lao

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

3.2.1 Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động 69 3.2.2 Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và giới thiệu việc làm 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hoá

Trang 8

2.9 Tín dụng hỗ trợ giải quyết việc làm 54 2.10 Lao động được giải quyết việc làm giai đoạn 2008 -

Trang 9

2.6 Lao động được giải quyết việc làm giai đoạn 2008 -

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Cùng với sự gia tăng dân số như hiện nay, lao động và việc làm trở thành vấn đề bức xúc không của riêng quốc gia nào Có thể nói lao động và việc làm có quan hệ đa dạng, đa phương với mọi mặt trong cộng đồng dân cư

và trong xã hội Vì vậy, giải quyết việc làm cho lao động để tìm ra những phương hướng và giải pháp hữu hiệu sử dụng nguồn lao động không chỉ vấn

đề mang tính cấp bách mà nó còn mang tính chiến lược lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên quá trình còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu bổ sung, nhằm hoàn thiện để phù hợp với việc đưa ra những chính sách giải quyết việc làm cho lao động của mỗi vùng

Việt Nam sau 25 năm đổi mới, vấn đề lao động, việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh

tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, Việt Nam

là một nước có dân số đông và trẻ trên thế giới Hàng năm, Việt Nam có tới hơn 10 vạn lao động bước vào tuổi lao động, điều đó gây sức ép lớn giải quyết việc làm cho lao động và thực trạng vấn đề lao động, việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là từ sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO

Không nằm ngoài quy luật đó, thành phố Pleiku là thành phố trực thuộc tỉnh Gia Lai, mặt dù kinh tế đã có nhiều khởi sắc, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều khu công nghiệp được xây dựng và mở rộng quy mô đã thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp nhưng những năm gần đây tệ nạn xã hội trên địa bàn có chiều hướng gia tăng và theo thống kê số người phạm tội là những người không có việc làm Bên cạnh đó, số người bước vào tuổi lao động ngày

Trang 11

càng tăng, điều đó cũng đang gây khó khăn trong công tác giải quyết việc làm trên địa bàn

Xuất phát từ thực tế địa phương và nhận thức được tầm quan trọng

trong công tác giải quyết việc làm, em xin chọn đề tài: "Giải quyết việc làm

cho lao động tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai" làm đề tài nghiên cứu cho

- Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn thành phố Pleiku

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

+ Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung thu thập và nghiên cứu số liệu thời kỳ 2008 - 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, thống kê so sánh, phân tích tổng hợp nhằm mô tả thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động

Số liệu thu thập từ niên giám thống kê của thành phố Pleiku, từ các báo cáo của Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng thống kê, Phòng Lao động và Thương binh xã hội của thành phố Pleiku có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 12

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao

động

Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động tại thành phố

Pleiku, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao

động thành phố Pleiku

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Việc làm là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm

lớn của các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Ở nước ta, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, liên quan đến chủ đề luận văn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài

viết xoay quanh vấn đề này, tiêu biểu như:

- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu

Dũng, TS Trần Hữu Trung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997);

- Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của thạc sĩ

Nguyễn Thị Lan Hương (Nxb Lao động - xã hội, 2002);

- Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng (Tạp chí Cộng sản, số 23 - 8/2003);- Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay do thạc sĩ Đinh Đặng Định chủ biên (Nxb Lao động, Hà Nội, 2004);

- Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của

GS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, ThS Thang Mạnh Hợp (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 298 - 12/2003);

Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sỹ viết về vấn đề việc làm như ở một số tỉnh: Đồng Nai, Hà Tĩnh, Kiên Giang ; ở Gia Lai, Ủy ban nhân

Trang 13

dân (UBND) tỉnh có ban hành "Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm từ

2000 - 2005"

Song, đến nay tại thành phố Pleiku chưa có công trình nào viết về vấn

đề này dưới dạng luận văn khoa học để tìm ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu cho giải quyết việc làm ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai Như vậy, việc

nghiên cứu đề tài "Giải quyết việc làm cho lao động tại thành phố Pleiku, tỉnh

Gia Lai " là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Hệ thống hoá các vấn

đề lý luận về giải quyết việc làm cho lao động Đánh giá tình hình giải quyết việc làm cho lao động ở thành phố Pleiku, tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động thời gian tới

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

1.1 VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

1.1.1 Việc làm cho lao động

- Khái niệm về việc làm

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm, tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có khái niệm khác nhau về việc làm

Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động được trả bằng tiền hoặc hiện vật Vậy theo khái niệm trên, thì những người lao động mà dùng sức lao động của mình để có được nguồn thu nhập nào đó thì khi đó là có việc làm

Hiện nay, khái niệm về việc làm theo Luật lao động nước ta ban hành

Như vậy, việc làm được có thể hiểu như sau:

- Làm những công việc mà lao động nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó Đây là những người lao động làm thuê trong các cơ sở kinh tế cá thể trong các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị, lao động sẽ nhận được tiền lương, tiền công hàng tháng nhận được

Vì vậy, để có việc làm trước hết là cần hai yếu tố sức lao động và những

Trang 15

điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả những yếu

tố xã hội

- Thị trường việc làm đã được mở rộng ra rất nhiều bao gồm tất cả các thành phần kinh tế như các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, các hộ gia đình cá thể đều là những tổ chức, cơ quan đơn vị tạo thêm được nhiều việc làm hơn cho người lao động Có nghĩa là thị trường lao động không bó hẹp ở một số khu vực hay ở một vùng nào đó mà nó bao gồm mọi miền, mọi vùng trong và ngoài nước, nó không bị hạn chế về không gian địa lý

- Chủ lao động có nhu cầu thuê lao động được tự do hành nghề, tự do kinh doanh liên kết với nhau Từ đó, có sự phát sinh mối quan hệ trao đổi, thuyên chuyển lao động sao cho phù hợp với tính chất cũng như mục đích của công việc, đáp ứng quan hệ cung cầu lao động trong xã hội Như vậy có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó

Tóm lại, có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó Với quan niệm việc làm trên theo cách của Luật lao động nước ta là phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, tạo điều kiện mọi người tham gia lao động việc làm để cải thiện cuộc sống, đưa đất nước ngày càng giàu mạnh

- Khái niệm thất nghiệp

Thực hiện việc làm đầy đủ, tiến tới việc làm được lựa chọn cho lao động là một quá trình phát triển lâu dài Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tất yếu tồn tại vấn đề thất nghiệp

Thất nghiệp chỉ tình trạng không có việc làm mang lại thu nhập Bộ luật lao động sữa đổi và bổ sung của Việt Nam năm 2002 quy định: “ Thất

Trang 16

nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”

Một người được coi là thất nghiệp nếu người đó tạm thời nghỉ việc, đang tìm việc hoặc đang đợi ngày bắt đầu làm việc mới Người không thuộc hai loại trên, chẳng hạn sinh viên học dài hạn, người nội trợ hoặc người nghỉ hưu không nằm trong lực lượng lao động

Vấn đề thất nghiệp không chỉ là mối quan tâm của các thành viên trong

xã hội mà còn là mối quan tâm của một chính phủ Tỷ lệ thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu đánh giá tình trạng của một nền kinh tế Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan Người ta chỉ

có thể giảm tỷ lệ thất nghiệp tới mức thất nghiệp tự nhiên chứ không xóa bỏ được nó.[9]

Như vậy với khái niệm trên, một lao động được gọi là thất nghiệp gồm

3 tiêu chuẩn sau:

+ Có khả năng lao động: Đó là những lao động nằm trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên đến 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ Ngoài ra,

họ còn có đảm bảo yếu tố tình trạng sức khoẻ trình độ chuyên môn để có được việc làm theo tuyển dụng nhất định

+ Không có việc làm: Điều kiện thứ hai đã phản ánh trực tiếp tới người lao động hiện không có việc làm Theo quan niệm trên, với thời gian là trong

4 tuần trước khi điều tra mà không có việc làm hoặc tổng số giờ làm việc dưới

8 giờ trước 1 tuần điều tra khi khi đó coi là thất nghiệp

+ Đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc

Tiêu chí thất nghiệp là tiêu chí mang tính tuyệt đối, phản ánh rất cụ thể

và chính xác là đã có biêu nhiêu người đã có việc làm Tuy nhiên, với tiêu chí này chưa thể nói hết được tình hình giải quyết việc làm trong địa phương Bởi

lẽ, để đánh giá hết được thực trạng giải quyết việc làm thì còn phụ thuộc vào

Trang 17

tổng số lao động trong độ tuổi lao động là bao nhiêu, mà trong số đó đã có bao nhiêu người đã giải quyết được có việc làm Khi đó mới có thể thấy được một cách chi tiết hơn về thực trạng tạo việc làm cho người lao động Đó chính

là tiêu chí tỷ lệ thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động trong kỳ, được biểu thị bằng tỷ lệ %

1.1.2 Giải quyết việc làm cho lao động

Khái niệm giải quyết việc làm

Theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động và làm việc

Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm là biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất [10]

1.2 NỘI DUNG, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

1.2.1 Hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động

Hướng nghiệp là giúp cho người học chọn những ngành học, trình độ đào tạo phù hợp; chủ động, sáng tạo trong học tập, am hiểu về ngành, nghề đang học để phát huy được năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp

Giúp người học có thông tin về thị trường lao động và tìm được việc làm phù hợp Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động để đào tạo của nhà trường tiếp cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội Tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, giao lưu với đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức thực tế và các kỹ năng cần thiết để

Trang 18

hoà nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp [5] Đào tạo nghề là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển nguồn nhân lực, dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho thời kỳ CNH-HĐH Phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn đào tạo từ xa, đào tạo mở rộng, đào tạo lại…nhằm trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết trước khi tốt nghiệp Quan trọng là đào tạo những nghề phù hợp với nhu cầu thị trường [10]

Hoạt động giới thiệu việc làm: Thực hiện việc tư vấn cho người lao động về chính sách lao động, cung cấp thông tin về việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động; làm chiếc cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động

Hoạt động giới thiệu việc làm có thể thực hiện thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm, tổ chức chợ việc làm… mở rộng các giao dịch việc làm là

cơ hội để người lao động tìm được việc làm và đem cơ hội việc làm đến cho người lao động

Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm: Số lượng lao động được tư vấn hướng nghiệp; Số lao động được đào tạo nghề, cơ cấu ngành nghề đào tạo; Số lao động được giới thiệu quyết việc làm; Số lao động có việc làm thông qua đào tạo nghề; Số lao động có việc làm thông qua giới thiệu việc làm

1.2.2 Phát triển sản xuất giải quyết việc làm cho lao động trong nông nghiệp

Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng để vừa tạo thêm việc làm, vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng Việc phát triển kinh tế tại các vùng kinh tế mới có khả năng tiếp nhận hàng chục vạn người đến xây dựng các vùng kinh tế mới

- Đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình và đa dạng hóa các hoạt động kinh

tế nông thôn Việc khẳng định vai trò kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều kiện sử

Trang 19

dụng có hiệu quả hơn lao động nông nghiệp Nền nông nghiệp đang chuyển dần từ tự cấp, tự túc thành nông lâm nghiệp hàng hóa, thâm canh và chuyên canh Các ngành nghề thủ công truyền thống, các hoạt động dịch vụ ở nông thôn được khôi phục và phát triển do đó, lao động thuần nông ngày càng giảm

đi Nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa hóa nông thôn, nhờ vậy vấn đề việc làm ở nông thôn sẽ được giải quyết vững chắc hơn

- Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, trong đó các hoạt động công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật tinh xảo và cần nhiều lao động, có khả năng tạo nhiều việc làm mới cho lao động

- Đa dạng hóa sản phẩm, tập trung vào những cây con có giá trị gia tăng cường lao động, phát triển chăn nuôi, khôi phục những ngành nghề truyền thống tận dụng lao động và nâng cao thu nhập, lựa chọn kỹ thuật phù hợp với điều kiện của gia đình; sinh đẻ có kế hoạch; nâng cao trình độ văn hóa; phân công lao động hợp lý giữa các thành viên trong gia đình

Các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh sẽ kéo theo sự phát triển mở rộng cả về quy mô lẫn hướng sản xuất, góp phần cho kinh tế phát triển Đặc biệt các doanh nghiệp ở nông thôn, sự phát triển của các cơ sở này tạo thêm nhiều việc làm cho lao động

Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm: Số ngành nghề mới; Số cơ sở sản xuất tăng thêm; số lao động được giải quyết việc làm từ các cơ sở mới

1.2.3 Xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động trong nước ra nước ngoài làm việc[5] Hiện nay, xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế xã hội phổ biến của mọi địa phương trong cả nước Nhất là những vùng nông thôn, đất chật, người đông, nhân khẩu và lao động có xu hướng gia tăng, vấn đề tạo việc làm, giải quyết tình trạng dư thừa lao động càng phức tạp Vì vậy, biện

Trang 20

pháp xuất khẩu lao động là hoạt động cơ bản trong phát triển kinh tế, là giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết việc làm cho lao động Xuất khẩu lao động sẽ mang lại nguồn thu ngoại tệ, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ lao động có tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện phát triển bền vững sau này

Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm: Số cơ sở môi giới xuất khẩu lao động; Số lao động được giải quyết việc làm thông xuất khẩu lao động

1.2.4 Chính sách hỗ trợ tín dụng giải quyết việc làm

Chương trình cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm là hoạt động tín dụng chính sách có một ý nghĩa quan trọng, đã góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, giảm tỷ

lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế

Chương trình cho vay giải quyết việc làm góp phần tích cực giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội, góp phần khôi phục các ngành nghề truyền thống, hỗ trợ vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và hộ gia đình để mở rộng sản xuất, thu hút tạo việc làm cho nhiều người lao động đặc biệt là lao động bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, lao động nữ, lao động

là người tàn tật… góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động.[10]

Cho vay giải quyết việc làm góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa ở nông thôn, làm thay đổi nhận thức của những hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, lẻ chưa bắt kịp với phương thức sản xuất lớn

Cùng với sự tham gia quản lý chương trình của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, thông qua hoạt động cho vay, các tổ chức này đã có điều

Trang 21

kiện đi sâu, đi sát tới từng cơ sở gắn kết hoạt động kinh tế với nhiệm vụ chính trị của tổ chức mình, đẩy mạnh các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi Vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm đã tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp tại địa phương trong suốt quá trình quản lý cho vay vốn.

Tiêu chí đánh giá giải quyết việc làm: Nguồn vốn tín dụng giải quyết việc làm; Số lao động được vay vốn; Số lao động được giải quyết việc làm thông qua vay vốn.[10]

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Ỏ bất kỳ quốc gia nào, một số địa phương nào có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi thì ở đó sẽ có nhiều cơ hội thu hút được những

dự án và nhiều chương trình về phát triển kinh tế - xã hội, chương trình phát triển vùng , đây cũng là cơ hội để giải quyết việc làm cho lao động

Ngược lại không thể có thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chổ đối với những người lao động sống ở những nơi có điều kiện tự nhiên bất lợi Đất cùng tài nguyên sinh vật trên đất vừa là đối tượng, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt để con người tác động vào nó tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội Diện tích đất canh tác, mặt nước càng lớn thì tài nguyên nông, lâm, thuỷ sản càng nhiều, thì tiềm năng khai thác và phát triển ngành nghề càng lớn, khả năng gia càng nhiều

Tuy nhiên, diện tích đất đai, mặt nước là đại lượng hữu hạn, có xu hướng bị co hẹp do sự xâm lấn của các ngành kinh tế khác Tài nguyên nông, lâm, thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng do sự khai thác quá mức của con người Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm đang trở nên khó khăn và phức tạp khi lao động xã hội ngày một tăng lên

Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài

Trang 22

Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường tự nhiên, coi đây là mục tiêu quan trọng trong giải quyết việc làm, đồng thời có những giải pháp khắc phục tác động thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môi trường sống của mình hoặc hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu của biến động môi trường Như vậy bảo và vệ môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm còn là điều kiện để phát triển bền vững

1.3.2 Điều kiện kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Các dự báo về tóc độ tăng trưởng kinh tế đưa ra trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có mối quan hệ với hệ số co giãn việc làm Cụ thể hơn, tốc độ tăng trưởng của các ngành, nghề, lĩnh vực của nền kinh tế địa phương sẽ tác động đến tốc độ tăng trưởng việc làm

Sự phát triển kinh tế của địa phương: sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, qua

đó thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, qua

đó tạo được nhiều việc làm cho xã hội

Cơ cấu sản xuất: phản ánh mức độ khai thác nguồn lực, khả năng phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng về nguồn lực tự nhiên Do đó, cơ cấu sản xuất

và khả năng phát triển kinh tế của địa phương có vị thế đặc biệt quan trọng đối với vấn đề phát triển sản xuất, thu hút lao động trong các ngành kinh tế

- Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng bao gồm: hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, thông tin liên lạc… là các yếu tố gián tiếp góp phần tạo ra việc làm và nâng cao hiệu quả công việc Việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các cộng đồng dân cư, thúc

Trang 23

đẩy nhu cầu tiêu dùng, từ đó thu hút đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp, do

đó gián tiếp tạo môi trường phát triển việc làm trong từng cộng đồng

- Nguồn vốn và hoạt động đầu tư: Vốn là nguồn lực cơ bản thúc đẩy sự

phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương thông qua các hoạt động đầu tư Ở cấp độ vi mô, vốn vừa là phương tiện vừa là mục tiêu phát triển kinh tế Nhu cầu về vốn cho đầu tư sản xuất là nhu cầu tất yếu, nó càng quan trọng hơn đối

với việc mở rộng quy mô sản xuất

- Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội

ngũ lao động Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới và cùng với nó là xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên

môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay

Ngày nay, khoa học kỹ thuật công nghệ đã có nhiều bước nhảy vọt trong nhận thức của con người đối với thiên nhiên, cũng như vận dụng kỹ thuật mà có tác động ngược trở lại với các hoạt động của con người

Cũng phải khẳng định rằng, tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ đã làm cho cuộc sống của con người cải thiện hơn lên nhiều lần Từ chỗ chỉ sử dụng những vật liệu có sẳn của thiên nhiên, ngày nay con người đã biết tạo ra nhiều chủng loại vật liệu mới với các tính năng ưu việt mới, phục vụ đắc lực trong lĩnh vực đời sống kinh tế văn hoá xã hội.[6]

Cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang không ngừng cải thiện điều kiện làm việc lao động của con người từ lao động chân tay với việc áp dụng ngày cảng phổ biến kỹ thuật cơ giới hoá và tự động hoá, đến lao động trí

óc với việc thâm nhập ngày càng rộng rãi các máy vi tính và các phương tiện thông tin viễn thông vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội

Việc phải chủ động và nắm bắt khoa học kỹ thuật là điều tất yếu đối với hầu hết các quốc trên thế giới nếu không quốc gia mình sẽ bị tụt hậu Vậy, điều đó cũng tác động mạnh tới chất lượng nguồn nhân lực, người lao động sẽ

Trang 24

tự hoàn thiện mình và nâng cao trình độ vươn lên nếu không sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt này

Không những thế, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ tác động trực tiếp và mạnh đến công ăn việc làm cho người dân lao động Một mặt sẽ tác động đến chất lượng của người lao động, mặt khác khoa học kỹ thuật càng tiên tiến thì khả năng việc sử dụng máy móc thay thế con người là hoàn toàn có thể Trước đây, để sản xuất ra một lô sản phẩm dân dụng như: lắp ráp xe máy, sản xuất linh kiện điện tử thì cần đến rất nhiều người lao động vào làm việc, nhưng với ngày nay do máy móc có khả năng thay thế con người dẫn đến giảm bớt số lượng công nhân đi, vô hình dung đã đẩy một số người lao động không có việc làm và coi là thất nghiệp

Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ ở mỗi nước cần tính đến nhân tố con người, đó là giải quyết được việc làm, tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh thực tế ở mỗi quốc gia khác nhau mà có chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật khác nhau sao cho phù hợp

- Quan hệ kinh tế, hợp tác quốc tế

Trong công tác giải quyết việc làm cho lao động dư thừa thì quan hệ kinh tế hợp tác được đánh giá là một yếu tố quan trọng hàng đầu Quan hệ kinh tế hợp tác diễn ra giữa chính quyền địa phương với các công ty trong và ngoài nước Thông qua các công ty này, lao động có thể tìm được việc làm, thời gian gần đây xuất khẩu lao động đang là hướng giải quyết có hiệu quả cho lao động dư thừa của hầu hết các vùng nông thôn

1.3.3 Các yếu tố xã hội

- Dân số

Dân số là được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động cũng như liên quan đến công tác giải quyết việc làm Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biên động của dân số đo là phong tục tập quán của từng địa phương,

Trang 25

trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng quốc gia đối với việc khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ[5] Sự ảnh hưởng của dân

số tác động theo 2 chiều hướng khác nhau có tính tích cực cũng như mặt tiêu cực trong công tác giải quyết việc làm

Trong một quốc gia hay một địa phương nào đó, sự ổn định về dân số hay một sự gia tăng đột biến dân số đều liên quan đến nguồn nhân lực một cách trực tiếp và tiếp theo đó là việc làm

Ở những nước phát triển hiện nay, theo ước tính, số lượng người già ngày càng tăng lên trong khi số lượng lao động trẻ hay nói cách khác là bước vào độ tuổi lao động tăng nhưng không bằng mức tăng số người nhiều tuổi

Có nghĩa là, những nước này đang rơi vào tình trạng già hoá xã hội, vậy vấn

đề này có tác động tới việc làm hay không? Câu trả lời là có, sự tác động đó cũng có 2 mặt của nó

Một là, những nước phát triển sẽ không phải lo về sức ép tăng lực lượng lao động hay không phải lo về việc làm nhưng trên thực tế thì đó lại là điều ngược lại về kế thừa lực lượng lao động đủ khả năng tiếp tục sản xuất của cải cho xã hội

Hai là, vấn đề nhập khẩu lao động từ nước ngoài lại gây khó khăn trong nước về tình hình an ninh chính trị Hầu hết lượng lao động nhập khẩu vào các nước này lại phần lớn là các nước kém phát triển, chất lượng lao động không cao và chưa đủ trình độ để làm việc trong các tập đoàn lớn

Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến

sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân

số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn vượt khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế

Trang 26

Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế - xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng

Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị Do đó tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ cao lên Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, việc khống chế mức tăng dân số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Vấn đề dân số thường được gán với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm

Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội Ở nước ta, nhân tố dân số đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển xã hội, con người vừa là mục tiêu và động lực cho sự phát triển Tuy nhiên khi nguồn lực này tăng quá nhanh vừa chưa sử dụng hết lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm

Đối với các nước có tỷ lệ dân số trẻ lớn thì sức ép giải quyết việc làm càng tăng [11] Bởi lẽ, việc gia tăng thêm công ăn việc làm có ý nghĩa về mặt

an ninh trật tự an toàn xã hội, giúp cho mọi người có việc làm làm giảm bớt tệ nạn xã hội Nhưng để đạt được mục tiếu đó rất khó, phần lớn các nước có dân

số trẻ thị đều nằm trong các nước đang phát triển, kém phát triển Sức cạnh tranh hành hoá của các nước này không cao, sự mở rộng đầu tư kinh doanh

Trang 27

không lớn vậy tạo thêm công ăn việc làm sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Ngoài ra, vấn đề nghèo đói vẫn cứ luẩn quẩn với các nước này, không có việc làm thì không có thu nhập cải thiện gia đình, rơi vào tình cảnh nghèo đói, đã là nghèo đói thì nhận thức thấp và sinh đẻ tăng lên, không có khả năng tự nâng cao trình độ năng lực và cuối cùng lại không thể tìm được việc làm Cái vòng luẩn quẩn đó vẫn tồn tại ở các nước nghèo, cảnh kinh tế khó khăn của cả nền kinh tế sẽ lâm nguy Vậy, vấn đề dân số cũng là một trong những yếu tố cơ bản dẫn đến công tác giải quyết việc làm thuận lợi hay bất lợi

Tóm lại, dân số cần được đặt ra đúng mực, đổi mới chính sách dân số sao cho phù hợp với và phát huy tiềm lực vốn có của đất nước, phải phù hợp điều kiện kinh tế xã hội của từng nước cụ thể trong giai đoạn nhất định

- Giáo dục đào tạo

Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ của đất nước đó, trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào điều kiện giáo dục Giáo dục – đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực và sẳn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc, người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp

Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Các chính sách về việc làm:

Đối với nước ta, việc tạo thêm công ăn việc làm cho người dân lao động kiềm chế tỷ lệ thất nghiệp tới mức thấp nhất đó là mục tiêu cơ bản của các

Trang 28

chính sách việc làm Vậy chính sách việc làm của Nhà nước cần có sự tác động mạnh mẽ tới các thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước nhằm thu hút lực lượng lao động vào làm việc

Ngoài ra, chính sách việc làm của nhà nước cũng chú ý tới những đối tượng cần được quan tâm đặc biệt đó là những người bị tàn tật có nhu cầu làm những công việc phù hợp với thể chất, những người hồi hương từ nước ngoài trở về quê hương hoặc những người hết hạn quản lý tại các nhà giam nay muốn trở về địa phương để làm lại cuộc sống Những người này chính sách việc làm sẽ tác động và khuyến khích việc mở rộng cũng như phát triển việc làm cho đối tượng cần quan tâm

Như vậy, chính sách việc làm sẽ được hiện thông qua các hình thức hỗ trợ thông qua các chương trình, các dự án vay vốn hỗ trợ việc làm, kế hoạch xây dựng giải quyết việc làm tại một địa phương nào đó Đặc biệt, đối với nước ta, Nhà nước rất quan tâm đến những người nghèo Để xóa nghèo cũng như đi kèm với đó là gia tăng thu nhập cải thiện mức sống gia đình thì vấn đề việc làm, liên quan đến việc làm như hướng dẫn làm ăn, kinh nghiệm, cấp phân bón, hỗ trợ cây giống Đó là những chương trình phát triển lao động việc làm của Nhà nước ta [9] Mặt khác, việc ban hành chính sách việc làm còn tác động tới chất lượng lao động thông qua định hướng chiến lược lâu dài cho trình độ tay nghề người lao động Chính sách việc làm sẽ phải thực hiện sát theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đặt mục tiêu từ đó có những giải pháp

cụ thể phù hợp Chính sách việc làm theo hình hức hỗ trợ: Đó là những chính sách về vốn, chính sách về đất đai, chính sách về thuế

Chính sách việc làm theo ngành, lĩnh vực: Đó là chính sách tác động tới ngành nông lâm ngư nghiệp, ngành công nghiệp xây dựng cơ bản, ngành thương mại - dịch vụ Chính sách việc làm tác động tới đối tượng: người tàn tật, thương bệnh binh, người nghèo, bộ đội xuất ngũ, đối tượng tệ nạn xã hội

Trang 29

1.4 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1 Giải quyết việc làm ở huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây

Đối với ngành nông nghiệp - ngư nghiệp

Huyện Đan phượng là một huyện của tỉnh Hà Tây là một vùng quê đồng bằng bắc bộ, đã từ lâu Huyện Đan phượng đã nổi tiếng là cánh chim đầu đàn của ngành nông nghiệp Trong những năm qua, tốc độ tặng trưởng ngành nông nghiệp đạt mức tăng trưởng từ 5-7 %/năm Cơ cấu ngành nông nghiệp thực hiện công tác chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá hiệu quả, bền vững theo xu hướng giảm diện tích đất lúa chuyển sang phát triển trang trại, vườn ruộng, vườn trại, dành quỹ đất để sản xuất phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hiện nay, Huyện Đan Phượng là một trong những địa phương chính cung cấp hàng năm hàng chục nghìn tấn rau, đậu, các loại phục vụ cho thị trường Hà Nội Đặc biệt để thực hiện chuyển mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn và tạo thêm nhiều công

ăn việc làm cho người lao động, Huyện Đan phượng đã quy hoạch những vùng sản xuất cây, con theo mô hình tập trung như: vùng sản xuất lúa chất lượng cao, ngô ngọt, vùng trồng cây ăn quả như cam bưởi, đu đủ Nhờ vậy, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha canh tác đã nâng lên 32,5 triệu đồng/ha, tăng khá cao

so với mức bình quân của tỉnh Hà tây (28 triệu đồng/ha) đồng thời cũng đã giải quyết việc làm cho trên 500 lao động làm việc

Cùng với sự chuyển đổi tích cực trong trồng trọt, lĩnh vực chăn nuôi tiếp tục toàn diện về cả quy mô và chất lượng sản phẩm Huyện Đan phượng

có tiềm năng rất lớn với diện tích bãi đất và đồng cỏ rộng, với định hướng khai thác về lợi thế trên, huyện đã chủ trương đẩy mạnh phát triển đàn bò sữa,

bò giống, bò thịt và chăn nuôi lơn ngoại, lợn nạc, chăn thả cá Đến nay trên toàn huyện tổng đàn trâu bò có khoảng 4.142 con, đàn lợn có 85.472 con, đàn

Trang 30

gia cầm có 473.400 con, đàn bò sữa 498 con, sản lượng cá đạt 1.120 tấn cá, thu hút 850 lao động vào làm việc đáng kể Điều đó đã cho thấy bộ mặt tiến

bộ xã hội, cuộc sống của người dân được cải thiện

Điểm nổi bật của Huyện Đan phượng là chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung Mo hình chăn nuôi này ngày càng phát triển và được nhân rộng toàn huyện Với mục tiêu đâu tư phát triển chăn nuôi theo chiều sau và giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động, huyện đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, chính sách hỗ trợ giống, giải quyết mặt bằng khuyến khích phát triển chăn theo mô hình trang trại tập trung Riêng về nuôi trồng thuỷ sản, tận dụng diện tích mặt nước các ao, đàm, hồ, huyện đã tiến hành nuôi thả khoảng 400 cá lồng trên các mặt sông, mỗi năm cung cấp cho thị trường 600-

800 tấn cá thịt

Để tiếp tục thực hiện trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn cũng như đưa nền kinh tế nông nghiệp phát triển bền vững, Huyện Đan phượng sẽ thực hiện tiến tới chăn nuôi tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá Riêng lĩnh vực trồng trọt, huyện phấn đấu chuyển đổi 20% diện tích trồng cây lương thực sang làm kinh tế trang trại nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác và xu hướng chuyển dịch lực lượng lao động thuần nông sang phục vụ sản xuất có tính chuyên môn cao có kỹ thuật Vì vậy, Huyện đã xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện vùng sản xuất đạt giá trị sản lượng 50-100 triệu đồng/ha/năm trở lên

Tóm lại, việc đảm bảo gia tăng thu nhập nói chung và giải quyết việc làm nhàn rỗi trong nông nghiệp nói riêng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, Huyện Đan phượng đã kịp thời xây dựng quy hoạch chuyển đổi

cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, hiệu quả và bền vững trên cơ sở khai thác tiềm năng lợi thế của địa phương

Trang 31

Đối với ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Hiện nay, ngành công nghiệp Huyện Đan phượng chiếm tỷ trọng 29,2%/GDP, tốc độ tăng trưởng khá nhanh, tập trung chủ yếu vào các ngành chế biến lâm sản, thực phẩm đồ uống, dệt may và sản xuất vật liệu xây dựng Năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 147 tỷ đồng, tăng 30% so với năm

2005 Trong đó, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh có những đóng góp đáng kể với giá trị 93 tỷ đồng, thu hút hơn 2.000 lao động Vùng với đó, các dịch vụ cũng phát triển, hệ thống chợ, bến bãi được đầu tư xây dựng phục vụ cho giao lưu thương mại Tổng doanh thu của ngành dịch vụ thương mại đạt

170 tỷ đồng tăng 13,3% so với năm 2005

Để đạt được thành quả đó, Huyện Đan phượng đã tích cực xây dựng triển khai các cụm, điểm công nghiệp Hiện nay huyện đã xây dựng xong và hoàn thành đưa vào sử dụng khu công nghiệp Tân lập, cụm công nghiệp thị trấn phùng với diện tích 57 ha, mỗi năm thu hút hàng nghìn lao động Đồng thời trong thời gian tới, huyện phấn đấu mỗi xã có 1 điểm công nghiệp để có thể giải quyết việc làm tại chỗ của địa phương, tiến hành củng cố và phát triển các làng nghề theo hướng đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô và đổi mới kỹ thuật công nghệ Huyện chủ trương quy hoạch và xây dựng mới các chợ nông thôn, các điểm dịch vụ, trung tâm thương mại nhằm đáp ứng lưu thông tiêu dùng hàng hoá của nhân dân tại địa phương

1.4.2 Giải quyết việc làm thông qua mô hình kinh tế trang trại hiệu

quả ở thị xã Sơn Tây - tỉnh Hà Tây

Trong những năm qua, Thị xã Sơn Tây đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hoá với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cáo Cho đến nay, toàn thị xã đã có 74 trang trại ở các xã, phường, tăng nhiều hơn gấp 3 lần so với năm 2000 Các trang trại tăng nhanh, có quy

mô ngày một lớn đã góp phần quan trọng thúc đẩy nông nghiệp của thị xã

Trang 32

phát triển đa dạng và hiệu quả

Theo số liệu thống kê, trong số 74 trang trại bao gồm: 49 trang trại chăn nuôi gà, lợn quy mô lớn; 8 trang trại thực hiện theo mô hình vườn - ao - chuồng (VAC); 7 trang trại nuôi trồng thuỷ sản; 7 trang trại trồng các loại hoa

và cây cảnh… Tổng mức đầu tư của các trang trại lên tới trên 15 tỷ đồng, doanh thu đạt trên 30 tỷ đồng, thu hút trên 700 lao động tham gia thường xuyên vào làm tại các trang trại

Để có được những kết quả trên, Thị xã Sơn Tây đã thực hiện lập quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Trên cơ sở đó, thị xã Sơn Tây cũng thực hiện gắn chuyển dịch

cơ cấu lao động, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho nông dân, trong

đó đã chú trọng đến triển khai khuyến khích kinh tế trang trại phát triển theo quy hoạch thành các vùng sản xuất tập trung, xa các khu dân cư tránh ảnh hưởng đến môi trường đời sống nhân dân

Đồng thời, với tăng cường công tác chỉ đạo đã phối hợp với cơ quan khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y của tỉnh tiến hành mở lớp hướng dẫn ứng dụng KHKT vào phát triển trang trại, triển khai quy trình chính thức và ổn định, thông thoáng về cơ chế trong các thủ tục hành chính trong chuyển đổi đất để phát triển kinh tế trang trại

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận văn đã khái quát được những cơ sở lý luận việc làm và giải quyết việc làm cho lao động Tập trung chính của chương là nội dung giải quyết việc làm cho lao động đó là hướng nghiệp, đạo tạo nghề, giới thiệu việc làm; phát triển sản xuất đề giải quyết việc làm cho lao động; xuất khẩu lao động và chính sách hỗ trợ tín dụng giải quyết việc làm Bên cạnh đó

đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động; các yếu tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và các yếu tố xã hội

Từ sự phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động, giải quyết việc làm ở một số địa phương trong nước thời gian qua và vận dụng cho giải quyết việc làm, ở nước ta nói chung và ở Pleiku nói riêng Tuỳ vào điều kiện tự nhiên, văn hoá, kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, mà có những giải pháp giải quyết việc làm khác nhau Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cần tham khảo và vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của các địa phương, nhất là những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng để giải quyết tốt việc làm cho người lao động

Trang 34

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ PLEIKUẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

2.1.1 Những đặc điểm về tự nhiên

* Vị trí địa lý

Thành phố Pleiku là đô thị phía bắc Tây Nguyên, nằm trên trục giao thông giữa quốc lộ 14, quốc lộ 19 nối thông suốt cả nước, gần ngã ba Đông Dương, nằm trên cung đường Hồ Chí Minh và trong vùng tam giác tăng trưởng các tỉnh lân cận, cũng như các quốc gia láng giềng như Campuchia, Lào Tổng diện tích tự nhiên là 26.166,36 ha, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của tỉnh Gia Lai Pleiku nằm trên độ cao trung bình 300m -

500 m; ngã ba quốc lộ 14 và quốc lộ 19 có độ cao 785 m

* Phân chia hành chính

Thành phố có 14 phường (trong đó phường Thắng Lợi, mới được thành lập vào cuối năm 2006, được tách ra từ một phần địa giới hành chính của xã Chư Á; phường Phù Đổng, phường Chi Lăng, phường Đống Đa, được thành lập vào đầu năm 2008, được tách ra từ một phần địa giới hành chính của phường Hội Phú, phường Thống Nhất, xã Ia Kênh, xã ChưHDrông) và 9 xã Diện tích đất nội thành là 7.346,11 ha với dân số khoảng 214.718 người (14 phường) Hệ thống giao thông, lưới điện quốc gia, thông tin liên lạc đã thông suốt từ thành phố đến 23 xã, phường

Các phường là Diên Hồng, Ia Kring, Hội Thương, Hoa Lư, Tây Sơn, Thống Nhất, Hội Phú, Yên Đỗ, Yên Thế, Trà Bá, Thắng Lợi, Chi Lăng, Phù

Trang 35

Đổng, Đống Đa và các xã là Biển Hồ, ChưHDrông, An Phú, Trà Đa, Gào, Diên Phú, Tân Sơn, Ia Kênh, Chư Á

2.1.2 Điều kiện về kinh tế

a Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 15%, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ[3]; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 38% (năm 2005) lên

41,5% (năm 2010), thương mại - dịch vụ đạt 53,7%, nông nghiệp đạt 4,8%

Trong từng ngành kinh tế kỹ thuật đã từng bước đổi mới công nghệ, cơ cấu sản xuất theo hướng gắn sản xuất với thị trường Các ngành dịch vụ có bước chuyển biến tích cực đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng đa dạng về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Cụ thể trên một số ngành, lĩnh vực như sau:

Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 20,1%, chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa được nâng lên, một số ngành công nghiệp có lợi thế phát triển khá tốt như: chế biến nông - lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng,

cơ khí; đã thu hút khoảng 16.000 lao động Khu công nghiệp Trà Đa phát triển và đang tiếp tục mở rộng, Cụm công nghiệp Diên Phú đã khởi công xây dựng hạ tầng, một số nhà đầu tư đang xúc tiến xây dựng các cơ sở sản xuất Trên địa bàn thành phố đã hình thành một số doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 36

13.000 cơ sở (tăng 46,9%), thu hút khoảng 39.000 lao động Chất lượng các loại hình thương mại - dịch vụ được nâng lên và phân bổ tương đối hợp lý trên địa bàn Hàng hóa phong phú, đa dạng, cơ sở hạ tầng thương mại được củng cố, mở rộng và ngày càng hiện đại đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Dịch vụ vận tải phát triển khá nhanh, đặc biệt là dịch vụ taxi, xe buýt,

xe khách chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân Các ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn,… phát triển nhanh theo hướng hiện đại Hoạt động xuất nhập khẩu chuyển biến tích cực, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như nông sản, đồ

gỗ, cao su, đá,… tăng khá

Tài chính - ngân hàng

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 22,1% /năm (năm 2005 đạt 462 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt trên 1.200 tỷ đồng), tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách trung bình gần 20% Riêng phần thành phố thu tăng bình quân hàng năm là 27% Tổng chi ngân sách thành phố đảm bảo các nhu cầu chi thường xuyên, có tích lũy để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển mạnh cả về mạng lưới các chi nhánh ngân hàng, nguồn vốn huy động, doanh số cho vay và dư nợ cho vay, góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, cho vay để phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống và cung cấp nhiều tiện ích thanh toán hiện đại (hiện có 16 chi nhánh ngân hàng thương mại và 2 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn với tổng nguồn vốn huy động năm 2010 là 6.860

tỷ đồng, tăng 2,8 lần so với 2006; doanh số cho vay năm 2010 là 19.980 tỷ đồng, tăng 3,2 lần so với 2006; tổng dư nợ cho vay năm 2010 là 14.600 tỷ

Trang 37

đồng, tăng 2,6 lần so với 2006)

Sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn

Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành

Trung ương khóa X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, thành phố đã

xây dựng chương trình hành động, xác định nhiệm vụ, giải pháp cho từng giai đoạn Bước đầu triển khai chương trình đạt được những kết quả nhất định

Giá trị sản xuất tăng bình quân 4,95%/năm, cơ cấu cây trồng, vật nuôi từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường; ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao chất lượng

và giá trị hàng hóa

Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, diện tích cây công nghiệp dài ngày ổn định, diện tích lúa nước thường xuyên bị khô hạn đã chuyển sang những loại cây trồng khác thích hợp, sản lượng lương thực bình quân trên 16.500 tấn; tỷ trọng chăn nuôi ngày càng tăng trong tổng giá trị sản xuất của ngành (năm 2005 là 32%, năm 2010 là 42%) đã hình thành nhiều trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao như gà siêu trứng, siêu thịt, heo hướng nạc,

Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, điện chiếu sáng, điện thoại, trạm y tế, trường học, hàng năm được quan tâm đầu tư, tất cả các

xã đều có đường nhựa đến trung tâm xã, kiên cố hóa toàn bộ trường học các cấp; các trạm y tế được xây dựng mới và sửa chữa nâng cấp Gần 100% làng đồng bào dân tộc thiểu số có đường nhựa đến trung tâm làng, xấp xỉ 100% số

hộ được sử dụng điện lưới quốc gia,

Những kết quả trên đã làm cho bộ mặt nông thôn của thành phố ngày càng đổi mới, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Trang 38

Thu hút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội được đẩy mạnh [2]

Vốn đầu tư toàn xã hội liên tục tăng nhanh qua các năm, 5 năm đã huy động được 7.760 tỷ đồng, tăng bình quân 30%/năm, cơ cấu đầu tư hợp lý giữa các lĩnh vực: hạ tầng kỹ thuật đô thị, phúc lợi xã hội, công nghiệp, dịch vụ Tỷ trọng vốn đầu tư của nhân dân ngày càng tăng (năm 2005 là 40%, năm 2010

là 56%) Thu hút đầu tư trên địa bàn đạt khá với 28 dự án có tổng vốn trên 10.000 tỷ đồng đã góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, làm bộ mặt đô thị thành phố có nhiều thay đổi

Các thành phần kinh tế phát triển nhanh trên địa bàn

Cơ cấu các thành phần kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực, các doanh nghiệp Nhà nước hầu hết đã chuyển sang công ty cổ phần theo quy định, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đăng ký thành lập mới tăng nhanh, đến nay toàn thành phố có 1.522 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký kinh doanh 29.619 tỷ đồng (so với năm 2005 tăng thêm 950 doanh nghiệp).[1]

Kinh tế hợp tác xã được quan tâm củng cố và có những chuyển biến nhất định Một số hợp tác xã chuyển đổi hình thức sản xuất kinh doanh theo Luật Hợp tác xã, tổ chức các hoạt động dịch vụ có hiệu quả như các hợp tác

xã kinh doanh trên lĩnh vực vận tải, góp phần giải quyết việc làm, thực hiện tốt công tác xã hội, đóng góp cho ngân sách Nhà nước

b Cơ sở hạ tầng

Công tác quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị theo quy hoạch được quan tâm, quy hoạch chung xây dựng thành phố đến năm 2020 đã được phê duyệt, hiện đang quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 ở 14 phường và 4 xã Công tác quản lý xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực, việc kiểm tra được duy trì thường xuyên, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, ý thức chấp hành pháp luật về xây dựng của các tổ chức và cá nhân ngày càng được nâng lên

Trang 39

Nhiều khu quy hoạch đô thị mới, khu dân cư mới đã được triển khai xây dựng, đáp ứng nhu cầu nhà ở đô thị cho nhân dân

Xây dựng kết cấu hạ tầng và chỉnh trang đô thị được đặc biệt quan tâm Thành phố tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng phúc lợi xã hội như trường học, trạm y tế, công sở và chỉnh trang đô thị như điện chiếu sáng, nâng cấp vỉa hè, trồng cây xanh đường phố, đặc biệt là những công trình trọng điểm về giao thông, đô thị do Trung ương và Tỉnh đầu tư như Quảng trường 17/3, Quốc lộ 14, 19 đi qua thành phố, cải tạo nâng cấp sân bay, mở đường bay thẳng Pleiku - Hà Nội,… làm cho bộ mặt thành phố có những thay đổi rõ rệt

Công tác xã hội hoá trong đầu tư chỉnh trang đô thị đạt được kết quả khá, nhất là lĩnh vực nhựa hoá, bê tông hoá đường hẻm, đường giao thông nông thôn, đã xây dựng được 151 km đường; cải tạo gần 50.000 m2 vỉa hè theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, …

Công tác vệ sinh môi trường được duy trì thường xuyên, quy mô thu dọn rác ngày càng được mở rộng; đã quy hoạch và xây dựng bãi xử lý rác thải

hợp vệ sinh tại khu vực xã Gào Triển khai thực hiện đề án “Thiết lập trật tự

kỷ cương văn minh đô thị” có hiệu quả, hiện nay đang tiếp tục tập trung triển

khai đề án “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị”

Công tác quản lý tài nguyên - môi trường ngày càng tốt hơn, tiến độ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân đạt trên 90% diện tích Công tác quản lý môi trường có tiến bộ, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm

2.1.3 Điều kiện xã hội

a Đặc điểm dân số

Dân số trung bình 214.710 người (31/12/2010), năm 1971 dân số thị xã

là 34.867 người, bao gồm 24 dân tộc đang sinh sống; người Kinh chiếm đa số (87,9%), còn lại là các dân tộc khác, chủ yếu là các dân tộc Gia Rai và Ba Na

Trang 40

(12,08%) Số người trong độ tuổi lao động khoảng 115.060 người chiếm 56,6% dân số.[1]

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhanh, đến năm 2008 đạt 1,12% Kết quả trên đã góp phần tích cực cho công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân

b Văn hóa, y tế và giáo dục

Sự nghiệp giáo dục:

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo thành phố có những chuyển biến tích cực và đạt kết quả tốt Quy mô các ngành học, bậc học được mở rộng Công tác xã hội hoá giáo dục chuyển biến tích cực và đi dần vào chiều sâu Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của các trường được đầu tư và từng bước hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu giảng dạy và học tập; số lượng trường chuẩn quốc gia được củng cố và tăng lên.[1]

Thực hiện chủ trương “kiên cố hoá, tầng hoá” trường, lớp, đã đầu

tư xây dựng trên 400 phòng học và nhà hiệu bộ với kinh phí trên 100 tỷ đồng; ngoài ra nhân dân, các cơ quan, doanh nghiệp đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng phát triển trường, lớp dân lập, tư thục Chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh không ngừng được nâng lên, hiện có 98,9% giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và 100% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn; tỷ lệ học sinh được công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm đạt trên 97%; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt bình quân 85%; tỷ lệ trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hàng năm trên 80% Thành phố hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2006, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi năm 2009 Công tác khuyến học, khuyến tài được các ngành, các cấp quan tâm và có những chuyển biến tích cực; đến nay 100% xã, phường đã thành lập trung tâm học tập cộng đồng đi vào hoạt động, góp phần đáp ứng nhu

Ngày đăng: 08/05/2018, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w