CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOAIĐề tài: Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc và thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của HQ tại VN I.. Lý thuyết 1.1 Khái niệm về đầu tư nước ngo
Trang 1CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOAI
Đề tài: Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc và thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của HQ tại VN
I Lý thuyết
1.1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựatrên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do cácpháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủđầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí củamình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế Đến nay khi FDI đã trở thành
xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợithế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên
1.2 Đặc điểm
- Đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình đưa ra quyết định đầu
tư, quyết định sản xuất kinh doanh và phải tự chịu trách nhiêm về kết quả kinhdoanh Hình thức này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có nhữngrang buộc chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
- Chủ đầu tư nước ngoài tự mình điều hành một hoặc toàn bộ công việc của dự
án đầu tư
- Nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận được với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến,học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài
Trang 2- Nguồn vốn đàu tư không chỉ là vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể được bổsung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được của chủ đầu tư nước ngoài.
1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Hình thức doanh nghiệp liên doanh đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài, hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là 1 pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhânđộc lập Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanh thì dù 1bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đây là doanh nghiệp thuộc
quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn
bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý,điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Doanh nghiệpnày được thành lập dưới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhânViệt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được kýkết giữa hai hay nhiều bên(gọi là các bên hợp tác kinh doanh)để tiến hành mộthoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định tráchnhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cầnthành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới Hình thức này không làmhình thành một công ty hay một xí nghiệp mới Mỗi bên vẫn hoạt động với tư
Trang 3cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trướcnước nhà.
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trìnhxây dựng còn có hình thức:
Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) là một phương thức
đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tưnước ngoài(có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài)với cơ quan nhà nước có thẩmquyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời giannhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà
Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh là phương thức đầu tư dựa trên
văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhàđầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng Sau khixây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủnhà Nước chủ nhà có thể dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đótrong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT)là một phương thức đầu tư nước ngoài
trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủnhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khixây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủnhà Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện
dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Trang 4II Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc
2.1 Tổng quan nền kinh tế và chính sách đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc 2.1.1 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc
Trang 520 vẫn là một đất nước chậm phát triển Nhưng bắt đầu từ sau những năm 1960, kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh, đến giữa thập niên 80 đã trở thành nước công nghiệp phát triển mới ( NIC) với một nền kinh tế hỗn hợp: kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.
- Ngày nay, Hàn Quốc đã trở thành một đất nước giàu có, là nền kinh tế đứng thứ 8 thế giới Sau chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giàu nhất Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trong lịch sử thế giới hiện đại
- Trong những năm 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc tập trung phát triển
ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô và đã thu được những thành công đángkinh ngạc: Hiện Hàn Quốc có Posco là công ty sản xuất thép lớn thứ 3 trên thế giới và ngành sản xuất ô tô cũng phát triển nhanh chóng điển hình là Hyundai
Trang 6Kia Automotive Group góp phần đưa Hàn Quốc trỏ thành cường quốc đứng thứ
5 trên thế giới về ngành này
- Năm 1996, Hàn Quốc trở thành thành viên của OECD, một mốc quan trọng trong lịch sử phát trỉên kinh tế của họ Ngành dịch vụ phát trỉên nhanh, chiếm khoảng 70% GDP Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống của người dân được nânglên nhanh chóng thậm chí còn cao hơn các quốc gia phát triển khác ở châu Âu
và Bắc Mỹ
- Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do sự đầu tư và xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia Ngoài ra đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HànQuốc đầu năm 2008 tăng vọt (tăng 69,8% trong quý I so với cùng kỳ năm ngoái)
do có nhiều dự án đầu tư quy mô lớn Các thương hiệu đầu tư vào Hàn Quốctăng 58% hàng năm lên 1.73 tỷ USD FDI của Hàn Quốc chủ yếu từ Mỹ, liênminh Châu Âu và Nhật Bản
- Có thể thấy rằng những bước phát triển của Hàn Quốc hoàn toàn xứng đángvới cái tên “Kỳ tích sông Hàn”: từ một đất bước nghèo đói, chậm phát triển, lạinghèo tài nguyên thiên nhiên, cộng với những hậu quả của cuộc chiến tranh dântộc để lại họ đã vươn lên trở thành một con rồng của Châu Á chỉ sau có hơn 20năm phát triển Đây là thành công mà nhiều nước mong đợi và luôn tìm đượccho mình những bài học kinh nghiệm trong công cuộc làm giàu cho đất nướcmình
Lý giải cho sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc có thể kể đến một số
Trang 7- Nhà nước đã có những thay đổi ,quyết định đúng đắn mang tính đột phá
Trong những năm sáu mươi nhà nước đã tạo ra một bước ngoặt có ý nghĩaquyết định đối với sự phát triển công nghiệp của Hàn Quốc và từ đó tạo ra sựphát triển mang tính bùng nổ Chính phủ đã nhận ra rằng chiến lược thay thếnhập khẩu (tức là tự cung cấp cho thị trường nội địa bằng các sản phẩm do trongnước sản xuất để tránh phải nhập khẩu) không phát huy được tác dụng Mặc dùnhiều nước ở Nam Mỹ thực hiện được chính sách thay thế nhập khẩu này nhưng
ở Hàn Quốc thị trường quá nhỏ bé, vả lại nước này lại rất nghèo tài nguyên Sau
đó giới hoạch định chính sách đã quyết định đảo ngược, nghĩa là sản xuất đểphục vụ xuất khẩu Kết quả là: người Hàn Quốc thu được ngoại tệ và lại càng cókhả năng nhập khẩu nhiều hơn, chất lượng đời sống được cải thiện Trongnhững năm bẩy mươi diễn ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định thứ hai – chínhphủ quyết định đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất
- Sự đối đầu triền miên với Bắc Triều Tiên đã kích thích Hàn Quốc đi lên.
Có thể nói đây cũng là một yếu tố có ý nghĩa quyết định cho sự vươn lên củaHàn Quốc Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, toàn bộ nền công nghiệp của TriềuTiên tập trung ở miền Bắc Miền nam phải đối đầu với một người láng giềng vũtrang mạnh mẽ nên phải tìm mọi cách để tồn tại Do bị đe dọa triền miên nênngười dân Hàn Quốc nung nấu ý chí vươn lên, và chính sự xung đột này buộc họphải quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả và năng suất
- Sự phát triển mạnh mẽ của các chaebols
Ai muốn tìm hiểu bí mật của sự thần kỳ kinh tế Hàn Quốc không thể bỏ qua Chaebols Chaebols là một sự tập hợp khổng lồ các doanh nghiệp
(Firmenkonglomerate) đóng vai trò làm cốt lõi của nền kinh tế nước này Khái
Trang 8niệm này hình thành từ hai từ trong tiếng Triều Tiên đó là chae và pol, cả hai từ đều khó dịch – chae có nghĩa là sở hữu, tài sản hoặc sự giầu có; pol có nghĩa làgia đình, họ tộc, nhưng cũng có nghĩa là nhóm lợi ích, phe nhóm.
Chaebols là những gã khổng lồ, mà người khổng lồ lớn nhất là Samsung Đốivới phương Tây thì Samsung chỉ chuyên sản xuất sản phẩm điện tử nhưng thực
ra ngành xây dựng mới là chủ lực hàng đầu của tập đoàn này Samsung chính lànhà thầu xây dựng tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa ở Dubai cao 828 mét.Samsung cũng đóng tàu biển, có ngành hóa chất khá mạnh, và kinh doanh cảmảng bảo hiểm Kế đó là các tập đoàn đối thủ ngang ngửa như Hyundai và LG.Bên cạnh các thái cực như Samsung và Hyundai còn có một loạt Chaebols đanxen, liên kết với nhau và có sức mạnh khác nhau Khoảng 20 Chaebols gộp lạitạo nên 80% GDP của HQ
2.1.2 Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc
- Chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc có sự kết hợp giữa tích cực thu hútFDI từ nước ngoài và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài:
Nhìn lại chặng đường đầu tư ra nước ngoài trước kia của Hàn Quốc , trước 1975vốn đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc chưa có tầm quan trọng, chỉ khoảng 6triệu USD trong khi điều luật về đầu tư ra nước ngoài đã được ban hành từ tháng
12 năm 1968 Tuy nhiên đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc bước sang giaiđoạn mới từ 1975 khi phần lớn các cơ chế liên quan đến đầu tư ra nước ngoài doThống đốc Ngân hàng Hàn Quốc đảm nhận thay vì xin phê duyệt của chính phủnhư trước đây Từ 1980, chính phủ nới lỏng, bãi bỏ các đạo luật, điều lệ gây hạnchế đầu tư ra nước ngoài trước đây khiến đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốctăng nhanh
Trang 9Các biện pháp thực hiện Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc:
- Nhà nước hỗ trợ vốn cho các nhà Đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài
- Nhà nước tăng cường thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư cùng các hoạt động xúc tiến thương mại: Mở rộng mạng lưới của các tổ chức xúc tiến
- Thành lập các Ủy ban hợp tác kinh tế song phương, tổ chức các diễn đàn gặpmặt giữa ủy ban, hiệp hội, các nhà đầu tư, nhằm đánh giá và nắm bắt các khókhăn của các nhà đầu tư ở thị trường nước ngoài
- Chính phủ Hàn Quốc nới lỏng các quy định về đầu tư ra nước ngoài cho phépgia tăng mức đầu tư vào bất động sản
- Chính phủ đã ủy quyền phê chuẩn cấp giấy phép đầu tư cho Ngân hàng Trung Ương đối với những dự án quy mô vốn từ 100.000 USD trở xuống
- Nới lỏng trong việc thành lập các chi nhánh nước ngoài của các doanh nghiệptài chính trong nước
2.2 Tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc bắt đầu cất cánh vào cuối năm
1980 khi Hàn Quốc giảm bớt các hạn chế về FDI Đến những năm 1990, cácchaebol mà đã có kinh nghiệm phát triển nhanh chóng trong suốt những năm
1980 đã tìm cách mở rộng đầu tư trên toàn cầu để tiếp cận thị trường nướcngoài và công nghệ tiên tiến trong sản xuất của họ Cuộc khủng hoảng tài chínhchâu Á năm 1997 khiến FDI của Hàn Quốc có xu hướng tăng chậm lại trong đầunhững năm 2000
Trang 10Theo số liệu thống kê chính thức, tính đến hết tháng 3 năm 2005, đầu tư củanước này ra nước ngoài đạt gần 40,3 tỷ USD, tăng 10 tỷ USD so với con số 30
tỷ USD vào thời điểm cuối năm 2002 Tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của cáccông ty Hàn Quốc năm 2007 đạt 27,64 tỷ USD, tăng 49,2% so với năm 2006.Trong 8 tháng đầu năm 2008, đầu tư của Hàn Quốc ra nước ngoài đã đạt 9,68 tỷUSD Dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Hàn Quốc đã tăng 40%
từ con số 6,88 tỷ USD cùng kỳ năm 2007 Trong 9 tháng đầu năm 2010 đã đạt24,79 tỷ USD, tăng 84,7% so với cùng kỳ năm 2009 Luồng đạt kỷ lục 25 tỷUSD trong năm 2011
Bảng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc
Nguồn: Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc
Trang 11Nguồn: Bộ Tài chính và Kế hoạch Hàn Quốc (www.mosf.go.kr)
- Xét về địa chỉ đầu tư, FDI của Hàn Quốc cũng có sự thay đổi thay đổi theothời gian Như trước đây, FDI của Hàn Quốc hướng tới với các nước tiên tiến,đặc biệt là Mỹ Kể từ giữa những năm 1990, các nước đang phát triển nhưIndonesia, Việt Nam, và Trung Quốc đã bắt đầu thu hút một phần lớn FDI củaHàn Quốc khu vực Châu Á thu hút tổng cộng 17,2 tỷ USD vốn đầu tư của HànQuốc, tiếp theo là Bắc Mỹ (với 11 tỷ USD), châu Âu (6,7 tỷ USD)…Hàn Quốchướng đến đầu tư trực tiếp vào Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU và một số nước Châu
Á Thái Bình Dương Sự gia tăng FDI của Hàn Quốc vào Trung Quốc đặc biệtđáng chú ý Năm 1988, Hàn Quốc đã đầu tư một khoản tiền khoảng $ 10.000vào Trung Quốc Kể từ đó, FDI Hàn Quốc vào Trung Quốc đã phát triển nhanhchóng, và nó vượt qua cả Hoa Kỳ vào năm 2002
Trang 12Asia
Noth America Europe
0 10 20
201 3
Bảng: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc vào Mỹ, Trung Quốc và thế giới.
Nguồn: Bộ Tài chính và Kế hoạch Hàn Quốc
(www.mosf.go.kr)
Trang 13Nguồn: Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc
Hàn Quốc coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á,
là điểm đến bổ sung cho thị trường Trung Quốc đã bị bão hòa (Trung Quốc+1)
do Việt Nam có sự ổn định về chính trị - xã hội, chi phí sản xuất còn tương đốithấp, lực lượng lao động và tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đã thiết lập đượcmạng lưới cung ứng ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp, tận dụngđược thị trường tự do ASEAN (AFTA) và cơ chế Hiệp định FTA Hàn Quốc -ASEAN
- Xét về lĩnh vực đầu tư,khu vực sản xuất thu hút nhiều nhất vốn đầu tư của Hàn Quốc (với 21,33 tỷ USD), tiếp theo lĩnh vực bán buôn, bán lẻ (với 8,94 tỷ USD),dịch vụ (với 3,82 tỷ USD), khai khoáng (2,18 tỷ USD)…
Trang 14Nguồn: Bộ Tài chính và Kế hoạch Hàn Quốc (www.mosf.go.kr)
- Vốn đầu tư của các tập đoàn lớn chiếm tới hơn 2/3 tổng vốn đầu tư ra nướcngoài của Hàn Quốc (27,65 tỷ USD), tiếp theo là vốn của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (gần 11 tỷ USD), còn lại là của các nhà đầu tư tư nhân
Trang 1527.65 11
2.83
Tập đoàn lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tư nhân
- Báo cáo của Bộ tài chính Hàn Quốc công bố ngày 13/2/2010 cho biết: ViệtNam đứng thứ 3 trong số các nước và vùng lãnh thổ thu hút đầu tư lớn nhất củaHàn Quốc với tỷ lệ 9,2%, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc (23,5%), Mỹ(15,7%)
Nguồn: Bộ Tài chính và Kế hoạch Hàn Quốc (www.mosf.go.kr)
Trang 16III. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của HQ tại VN
Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam bắt đầu từ trước khi hainước thiết lập quan hệ ngoại giao, tuy nhiên ban đầu quy mô dự án cũng nhưkhối lượng đầu tư rất nhỏ bé (1) Hàn Quốc chỉ chính thức đầu tư vào Việt Nam
từ năm 1992 Từ đó đến nay, FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam đã tăng lênnhanh chóng (200 lần, từ mức hơn 100 triệu USD năm 1992 lên 22,9 tỉ USDnăm 2010) Tính đến hết tháng 7-2011, với tổng số dự án còn hiệu lực là 2.605
dự án và tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 23 tỉ USD, Hàn Quốc đứng thứ nhất cả về
số dự án lẫn vốn đăng ký trong tổng số 100 nền kinh tế có FDI tại Việt Nam Tỷtrọng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam trong suốt giai đoạn từ khi thiết lập quan
hệ ngoại giao tới nay chiếm gần 7% trong tổng số FDI vào Việt Nam và chiếm