1.2 Mục tiêu của đề tài Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích: Nghiên cứu xác định thành phần nước thải chứa máu cá và đề xuất phương pháp thu hồi máu cá. Nghiên cứu xác định các điều kiện công nghệ (độ pha loãng, nhiệt độ, sự có mặt và nồng độ các chất keo tụ, pH…) đến hiệu quả thu hồi máu cá. 1.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài Để đạt được mục tiêu đề ra, nội dung nghiên cứu bao gồm các vấn đề sau: 1. Tổng quan lý thuyết. 2. Khảo sát về thực trạng thải bỏ máu cá trong quy trình chế biến. 3. Đề xuất phương pháp thu hồi máu cá trong nước thải chế biến thủy sản.
Trang 1CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Nghề nuôi cá da trơn ở nước ta bắt đầu khởi sắc từ những năm 1993 với sảnlượng lên tới hàng chục nghìn tấn/năm với 2 loài cá chính là cá ba sa (tên khoahọc là Pangasius (Hamilton), Pangasius Bocourti (Souvage)) và cá tra (tên khoahọc là Pangasius Micronemus hoặc Pangasius Hypopthalamus) Cá tra là mộtloài cá đặc sản của vùng sông Mê Kông.Sản phẩm chủ yếu là fitler đông lạnh,sản lượng xuất khẩu chiếm 80%, tiêu thụ nội địa chỉ 20% Theo Hiệp hội Chếbiến và Xuất khẩu Thủy sản (Vasep), 7 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu thuỷ sản
cả nước đạt hơn 1000 tấn, kim ngạch gần 2,2 tỉ USD
Tuy nhiên, sự phát triển của ngành chế biến thuỷ sản cũng làm cho vấn đề
ô nhiễm môi trường ngày càng lớn Chất thải phát sinh trong ngành chế biếnthuỷ sản bao gồm chất thải rắn (đầu, xương, vây,…) và nước thải có lẫn máu cá,nhớt cá Lượng chất thải (nhất là nước thải) của ngành này thải vào môi trườngngày càng tăng về số lượng, biến động về thành phần Theo số liệu thống kê,trong một năm, toàn bộ ngành chế biến thuỷ sản thải vào môi trường lượng nướcthải từ 8 – 12 triệu m3/năm, trong đó thành phần chủ yếu là lượng máu cá từ quytrình chế biến Xét về khía cạnh môi trường, trong nước thải chế biến thuỷ sản,chỉ số BOD của máu cá khoảng 200 g/l, COD khoảng 400 g/l thậm chí máuđông có chỉ số BOD gần 900 g/l Điều này cho thấy nguồn nước thải bị ô nhiễmnặng nề nếu không có phương pháp xử lý phù hợp
Nếu chế biến mỗi ngày khoảng 100 tấn cá thì lượng máu cá thải ra là 1.2tấn, lượng nước thải dùng để rửa máu cá trung bình từ 1,3 – 1,5 m3/tấncá Mặtkhác, một tấn máu cá thu được ở trên thì tương đương với lượng chất khôkhoảng 150 kg, trong đó protein chiếm 87% ( ≈130,5 kg)
Như vậy nhà máy không những tốn chi phí đầu tư quy trình xử lý nướcthải mà còn lãng phí một lượng protein không nhỏ từ máu cá.Bên cạnh đó,nướcthải thải ra với hàm lượng chất khô quá lớn và giàu dinh dưỡng sẽ là môi trườngthuận lợi để pháttriển mầm bệnh, gây ô nhiễm môi trường Do đó, việc tách và
Trang 2thu hồi lượng máu cá này không những có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn cólợi về mặt kinh tế.
Vì vậy, đề tài nhằm xửlý nước thải nhà máy chếbiến thủy sản và thu hồilượngmáu cá để làm nguyên liệu cho chế biến thức ăn gia súc hoặc thức ăn thủyhải sản
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích:
- Nghiên cứu xác định thành phần nước thải chứa máu cá và đề xuấtphương pháp thu hồi máu cá
- Nghiên cứu xác định các điều kiện công nghệ (độ pha loãng, nhiệt độ, sự
có mặt và nồng độ các chất keo tụ, pH…) đến hiệu quả thu hồi máu cá
1.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra, nội dung nghiên cứu bao gồm các vấn đề sau:
1. Tổng quan lý thuyết
2. Khảo sát về thực trạng thải bỏ máu cá trong quy trình chế biến
3. Đề xuất phương pháp thu hồi máu cá trong nước thải chế biến thủy sản
2
Trang 3CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về ngành chế biến thủy sản ở Việt Nam
Ngành thủy sản bao gồm: ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản Trong
đó, ngành chế biến thuỷ sản là một phần cơ bản, ngành có hệ thống cơ sở vậtchất tương đối lớn, bước đầu tiếp cận với trình độ khu vực, đội ngũ quản lý cókinh nghiệm, công nhân kỹ thuật có tay nghề giỏi
Ngành chế biến thủy sản ngày càng mở rộng quy mô sản xuất phục vụ chonhu cầu ngày càng cao của con người Sản phẩm của ngành chế biến thủy sản rất
đa dạng và phong phú với nhiều phương thức chế biến thủy sản khô, nước mắm,sản phẩm lên men, sản phẩm hun khói, đồ hộp thủy sản và chả cá rán, cá phi lê,
…
Đối với hàng chế biến xuất khẩu, ngành đang chuyển dần từ hình thức bánnguyên liệu sang xuất khẩu các sản phẩm tươi sống, sản phẩm ăn liền và sảnphẩm bán lẻ siêu thị có giá trị cao hơn
2.2 Ô nhiễm do nước thải
Nguồn nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động:
Nước thải sản xuất: Phát sinh chủyếu từkhâu rửa nguyên liệu trongquá
trình tiếp nhận, sơ chế thủy sản Đây là loại nước thải có nồng độ các chất ônhiễm cao nhất
Nước thải vệ sinh công nghiệp: Đây là lượng nước cần dùng cho việcrửa
sàn nhà mỗi ngày, ngoài ra còn dùng cho việc rửa máy móc, thiết bị, rửa xe…
Nước thải sinh hoạt: Nước thải ra từviệc tắm giặt, vệsinh của toàn
bộcông nhân, cán bộ trong xí nghiệp
2.3 Hiện trạng thải bỏ máu cá
- Công suất chế biến cá trung bình: 100tấn/ngày
- Lượng máu thải ra mỗi ngày tính theo nguyên liệu cá: khoảng 1.6 tấn máucá/100 tấn cá
- Lượng nước dùng rửa cá mỗi ngày: 100 m3/100tấn cá
Theo sơ đồ quy trình chế biến cá fillet của Công ty TNHH XNK Thủy sản
An Phát thì nước thải phát sinh từ rất nhiều công đoạn trong quy trình sản
Trang 4xuất.Theo thực tế thì lượng nước thải thải ra tại khâu cắt tiết – ngâm rửa cá lànhiều nhất.Trong đó, chỉ số BOD, COD trong nước thải tại khâu cắt tiêt – ngâmrửa cá là rất cao.
Nước thải từ khâu này được thu gom chung với nước thải của toàn bộ quytrình sản xuất, sau đó dẫn đến hệ thống xử lý nước thải của nhà máy
Nước thải đầu ra đạt loại C trước khi dẫn sang khu xử lý nước thải tậptrung của khu công nghiệp
Tuy nhiên, hệ thống xử lý nước thải thường xuyên bị quá tải, hoạt độngkhông hiệu quả.Như vậy, công ty không những tốn chi phí đầu tư và vận hành hệthống xử lý nước thải mà còn lãng phí một lượng protein không nhỏ từ nguồnmáu cá.Bên cạnh đó, nước thải ra của công ty với hàm lượng chất khô khá lớn
và giàu dinh dưỡng sẽlàm môi trường thuận lợi để phát triển mầm bệnh, gây ônhiễm môi trường Do vậy, nếu chúng ta kết hợp thu hồi được máu cá và đưanước sau khi thu hồi máu cá vào hệ thống xử lý nước thải của nhà máy thì sẽgiảm nồng độ các chất ô nhiễm dẫn tới giảm chi phí đầu tư cho quy trình xử lýnước thải, đồng thời đem lại hiệu quả về kinh tế cho nhà máy
2.4 Khả năng thu nhận máu cá
Phần lớn các công ty có hai đường dẫn nước thải chính bao gồm: nướcthải sinh hoạt và nước thải sản xuất Tuy nhiên, hai đường dẫn nước thải này đềuđược tập trung vào một hố thu gom, sau đó dẫn vào hệ thống xử lý chung củacông ty Do đó, nếu chúng ta tiến hành thu hồi máu cá từ nước thải trong hố thugom nước thải chung của nhà máy thì sẽ không có hiệu quả do nồng độ máu cátrong nước thải quá thấp
Chính vì vậy, thu gom nước thải tại khâu cắt tiết – ngâm rửa cá riêng đểtiến hành thu hồi máu cá thì hiệu quả thu hồi sẽ rất cao
2.5 Cơ sở lý thuyết của các quá trình
2.5.1 Quá trình lắng
Lắng là phương pháp thường dùng nhất để tách huyền phù và chất keo(được hợp lại dưới dạng bông cặn sau giai đoạn keo tụ - kết bông) Mỗi hạt rắnkhông hòa tan trong nước thải khi lắng sẽ chịu tác động của hai lực: trọng lực và
4
Trang 5lực cản xuất hiện khi hạt rắn chuyển động dưới tác động củatrọng lực Mốitương quan giữa hai lực đó quyết định tốc độ lắng của hạt rắn.
Trọng lượng P của hạt rắn phụ thuộc vào khối lượng, kích thước và tỉtrọng của nó.Lực cản P1 phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, tốc độ rơi của hạtrắn và độ nhớt của nước thải
Tùy theo nồng độ và bản chất các hạt cặn (tỉ trọng và hình dạng) người taphân biệt bốn kiểu lắng: lắng các hạt đồng nhất ổn định, lắng các hạt cặn khôngđồng nhất có khả năng keo tụ, lắng chậm lại (do lớp cặn có nồng độ cao) và lắngkiểu nén bùn
- Kiểu 1: Lắng hạt đồng nhất ổn định
Kiểu lắng này (gọi là lắng hạt rời hoặc cá thể) được đặc trưng bởi: các hạtcặn bảo toàn tính chất vật lý ban đầu của chúng (hình dạng, kích thước, tỉ trọng)trong quá trình lắng Vận tốc lắng độc lập với nồng độ hạt cặn: có nghĩa là cácđịnh luật cổ điển của Newton và Stoke áp dụng được trong trường hợp này.Khi một hạt cặn đồng nhất ổn định lắng, vận tốc của nó tăng dần đến giátrị mà các lực lắng (trọng lượng) cân bằng với các lực ma sát Trạng thái dVp/ dt
= 0 tương ứng với điểm cân bằng các lực tác dụng lên hạt cặn
- Kiểu 2: Lắng các hạt cặn không đồng nhất có khả năng keo tụ (các hạt cặn keo tụ)
Trong kiểu lắng này, các cặn trong quá trình lắng vẫn có hiện tượng kếttụ.Vì thế các tính chất vật lý của các cặn (hình dạng, kích thước, tỉ trọng và vậntốc lắng) thay đổi trong quá trình lắng
Lắng một dung dịch nước có các hạt keo tụ không những phụ thuộc vàocác đặc tính lắng của các keo bông mà còn phụ thuộc vào đặc tính keo tụ củachúng Vận tốc lắng phụ thuộc vào đường kính, tỉ trọng của các hạt cặn và độnhớt động lực học của nước
Tỉ lệ kết bông của các hạt cặn trong bể lắng phụ thuộc vào:
• Khoảng cách giữa các phân tử chuyển động
• Điện tích bề mặt
• Gradient vận tốc trong bể
Trang 6- Kiểu 4: Lắng theo kiểu nén bùn
Trong kiểu lắng này, các hạt cặn tiếp xúc với nhau và lắng xuống, lớp này chồng lên lớp kia
2.5.2 Đông tụ và keo tụ
Quá trình lắng chỉ có thể tách được các hạt rắn huyền phù nhưng khôngthể tách được các chất gây nhiễm bẩn ở dạng keo và hoà tan vì chúng là nhữnghạt rắn có kích thước quá nhỏ Để tách các hạt rắn đó một cách có hiệu quả bằngphương pháp lắng, cần tăng kích thước của chúng nhờ sự tác động tương hỗgiữa các hạt phân tán liên kết thành tập hợp các hạt, nhằm tăng vận tốc lắng củachúng.Việc khử các hạt keo rắn bằng lắng trọng lượng đòi hỏi trước hết cầntrung hoà điện tích của chúng, thứ đến là liên kết chúng với nhau.Quá trìnhtrung hoà điện tích thường được gọi là quá trình đông tụ, còn quá trình tạo thànhcác bông lớn hơn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ
Phương pháp đông tụ
Quá trình thuỷ phân các chất đông tụ và tạo thành các bông keo xảy ratheo các giai đoạn sau :
6
Trang 7Chất đông tụ thường dùng là muối nhôm, sắt hoặc hoặc hỗn hợp củachúng.Việc chọn chất đông tụ phụ thuộc vào thành phần, tính chất hoá lý, giáthành, nồng độ tạp chất trong nước, pH.
Các muối nhôm được dùng làm chất đông tụ: Al2(SO4)3.18H2O, NaAlO2,Al(OH)2Cl, KAl(SO4)2.12H2O, NH4Al(SO4)2.12H2O Thường dùng sunfat nhômlàm chất đông tụ vì hoạt động hiệu quả pH = 5 – 7.5, tan tốt trong nước, sử dụngdạng khô hoặc dạng dung dịch 50% và giá thành tương đối rẻ
Các muối sắt được dùng làm chất đông tụ: Fe2(SO4)3.2H2O,Fe2(SO4)3.3H2O, FeSO4.7H2O và FeCl3 Hiệu quả lắng cao khi sử dụng dạng khôhay dung dịch 10 - 15%
Phương pháp keo tụ
Keo tụ là quá trình kết hợp các hạt lơ lửng khi cho các chất cao phân tửvào nước Khác với quá trình đông tụ, khi keo tụ thì sự kết hợp diễn ra khôngchỉ do tiếp xúc trực tiếp mà còn do tương tác lẫn nhau giữa các phân tử chất keo
tụ bị hấp phụ trên các hạt lơ lửng Sự keo tụ được tiến hành nhằm thúc đẩy quátrình tạo bông hydroxyt nhôm và hydroxyt sắt với mục đích tăng vận tốc lắngcủa chúng Việc sử dụng chất keo tụ cho phép giảm chất đông tụ, giảm thời gianđông tụ và tăng vận tốc lắng
Cơ chế làm việc của chất keo tụ dựa trên các hiện tượng sau: hấp phụ phân
tử chất keo trên bề mặt hạt keo, tạo thành mạng lưới phân tử chất keo tụ Sựdính lại các hạt keo do lực đẩy Van Der Walls Dưới tác động của chất keo tụgiữa các hạt keo tạo thành cấu trúc 3 chiều, có khả năng tách nhanh và hoàn toàn
ra khỏi nước
Chất keo tụ thường dùng có thể là hợp chất tự nhiên và tổng hợp chất keo
tự nhiên là tinh bột, ete, xenluloce, dectrin (C6H10O5)n và dioxyt silic hoạt tính(xSiO2.yH2O)
2.6 Tổng quan nguồn nguyên liệu, sản phẩm
2.6.1 Máu
Máu là một loại mô liên kết đặc biệt với thành phần cơ bản bao gồm dịchlỏng là huyết tương và phần tế bào là hồng cầu
Trang 8Hình 1: Tế bào máu
Cấu tạo, đặc tính hình thái học và những tính chất vật lý, hóa học của máu
Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các
tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương.Chức năng chính của củamáu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏcác chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí cacbonic và acidlactic.Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (bao gồm tế bào cóchức năng bảo vệ cơ thể và tế bào bệnh lý), các chất khác nhau (các amino acid,lipid, hormone) giữa các tổ chức và cơ quan trong cơ thể Các rối loạn về thànhphần cấu tạo của máu hay ảnh hưởng đến sự tuần hoàn bình thường của nó cóthể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác nhau
Máu gia súc, gia cầm là một dạng mô liên kết có vai trò rất quan trọng đốivới đời sống động vật Cấu trúc của máu gồm hai phần rõ rệt: phần lỏng gọi làhuyết tương, phần hữu hình gọi là huyết cầu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) Tỉ lệhuyết tương và huyết cầu rất khác nhau giữa các loài gia súc
Trong cơ thể động vật máu nóng, lượng máu chiếm 3-5% trọng lượng, trong đókhoảng 35-45% hồng cầu, phần còn lại là huyết tương
Trong máu có khoảng 10-17% protein tùy loại động vật nên có thể coi nhưmáu cá là “thịt lỏng”
- Tỷ trọng: tỷ trọng toàn phần của máu là 1,05-1,06 Trong đó, tỷ trọnghuyết tương là 1,03, tỷ trọng của huyết cầu là 1,1 Tỷ trọng thay đổi tùy theonồng độ của protein và huyết cầu trong máu
8
Trang 9- pH: giá trị pH khoảng 7,39 điều này dẫn đến máu có tính kiềm.
- Độ nhớt: độ nhớt của máu so với nước là 3,8/1-4,5/1: giá trị này phụthuộc vào nồng độ của protein và số lượng huyết cầu
- Áp suất thẩm thấu: áp suất thẩm thấu của máu gần bằng 7,5 atm, trong đóphần lớn là do muối NaCl gây ra và một phần nhỏ là do các protein hòa tan Ápsuất thẩm thấu của máu quyết định sự phân phối nước trong cơ thể
Dưới tác dụng của nhiệt máu bị đông đặc, một phần nước tự do trong máu
bị thoát ra ngoài Bản chất đông đặc của máu là sự biến tính và kết vón cục cáctiểu phần protein Các tiểu phần protein huyết thanh khác nhau đông đặc ở nhiệt
độ khác nhau: albumin ở 67oC; globulin ở 69-75oC; fibriogen ở 56oC Để đôngđặc hoàn toàn máu cần nâng nhiệt đến 80oC
Thành phần hóa học của máu
Máu là một dung dịch keo, thành phần cơ bản là protein Ngoài ra, trongmáu còn có một số thành phần khác nhau như chất khoáng, carbonhydrate, lipit,các vitamin, sắc tố, hoocmon và những chất có hoạt tính sinh học khác
Một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến thành phần, chất lượng máu cá
Ngoài vi sinh vật, các điều kiện sinh hoá lý khác cũng ảnh hưởng đếnthành phần hoá học và tính chất của máu cá Máu sau khi ra khỏi cơ thể cá sẽnhanh chóng bị đông tụ bởi nếu sự can thiệp vào quá trình này bởi các yếu tốnhư nhiệt độ, ánh sáng, hoá chất, acid citric, acid lactic,… có thể ảnh hưởng đến
Trang 10quá trình đông máu Ion sắt trong máu ở dạng dễ hấp thu nhưng khi tác dụng vớigốc acid có thể tạo muối không tan sẽ chuyển thành dạng không hấp thu Cácyếu tố môi trường như nhiệt độ,ánh sáng hoặc enzyme vi sinh vật có sẵn trongmáu sẽ nhanh chóng oxi hoá máu thành CO2, NH3 và nước, làm thất thoát đáng
kể thành phần dinh dưỡng của máu
2.6.2 Protein
Cấu tạo của protein:
Hình 2: Cấu tạo protein
Tất cả các protein đều chứa các nguyên tố C, H, O, N Một số còn có chứamột lượng nhỏ S Tỉ lệ phần trăm khối lượng các nguyên tố này trong phân tửprotein như sau:
10
Trang 11R: mạch bên hay nhóm bên
Hình 4: Công thức cấu tạo tổng quát của các acid amin:
Protein của máu là albumin, globulin và fibriogen tan trong huyết tương,hemoglobin tan trong hồng cầu Hemoglobin là một protein phức tạp.Thànhphần cấu tạo của hemogiobin gồm có 96% là golobin và 4% là nhóm heme.Công thức hóa học chung của hemoglobin C758H1203N195S3O218Fe
Một phân tử hemoglobin có 4 nguyên tử sắt, nếu được sử dụng làm thức
ăn, máu không những là nguồn protein mà còn là nguồn cung cấp sắt hữu hiệu.Hàm lượng vật chất khô của máu biến đổi tùy thuộc vào thể trạng của giasúc.Khoảng 90% vật chất khô của máu là protein Protein trong máu có giá trịsinh học cao trừ izoloxin, hàm lượng các axit amin không thay thế protein củamáu cao hơn so với thịt nạc
2.6.3 Bột máu cá
Bột máu cá là một trong số những sản phẩm chế biến từ máu có thể được
sử dụng làm thức ăn chăn nuôi Sản phẩm này dễ bảo quản, bảo quản được lâu,gọn nhẹ khi vận chuyển và ngon miệng đối với gia súc
So với những thức ăn có nguồn gốc động vật khác bột huyết là một sảnphẩm khá đặc biệt Thành phần chủ yếu trong vật chất khô của bột huyết làprotein.Vì vậy trong dinh dưỡng động vật bột máu được coi là chất mang proteinhữu hiệu nhất
Protein của bột huyết chứa hầu hết các acid amin thiết yếu đối với cơ thểđộng thực vật đặc biệt là lizin và tryptophan
Ngoài protein, trong vật chất khô của bột huyết là các dẫn xuất chứa nitơ,các viamin, chất khoáng.Bột huyết nghèo canxi, phospho, nhưng rất giàu sắt.Hàm lượng sắt trong máu dao động từ 2500-4000 mg/kg vật chất khô, cao hơn4,6 lần so với bột gan, 6,82 lần so với bột thịt, 13,6 lần so với bột cá Hàm lượngsắt không cao cũng là nguyên nhân làm giảm tính ngon miệng của gia súc Giátrị năng lượng của bột huyết tùy thuộc vào khả năng tiêu hóa và hấp thu proteintrong bột huyết của gia súc
Trang 13Quy trình xử lý nước thải Quy trình thu hồi máu cá
Nước thải
Bể thu gomSong chắn rác
Bể thu gom
Sấy Cặn tủa Song chắn rác
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ 3.1 Quy trình
Hình 1: Sơ đồ quy trình công nghệ xử lý-thu hồi máu cá trong nước thải của
công ty An Phát
Trang 14Quy trình xử lý nước thải Quy trình thu hồi máu cá
3.2 Thuyết minh quy trình:
Nước thải tại công đoạn cắt tiết – ngâm rửa cá sẽ được đưa vào bể thugom, sau đó đưa qua bể kết tủa, ở đây sử dụng các tác nhân gây kết tủa, nướcthải sau đó được đưa qua bể lắng, cặn tủa thu được đem đi lọc, sấy ta thu đượcchất khô, còn nước sau lắng được đưa qua bể điều hòa của hệ thống xử lý nướcthải của nhà máy
Giải thích quy trình thu hồi máu cá:
Bể thu gom:
Trước khi vào bể thu gom và điều hòa, nước dẫn qua lưới chắn rác nhằmloại bỏ các chất lơ lửng có kích thước lớn hơn 2mm ra khỏi nước thải như: da,nội tạng, xương, giấy,… những rác này nếu không lấy sẽ làm hỏng các thiết bịbơm nước thải theo sau, bít các valve, đường ống công nghệ giảm hiệu quả xử
lí và tính ổn định của các đơn nguyên xử lý nước thải phía sau Bể gom cónhiệm vụ tập trung nước thải đồng thời dầu mỡ cũng được giữ lại tại đây, định
kỳ vớt mỡ đem đi xử lý
Phèn nhôm: Phèn nhôm sunfat
- Công thức hóa học: Al2(SO4)3.18H2O
- Đây là chất keo tụ được sử dụng phổ biến nhất tại Việt NamKhi dùng phèn nhôm làm chất keo tụ sẽ xảy ra phản ứng thuỷ phân:
Al2(SO4)3 + 6H2O = 2Al(OH)3 + 6 H+ +3SO4
2 Ưu điểm, nhược điểm khi sử dụng phèn nhôm:
Ưu điểm
-Về mặt năng lực keo tụ ion nhôm (và cả sắt(III)), nhờ điện tích 3+, cónăng lực keo tụ thuộc loại cao nhất (quy tắc Shulz-Hardy) trong số cácloại muối ít độc hại mà loài người biết
14
Trang 15- Muối nhôm ít độc, sẵn có trên thị trường và khá rẻ.
- Công nghệ keo tụ bằng phèn nhôm là công nghệ tương đối đơn giản, dễkiểmsoát, phổ biến rộng rãi
- Phải dùng thêm một số phụ gia trợ keo tụ và trợ lắng
- Hàm lượng Al dư trong nước > so với khi dùng chất keo tụ khác và cóthể lớn hơn tiêu chuẩn với (0,2mg/lit)
- Khả năng loại bỏ các chất hữu cơ tan và không tan cùng các kim loạinặng thường hạn chế
- Ngoài ra, có thể làm tăng lượng SO42- trong nước thải sau xử lí là loại
có độc tính đối với vi sinh vật
Hệ thống gia nhiệt
Máu sau khi ra khỏi cơ thể sẽ nhanh chóng đông tụ nếu có sự can thiệpbởi nhiệt…, nước thải được gia nhiệt ở 50-65oC, sự biến tính của các proteinmáu cá do nhiệt làm cho khả năng hòa tan của protein giảm xuống do xuất hiệncác nhóm kỵ nước ở bề mặt phân tử
Lắng:
Sau khi kết tủa, toàn bộ lượng máu cá được dẫn sang bể lắng để tách cặntủa, phần nước dẫn sang bể điều hòa của quy trình xử lý nước thải