1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ THUẬN HOÀ HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG NĂM 2017

55 561 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 471,5 KB
File đính kèm nhu cau xa hoi hoa BPTT.rar (55 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khảo sát nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại theo hướng xã hội hóa và các yếu tố liên quan ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Thuận Hòa huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2017

Trang 1

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ THUẬN HOÀ HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

NĂM 2017

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Nhí

Mã đề tài:

Hậu Giang, Năm 2017

Trang 2

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI THEO HƯỚNG XÃ HỘI HOÁ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI XÃ THUẬN HOÀ HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

NĂM 2017

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Nhí

Cấp quản lý: Sở Y tế

Mã đề tài:

Hậu Giang, Năm 2017

Trang 3

BPTT : Biện pháp tránh thai

DS-KHHGĐ : Dân số – Kế hoạch hoá gia đình

(Tổ chức phi chính phủ Quốc tế hoạt động trong lĩnh vực Y tế)

Trang 4

Trang phụ bìa

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm về Dân số – Kế hoạch hoá gia đình 3

1.2 Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình 3

1.3 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thế giới và Việt Nam 9 1.4 Đề án xã hội hoá cung cấp phương tiện tránh thai 13

1.5 Một số nghiên cứu, báo cáo có liên quan 15

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 17

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 17

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.2.2 Cỡ mẫu 17

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 18

2.2.4 Nội dung nghiên cứu 18

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24

2.2.7 Sai số và cách khắc phục 25

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 25

Trang 5

đại theo hướng xã hội hoá 293.3 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng các BPTT hiện đại theohướng xã hội hoá của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ 35Chương 4 BÀN LUẬN 40KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.2 Đặc điểm về dân tộc của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.4 Đặc điểm về kinh tế gia đình của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.5 Đặc điểm về học vấn của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.6 Đặc điểm về tuổi lập gia đình của đối tượng nghiên cứu 28

Bảng 3.7 Đặc điểm về số con hiện tại của đối tượng nghiên cứu 29

Bảng 3.9 Tỷ lệ các biện pháp tránh thai hiện đang thực hiện của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.10 Thời điểm bắt đầu sử dụng biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.11 Chi phí thực hiện các BPTT hiện tại của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.12 Nơi thực hiện các BPTT hiện tại của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.13 Lý do không sử dụng BPTT của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.14 Tỷ lệ người có nhu cầu sử dụng các BPTT hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 32

Bảng 3.15 Các biện pháp tránh thai hiện đại đối tượng muốn sử dụng 33

Bảng 3.16 Lý do sử dụng các BPTT hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 33

Bảng 3.17 Lý do không sử dụng các BPTT hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 34

Bảng 3.18 Nơi cung cấp các BPTT hiện đại theo hướng xã hội hoá mà đối tượng muốn đến thực hiện 34

Trang 7

thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 35Bảng 3.21 Mối liên quan giữa dân tộc và nhu cầu sử dụng các biện pháp tránhthai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 35Bảng 3.22 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và nhu cầu sử dụng các biện pháptránh thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 36Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và nhu cầu sử dụng các biệnpháp tránh thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 37Bảng 3.24 Mối liên quan giữa học vấn và nhu cầu sử dụng các biện pháptránh thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 37Bảng 3.25 Mối liên quan giữa số con và nhu cầu sử dụng các biện pháp tránhthai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 38Bảng 3.26 Mối liên quan giữa tuổi lập gia đình và nhu cầu sử dụng các biệnpháp tránh thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đối tượng 38Bảng 3.27 Mối liên quan giữa chi phí thực hiện KHHGĐ trước đây và nhucầu sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại theo hướng xã hội hoá của đốitượng 39

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội hoá các phương tiện tránh thai là động lực, là chính sách lâu dàicho sự phát triển bền vững của chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình,tăng đầu tư của xã hội trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ và trực tiếp tớiđối tượng thụ hưởng Thực hiện xã hội hóa cung ứng phương tiện tránh thai,vừa là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường, vừa là một trong những giảipháp huy động đóng góp của xã hội [3]

Tại Việt Nam, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã bắt đầu từ năm

1960, trong nhiều năm qua với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước, với ý thức

tự nguyện tham gia của toàn dân, đến nay công tác Dân số kế hoạch hoá giađình đã đạt được những kết quả đáng kể Theo kết quả báo cáo chung tổngquan ngành y tế năm 2015 của Bộ Y tế [2], nhiều chỉ tiêu Dân số – Kế hoạchhoá gia đình quan trọng của Kế hoạch 5 năm và Nghị quyết Đại hội XI củaĐảng đạt mục tiêu đề ra cho năm 2015, như quy mô dân số không quá 93triệu người (2015 là 91,7%); mức giảm tỷ lệ sinh <0,1%o năm, duy trì mứcsinh thay thế (2015 là 2,1 con/phụ nữ) Kết quả cuộc Điều tra biến động Dânsố năm 2015 [18] cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt75,7%; Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 1/4/2015đạt mức 65,0%

Bên cạnh những thành công đạt được, công tác Dân số – Kế hoạch hoágia đình tại Việt Nam gặp rất nhiều thách thức, trong đó vấn đề kinh phí làthách thức quan trọng nhất Ngân sách của Việt Nam cho chương trình kếhoạch hoá gia đình phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài trong thời gian dài(Theo ước tính của chính phủ, khoảng 80% ngân sách mua phương tiện tránhthai giai đoạn 1996 – 2006 là từ các nhà tài trợ) Hiện nay, Việt Nam đã đạt

Trang 9

mức quốc gia có thu nhập trung bình vì thế các nhà tài trợ đã ngừng cam kếttài trợ cho chương trình này [6] Trước tình hình đó Bộ Y tế đã phê duyệt đềán “Xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ Kế hoạch hóa giađình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tại khu vực thành thị và nông thôn pháttriển giai đoạn 2016 - 2020” [3].

Xã Thuận Hoà là một xã nông thôn thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh HậuGiang Trong những năm vừa qua, Thuận Hoà là một trong những Xã đượcđánh giá là có nhiều cố gắng trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp tránhthai trong chiến lược thực hiện kế hoạch hóa gia đình Việc triển khai các dịchvụ tránh thai hiện đại như: Đình sản, dụng cụ tử cung, cấy thuốc, tiêm thuốctránh thai và uống thuốc tránh thai…đã được sự quan tâm hưởng ứng của cáccấp chính quyền, các tổ chức quần chúng và của cộng đồng Người dân ngàycàng được tiếp cận nhiều với các thông tin và dịch vụ tránh thai Tuy nhiêntrong thời gian qua chưa có nghiên cứu nào về tình hình thực hiện kế hoạchhoá gia đình cũng như nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại theohướng xã hội hoá tại địa phương Nhằm tìm hiểu những vấn đề trên chúng tôi

tiến hành đề tài “Khảo sát nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai hiện

đại theo hưỡng xã hội hoá và các yếu tố liên quan ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Thuận Hoà, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2017”, với các mục tiêu cụ thể sau:

1 Tỷ lệ các cặp vợ chồng có nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thaihiện đại theo hưỡng xã hội hoá ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xãThuận Hoà, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2017

2 Các yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thaihiện đại theo hưỡng xã hội hoá ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xãThuận Hoà, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2017

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm về Dân số – Kế hoạch hoá gia đình

KHHGÐ là chủ động có con theo ý muốn của các cặp vợ chồng nhằmđiều chỉnh số con và khoảng cách sinh con Không để phải dẫn đến phá thai,hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dày, đẻ khi còn quá trẻ hoặc đẻ khi đã nhiềutuổi KHHGÐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT để tránhthai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con(trong trường hợp khuyến khích sinh) [4], [7], [17]

1.2Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình

1.2.1 Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình trên Thế giới

Ở các nước đang phát triển, vấn đề lựa chọn các biện pháp KHHGÐ, đểlàm giảm mức sinh là yếu tố quyết định hàng đầu của việc thực hiện công tácdân số mà TFR là mục tiêu chủ yếu của chính sách dân số Trong những năm

1950 TFR ở các nước đang phát triển ước tính 6 trẻ em/ 1 phụ nữ Sự tăngtrưởng dân số hàng năm khoảng 2,1%/1 năm, sau năm 1950 dưới 1,8% và cònthấp hơn nữa [25] Tỷ lệ TFR giảm dần, nhưng dân số hàng năm vẫn tăng lênđối với các nước đang phát triển còn lớn.Trong khi TFR giảm xuống, nhưng

tỷ lệ số con bình quân của phụ nữ vẫn còn cao ở nhiều nước Ví dụ ở UganđaTFR theo tính toán gần đây đạt 6,9 trẻ em/1 phụ nữ, và có 24 quốc gia kháccó TFR sinh khoảng 5 - 5,9 trẻ em/1 phụ nữ [26]

Khu vực Ðông Bắc Á và Ðông Nam Á, do thực hiện tốt chính sách dânsố nên một số nước đã thu được nhiều kết quả tốt [22]

Trang 11

Tại Hàn Quốc: Mục tiêu là giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,58% (1982)xuống 1,49% (1986) và đã đạt 0,9% (1990) Trong 20 năm đầu thực hiệnKHHGÐ, mức sinh hàng năm giảm 0,165 con/phụ nữ 10 năm gần đây mứcsinh mỗi năm giảm 0,1 con/phụ nữ Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinhđẻ áp dụng các BPTT tăng từ 9% (1964) lên 77% (1988) [24].

Tại Trung Quốc: Nếu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh6,08 con thì sau 43 năm chỉ còn 1,9 con và từ năm 1970 (là năm bắt đầu thựchiện KHHGÐ) đến nay, hàng năm TFR đã giảm bình quân 0,17 con Ðây làmức phấn đấu ước mơ của nhiều quốc gia đang phát triển [23]

1.2.2Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tại Việt Nam

Đứng trước xu hướng dân số thế giới ngày một tăng nhanh, nhiều quốcgia còn trong tình trạng đói nghèo Việt Nam là một trong những quốc giasớm đi đầu trong việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ Năm 1961, khi dân sốnước ta mới khoảng 30 triệu người, Chính phủ đã ban hành Quyết định số216/CP được coi là văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước ta về công tác

DS-KHHGĐ và mang đậm tính nhân văn “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh

phúc hoà thuận của gia đình và để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp” Để kỷ

niệm và đánh dấu sự kiện này, ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số 326, lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số ViệtNam Từ đó ngày 26 tháng 12 năm 1961 trở thành mốc lịch sử quan trọng củachương trình dân số Việt Nam Việt Nam chính thức tuyên bố tham giachương trình dân số toàn cầu, đánh dấu sự khởi đầu nhận thức ý nghĩa củamối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiếng chuông báo động về tìnhhình gia tăng dân số quá nhanh trên thế giới [20]

Trang 12

Số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49) 6,39con/1phụ nữ vào năm 1960, tức là tương đương với mức sinh tiềm tàng, sau

14 năm thực hiện việc sinh đẻ đã có hướng dẫn (1961 - 1975), TFR xuốngcòn 5,25 con vào năm 1975, đến năm 1985 TFR giảm xuống còn 3,95 TFRgiảm xuống nhanh, đặc biệt kể từ sau khi nghị quyết Trung ương 4 khoá VII

ra đời, TFR từ 3,95 (1985) giảm xuống còn 3,1 con vào năm 1994; 2,3 convào năm 1999 và 2,28 con vào năm 2002 Theo kết quả tổng điều tra dân sốvà nhà ở năm 1999 thì TFR đã tiến gần đến mức sinh thay thế, trong đó 3vùng là đồng bằng sông Hồng, Ðông Nam bộ, sông Cửu Long đã đạt đượcmức sinh thay thế Hai vùng có mức sinh cao nhất là Tây Bắc 3,6 con và TâyNguyên là 3,9 con, cao gấp 1,6 - 1,7 lần mức sinh bình quân của cả nước [5]

Trải qua 45 năm triển khai công tác dân số, đặc biệt là từ khi thực hiệnNghị quyết lần thứ 4 Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII, về chínhsách dân số và kế hoạch hoá gia đình Công tác dân số đã đạt được những kếtquả to lớn góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế - xãhội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống

Trong những đánh giá về vấn đề DS-KHHGĐ đã nhận định: Tỷ lệ sinhcon thứ 3 trở lên mặc dù đã có sự giảm dần nhưng chưa ổn định chiếmkhoảng 22% số sinh ( theo điều tra năm 2002); (1993: 45,7%; 1994: 37,1%;1995; 37,7%, 1996: 29,5%; 1997: 31,67%, năm 2002 là 21,73%) Tỷ lệ nàycũng không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng sôngHồng tỷ lệ sinh con thứ 3 thấp (khoảng 16%), còn các vùng khác tỷ lệ nàytương đối cao Khu vực nông thôn cao gần gấp đôi khu vực thành thị (24% sovới 13%) Thậm chí vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung tỷ lệ sinhcon thứ 3 trở lên chiếm đến gần 50% [5], [7], [14]

Nhằm thực hiện hiệu quả công tác dân số – kế hoạch hoá giađình/CSSKSS cho nhân dân, ngày 14 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Chính

Trang 13

phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản Việt Nam giaiđoạn 2011-2020 [15].

Theo kết quả báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 của Bộ Ytế, thì dịch vụ DS-KHHGĐ, CSSKSS chủ yếu được cung cấp bởi mạng lưới

cơ sở y tế công lập bao gồm chi cục DS-KHHGĐ, trung tâm chăm sóc SKSSvà trung tâm DS-KHHGĐ, Khoa sản của bệnh viện đa khoa hoặc bệnh việnchuyên khoa sản ở tuyến tỉnh; trung tâm DS-KHHGĐ và khoa chăm sócSKSS thuộc TTYT/bệnh viện đa khoa tuyến huyện và cán bộ y tế/dân sốtuyến xã Đến nay, các khoa sản/bệnh viện/trung tâm hầu hết đã đủ điều kiệnthực hiện các dịch vụ KHHGĐ/SKSS, bao gồm cả kỹ thuật triệt sản nam/nữ,cấy thuốc tránh thai Tại tuyến xã, 96% TYT xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sảnnhi, hầu hết đã được đào tạo và có kỹ năng cơ bản về KHHGĐ/CSSKSS theochuẩn quốc gia, có khả năng thực hiện kỹ thuật đặt, tháo vòng, tiêm thuốctránh thai Nhiều chỉ tiêu DS-KHHGĐ quan trọng của Kế hoạch 5 năm vàNghị quyết Đại hội XI của Đảng đạt mục tiêu đề ra cho năm 2015, như quy

mô dân số không quá 93 triệu người (2015 là 91,7%); mức giảm tỷ lệ sinh

<0,1%o năm, duy trì mức sinh thay thế (2015 là 2,1 con/phụ nữ) [2]

1.2.3 Thách thức đối với công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tại Việt Nam [6]

Ngân sách của Việt Nam cho chương trình KHHGĐ phụ thuộc vàoviện trợ nước ngoài trong thời gian dài.Theo ước tính của chính phủ, khoảng80% ngân sách mua PTTT giai đoạn 1996 – 2006 là từ các nhà tài trợ ViệtNam đã đạt mức quốc gia có thu nhập trung bình, và các nhà tài trợ chính cholĩnh vực dân số KHHGĐ, bao gồm tập đoàn ngân hàng KfW (Ngân hàng Pháttriển của Chính phủ Đức) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã ngừngcam kết tài trợ cho chương trình này Chương trình còn đối mặt với nhữngthách thức về việc triển khai, bao gồm thiếu sự điều phối hoặc điều phối yếu

Trang 14

kém giữa các kênh cung cấp dịch vụ lâm sàng và phi lâm sàng, cũng như giữacác nhà cung cấp dịch vụ khu vực nhà nước và tư nhân Năng lực của chínhphủ về dự báo nhu cầu và duy trì việc cung cấp thường xuyên PTTT cho tấtcả phụ nữ có nhu cầu còn hạn chế.Số liệu có sẵn về tình trạng kinh tế củangười sử dụng BPTT và nguồn cung cấp PTTT (ví dụ của nhà nước, tiếp thịxã hội hoặc cơ sở y tế và nhà thuốc tư nhân) là số liệu từ 5 - 10 năm trước Tưvấn, giám sát hỗ trợ và giáo dục sức khỏe cho vị thành niên là lĩnh vực cầnđược cải thiện trong các cơ sở cung cấp dịch vụ nhà nước.

Thách thức khác trong những năm gần đây là vấn đề thay đổi cơ cấu tổchức Ngay trước thời điểm hỗ trợ của các nhà tài trợ kết thúc, Tổng cục Dânsố Kế hoạch hóa Gia đình (TCDS/KHHGĐ) đã chuyển từ một cơ quan cấp bộhoạt động độc lập thành một cơ quan trực thuộc BYT Vì vậy, thẩm quyềncủa TCDS/KHHGĐ có phần thu hẹp lại, đặc biệt là trong việc phối hợp vớicác bộ ngành liên quan khác của chính phủ (Bộ Tài chính hoặc Bộ Kế hoạchvà Đầu tư – trong việc ra quyết định về ngân sách) TCDS/KHHGĐ chịutrách nhiệm xây dựng chính sách, điều phối và cung cấp các PTTT.Vụ Sứckhỏe Bà mẹ Trẻ em, BYT có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn chuyên môncung cấp dịch vụ KHHGĐ

Khối tư nhân cung cấp dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam cũng phải đối mặtvới những thách thức quan trọng Một thập kỷ trước, theo số liệu Điều traNhân khẩu học và Y tế tiến hành năm 2002 ở Việt Nam, khoảng 14% ngườisử dụng các BPTT nhận dịch vụ tránh thai tại cơ sở tư nhân Các bên liênquan trong lĩnh vực KHHGĐ lưu ý còn nhiều rào cản đối với sự phát triển củakhu vực tư nhân ở quốc gia này, bao gồm thuế nhập khẩu, thủ tục phê duyệtcủa chính phủ chậm chạp và khó khăn về việc điều chỉnh giá dịch vụ, và sựhạn chế của tiếp thị và truyền thông liên quan đến KHHGĐ

Trang 15

Hiện nay BYT chịu trách nhiệm cung cấp PTTT cho người dân trongbối cảnh không còn những nguồn tài trợ trên.Tại thời điểm PATH bắt đầu hợptác với chính phủ để triển khai phương thức thị trường tổng.

1.2.4 Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tại tỉnh Hậu Giang

Tại Hậu Giang, công tác DS-KHHGĐ trong những năm qua luôn đạtcác chỉ tiêu cơ bản, đã tập trung giải quyết căn bản vấn đề về quy mô dân sốtrên cơ sở giảm nhanh mức sinh, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gópphần vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Các giải pháp đã thựchiện như đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc SKSS-KHHGĐ của người dân bằngnhiều loại hình cung cấp như dịch vụ tư vấn, nâng cấp hệ thống cung cấp dịchvụ các tuyến, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người cung cấpdịch vụ Bên cạnh đối tượng còn được tiếp cận các biện pháp tránh thai quaChiến dịch Truyền thông dân số gắn với dịch vụ KHHGĐ hằng năm, nhiềunăm liền Hậu Giang là một trong những tỉnh được xếp vào nhóm có thànhtích cao trong Chiến dịch và đứng đầu trong cả nước [10]

Năm 2012, toàn tỉnh có 12.157 trẻ sinh ra sống (tăng 131 trẻ so với năm2011), có 1.237 trẻ là con thứ 3; tỷ xuất sinh năm 2012 là 15,6%o; tỷ xuất giảmsinh là 0,2%o (đạt 100% so với kế hoạch) [9]

Năm 2014, dân số toàn tỉnh là 787.800 người, tỷ suất sinh (CBR) giảmxuống còn 15,65%o; số con trung bình của mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻxuống còn 1,78 (mức sinh thay thế là: TFR = 2,1 con/phụ nữ); tỷ lệ tăng dânsố tự nhiên (NIR) giảm còn 9,9%o; tỷ lệ sinh con lần thứ 3 là 9,98% (giảm0,23%o so cùng kỳ) Tỷ số giới tính khi sinh (bé trai/100 bé gái) là 106/100năm 2014 (thấp hơn trung bình cả nước 111,2); tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi

Trang 16

cũng xuống còn 10,4%o; tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn15,4%o năm 2014; tỷ lệ tử vong mẹ là 31/100.000 trẻ đẻ sống [10].

Năm 2015, toàn tỉnh có 12.345 trẻ sinh ra sống, so với cùng kỳ giảm 86trẻ, trong đó có 1.201 trẻ sinh lần 3, tỷ lệ 9,73% Tỷ suất sinh đạt 15,59%o,như vậy, mức giảm sinh giảm 0,06%o/0,05%o, đạt 120%; Tỷ số giới tính khisinh là 101,98 bé trai /100 bé gái (6.233 bé trai và 6.112 bé gái) so với kếhoạch cho phép tăng 102,88 bé trai /100 bé gái [11]

Năm 2016, Công tác DS-KHHGĐ cũng đạt được nhiều kết quả nỗi bật:Chiến dịch truyền thông Dân số-CSSKSS –KHHGĐ đạt 108,5% kế hoạch đề

ra (tăng 3% so với cùng kỳ) Tỷ suất sinh (CBR) giảm xuống còn 15,34%o(toàn quốc là 15,74%o), so cùng kỳ năm 2015 là 15,59%o, như vậy, mứcgiảm sinh giảm 0,25%o/0,05%o, như vậy giảm gấp 5 lần so chỉ tiêu giao; Tỷlệ sinh con lần thứ 3 là 9,81% (toàn quốc là 16,3%), giảm 0,17% so cùng kỳ;

Tỷ số giới tính khi sinh (bé trai/100 bé gái) là 106,02/100, thấp hơn trung bìnhcả nước 112,2 bé trai/100 bé gái [12]

1.3Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thế giới và Việt Nam 1.3.1 Tình hình sử dụng BPTT trên thế giới

Người ta ước tính vào năm 1994, số lượng người sử dụng BPTT trênthế giới khoảng 899 triệu, khoảng 57% số cặp vợ chồng có nguy cơ có thai

Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai cụ thể như sau:

- Triệt sản nữ 17%

- Dụng cụ tử cung (DCTC): 12%

- Thuốc uống tránh thai: 8%

- Triệt sản tự nguyện nam: 5%

- Bao cao su (BCS): 5%

Một số biện pháp tránh thai khác được cung cấp gồm có: Thuốc tiêmtránh thai (DMPA), thuốc cấy tránh thai (Norplant, Implanon), thuốc diệt tinh

Trang 17

trùng Các biện pháp tránh thai tự nhiên (tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âmđạo) [23].

1.3.2 Tình hình sử dụng BPTT ở Việt Nam

Ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng các BPTT rất cao và tăng lên trong khoảngthời gian 1988 - 1997 Có khoảng 60% phụ nữ có chồng trả lời đã từng sửdụng 1 BPTT nào đó trong năm 1988, và tỷ trọng này tăng lên đến 73% năm

1994 và 82% năm 1997 Tỷ lệ phụ nữ có chồng đang sử dụng BPTT tăng từ53% năm 1988 lên 65% năm 1994, 75% năm 1997 và 80,2% năm 2003 [7]

Cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam có 2 đặc điểm: Ưu thế vẫn là vòngtránh thai (DCTC) trong các BPTT hiện đại, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tínhvòng kinh và xuất tinh ra ngoài còn cao trong các biện pháp Phương phápđược sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm của cả 3 cuộc điều tra 1988, 1994 và

1997 vẫn là DCTC Năm 1997 có tới trên một nữa (56%) phụ nữ Việt Nam cóchồng trong độ tuổi sinh đẻ trả lời rằng: họ đã từng sử dụng DCTC một lúcnào đó trong cuộc đời Mặc dù những người đã từng sử dụng DCTC tăngđáng kể giữa điều tra 1994 và 1997 tới 8%, nhưng tỷ lệ đang sử dụng tăngchậm hơn chỉ có 5% Phần lớn tăng 12% về sử dụng BPTT hiện đại là kết quảcủa việc gia tăng các biện pháp khác không phải là DCTC, đặc biệt là thuốcuống tránh thai, BCS và triệt sản nữ Chứng tỏ mô hình sử dụng các biện pháptránh thai đã dần thay đổi, tỷ lệ CPR ngày càng tăng, nhưng số người sử dụngDCTC ngày càng giảm: số người sử dụng DCTC năm 1994 là 76%, năm 1988là 88%, đến năm 2002 chỉ còn chiếm 68%, tổng số người đang sử dụng biệnpháp hiện đại [7], [17]

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bạch Yến và cộng sự, từ năm

2009 đến năm 2013, huyện Minh Hoá có 12.314 người mới sử dụng cácBPTT, trong đó tỷ lệ người sử dụng dụng cụ tử cung giảm dần và người sửdụng bao cao su và viên uống tránh thai lại tăng dần qua các năm Tại huyện

Trang 18

Đam Rông có 6.561 người mới sử dụng các BPTT, trong đó thuốc tiêm đượcsử dụng phổ biến, trong khi số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung đang tăng lên theonăm [21].

Kết quả cuộc Điều tra biến động Dân số năm 2015 cho thấy, tỷ lệ sửdụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt 75,7%, giảm 1,5% so với kết quảĐiều tra biến động dân số 2013 Số liệu của các cuộc Điều tra BĐDS hàngnăm cho thấy, tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳ của Việt Nam hiện đang ở mứccao.Tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại tại thời điểm 1/4/2015 đạt mức 65,0%,giảm 2% so với kết quả Điều tra biến động dân số 2013 Tỷ lệ sử dụng BPTTbất kỳ ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị 3,4% (76,8% so với 73,4%).Trong đó, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị3,7% (66,2% so với 62,5%), còn tỷ lệ sử dụng BPTT khác ở khu vực nôngthôn và thành thị không có sự chênh lệch nhiều, ở nông thôn thấp hơn thànhthị 0,2% (10,8% so với 10,6%) Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại khá cao ở cácvùng còn khó khăn về kinh tế - xã hội như Bắc Trung Bộ và Duyên hải miềnTrung và Trung du và miền núi phía Bắc (65,7%) và đối với các nhóm phụ nữcó trình độ học vấn thấp hơn như chưa đi học (71,1%), chưa tốt nghiệp tiểuhọc (70,6%) và tốt nghiệp tiểu học (68,1%) [18]

Những con số này một lần nữa chứng minh trong thập kỷ vừa qua cácchương trìnhKHHGĐ đã được Nhà nước đầu tư và tập trung thực hiện cótrọng điểm, đặc biệt ởkhu vực nông thôn Các chương trình này đã góp phầnlàm giảm mức sinh ở khu vực này, qua đó làm giảm mức sinh chung của cảnước trong hơn 10 năm qua

BPTT được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam hiện nay là vòng tránhthai Tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai từ năm 2004 đến 2015 tuy có xu hướnggiảm dần nhưng vẫn luôn duy trì ở mức khá cao Năm 2013 lần đầu tiên tronghơn một thập kỷ qua, tỷ lệ sử dụng biện pháp này rơi xuống thấp hơn 50%

Trang 19

trong số các biện pháp tránh thai được sử dụng, đến năm 2015 tỷ lệ này tiếptục giảm xuống còn 47,9% (giảm 1,7% so với năm 2013) Tỷ lệ sử dụng cácBPTT như uống thuốc tránh thai, tiêm, cấy có xu hướng tăng chậm Năm

2015 tỷ lệ sử dụng BPTT truyền thống (tính vòng kinh/xuất tinh ngoài) đạt14,0%, cao hơn các năm 2004 đến năm 2013, tăng so với năm 2013 là 1%[18]

1.3.3 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại tỉnh Hậu Giang

Năm 2012, tổng các (BPTT) được thực hiện: 72.746/69.920, đạt 104%

KH Trong đó: đình sản đạt 239,1% KH; dụng cụ tử cung đạt 109,5% KH;thuốc tránh thai: cấy (23,3%); tiêm (107%); uống (101,6%); bao cao su đạt106,8% KH [9]

Năm 2014, Tổng các (BPTT) được thực hiện 71.789/71.200, đạt100,8% KH (tăng 0,3% sck) Trong đó: đình sản 109/100 cas, đạt 109% KH;dụng cụ tử cung: 7.385/7.300 (đạt 101,2% KH); thuốc tránh thai: 548/1.380(39,71%); Tiêm: 3.934/4.080 (96,4%); Uống 35.458/34.640 (102,4%); Baocao su: 24.364/23.700 (102,8%) KH [10]

Năm 2015, Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai đến tháng12/2015:Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránhthai hiện đại là 117.294 (đình sản 5.312, vòng tránh thai 46.303, bao cao su21.919, thuốc uống 36.655, cấy tránh thai 2.810, tiêm tránh thai 4.295) chiếm

tỷ lệ 81,8%; Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránhthai khác là 3.319, chiếm tỷ lệ 2,3% Như vậy tổng các biện pháp tránh thaichung là 84% Riêng kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai mới theo chỉtiêu năm:Toàn tỉnh có 73.304/72.649 người áp dụng các BPTT lâm sàng vàphi lâm sàng, đạt 100,9% KH năm, trong đó:

Trang 20

1.4 Đề án xã hội hoá cung cấp phương tiện tránh thai

Ngày 12 tháng 03 năm 2015, Bộ Y tế đã phê duyệt đề án “Xã hội hoácung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ kế hoạch hoá gia đình/SKSS tạikhu vực thành thị và nông thôn phát triển giai đoạn 2015-2020” [3]

1.4.1 Mục tiêu

1.4.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về phương tiện tránh thai,hàng hóa và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản có chất lượngcho người dân nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội, sự bền vững của chươngtrình dân số - kế hoạch hóa gia đình; huy động và nâng cao hiệu quả của cácnguồn lực đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướccho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình phù hợp với xu hướng pháttriển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.4.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai mới được đưa vàoViệt Nam

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai hoặc hàng hóa kếhoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản mới được sản xuất tại Việt Nam

- 100% cấp tỉnh tại địa bàn Đề án có Trung tâm Tư vấn và cung ứngdịch vụ cấp tỉnh thực hiện xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai, hànghóa và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản

Trang 21

- 100% cấp huyện tại địa bàn Đề án có cơ sở y tế thực hiện xã hội hóacung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

- 100% cấp xã tại địa bàn Đề án có cơ sở thực hiện xã hội hóa cung cấpphương tiện tránh thai, hàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản

1.4.2 Đối tượng

- Đối tượng tác động: doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân sản xuất, phânphối cung ứng phương tiện tránh thai, hàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sứckhỏe sinh sản; cơ sở y tế trong và ngoài công lập cung cấp dịch vụ kế hoạchhóa gia đình/sức khỏe sinh sản

- Đối tượng thụ hưởng: người làm việc, người sinh sống tại địa bàn củađề án, ưu tiên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên, vị thànhniên

1.4.3 Các nhiệm vụ và hoạt động chủ yếu

- Đa dạng hóa phương tiện tránh thai và hàng hóa kế hoạch hóa giađình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thị trường, chú trọng vào các phươngtiện tránh thai hiện đại có tác dụng lâu dài và hiệu quả

+ Củng cố và phát triển mạng lưới cung ứng phương tiện tránh thai vàhàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản trên cơ sở huy động sựtham gia của các doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân thuộc các thành phần kinh tếtheo phân khúc thị trường

+ Nâng cao chất lượng và số lượng chủng loại phương tiện tránh thaivà hàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thịtrường; Thử nghiệm, đưa ra thị trường chủng loại phương tiện tránh thai mới

+ Tăng cường quản lý chất lượng phương tiện tránh thai và hàng hóa kếhoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản; thử nghiệm mô hình đăng ký hợp quy,hợp chuẩn về phương tiện tránh thai và hàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sứckhỏe sinh sản

Trang 22

- Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏesinh sản của người dân.

+ Nâng cao năng lực cho các cơ sở y tế công lập để thực hiện xã hộihóa cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản

+ Khuyến khích và huy động các cơ sở y tế ngoài công lập (doanhnghiệp, tổ chức tư nhân; tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ) thực hiện xãhội hóa cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản

- Tạo hành lang, cơ sở pháp lý, nâng cao năng lực quản lý nhà nước;thúc đẩy phát triển thị trường phương tiện tránh thai và hàng hóa kế hoạchhóa gia đình/sức khỏe sinh sản và thị trường cung cấp dịch vụ kế hoạch hóagia đình/sức khỏe sinh sản

+ Tạo hành lang pháp lý phát triển thị trường phương tiện tránh thai,hàng hóa kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản và thị trường cung cấp dịchvụ kế hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản

+ Tuyên truyền, vận động tạo môi trường xã hội đồng thuận thúc đẩyxã hội hóa và phát triển thị trường phương tiện tránh thai, hàng hóa kế hoạchhóa gia đình/sức khỏe sinh sản và thị trường cung cấp dịch vụ kế hoạch hóagia đình/sức khỏe sinh sản

- Nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin quản lý, hậu cần củaĐề án

1.5 Một số nghiên cứu, báo cáo có liên quan

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Tâm, đánh giá tình hình sử dụngbiện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng từ 15-49 tuổi tại tỉnh Thừa ThiênHuế năm 2011, 57,0% đối tượng có nhu cầu sử dụng BPTT, có 13,7% đốitượng sử dụng biện pháp tránh thai tiếp thị xã hội hoá, trong đó 4 phương tiệntránh thai mà người sử dụng có thể mua là bao cao su (6.500đ); viên uốngtránh thai (15.000 đ); thuốc tiêm tránh thai (11.500đ), thuốc cấy tránh thai

Trang 23

(1.000.000đ), khả năng chi trả của khách hàng là khá cao so với PTTT đangđược nhà nước triển khai tiếp thị xã hội [13].

Theo báo cáo Quốc gia kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu pháttriển thiên niên kỷ của Việt Nam năm 2015 cho thấy: Nhu cầu kế hoach hóagia đình chưa được đáp ứng được hiểu là tỷ lệ phụ nữ tuổi 15-49 đã kết hônhoặc sống chung với người khác dù không kết hôn, có khả năng sinh sản,muốn giãn cách việc sinh đẻ hoặc hạn chế số con, nhưng đang không sử dụngcác biện pháp tránh thai Tỷ lệ trung bình của toàn quốc là 6,1%, tỷ lệ này caohơn ở khu vực nông thôn, miền núi Trung du phía Bắc và Tây Nguyên [1]

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả phụ nữ có chồng đang sinh sống tại xã Thuận Hoà, huyện LongMỹ, tỉnh Hậu Giang tại thời điểm nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

Phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng đang sinh sống tại xã Thuận Hoà, huyệnLong Mỹ, tỉnh Hậu Giang tại thời điểm nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- Những đối tượng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

- Người bị câm điếc

- Người bị bệnh tâm thần, thiểu năng trí tuệ

- Người đang mang thai

- Người đã thực hiện đình sản (đình sản nam và đình sản nữ)

- Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 8/2017 đến tháng 8/2018

Địa điểm: Tại các hộ gia đình trên địa bàn xã Thuận Hoà, huyện LongMỹ, tỉnh Hậu Giang

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

Trang 25

) p 1 ( p z

/2 - 1

Trong đó:

n: là cỡ mẫu nghiên cứu ước lượng

α: là mức ý nghĩa 0,05%, độ tin cậy 95%

p: là tỷ lệ hiện đang sử dụng các BPTT hiện đại theo chỉ tiêu xã hộihoá, chọn p = 0,196 (Theo báo cáo kết quả thực hiện công tác dân sốKHHGĐ tại xã Thuận Hoà, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang năm 2017) [19]

d: sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 0,05

Thay vào công thức ta được n = 242 người

Cộng thêm 10% sai số, hao hụt trong nghiên cứu và làm tròn, cỡ mẫusau cùng là 272 đối tượng

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Xã Thuận Hoà gồm 17 cụm, do đó chọn ngẫu nhiên mỗi cụm 16 hộ giađình, mỗi hộ phỏng vấn 1 người

Mỗi cụm chọn ngẫu nhiên 1 đối tượng, bắt đầu thu thập số liệu từ nhàđối tượng được chọn, tiếp đó từ nhà đối tượng đó dùng thăm bốc thăm ngẫunhiên một hướng đi, đi theo hướng bốc được vào nhà đầu tiên để bắt đầu thuthập số liệu tiếp theo cho đến khi đủ đối tượng theo số đối tượng đã tính cụthể ở mỗi cụm Trường hợp không đủ đối tượng có thể quay lại hướng còn lạitiếp tục thu thập cho đến khi đủ đối tượng

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi: được xác định theo số năm sinh dương lịch của đối tượng nghiên

cứu, được chia làm 5 nhóm: từ 15-19, từ 20-24, từ 25-29, từ 30 đến 34 và ≥ 35tuổi

Trang 26

Dân tộc: là biến định danh, bao gồm 4 giá trị: Kinh, Hoa, Khơ me,

khác

Nghề nghiệp: là biến số định danh, thể hiện qua việc làm chính thức

chiếm 50% tổng số thời gian trong ngày của người dân đem lại thu nhậpchính cho đời sống cá nhân và gia đình Nghề nghiệp gồm các loại hình:

- CBVC: công nhân viên chức nhà nước, những người làm các côngviệc liên quan đến hành chính, văn bản, sổ sách bao gồm nhân viên vănphòng, kế toán, thư kí, giúp việc văn thư, làm việc văn phòng tại các ủy bannhân dân phường/xã, quận/huyện hoặc tỉnh/thành phố, giáo viên vàtrưởng/phó phòng/ban hay cơ quan/đơn vị

- HS-SV: người đang đi học tại các trường học trung học, đại học, caođẳng, trung cấp

- Buôn bán: trực tiếp buôn bán trong tất cả các ngành bao gồm: Bán đồ

ăn, đồ uống, quà vặt, buôn bán trên sông, buôn bán nhỏ tại nhà…

- Nông dân: làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi, thợ câu, thả lưới…

- Công nhân: là người nhờ vào sức lao động chân tay của mình làmviệc cho người khác để nhận được tiền công

- Nội trợ: là người lo mọi công việc hằng ngày trong sinh hoạt gia đìnhnhư cơm nước, giặt giũ, chăm sóc con cái …

- Nghề nghiệp khác: là công việc không ổn định hoặc các công việcchuyên ngành, đặc thù bao gồm: tài xế, thợ may, thợ tự do, sửa xe, sửa điệntử, thợ mộc, thợ hồ xây dựng, thợ cơ khí, thợ bạc, thợ in lụa, thợ hớt tóc…

- Kinh tế gia đình: Được phân loại theo Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đachiều áp dụng cho năm 2016-2020 [16]:

59/2015/QĐ-+ Nghèo

+ Cận nghèo

Trang 27

+ Không nghèo

Học vấn: là biến số thứ tự, thể hiện cấp học mà đối tượng nghiên cứu

đã học qua Được chia thành các nhóm trình độ như sau:

- Mù chữ: không biết đọc, biết viết

- Cấp 1: đã học từ lớp 1 đến lớp 5

- Cấp 2: đã học từ lớp 6 đến lớp 9

- Cấp 3: đã học từ lớp 10 đến lớp 12

- Trên cấp 3: có trình độ từ cấp 3 trở lên

Tuổi lập gia đình: tuổi mà đối tượng bắt đầu có gia đình (có chồng),

được chia làm 5 nhóm: từ 15-19, từ 20-24, từ 25-29, từ 30 đến 34 và ≥ 35 tuổi

Số con hiện tại: là số con hiện còn sống của đối tượng tính đến thời

điểm nghiên cứu, gồm 3 nhóm:

- Có: khi đối tượng hiện đang sử dụng các biện pháp tránh thai.

- Không: khi đối tượng hiện không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thainào

Tỷ lệ các biện pháp tránh thai hiện đang thực hiện: gồm 5 giá trị:

- Vòng tránh thai

- Viên uống tránh thai

Ngày đăng: 08/05/2018, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w