1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện cư mgar phục vụ tái canh cây cà phê dak lak

216 227 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 11,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thích hợp đất đai đối với một số LUT cà phê; đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê huyện Cư M’

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

ĐẶNG THỊ THÚY KIỀU

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG HIỆU QUẢ

ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR PHỤC VỤ

TÁI CANH CÂY CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2018

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

ĐẶNG THỊ THÚY KIỀU

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR PHỤC VỤ TÁI CANH CÂY CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận án

Đặng Thị Thúy Kiều

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân, tập thể và cá nhân những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trong và ngoài ngành Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

PGS.TS Vũ Thị Bình và TS Nguyễn Quang Dũng là những Cô/Thầy đã hướng dẫn hết mực nhiệt tình chỉ dạy giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận án

Tập thể lãnh đạo và các thầy, cô Khoa Quản lý đất đai, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Ban Quản lý Đào tạo, Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Có được những thành quả trong luận án là được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và cán bộ: Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu đất, Phân bón và Môi trường Tây Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Thống kê huyện Cư M’gar, UBND huyện Cư M’gar, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Cư M’gar đã cử người phối hợp và cung cấp số liệu cho luận án, các hộ gia đình chọn làm mô hình

Tôi cũng xin cám ơn đến các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác tại trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng tôi muốn được cám ơn những người thân trong gia đình tôi đã luôn chia sẻ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện công trình nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận án

Đặng Thị Thúy Kiều

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận án x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Đóng góp mới của luận án 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất trồng cà phê 5

2.1.1 Sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất 5

2.1.2 Yêu cầu sử dụng đất của cây cà phê và một số cây trồng xen 7

2.2 Phương pháp Đánh giá đất và nghiên cứu ứng dụng Đánh giá đất ở Việt Nam 19

2.2.1 Đánh giá đất trên thế giới 19

2.2.2 Đánh giá đất theo FAO 22

2.2.3 Một số công trình nghiên cứu ứng dụng đánh giá đất theo FAO ở Việt Nam 24

2.3 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê và tái canh cà phê trên thế giới và Việt Nam 26

2.3.1 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê 26

2.3.2 Tình hình tái canh cà phê của một số nước trên thế giới và Việt Nam 35

2.4 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu của đề tài 43

2.4.1 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu 43

Trang 6

2.4.2 Hướng nghiên cứu của đề tài 44

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 45

3.1 Nội dung nghiên cứu 45

3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar 45

3.1.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005-2016 45

3.1.3 Phân hạng thích hợp đất đai phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 45

3.1.4 Theo dõi một số mô hình sử dụng đất trồng cà phê 45

3.1.5 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo công cụ SWOT 45

3.1.6 Đề xuất sử dụng đất khi tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 46

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 46

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 47

3.2.4 Phương pháp lựa chọn và theo dõi mô hình 48

3.2.5 Phương pháp lấy mẫu đất, phúc tra bản đồ thổ nhưỡng 49

3.2.6 Phương pháp phân tích đất 49

3.2.7 Phương pháp xử lý số liệu, tổng hợp và phân tích 50

3.2.8 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê 50

3.2.9 Phương pháp đánh giá thích hợp đất đai theo FAO 54

3.2.10 Phương pháp phân tích SWOT 54

3.2.11 Phương pháp xây dựng bản đồ 55

Phần 4 Kết quả và thảo luận 56

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar 56

4.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 56

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 66

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất trồng cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar 69

Trang 7

4.2 Thực trạng sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk giai

đoạn 2005 - 2016 70

4.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2005 – 2016 70

4.2.2 Thực trạng canh tác cà phê tại huyện Cư M’gar 76

4.2.3 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê 78

4.2.4 Đánh giá tình hình tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011-2016 92

4.3 Phân hạng thích hợp đất đai phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 97

4.3.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 97

4.3.2 Phân hạng thích hợp đất đai đối với các loại sử dụng đất cà phê 104

4.4 Kết quả theo dõi một số mô hình sử dụng đất trồng cà phê 114

4.4.1 Lựa chọn các mô hình theo dõi 114

4.4.2 Đánh giá hiệu quả các mô hình trồng cà phê 117

4.5 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo công cụ SWOT 122

4.6 Đề xuất sử dụng đất khi tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 128

4.6.1 Cơ sở đề xuất sử dụng đất tái canh cà phê 128

4.6.2 Đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi tái canh 130

4.6.3 Một số giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk 135

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 139

5.1 Kết luận 139

5.2 Kiến nghị 141

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 142

Tài liệu tham khảo 143

Phụ lục 152

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt

DTTN Diện tích tự nhiên

ICO Hiệp hội Cà phê thế giới (International Coffee Organization)

IPM Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pests Management) FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

(Food and Agriculture Organization of the United Nations) LUT Loại sử dụng đất (Land Use Type)

VICOFA Hiệp hội Cà phê-Ca cao Việt Nam (Vietnam Coffee and Coca asociation)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

2.1 Yêu cầu sử dụng đất đối với cây cà phê vối 12

2.2 Yêu cầu sử dụng đất của cây tiêu 13

2.3 Yêu cầu sử dụng đất đối với cây sầu riêng 14

2.4 Yêu cầu sử dụng đất của cây bơ 17

2.5 Diện tích các cấp thích hợp một số cây trồng vùng Tây Nguyên 25

2.6 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê Việt Nam giai đoạn 2005-2016 29

2.7 Diện tích tái canh cà phê tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011-2016 39

2.8 Kế hoạch tái canh cà phê của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2016-2020 41

3.1 Thực trạng các mô hình trồng cà phê chọn theo dõi tại huyện Cư M’gar 48

3.2 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 51

3.3 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 52

3.4 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 53

3.5 Phân tích SWOT các loại sử dụng đất cà phê tại huyện Cư M’gar 55

4.1 Thống kê diện tích tự nhiên theo độ dốc huyện Cư M’gar 57

4.2 Tổng hợp các loại đất của huyện Cư M’gar 61

4.3 Hiện trạng dân số huyện Cư M’gar năm 2016 68

4.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Cư M’gar năm 2016 71

4.5 Hiện trạng các LUT cà phê huyện Cư M’gar năm 2016 73

4.6 Diện tích cà phê huyện Cư M’gar phân theo độ tuổi 75

4.7 Biến động diện tích cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2005-2016 75

4.8 Hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar 78

4.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar 81

4.10 Đánh giá hiệu quả xã hội của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 86

4.11 Đánh giá hiệu quả môi trường của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 90

4.12 Tổng hợp hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar 91

Trang 10

4.13 Diện tích tái canh cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2011-2016 93

4.14 Tỷ lệ diện tích tái canh cà phê thành công của nông hộ tại huyện Cư M’gar 95

4.15 Các chỉ tiêu và phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Cư M’gar 99

4.16 Đặc tính của các đơn vị đất đai huyện Cư M’gar 100

4.17 Tổng hợp các đơn vị đất đai theo loại đất tại huyện Cư M’gar 102

4.18 Yêu cầu sử dụng đất của các LUT cà phê huyện Cư M’gar 105

4.19 Mức độ thích hợp đất đai của LUT cà phê thuần tại huyện Cư M’gar 106

4.20 Mức độ thích hợp đất đai của LUT cà phê xen tiêu tại huyện Cư M’gar 108

4.21 Mức độ thích hợp đất đai của LUT cà phê xen sầu riêng tại huyện

Cư M’gar 110

4.22 Mức độ thích hợp đất đai của LUT cà phê xen bơ tại huyện Cư M’gar 112

4.23 Hiệu quả kinh tế của mô hình cà phê trồng thuần tại huyện Cư M’gar (tính cho 1 ha) 117

4.24 Hiệu quả kinh tế của mô hình cà phê xen tiêu tại huyện Cư M’gar (tính cho 1 ha) 118

4.25 Hiệu quả kinh tế của mô hình cà phê xen sầu riêng tại huyện Cư M’gar (tính cho 1 ha) 120

4.26 Hiệu quả kinh tế của mô hình cà phê xen bơ tại huyện Cư M’gar (tính cho 1 ha) 121

4.27 Phân tích SWOT trong sử dụng đất cà phê huyện Cư M’gar 123

4.28 Định hướng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar 131

4.29 Định hướng sử dụng đất phục vụ tái canh cà phê huyện Cư M’gar 133

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

2.1 Quy trình đánh giá đất đai theo FAO 23

4.1 Diễn biến lượng mưa và nhiệt độ huyện Cư M’gar giai đoạn 2005-2016 59

4.2 Cơ cấu kinh tế huyện Cư M’gar năm 2016 66

4.3 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar năm 2016 74

4.4 Sơ đồ đơn vị đất đai huyện Cư M’gar 103

4.5 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất đai LUT cà phê thuần huyện Cư M’gar 107

4.6 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất đai của LUT cà phê xen tiêu huyện Cư M’gar 109

4.7 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất đai của LUT cà phê xen sầu riêng huyện Cư M’gar 111

4.8 Sơ đồ phân hạng thích hợp đất đai của LUT cà phê xen bơ huyện Cư M’gar 113

4.9 Mô cà phê thuần hộ bà Trần Thị Kim Anh, thôn 8, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar 115

4.10 Mô cà phê xen tiêu hộ ông Triệu Văn Phúc, thôn 3, xã Cư Suê, huyện Cư M’gar 115

4.11 Mô cà phê trồng xen sầu riêng hộ ông Phan Đức Dương, Buôn Yông, xã Ea Tul, huyện Cư M’gar 116

4.12 Mô cà phê xen bơ hộ ông Phạm Văn Bình, thôn Tân Lập, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar 117

4.13 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của các mô trồng cà phê huyện Cư M’gar 122

4.14 Sơ đồ định hướng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar 132

4.15 Sơ đồ định hướng sử dụng đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar 134

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Đặng Thị Thúy Kiều

Tên luận án: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê

huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk

Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã số: 9.85.01.03

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng cà phê và hiệu quả một số LUT cà phê tại huyện Cư M’gar Đánh giá thích hợp đất đai đối với một số LUT cà phê; đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp điều tra, phỏng vấn nông hộ, lựa chọn theo dõi mô hình, phân tích thống kê, xử lý số liệu và tổng hợp để đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê đối với các LUT và các mô hình theo dõi Sử dụng các phương pháp khảo sát thực địa, lấy mẫu đất, phân tích đất để phúc tra xây dựng bản đồ thổ nhưỡng Sử dụng phương pháp đánh giá đất theo FAO; phương pháp phân tích SWOT

và phương pháp xây dựng bản đồ để đánh giá thích hợp đất đai và định hướng sử dụng đất khi tái canh cà phê

Kết quả chính và kết luận

- Xác định được hiệu quả của các LUT cà phê theo các tiểu vùng, cụ thể là: Tại tiểu vùng 1: các LUT cà phê xen bơ và cà phê xen sầu riêng có hiệu quả cao, cà phê xen tiêu có hiệu quả trung bình, cà phê thuần hiệu quả thấp Tại tiểu vùng 2: LUT cà phê xen bơ có hiệu quả cao, cà phê xen tiêu và cà phê xen sầu riêng có hiệu quả trung bình,

cà phê thuần hiệu quả thấp Tại tiểu vùng 3: các LUT cà phê xen tiêu và cà phê xen bơ

có hiệu quả cao, cà phê xen sầu riêng hiệu quả trung bình, cà phê thuần hiệu quả thấp

- Từ năm 2011-2016 huyện Cư M’gar đã tái canh được 2.492 ha cà phê Theo kết

quả điều tra có 88,67% diện tích tái canh cà phê thành công và 11,33% diện tích tái canh không thành công Nguyên nhân là do điều kiện đất đai không phù hợp, xử lý đất chưa đúng kỹ thuật, thực hiện tái canh trên những vườn cà phê bị nhiễm bệnh vàng lá, thối rễ nặng, chọn giống không đảm bảo chất lượng

Trang 13

- Kết quả đánh giá thích hợp đất đai đã xác định được: LUT cà phê thuần có

mức rất thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức thích hợp (S2) 26.777,87 ha, mức ít thích hợp (S3) 29.781,37 ha và không thích hợp (N) 9.184,48 ha; LUT cà phê xen tiêu có mức rất thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức thích hợp (S2) 14.498,35 ha, mức ít thích hợp (S3) 28.929,98 ha và không thích hợp (N) 22.315,39 ha; LUT cà phê xen sầu riêng có mức thích hợp (S2) 28.064,93 ha, mức ít thích hợp (S3) 16.650,46 ha và không thích hợp (N) 22.315,39 ha; LUT cà phê xen bơ có mức rất thích hợp (S1) 1.287,06 ha, mức thích hợp (S2) 26.777,87 ha, mức ít thích hợp (S3) 16.650,46 ha và không thích hợp (N) 22.315,39 ha

- Kết quả theo dõi các mô hình đã xác định: về hiệu quả kinh tế xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp là cà phê xen bơ, cà phê xen tiêu, cà phê xen sầu riêng, cà phê thuần; về hiệu quả xã hội, các LUT cà phê trồng xen cao hơn cà phê trồng thuần do tạo thêm việc làm và tận dụng được lao động nhàn rỗi, giúp nông hộ có nguồn thu nhập trải đều trong năm; về hiệu quả môi trường, các LUT cà phê trồng xen có hiệu quả môi trường cao hơn LUT cà phê thuần do có tác dụng giữ độ ẩm, giảm nhiệt độ, điều hòa khí hậu giúp vườn cà phê phát triển tốt hơn

- Kết quả phân tích SWOT xác định: Các LUT trồng cà phê có điểm mạnh và

cơ hội là điều kiện tự nhiên thuận lợi; nông hộ có nhiều kinh nghiệm sản xuất; sản phẩm cà phê, tiêu đã có thương hiệu tốt trên thị trường trong nước và quốc tế; sản phẩm sầu riêng và bơ tiêu thụ tốt ở thị trường nội địa Tuy nhiên điểm yếu và thách thức là thiếu nước tưới trong mùa khô, nông hộ khó khăn về vốn, nông hộ chưa nắm vững kỹ thuật canh tác một số LUT cà phê trồng xen, tuyến trùng và nấm tồn tại trong đất trồng cà phê ảnh hưởng đến công tác tái canh

- Đề xuất diện tích đất trồng cà phê của huyện Cư M’gar là 32.947,50 ha, trong

đó cà phê trồng xen bơ có diện tích nhiều nhất với 15.916,44 ha, cà phê trồng xen sầu riêng có diện tích 11.140,93 ha, cà phê trồng xen tiêu có diện tích 5.890,13 ha

Trong tổng diện tích đất trồng cà phê theo định hướng thì có 25.918,39 ha cà phê phục

vụ tái canh, còn diện tích trồng mới là 7.029,11 ha Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar là công tác quản lý sử dụng đất trồng cà phê, một số chính sách có liên quan đến tái canh cà phê, vốn, kỹ thuật và thị trường

- Các kết quả nghiên cứu của luận án đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn xác định LUT cà phê hợp lý góp phần thực hiện thành công việc tái canh cà phê

Trang 14

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Dang Thi Thuy Kieu

Thesis title: Research on the current situation and propose the efficient use of coffee

land in Cu M'gar district for coffee recultivation in Dak Lak province

Educational organization: Vietnam National University of Agricultural (VNUA) Research Objectives

The thesis evaluates the coffee recultivation situation and the efficiency of land use types (LUTs) for coffee in Cu M'gar district It evaluates soil suitability for some LUTs in

Cu M'gar district, proposes orientations for the use of coffee land for recultivation and solutions to effectively use land for replanting coffee in Cu M'gar district

Materials and Methods

The following methods are used: surveys, farmer interviews, model selection, statistical analysis, data processing and synthesis to evaluate the current situation and efficiency of coffee land use for LUTs and research models Field survey, soil sampling, soil analysis for revision of soil mapping are also used FAO land evaluation, SWOT analysis method and mapping method are used to assess soil suitability and land use orientation when replanting coffee

Main findings and conclusions

- Identify the effectiveness of coffee LUTs in sub-areas In sub-area 1, LUTs of coffee intercropped with avocado and coffee intercropped with durian are highly effective, coffee intercropped with pepper is average and monocropped coffee is low efficiency In sub-area 2, LUT of coffee intercropped with avocado is highly effective, coffee intercropped with pepper and coffee intercropped with durian are average and monocropped coffee is low efficiency In sub-area 3, LUTs of coffee intercropped with pepper and coffee intercropped with avocado are highly effective, coffee intercropped with durian is average, monocropped coffee is low efficiency

- From 2011 to 2016, Cu M'gar district replanted 2,492 hectares of coffee According to the survey results, 88.67% of coffee replanting area was successful and 11.33% of the replanting area failed This is due to inappropriate soil conditions and treatment, recultivation in coffee farms infected with gold leaf, heavy root rot, poor quality seed selection

- The results of the integrated assessment of land suitability have been identified: LUT of monocropped coffee has the highly appropriate level (S1) 1,287.06 hectares,

Trang 15

appropriate level (S2) 26,777.87 hectare, less appropriate level (S3) 29,781.37 hectares

and inappropriate level (N) 9,184.48 hectares LUT of coffee intercropped with pepper

has the highly appropriate level (S1) 1,287.06 hectares, appropriate level (S2) 14,498.35

hectares, less appropriate level (S3) 28,929.98 hectares and inappropriate level (N) 22,315.39 hectares LUT of coffee intercropped with durian has the appropriate level (S2) 28,064.93 hectares, less appropriate level (S3) 16,650.46 hectares and inappropriate level (N) 22,315.39 hectares LUT of coffee intercropped with avocado has the highly appropriate level (S1) 1.287,06 hectares, appropriate level (S2) 26,777.87 hectares, less appropriate level (S3) 16,650.46 hectares and inappropriate level (N) 22,315.39 hectares

- The results of monitoring the identified models: the economic efficiency ranked from high to low is as follows: coffee intercropped with avocado, coffee intercropped with durian, monocropped coffee In terms of social efficiency, LUTs of intercropped coffee are higher than monocropped coffee by creating more jobs and utilizing idle labour, helping farmers have incomes spread throughout the year In terms of environmental efficiency, LUTs of intercropped coffee are higher than monocropped coffee due to the effects of keeping moisture, reducing temperature, and regulating the climate to help coffee grow better

- Results of SWOT analysis are identified as follows: LUTs of coffee growing have strengths and opportunities thanks to favorable natural conditions, production experiences of farmers, internationally and domestically known coffee brand, durian and avocado sold well in the domestic market However, weaknesses and challenges remain due to the lack of irrigation water in the dry season, lack of capital, inadequate knowledge of cultivation techniques for some LUTs of intercropped coffee, nematode and fungi present in soil affect to the re-farming of coffee

- The proposed coffee land area of Cu M'gar district is 32,947.50 hectares, of which coffee intercropped with avocado has the largest area of 15,916.44 hectares, coffee intercropped with durian has 11,140.93 hectares and coffee intercropped with pepper has 5,890.13 ha Of the total land area planted coffee in orientation, there is

25,918.39 hectares of coffee land for re-farming and 7,029.11 hectares for new farming Solutions to improve the efficiency of using land for replanting coffee in Cu M'gar district focus on the coffee land management and utilization, some policies related to re-farming coffee, capital, techniques, and market

- The research results of the thesis have clarified the scientific and practical basis

to determine LUTs of coffee, contributing to the successful implementation of coffee cultivation

Trang 16

re-PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây, sản lượng cà phê Việt Nam luôn đạt mức trung bình trên 1 triệu tấn/năm, với kim ngạch xuất khẩu hơn 2 tỷ USD/năm Cà phê là một trong những cây trồng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan (2016), kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1.341.839 tấn, trị giá 2.674.238.962 USD, đứng thứ hai giá trị xuất khẩu cây trồng, chỉ sau lúa gạo (2.803.649.815 USD) Đến năm 2016, tổng diện tích cà phê của cả nước là 645.400 ha Cà phê chủ yếu được trồng tập trung tại các tỉnh của Tây Nguyên với tổng diện tích là 582.100 ha, chiếm 90,19% tổng diện tích cà phê của

cả nước (Tổng cục Thống kê, 2017) Tuy nhiên, hiện cả nước có đến 274.000 ha

cà phê có độ tuổi từ 10-15 năm, gần 149.000 ha có độ tuổi từ 15-20 năm, 86.000

ha đến nay đã trên 20 năm tuổi Nếu không có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt chương trình tái canh, đến năm 2020 ước tính có tới 50% diện tích cà phê Việt Nam sẽ bước sang giai đoạn già cỗi, hết thời kỳ cho sản lượng và chất lượng tốt, cần phải cưa đốn phục hồi hoặc phải trồng lại (Cục Trồng trọt, 2014a)

Tỉnh Đắk Lắk có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.312.345 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1.160.092 ha, chiếm 88,40% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Năm 2016, khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm 44,81% GDP của tỉnh (Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, 2017) Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh đã

có những bước phát triển khá rõ nét, phần lớn nhờ sự đóng góp đáng kể của ngành nông nghiệp, đặc biệt là cây cà phê Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất của khu vực Tây Nguyên cũng như cả nước Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk có 201.200 ha cà phê, chiếm 31,17% tổng diện tích cà phê của cả nước

Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy đất đai của tỉnh Đắk Lắk rất thích hợp đối với cây cà phê Tuy nhiên, thực tế sử dụng đất trồng cà phê của tỉnh Đắk Lắk đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết Theo thống kê của Cục Trồng trọt (2014a), tỉnh Đắk Lắk có đến 66.783 ha cà phê già cỗi, trong đó có 28.603 ha độ tuổi từ 15 năm đến 20 năm chiếm 42,83% và 38.180 ha trên 20 năm chiếm 57,17% Ngoài diện tích cà phê già cỗi, còn một

số diện tích có cây giống xấu, bị nhiễm bệnh dẫn đến sinh trưởng kém và cho năng suất dưới 2 tấn nhân/ha, nếu không kịp thời tái canh thì trong thời gian tới

Trang 17

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cà phê của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và của Việt Nam nói chung Trước thực trạng đó, tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành tái canh cà phê tại nhiều địa phương trên địa bàn Từ năm 2011, tỉnh Đắk Lắk bắt đầu có chủ trương thực hiện tái canh cà phê Đến năm 2016, toàn tỉnh

đã đầu tư trồng tái canh được 16.535 ha cà phê (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, 2017) Mặc dù công tác tái canh cà phê của tỉnh đã đạt được một số kết quả ban đầu, tuy nhiên cũng đang gặp nhiều khó khăn

Huyện Cư M’gar nằm trong vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 18 km Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 82.450,13 ha (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cư M’gar, 2017), chiếm 6,28% diện tích đất tự nhiên tỉnh Đắk Lắk Huyện Cư M’gar có diện tích đất trồng cà phê lớn nhất so với các địa phương khác trong tỉnh, với diện tích hiện có

là 35.754 ha và được phân bố ở tất cả các xã Cà phê là cây trồng quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội của huyện Cư M’gar Tuy nhiên, cũng giống thực trạng chung của tỉnh Đắk Lắk, hiện nay huyện Cư M’gar đang tiến hành thực hiện tái canh cà phê Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk (2013), đến năm 2020, huyện Cư M’gar cần phải thực hiện tái canh 11.894 ha cà phê do già cỗi, năng suất thấp hoặc bị bệnh, chiếm đến 33,27% diện tích đất trồng cà phê của huyện Trong thực tế những năm gần đây thời tiết thay đổi do biến đổi khí hậu đã làm cho cà phê liên tục bị mất mùa và giá cà phê không ổn định nên tại huyện Cư M’gar đang có xu hướng chuyển từ loại sử dụng đất (LUT) cà phê trồng thuần sang LUT cà phê trồng xen Hiện nay trên địa bàn huyện đang có nhiều mô hình cà phê trồng xen với một số loại cây lâu năm như tiêu, sầu riêng, bơ, vừa đa dạng hóa sản phẩm cây trồng giúp tăng hiệu quả kinh

tế cho nông hộ, vừa có tác dụng bảo vệ cho cây cà phê Vấn đề đặt ra là tỉnh Đắk Lắk và huyện Cư M’gar đang tiến hành thực hiện tái canh cà phê, vậy muốn sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê thì nên chọn LUT cà phê nào để thực hiện tái canh ? đất đai ở đây thích hợp với những LUT cà phê nào ? Mặc dù những năm qua, cà phê trồng thuần và cà phê trồng xen với một số cây lâu năm đã được nhiều nông hộ lựa chọn khi tái canh, tuy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Cư M’gar nói riêng chưa có nghiên cứu nào làm rõ cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê khi tái canh Vì vậy nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar nhằm phục vụ tái canh cà phê là rất cần thiết và cấp bách góp phần thực hiện thành công tái canh cà phê tỉnh Đắk Lắk

Trang 18

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng và hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê (trồng thuần, trồng xen), đánh giá thích hợp đất đai đối với một số loại sử dụng đất trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các LUT cà phê (trồng thuần, trồng xen tiêu, xen sầu riêng, xen bơ)

- Các loại đất đang trồng cà phê và có khả năng trồng cà phê

- Các hộ gia đình, cá nhân trồng cà phê và tái canh cà phê

- Các chính sách liên quan đến phát triển cây cà phê tại Việt Nam

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Công tác tái canh cà phê phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất trồng; đầu tư vốn; kỹ thuật canh tác, xử lý đất, chọn giống, cách trồng, chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh hại, Trong phạm vi giới hạn của đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu khả năng thích hợp đất đai và hiệu quả của các loại sử dụng đất trồng cà phê để phục vụ cho việc tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn toàn huyện Cư M’gar, trong đó tập trung nghiên cứu điểm tại 5 xã có diện tích trồng cà phê và tái canh cà phê tương đối lớn, đó là xã Quảng Tiến, Cư Suê, Ea Kpam, Quảng Hiệp, Ea Kiết

- Về thời gian:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005-2016

+ Số liệu sơ cấp như điều tra tình hình sản xuất của các vườn cà phê đang cho thu hoạch và theo dõi các mô hình trồng cà phê trong 3 năm liên tiếp là 2014,

2015 và 2016

1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Xác định được hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê, đánh giá được mức độ thích hợp đất đai đối với các loại sử dụng đất cà phê trồng thuần, cà phê

Trang 19

trồng xen với cây công nghiệp, cây ăn quả và định hướng sử dụng đất trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đã góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận khoa học về đánh giá thích hợp đất đai trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar và các địa phương khác có điều kiện tương tự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm các căn cứ để các nhà quản

lý tham khảo trong quá trình chỉ đạo thực hiện tái canh cây cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar và tỉnh Đắk Lắk; đồng thời là căn cứ để người sử dụng đất trồng

cà phê thực hiện tái canh

Trang 20

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ

2.1.1 Sử dụng đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất

Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường, vốn để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích Tùy vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái (Nguyễn Đình Bồng, 2012) Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sử dụng đất nông nghiệp phải luôn bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa các vấn đề: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu

của phát triển bền vững

- Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất, là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau là không giống nhau Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của một nước, vùng, một ngành sản xuất cụ thể mà đánh giá theo những góc độ khác nhau phù hợp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)

Khi đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất có thể dùng nhiều chỉ tiêu khác nhau và cách xác định các chỉ tiêu tùy thuộc vào mục đích và phạm vi nghiên cứu Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả kinh tế và các đặc điểm, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả kinh tế sử dụng đất có thể xácđịnh hệ thống các chỉ tiêu như giá trị sản xuất, đầu tư cơ bản, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, Để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện trên cơ sở các số liệu thu thập được và các kết quả điều tra phỏng vấn nông hộ ở địa điểm nghiên cứu, đánh giá Các chỉ tiêu cần tính toán để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp thường quy về đơn vị 1 ha cho từng LUT nông nghiệp (Đỗ Nguyên Hải, 2016)

- Hiệu quả xã hội

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ

Trang 21

giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Theo Đỗ Nguyên Hải (2016), một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp là khả năng bảo đảm đời sống của nông dân cũng như toàn xã hội (vấn đề an ninh lương thực, vấn đề chất đốt, nhiên liệu,…); nâng cao đời sống của người dân trong vùng đánh giá; mức độ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội của vùng đánh giá và tập quán canh tác của người dân địa phương hay không; khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm (sử dụng công lao động kết hợp cùng giá trị ngày công); tính ổn định, bền vững của những loại sử dụng đất bố trí ở các vùng định canh, định cư kinh tế mới; tỷ lệ sản xuất sản phẩm hàng hoá (dựa vào kết quả điều tra tỷ lệ lượng sản phẩm hàng hóa bán ra); tiềm năng thị trường tiêu thụ sản phẩm Tùy yêu cầu nghiên cứu có thể lựa chọn những chỉ tiêu phù hợp cho mục đích nghiên cứu

- Hiệu quả môi trường

Phân tích hiệu quả môi trường đối với các loại sử dụng đất nằm trong khuôn khổ của nội dung đánh giá tác động môi trường của các phương án sử dụng đất hay dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn Phân tích hiệu quả môi trường là một nội dung quan trọng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các loại sử dụng đất được lựa chọn đưa vào bố trí Phân tích hiệu quả môi trường là tiến hành xem xét thực trạng môi trường, đánh giá mức độ, chiều hướng tác động của loại sử dụng đất đối với môi trường Các chỉ tiêu cần xem xét khi đánh giá hiệu quả môi trường là tỷ lệ che phủ tối đa mà loại hình sử dụng đất nhất định tạo

ra, khả năng chống xói mòn rửa trôi, nguy cơ gây ô nhiễm hoặc phú dưỡng nguồn nước do bón quá nhiều một loại phân bón, do sử dụng thuốc hóa học bảo

vệ thực vật hay do nước thải, nguy cơ làm tái nhiễm mặn hoặc tái nhiễm phèn, chiều hướng biến động độ phì nhiêu của đất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)

Hiệu quả môi trường được các cơ quan chức năng rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả thì hoạt động đó không có những tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Như vậy, trong sử dụng đất đai phải phát huy tối đa những tác động tích cực, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của yếu tố môi trường đối với đất đai và ngược lại Đây là những cơ sở khoa học rất quan trọng đối với việc nghiên cứu mối quan hệ, tác động giữa sử dụng đất đai với môi trường trong sử dụng đất

Trang 22

2.1.2 Yêu cầu sử dụng đất của cây cà phê và một số cây trồng xen

2.1.2.1 Yêu cầu sử dụng đất đối với cây cà phê

Cà phê là cây trồng nhiệt đới, các yếu tố như khí hậu, độ cao địa hình, loại đất, có tính chất quyết định đến sinh trưởng và phát triển cây cà phê Trong các yếu tố sinh thái chính ảnh hưởng đến cây cà phê thì yếu tố khí hậu mang tính quyết định do yếu tố khí hậu khó thay đổi Các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng chỉ ít nhiều hạn chế bớt ảnh hưởng của nó chứ không làm thay đổi được Do vậy khi quy hoạch vùng trồng cà phê phải đặc biệt quan tâm đến các yếu tố khí hậu trước rồi mới đến yếu tố đất đai (Lê Ngọc Báu, 2011)

- Yêu cầu về khí hậu: Yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến năng suất, đặc biệt là chất lượng, hương vị của sản phẩm cà phê

+ Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố rất mẫn cảm đối với năng suất của cây cà phê vì sẽ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây, quá trình tích lũy chất khô, thụ phấn của hoa và hình thành hạt cà phê Theo Hoàng Thanh Tiệm và cs (1999), cà phê là loại cây ưa ánh sáng tán xạ vì vậy quá trình quang hợp được thực hiện tốt nhất trong điều kiện cây được che bóng Nhiệt độ cao thường dẫn đến sự thiếu hụt nước ở trong cây làm cho các lỗ khí khổng đóng lại, làm giảm khả năng trao đổi không khí với môi trường bên ngoài, đồng thời làm tăng lượng khí CO2 bên trong tế bào của

lá, ức chế đến hoạt động quang hợp Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng cao sẽ làm cho các

hệ thống tiếp nhận ánh sáng của diệp lục bị phá hủy gây ra các vết cháy Sự chênh lệch về nhiệt độ giữa các tháng trong năm cũng như biên độ nhiệt giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đặc biệt là hương vị của hạt cà phê (Lê Ngọc Báu, 2011) Đối với cây cà phê vối nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C, thích hợp nhất cho cà phê vối là 22 - 260C (Trương Hồng, 1999) cho cà phê chè 17 -

230C và biên độ nhiệt độ không khí ngày - đêm nên duy trì trong khoảng 9 - 120C

Cà phê vối là cây đòi hỏi nền nhiệt cao, phát triển tốt nhất ở những vùng có nhiệt

độ trung bình năm từ 20 - 240C, tổng tích ôn tốt nhất > 7.5000C

+ Lượng mưa

Lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu rất quan trọng vì sẽ ảnh hưởng đến đến khả năng sinh trưởng, năng suất, kích thước của hạt cà phê và quá trình phân hóa mầm hoa Nhiều nghiên cứu cho thấy cây cà phê cần một lượng mưa khá cao và phân bố đồng đều giữa các tháng trong năm, nhưng phải có thời

Trang 23

gian khô hạn tối thiểu từ 2 - 3 tháng (tháng 12 đến tháng 2 năm sau) Thời gian khô hạn này chính là yếu tố quyết định đến quá trình phân hóa mầm hoa ở cây cà phê Sau quá trình phân hóa mầm hoa, cây cà phê cần có một lượng nước nhất định do mưa hoặc tưới tương đương với 40 mm thì quá trình nở hoa, thụ phấn sẽ diễn ra thuận lợi, hoa nở đều và tập trung, còn nếu lượng nước mưa hoặc tưới quá ít sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sự ra hoa và đậu quả không tập trung dẫn đến năng suất vườn cây không ổn định Sau khi ra hoa, thụ phấn cây cà phê cần được cung cấp nước thường xuyên và liên tục để đảm bảo đủ ẩm cho cây sinh trưởng, phát triển, nuôi quả và lặp lại chu kỳ sinh trưởng ra cành, lá mới để tạo năng suất cho vụ sau Chính vì vậy, bổ sung đầy đủ nước cho cây cà phê trong giai đoạn này có tính chất quyết định góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cà phê (Phan Quốc Sủng, 1987) Cà phê chịu đựng tốt với biến động của lượng mưa nhưng tốt nhất lượng mưa 1.500 – 2.000 mm cho cà phê vối và phân bố đồng đều trong khoảng 9 tháng (Hoàng Thanh Tiệm và cs., 1999) Cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt buộc nên ngoài yêu cầu phải có một thời gian khô hạn ít nhất là 2 -

3 tháng sau giai đoạn thu hoạch để phân hóa mầm hoa, giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu phải có thời tiết khô ráo, không có mưa để quá trình thụ phấn được thuận lợi So với cà phê chè và cà phê mít thì cà phê vối có sức chịu hạn kém nhất (Nguyễn Văn Thái, 2012)

+ Độ ẩm không khí

Độ ẩm không khí có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn cà phê nở hoa Khi nở hoa, cây cà phê cần phải có ẩm độ cao, nếu ẩm độ quá thấp cộng với điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao dẫn tới hậu quả làm cho các mầm, nụ hoa bị thui, quả non bị rụng (Nguyễn Văn Thái, 2012) Cây cà phê vối thích hợp trong điều kiện ẩm độ cao, gần như bão hòa Theo Nguyễn Văn Thường (2001), ẩm

độ không khí trung bình năm thích hợp nhất khoảng 85% cho cà phê vối và 75 - 80% cho cà phê chè Ẩm độ không khí cao sẽ làm giảm sự mất nước của cây qua quá trình bốc thoát hơi nước Tuy nhiên nếu ẩm độ không khí quá cao cũng

là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại phát triển Ngược lại nếu ẩm

độ không khí quá thấp làm cho quá trình bốc thoát hơi nước tăng lên rất mạnh làm cho cây bị thiếu nước và héo, đặc biệt là trong những tháng mùa khô có nhiệt độ cao và tốc độ gió lớn Ngoài ẩm độ không khí, quá trình bốc thoát hơi nước qua lá cà phê phụ thuộc vào tốc độ gió, nhiệt độ môi trường, ẩm độ đất (Lê Ngọc Báu, 2011)

Trang 24

+ Gió

Gió lạnh, gió nóng, gió khô đều có hại đến sinh trưởng của cây cà phê vì cây cà phê xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên ưa khí hậu nóng ẩm và tương đối lặng gió Nếu gió nhẹ sẽ giúp cây cà phê tăng khả năng bốc và thoát hơi nước, trao đổi chất của cây và quá trình thụ phấn Nhưng khi có gió mạnh dễ làm rụng hoa, quả, lá, thậm chí gãy cành sẽ ảnh hưởng đến năng suất vườn cà phê Đặc biệt là gió mạnh trong mùa khô nóng, làm tăng sự bốc thoát hơi nước từ cây và đất và có thể làm tổn thương cây về mặt cơ học Nhìn chung tất cả các vùng trồng cà phê ở nước ta đều bị ảnh hưởng của gió hoặc bão (Hoàng Thanh Tiệm

và cs., 1999) Vùng Tây Nguyên gió Đông Bắc thường thổi rất mạnh trong các tháng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với tốc độ gió lớn kèm theo không khí khô nên làm tăng quá trình bốc thoát hơi nước vì vậy cần trồng cây chắn gió phù hợp để hạn chế tác hại của gió Cây chắn gió và cây che bóng còn

có tác dụng hạn chế hình thành và tác hại của sương muối Đặc biệt ở những vùng có gió nóng, cây chắn gió và cây che bóng còn có tác dụng điều hòa nhiệt

độ trong vườn cà phê

- Yêu cầu về độ cao địa hình

Cà phê vối ưa nóng ẩm, ánh sáng dồi dào nên thích hợp trồng ở những vùng có độ cao dưới 800 m so với mặt nước biển Nếu những vùng có độ cao lớn hơn 1.000 m so với mặt nước biển không nên trồng cà phê vối bởi nó sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng (Nguyễn Sỹ Nghị và cs., 1996)

Trang 25

- Yêu cầu về đất

Chất lượng đất có vai trò quan trọng, quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất cà phê Các nhà nghiên cứu đất trồng cà phê đều nhất trí cho rằng đối với cà phê thì lý tính đất quan trọng hơn hóa tính đất Thực tế cho thấy thành phần hóa học của đất có thể thay đổi được bằng cách bón phân, cải tạo đất,…Nhưng đối với tính chất vật lý của đất thì cần phải trải qua một thời gian rất dài và rất khó cải tạo Đất tốt nhất để trồng cà phê là đất có tầng canh tác dày, tầng đất sâu tối thiểu từ 70 cm trở lên, đất tơi xốp, mực nước ngầm ở độ sâu tối thiểu là 100 cm, độ xốp 64%, dung trọng 0,9 - 1,0 g/cm3 và tỉ trọng bằng 2,54 (Hoàng Thanh Tiệm và cs., 1999) Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1999), các vườn cà phê cho năng suất cao trên 5 tấn nhân/ha/năm đều có độ dầy tầng đất mặt lớn hơn 1 m Một số loại đất có tầng dày, bộ rễ cà phê có thể ăn sâu

và hút được nước, các chất dinh dưỡng khoáng ở độ sâu tới 3,5 m Ngược lại nếu tầng đất quá mỏng, bộ rễ cây cà phê không có khả năng ăn sâu nên cây chịu hạn kém Thực tế cho thấy, một số vườn cà phê được trồng trên các loại đất bị kết von tầng canh tác mỏng, mặc dù trong 3 - 4 năm đầu cây sinh trưởng rất tốt, nhưng khi bước vào giai đoạn kinh doanh cây mới biểu hiện thiếu dinh dưỡng, khô cành, rụng quả do bộ rễ kém phát triển (Hoàng Thanh Tiệm và cs., 1999)

Kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn đất thích hợp cho cà phê của Nguyễn Tri Chiêm và Đoàn Triệu Nhạn (1974), cho thấy năng suất cà phê có liên quan chặt chẽ với hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số, kali và lân dễ tiêu Theo Phạm Kiếm Nghiệp (1985), đất trồng cà phê ở Việt Nam thích hợp tốt khi hàm lượng dinh dưỡng tổng số trong đất từ 0,10 - 0,20 % N; 0,10 - 0,12 % P2O5; 0,10 - 0,12

% K2O và hàm lượng chất hữu cơ trong đất lớn hơn 2%

Nghiên cứu của Vũ Cao Thái (1985) cho thấy cây cà phê rất thích hợp với đất chua nhẹ, trong phạm vi pH từ 4,5 - 5,5, giới hạn dưới của cây là 3,5 và giới hạn trên là 6,5 Theo Ngô Văn Hoàng (1992), cà phê vẫn có thể phát triển tốt ở pH đất 4,5 - 5 Khi đất quá chua, khả năng di động của Mn++ cao gây độc cho cà phê (Nguyễn Khả Hòa, 1994) Theo Willson (1987), trồng cây cà phê trên đất trong khoảng 4 < pH < 8 mới mang lại hiệu quả kinh tế cao Forestier (1969) xác định cây cà phê sinh trưởng tốt trong giới hạn pH từ 5,4 đến 5,5 Robinson (1959) cho rằng pH thích hợp với cà phê Arabica là 5,2-6,2 Vũ Cao Thái (1985) cho rằng đất nâu đỏ bazan trên các vườn cà phê sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao thì ở tầng đất mặt (từ 0 đến 20 cm) có trị số trung bình của dung trọng

Trang 26

là 0,88 g/cm3, tỉ trọng là 2,54 g/cm3, độ tơi xốp là 64,25% Đất bazan được xem

là loại đất lý tưởng nhất để trồng cà phê với tầng đất canh tác dày, độ tơi xốp cao từ 60 đến 65%, dung trọng thấp từ 0,8 đến 1,0 g/cm3, có lượng đoàn lạp thể bền vững, thoát nước nhanh, thoáng khí và giữ ẩm rất tốt (Nguyễn Tri Chiêm

Độ pH của đất có quan hệ chặt chẽ đến khả năng hút các chất dinh dưỡng khoáng

ở trong đất của bộ rễ cà phê (thích hợp từ 4,5-6,5) Đất chua sẽ cố định dinh dưỡng ở dạng khó tiêu rễ cà phê không hút được Nhôm di động trong đất cao sẽ gây ngộ độc cho rễ Hàm lượng nhôm di động trên 50ppm/100g đất thì rễ tơ cà phê vối bị ngộ độc và chết (Trương Hồng, 1999)

Theo Hoàng Thanh Tiệm và cs (1999), thì trên đất đỏ bazan tại tầng đất mặt từ (0 đến 20 cm) ở các vườn cà phê sinh trưởng và phát triển tốt thì lượng đoàn lạp có cấp hạt lớn hơn 0,25 mm đạt trung bình 66,05%, ngược lại ở các vườn cà phê sinh trưởng và phát triển kém thấp hơn 59,34% Đoàn lạp bền trong nước là một chỉ tiêu chỉ ra mức độ bền vững, ổn định của kết cấu đất khi gặp những tác động cơ giới như làm đất, mưa to, gió lớn, rửa trôi

Thành phần cơ giới đất giữ vai trò quan trọng trong việc giữ nước, giữ phân và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển Đối với cây trồng lâu năm nói chung và cây cà phê nói riêng có nhu cầu dinh dưỡng trong mọi thời kỳ trong năm thì đất sét pha thịt là thích hợp nhất Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1999), thì tỷ lệ sét vật lý cao nhất ở đất nâu đỏ hình thành trên đất bazan, tỷ lệ sét thấp nhất trên đất xám phát triển trên đá granit

Theo Nguyễn Võ Linh (2010), đối với cây cà phê vối yêu cầu độ cao so với mặt nước biển thích hợp nhất (S1) là từ 600 m đến 800 m đối với các loại đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk), đất nâu vàng trên đá macma bazơ

và trung tính (Fu), đất đỏ vàng trên đá macma bazơ và trung tính (Fd) Mức thích hợp (S2) là từ 400 m đến 600 m đối với các loại đất đỏ vàng trên đá sét (Fs), đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp) Mức ít

Trang 27

thích hợp (S3) là dưới 400 m đối với các loại đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa), đất xám trên đá macma axit (Xa), đất xám bạc màu trên đá macma axit (Ba), đất phù sa có tầng loang lổ của các sông khác (Pf), đất phù sa chua (Pc) Không thích hợp (N) là trên 800 m đối với các loại đất khác

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), cho thấy điều kiện sinh thái tại huyện Cư M’gar thích hợp cho phát triển cà phê vối

Bảng 2.1 Yêu cầu sử dụng đất đối với cây cà phê vối

Chất lượng và đặc điểm

1 Nhiệt độ không khí (0C)

- Trung bình tối thấp năm > 20 17 - 20 14 - <17 < 14

- Trung bình tối cao năm > 30 27 - 30 22 - < 27 < 22

- Thành phần cơ giới e, g (cấu

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009)

Tóm lại, nhiều nghiên cứu cho thấy cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám,… với điều kiện các loại đất này có tầng canh tác dày, thoát và giữ

ẩm tốt, tơi xốp, độ chua nhẹ, giàu hữu cơ, hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cao Đắk Lắk là tỉnh có khí hậu, độ cao, đất đai phù hợp cho phát triển cây cà phê Vì vậy Đắk Lắk trở thành vùng phát triển cà phê tập trung và hiệu quả nhất

ở Việt Nam

Trang 28

2.1.2.2 Đặc điểm của một số cây trồng xen với cây cà phê

- Cây tiêu

Cây tiêu có tên khoa học là Piper nigrum L (thuộc họ Piperaceae) Cây tiêu được du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ XVI nhưng sự phát triển và mở rộng diện tích chỉ bắt đầu từ thế kỷ XIX (Phan Hữu Trinh và cs., 1988) Cây tiêu thuộc loại thân thảo, mềm dẻo, trong điều kiện tự nhiên, thân có thể mọc dài 10 m Cây tiêu thích hợp với nhiệt độ từ 25-270C, đòi hỏi lượng mưa cao khoảng 2.000 – 3.000 mm/năm phân bố đều trong năm, lượng mưa tối thiểu 1800 mm/năm Ẩm

độ không khí cần cao quanh năm 75 - 90% sẽ giúp cho tiêu sinh trưởng, phát triển tốt và khả năng thụ tinh cao Cây tiêu có thể chịu được mùa khô nhưng không kéo dài vì bộ rễ cây tiêu (tiêu dâm cành) phân bố cạn Tuy vậy cây tiêu cũng cần thời gian khô ngắn trong năm để cho trái chín tập trung và nở hoa đồng loạt Những vùng có sương muối, mưa lớn, đất thoát nước kém nếu trồng tiêu sẽ

dễ bị chết Nguyên thủy là loại cây mọc dưới tán rừng nên thích bóng rợp ở mức

độ nhất định Gió lớn ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của tiêu, gió nóng làm cường độ bốc hơi mạnh, gió lốc, bão làm bật gốc tiêu Nơi gió mạnh cần trồng cây chắn gió Cây tiêu có thể sinh trưởng, phát triển bình thường ở độ cao từ 0 -

900 m (so với mặt biển), tuy nhiên ở vùng cao phải có nhiệt độ không quá thấp, phải > 150C Cây tiêu thích hợp với đất có tầng dày 80 cm trở lên, mạch nước ngầm phải sâu trên 2 m, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tơi xốp, dễ thoát nước và giữ nước tốt, mùn cao (>2%), giàu đạm (>1,5%), hàm lượng Kali và Magiê khá (Phan Hữu Trinh và cs., 1988) Đến năm 2015 diện tích cây tiêu của Việt Nam là 97.600 ha với sản lượng đạt 168.800 tấn (Tổng cục Thống kê, 2016)

Bảng 2.2 Yêu cầu sử dụng đất của cây tiêu

Trang 29

Hiện nay tiêu được trồng tại khoảng 26 nước Các nước sản xuất tiêu nhiều là Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Brazil, Madagasca, Sri Lanca và Việt Nam (Nguyễn Văn Thái, 2014) Cây tiêu ở Việt Nam được trồng trên đất sét pha cát, (Hà Tiên- Phú Quốc), đất đỏ (Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ), đất phù sa bồi (đồng bằng sông Cửu Long), đất xám (miền Đông Nam bộ)

- Cây sầu riêng

Cây sầu riêng có tên khoa học là Duri zibethinus (thuộc họ Bombacaceae),

có nguồn gốc từ Đông Nam Á và mọc hoang dại trong rừng ở Malaysia Xuất xứ

từ vùng đất thấp nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á nên cây sầu riêng được trồng ở các nước như Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Mianma, Lào và Việt Nam Ngoài ra, còn được trồng ở một số nước nhiệt đới Trung Nam Mỹ, châu Phi và Châu Đại Dương như Australia,… (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Sầu riêng trồng bằng hạt có thể cao 20 - 40 m, cây ghép hoặc cây chiết chỉ cao 8 - 12 m, thân thẳng, cành thường nằm ngang, phân cành thấp

Bảng 2.3 Yêu cầu sử dụng đất đối với cây sầu riêng

1 Nhiệt độ không khí (0C)

- Trung bình tối cao năm > 30 > 27-30 > 24-27 < 24

- Trung bình tối thấp năm > 20 > 17-20 > 14-17 < 14

2 Tổng lượng mưa TB năm (mm) > 2.500 >

2.100-2.500

> 2.100

1.700-< 1.700

3 Số giờ nắng TB năm (giờ) > 2.500 >

2.000-2.500

> 2.000

Trang 30

Sầu riêng tuy ưa khí hậu nóng ẩm, song không ưa nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp Sự sinh trưởng của cây sầu riêng bị giới hạn khi nhiệt độ thấp dưới

220C hoặc vượt quá 400C, yêu cầu độ ẩm cao và ổn định, lượng bức xạ của vùng trồng không quá lớn,… (Nguyễn Danh Vàn, 2008)

Sầu riêng có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên nhiều loại đất Đất thích hợp cho cây sầu riêng phải có thành phần cơ giới trung bình đến thịt nặng, nhiều chất hữu cơ, thoát nước tốt, độ pH thích hợp từ 5,0 - 6,5 Sầu riêng cũng phát triển tốt ở vùng đồi núi, vùng gần xích đạo ở độ cao trên 800 m Như vậy, khí hậu của các vùng trồng sầu riêng ở nước ta như đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ, Tây Nguyên và yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng cho thấy những nơi này có thời gian khô hạn thuận lợi cho việc phân hoá mầm hoa Ngoài ra, nhiệt

độ trung bình hàng năm, lượng mưa các tháng trong năm tương đối phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng

Sầu riêng cũng phát triển tốt ở những vùng đồi núi Đất đỏ miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên, đất phù sa ven sông Tiền, sông Hậu, nhưng phải chú ý lên líp nếu đất thấp Như vậy, khí hậu của các vùng trồng sầu riêng ở nước ta như: đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ, Tây Nguyên và yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng cho thấy những nơi này có thời gian khô hạn thuận lợi cho việc phân hoá mầm hoa Ngoài ra, nhiệt độ trung bình hàng năm, lượng mưa các tháng trong năm tương đối phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây sầu riêng

Sầu riêng có hương vị và mùi thơm độc đáo, ít bị hư hỏng, thịt quả sầu riêng đông lạnh ở - 240C có thể giữ được 3 tháng không mất mùi vị Sầu riêng dùng để ăn tươi, sấy khô, có thể dùng để tăng mùi vị cho nhiều loại bánh, kẹo, kem, nước giải khát, Hạt sầu riêng chứa nhiều tinh bột có thể chiên, làm bánh

Gỗ sầu riêng dùng trong xây dựng, làm đồ đạc trong gia đình Sầu riêng là cây ăn quả nhiệt đới khá đặc biệt được ưa chuộng ở Thái Lan, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Indonesia, Việt Nam, Ở Việt Nam, sầu riêng là một trong những cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế cao (Lâm Thị Bích Lệ, 1995)

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chủ yếu trồng sầu riêng sữa bò hạt

lép, giống Xani (Chanee), giống Mongthong (Mongthong tiếng Thái Lan có

nghĩa là chiếc gối vàng) vì có ưu điểm hạt lép, thịt quả dày, béo, thơm, ngọt được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Hiện huyện Cư M’gar chủ yếu trồng cà phê giống Mongthong, đây là giống sầu riêng nổi tiếng của Thái Lan, mới được nhập vào nước ta năm 1991 và được trồng đầu tiên ở huyện Bình

Trang 31

Long (Bình Phước) Khả năng thích ứng rộng, sinh trưởng khá tốt, tán cây hình tháp, lá thuôn dài, mặt lá phẳng, màu xanh đậm, bóng, nhanh cho trái, cây ghép nếu được chăm sóc tốt chỉ sau 3 năm là cho trái Trái có dạng hình trụ, đuôi trái nhọn, trọng lượng trung bình 2,5 - 3 kg, trái lớn có thể đạt 4,5 - 6 kg Khi chín

vỏ trái chuyển từ màu vàng xanh sang vàng sậm, cơm trái màu vàng nhạt, ráo, mịn, ít xơ Tỷ lệ phần ăn được cao (29 - 33%), hạt lép nhiều, ăn ngọt, thơm, béo (Nguyễn Danh Vàn, 2008)

- Cây bơ

Cây bơ có nhiều tên khoa học khác nhau đó là Persea Americana, Presea

gratissima, Laurus Persca (thuộc Lauraceae) Bơ là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao Trong quả bơ có chứa các Vitamin A, B, C, D, E, (Nguyễn Hiền, 1993; Tố Nga, 1993) Cây bơ cao 8 m - 18 m, thuộc loại thân gỗ, đường kính tán 8 m - 15 m

Theo Vũ Công Hậu (1996), cây bơ cần lượng mưa thích hợp từ 1.000 - 1.500 mm Tuy nhiên, với lượng mưa lớn mà thoát nước tốt như đất đỏ miền Đông Nam bộ thì cây bơ vẫn phát triển bình thường Cây bơ không chịu được đất ngập úng, chỉ cần vài giờ không thoát nước kịp là cây bị thối rễ và chết Điều này được lý giải là ở đồng bằng sông Cửu Long không trồng được bơ vì đất quá ẩm, mực nước ngầm nông Ngoài ra, nếu mưa lớn lúc trổ hoa sẽ làm trôi hạt phấn, thối hoa và quá trình thụ phấn thụ tinh không diễn ra thuận lợi Tuy rất mẫn cảm với điều kiện độ ẩm, song cây bơ không phải là cây của vùng khô hạn, nếu trong thời gian hình thành quả non gặp điều kiện thời tiết quá khô hạn quả sẽ bị rụng nhiều Hầu hết cây bơ đều nhạy cảm với điều kiện dư thừa nước, độ ẩm đất cao, thoát nước kém Sinh trưởng của cây con, sự ra hoa và phát triển chồi bị ảnh hưởng xấu khi nhiệt độ gần 0oC Biên độ nhiệt độ ngày đêm cũng tác động rõ nét đến sinh trưởng và phát triển của cây bơ, đặc biệt sự phát dục của hoa Nhiệt độ ban đêm là 15 - 20oC và ban ngày là 20oC thích hợp cho sự phát triển hoa, tăng trưởng của ống phấn và các giai đoạn tăng trưởng của phôi

Theo Lâm Thị Bích Lệ (2002), cây bơ có thể trồng trên nhiều loại đất, cây

bơ yêu cầu cần đất có khả năng giữ và thoát nước tốt Đặc biệt đất đồi thoai thoải trồng bơ rất tốt, bơ có thể trồng ở những vùng đất dốc, đồi núi Các khuyến cáo trước đây của các chuyên gia Pháp, Mỹ nên chọn đất trồng bơ ở những nơi có độ dốc vừa phải Cây bơ trồng trên đất ẩm ướt và thoát nước kém dễ bị bệnh thối rễ

và thường chết sau vài năm trồng Ngoài ra, cần phải chú ý tới độ sâu của mạch

Trang 32

nước ngầm (sâu trên 1 m) Cây bơ không thích hợp với vùng đất có độ mặn cao (nồng độ muối phải nhỏ hơn 1/1.000) Bơ không ưa đất quá chua hoặc quá kiềm,

pH đất thích hợp từ 5,0 – 6,5 Ở những chân đất có pH cao, nhiều yếu tố kim loại

bị giữ lại trong đất làm cây bơ không hấp thụ được Ở đồng bằng sông Cửu Long không trồng bơ được cũng vì vấn đề đất quá ẩm, mực nước ngầm nông, nhiều nơi

bị nhiễm phèn nặng, điều đó lý giải tại sao trồng bơ ở những vùng này không tốt Ngược lại, trên đất đỏ miền Đông Nam bộ, dù lượng mưa lớn hơn nhưng đất thoát nước tốt nên trồng bơ phát triển tốt

Cây bơ phát triển được ở dạng địa hình từ 200 đến 1.800 m so với mặt nước biển và trồng được nhiều loại đất, nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan Đất trồng bơ bắt buột phải thoát nước tốt, đây là lý do miền Tây Nam bộ khó phát triển được bơ Địa hình càng lên cao, chất lượng bơ càng ngon, địa hình thấp chất lượng và tuổi thọ không cao

Bảng 2.4 Yêu cầu sử dụng đất của cây bơ

1 Khí hậu

2 Đất

3 Độ cao so với mặt biển

Nguồn: Vũ Công Hậu (1996), Lâm Thị Bích Lệ (2002)

Các giống bơ phổ biến hiện nay tại Việt Nam dựa vào 2 nguồn giống chính sau: Giống trong nước, đó là những cây đầu dòng đáp ứng các tiêu chuẩn chọn lọc, nhân vô tính bằng phương pháp ghép để cung cấp giống cho sản xuất Giống được mang tên, ký hiệu do các cơ quan nghiên cứu giống trong nước đặt

ra Giống nhập ngoại hiện có 10 giống mới nhập ngoại trong những năm gần đây đang được nghiên cứu khảo nghiệm, trong đó có nhiều giống thương mại nổi tiếng khắp thế giới như Hass, Fuerte, Ettinger, Reed, Booth7,… Giống Booth7

Trang 33

hiện đang được khuyến cáo trồng ở Tây Nguyên trên những vùng có cao độ 800

m Nếu bơ trồng thuần thì thiết kế khoảng cách 8 m x 7 m hoặc 9 m x 6 m, nếu trồng xen kết hợp che bóng, chắn gió cho cà phê thì thiết kế 9 m x 9 m hoặc 9 m

x 12 m (Lâm Thị Bích Lệ, 2014)

Tóm lại, các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên: Di linh, Bảo lộc (Lâm Đồng), Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai,…nơi có mực nước ngầm sâu, đất đỏ bazan tơi xốp, pH: 5,0 - 6,5 là thích hợp nhất, nhiệt độ trung bình từ 20 - 23oC, lượng mưa từ 1.800 - 2.000 mm Chính vì vậy nhiều nghiên cứu cho thấy đặc điểm đất đai và điều kiện sinh thái tại tỉnh Đắk Lắk rất thích hợp với cây cà phê, cây tiêu, cây bơ và sầu riêng

2.1.2.3 Vai trò của một số cây trồng xen với cây cà phê

Trong 10 năm trở lại đây, biến đổi khí hậu thể hiện rõ tại khu vực Tây Nguyên như lượng mưa đã thay đổi với tần suất xuất hiện mưa vào các tháng 12, tháng 1 là khá phổ biến (trong khi mùa mưa ở đây thường từ tháng 5 đến tháng 10) Điều này đã làm thay đổi nhiều trong việc canh tác cây trồng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, sản lượng của hầu hết các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu (Trương Hồng, 2013) Vì vậy có thể thấy biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại khu vực Tây Nguyên trong giai đoạn tới, nhất

là đối với cây cà phê Hiện nay để ứng phó với những thay đổi thất thường của thời tiết, nhiều nông hộ ở Đắk Lắk đã trồng xen trong vườn cà phê những loại cây như tiêu, sầu riêng, bơ, chôm chôm, xoài, nhãn, điều, Trồng xen canh trong vườn cà phê vừa có tác dụng che bóng, chắn gió vừa cho thêm sản phẩm có giá trị kinh tế cao Thực tiễn cho thấy cà phê được trồng xen với các loại cây khác không những đã mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn mà còn giúp cho vườn cà phê phát triển ổn định hơn

Theo Lê Ngọc Báu (2007), việc trồng xen các cây hàng hóa lâu năm trong vườn cà phê ngày càng được chú ý và dễ được nông dân chấp nhận hơn là trồng cây che bóng Đa dạng hóa sản phẩm chẳng những có tác dụng làm giảm thiểu rủi ro do biến động của thời tiết, sâu bệnh và giá cả mà còn có thể nâng cao thu nhập của người dân nhờ các sản phẩm thu hoạch từ trồng xen Ở các mô hình trồng xen cây lâu năm, các chất dinh dưỡng trong đất đều tăng cao đặc biệt là hàm lượng hữu cơ tăng 24% - 26%, tiểu khí hậu trong vườn cây được cải thiện

Trang 34

Ngày nay, phương thức trồng xen theo hàng hoặc băng khá phổ biến do thuận lợi cho việc chăm sóc và chủ động trong việc điều chỉnh mật độ gieo trồng giữa các loài Ở Việt Nam, trồng xen là phương thức canh tác rất quen thuộc đối với nông dân, đặc biệt ở các vùng trung du, miền núi Trồng xen giữa các loài cây ăn quả khác nhau trong vườn, thường rất phổ biến ở nhiều vùng nông nghiệp của Việt Nam hiện nay Trồng xen thường mang lại nhiều lợi ích

to lớn về kinh tế, xã hội và sinh thái, môi trường Trước hết, trồng xen thường cho năng suất tổng số trên đơn vị diện tích cao hơn so với trồng thuần (Trần Danh Thìn, 2005)

Theo Trương Hồng (2017), việc trồng xen bơ, sầu riêng, tiêu đã làm tăng thêm thu nhập trên vườn cây từ 40% - 120% Đặc biệt trồng xen tăng hiệu quả sử dụng nước lên 17,7% Cụ thể là để sản xuất 1 tấn cà phê trong vườn cà phê trồng xen chỉ cần 500 m3 nước, trong khi đó vườn cà phê trồng thuần cần đến 600 m3 Đây là giải pháp kỹ thuật góp phần sản xuất cà phê bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu

Tuy nhiên khi chọn các loại cây đưa vào hệ thống trồng xen theo Boussard (1980), cần chú ý đến một số yếu tố như: khả năng thích ứng với khí hậu, đất đai trong vùng của cây trồng chính, nhu cầu về nước, sự phân bố của hệ rễ và nhu cầu dinh dưỡng, vóc dáng hay tư thế ngoại hình, chu kỳ sinh trưởng, nguồn nhân công có sẵn, giá trị kinh tế của cây trồng, khả năng cải tạo đất và cơ giới hóa trên vườn cây

Lợi ích trồng xen canh đã rõ ràng, có thể nói trong điều kiện biến đổi khí hậu đang làm cho tình hình khô hạn vào những tháng mùa khô trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ngày càng gay gắt, nguồn nước khan hiếm thì việc trồng các loại cây trồng xen trong vườn cà phê đang chứng tỏ là một cách làm hiệu quả, đem lại lợi ích về nhiều mặt cho người trồng cà phê

2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐẤT VÀ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ĐÁNH GIÁ ĐẤT Ở VIỆT NAM

2.2.1 Đánh giá đất trên thế giới

Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có (FAO, 1976)

Trang 35

Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp đánh giá đất chính đó là đánh giá đất theo định tính (chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán), đánh giá đất theo phương pháp thông số và đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng (Đào Châu Thu và cs., 1998) Công tác đánh giá đất đai đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Các phương pháp đánh giá đất đã phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành mang tính hệ thống (tự nhiên-kinh tế-xã hội) nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về tài nguyên đất và sử dụng đất (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998) Theo Trần An Phong (1995), công tác đánh giá đất đai có vai trò rất lớn trong việc sử dụng tài nguyên đất đai bền vững và trở thành công cụ cần thiết cho việc quy hoạch, bố trí sử dụng đất hợp lý Theo Nguyễn Khang và cs (2000) thì quan điểm và nội dung nghiên cứu đánh giá đất đai của một số nước trên thế giới như sau:

- Ở Liên Xô cũ đánh giá đất đai theo 2 hướng chung và riêng (sử dụng hiệu suất cây trồng là ngũ cốc hay cây họ đậu) Đơn vị đánh giá đất đai là các

“chủng đất” quy định theo các đặc điểm như đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, Chỉ tiêu đánh giá là năng suất, giá thành sản phẩm (rúp/ha), mức hoàn vốn, lãi thuần,

- Ở Hoa Kỳ: ứng dụng rộng rãi theo 2 phương pháp:

+ Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý việc phân hạng đất đai cho từng cây trồng chính

+ Phương pháp yếu tố thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các loại đất khác

Đánh giá đất theo cách cho điểm các chỉ tiêu (từ 1 - 100 điểm), thông qua việc so sánh tương đối hoặc tính tương quan với một loại cây chuẩn, thường là

“cây lúa”

- Ở các nước châu Âu khác: đánh giá đất phổ biến theo 2 hướng là nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất (phân hạng định tính) và nghiên cứu các yếu tố kinh tế - xã hội nhằm phân loại sức sản xuất thực

tế của đất đai (phân hạng định lượng) Thông thường so sánh bằng cách tính điểm hoặc tính %

- Ở Ấn Độ: thường áp dụng phương pháp tham số, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học

Trang 36

Y = F1(A) x F2(B) x F3(C) x F4(X) Trong đó:

Y - Biểu thị sức sản xuất của đất

tỷ lệ 60-79%, có thể trồng bất kỳ cây gì nhưng cho năng suất thấp hơn, nhóm còn lại là nhóm trung bình, nhóm nghèo, nhóm rất nghèo và nhóm không thể dùng vào sản xuất nông nghiệp

- Ở châu Phi: người ta cũng áp dụng phương pháp tham số trong đánh giá đất đai, nhưng có tính đến sự phụ thuộc vào các đặc điểm của đất như phẫu diện đất, tầng đất chặt trong phẫu diện, màu sắc và điều kiện thoát nước, độ chua và

độ no bazơ, tầng mùn, Tất cả những đặc tính trên được thể hiện bằng tham số của các biến trong phương trình toán học, hàm số là sức sản xuất của đất đai Như vậy qua nghiên cứu các phương pháp đánh giá đất đai của một số nước trên thế giới cho thấy tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá, phân hạng tài nguyên đất đai phù hợp nhưng nhìn chung theo hai khuynh hướng: (1) đánh giá đất đai về mặt

tự nhiên nhằm xác định tiềm năng và mức độ thích hợp của đất đai với các mục đích sử dụng cụ thể; (2) đánh giá đất đai về mặt hiệu quả kinh tế trên một loại sử dụng đất nhất định Nhìn chung các phương pháp đánh giá đất trên thế giới có những ưu điểm và hạn chế riêng Ưu điểm chung của các phương pháp đánh giá đất là đều xác định đối tượng đánh giá bao gồm toàn bộ quỹ đất của vùng lãnh thổ nghiên cứu Mục đích chung của các phương pháp đánh giá đất đều nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất thích hợp, hiệu quả và lâu bền

Trang 37

2.2.2 Đánh giá đất theo FAO

Đến đầu những năm 1970, các nhà nghiên cứu trên thế giới thấy rằng cần

phải có phương pháp đánh giá đất đai chung cho toàn cầu nhằm giúp cho việc tổng hợp các kết quả đánh giá đất đai một cách thống nhất Vì vậy các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai nhiều quốc gia khác nhau đã cùng biên soạn lại toàn

bộ nội dung có liên quan phương pháp đánh giá đất đai Kết quả cuối cùng là tài liệu về đánh giá đất của FAO được công bố vào năm 1976, đây là phương pháp đánh giá đất đầu tiên của FAO Phương pháp đánh giá đất của FAO là sự kế thừa, kết hợp được những điểm mạnh của phương pháp đánh giá đất của Liên

Xô (cũ) và Hoa Kỳ, đồng thời có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá đất đai cho các mục đích sử dụng khác nhau Việc đưa ra phương pháp đánh giá mang tính quốc tế đã giúp cho các nhà khoa học có tiếng nói chung

và giảm những trở ngại trên các phương diện trao đổi thông tin cũng như kiến thức trong đánh giá sử dụng đất Điểm nổi bật của phương pháp đánh giá đất của FAO là coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo

vệ tài nguyên đất đai nhằm xây dựng cơ sở khoa ho ̣c trong viê ̣c sử du ̣ng bền

vững đất nông nghiê ̣p trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong từng quốc gia riêng rẽ (FAO, 1998)

Theo phương pháp đánh giá đất của FAO năm 1976, ngoài việc đánh giá thích hợp về điều kiện tự nhiên còn đề cập đến hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Sau đó FAO đã tiếp tục chỉnh sửa, soạn thảo các tài liệu đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể khác nhau như: đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa (FAO, 1983), đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (FAO, 1985), đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (FAO, 1989), đánh giá đất đai cho sự phát triển (FAO, 1990), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1992) và hướng dẫn đánh giá đất đai phục vụ cho quản

lý bền vững (FAO, 1993) Đến năm 2007, FAO đã đề xuất đánh giá thích hợp đất đai bền vững trong quản lý đất đai (FAO, 2007)

Đánh giá đất theo FAO phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm

cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế và xã hội Đặc điểm đánh giá đất của FAO là những tính chất đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng, định lượng được Cần thiết có sự lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động

Trang 38

trực tiếp và có ý nghĩa tới đất đai của vùng/khu vực nghiên cứu Quy trình đánh giá đất đai theo FAO gồm các bước như hình 2.1

KHỞI ĐẦU

(a) Mục tiêu (b) Số liệu (c) Lập kế hoạch đánh giá

KHẢO SÁT TÀI NGUYÊN ĐƠN VỊ BẢN ĐỒ ĐẤT ĐAI

LOẠI SỬ DỤNG ĐẤT

Loại sử dụng đất chủ yếu

hay loại sử dụng đất cụ thể

SO SÁNH SỬ DỤNG ĐẤT VỚI ĐIỀU KIỆN ĐẤT ĐAI

(a) Đối chiếu (b) Tác động môi trường (c) Phân tích kinh tế - xã hội (d) Kiểm tra thực địa

Tính chất và chất lượng đất đai

Yêu cầu, giới

hạn của việc

sử dụng đất

Cải tạo đất đai

Phân loại khả năng thích hợp đất đai

TRÌNH BÀY KẾT QUẢ

Hình 2.1 Quy trình đánh giá đất đai theo FAO

Nguồn: FAO (2007) Như vậy đánh giá đất theo FAO dựa trên cơ sở so sánh các dữ liệu tài nguyên đất với các yêu cầu sử dụng đất của loại sử dụng đất Đánh giá đất cung cấp thông tin về sự thích hợp đất đai cho việc sử dụng đất, nghĩa là cung cấp thông tin về sự thích hợp trong sử dụng đất cho công tác quy hoạch sử dụng đất Trong đánh giá đất theo FAO, cả hai khâu điều tra tự nhiên và kinh tế - xã hội đều quan trọng Hiện nay công tác đánh giá đất đai theo FAO được thực hiện ở

Trang 39

nhiều quốc gia và trở thành một khâu quan trọng trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất Kết quả của đánh giá đất là việc phân hạng được mức độ thích hợp đất đai Theo Đỗ Đình Sâm và cs., (2005), phân hạng mức độ thích hợp đất đai là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất liên quan đến mục đích của đất được

sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hóa,… để có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp

2.2.3 Một số công trình nghiên cứu ứng dụng đánh giá đất theo FAO ở Việt Nam

Phương pháp đánh giá đất theo FAO được ứng dụng vào Việt Nam từ cuối những năm 1980 Trong thời gian qua, các nhà khoa học đất cùng với các nhà quy hoạch quản lý đất đai đã sử dụng tài liệu đánh giá đất của FAO để áp dụng cho công tác đánh giá đất tại Việt Nam Đến nay đã có nhiều công trình ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO để phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy hoạch

sử dụng đất trên địa bàn cả nước

Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995) bước đầu nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) Kết quả đã xác định 372 đơn vị bản đồ đất đai, 90 loại sử dụng đất chính và phân chia 41 loại thích hợp đất đai cho 9 vùng sinh thái khác nhau trên phạm vi toàn quốc Việc đánh giá đất đai theo FAO trên phạm vi toàn quốc bước đầu đã đem lại những kết quả thiết thực đó là phân lập được các vùng chuyên canh cây trồng tập trung cho sản xuất hàng hóa như vùng phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên, vùng sản xuất lúa

ở đồng bằng sông Cửu Long,

Vùng đồi núi phía Bắc có các nghiên cứu của Lê Duy Thước (1992), Lê Thái Bạt (1995) Kết quả đánh giá đất thích hợp cho thấy đất thích hợp cao chiếm 0,4%, đất thích hợp trung bình 17,2%, đất thích hợp thấp 33,0% và không thích hợp 49,4% Việc tổ chức sử dụng đất hợp lý trong nông nghiệp cần đặt ra theo hướng bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, loại sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất được chọn phù hợp với mức độ thích hợp theo tiêu chuẩn sử dụng đất bền vững

Vùng Đông Nam Bộ có các công trình của Phạm Quang Khánh (1995),

trên bản đồ đơn vị đất đai và hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 đã thể hiện

Trang 40

54 đơn vị đất đai với 602 khoanh, có 7 loại sử dụng đất chính, 49 loại sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụng đất được chọn

Năm 1989, Vũ Cao Thái đã thử nghiệm đánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số cây trồng như cà phê, cao su, chè, dâu tằm vùng Tây Nguyên, trên

cơ sở vận dụng phương pháp phân hạng thích hợp của FAO để đánh giá định tính và đánh giá khái quát tiềm năng đất

Trên cơ sở đánh giá thích hợp đất đai theo hướng dẫn của FAO (1976), kết quả đánh giá thích hợp đất đai vùng Tây Nguyên của Lưu Thế Anh (2014) cho thấy diện tích đất thích hợp cho cà phê vối là 2.126.632 ha (chiếm 38,9%), cà phê chè là 560.319 ha (chiếm 10,3%), tiêu là 1.581.075 ha (chiếm 28,9%), điều là 2.366.373 ha (chiếm 43,3%), cao su là 1.788.523 ha (chiếm 32,7%)

Bảng 2.5 Diện tích các cấp thích hợp một số cây trồng vùng Tây Nguyên

Ít thích hợp (S3)

Nguồn: Lưu Thế Anh (2014)

Tại tỉnh Đắk Lắk, có Nguyễn Khang và Nguyễn Văn Tân (1995) với nghiên cứu “Đánh giá đất đai vùng dự án đa mục tiêu Ea Súp, Đắk Lắk” đã thông qua cải tạo thủy lợi để phân hạng sử dụng thích hợp đất hiện tại và tương lai cho hơn 8.000 ha đất lúa nước Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ huyện Ea Súp

và huyện Buôn Đôn của tỉnh Đắk Lắk Năm 2014, Phạm Thế Trịnh cũng đã ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai theo FAO để đánh giá khả năng thích hợp của vùng đất đỏ bazan đang trồng cà phê xen mắc ca Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá thích hợp đất đai với diện tích 29.306,29 ha, kết quả đã xác định có

Ngày đăng: 08/05/2018, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
71. Sơn Trang (2014). Tái canh cà phê vẫn khó. Cập nhật ngày 2 tháng 12 năm 2014, tại http://www.nongnghiep.vn/tai-canh-ca-phe-van-kho-post135414.html Link
89. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (2016). Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2015. Truy cập ngày 01/02/2016 tại http://iasvn.org/homepage/Thi- truong-xuat-khau-ca-phe-Viet-Nam-nam-2015- 7898.html Link
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009). Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp tập 2. NXB Khoa học và Kỹ thuật Khác
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012). Quyết định số 1987/QĐ-BNN-TT, ngày 21/08/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt quy hoạch phát triển ngành cà phê đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Khác
3. Boussard B. (1980). Trồng xen cho cà phê và ca cao (Trịnh Đức Minh dịch). Tuyển tập các bài dịch từ Tạp chí nước ngoài, Viện Nghiên cứu Cà phê, Buôn Ma Thuột, 1985, dịch từ Café - Cacao - Thé. Vol 24 (No.1), của IFCC (Viện Nghiên cứu Cà phê Ca cao Pháp), tr. 72-77 Khác
4. Chế Thị Đa (2009). Các biện pháp hiệu quả khi tái canh cà phê vối. Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên Khác
5. Chế Thị Đa, Trần Kim Loang, Dương Thị Oanh và Trần Anh Hùng (2012). Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong tái canh cà phê vối ở Tây Nguyên. Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên Khác
6. Chi Cục Thống kê huyện Cư M’gar (2006). Niên giám thống kê huyện Cư M’gar năm 2005. Cư M’gar Khác
7. Chi Cục Thống kê huyện Cư M’gar (2009). Niên giám thống kê huyện Cư M’gar năm 2009. Cư M’gar Khác
8. Chi Cục Thống kê huyện Cư M’gar (2012). Niên giám thống kê huyện Cư M’gar năm 2011. Cư M’gar Khác
9. Chi Cục Thống kê huyện Cư M’gar (2014). Niên giám thống kê huyện Cư M’gar năm 2013. Cư M’gar Khác
10. Chi Cục Thống kê huyện Cư M’gar (2017). Niên giám thống kê huyện Cư M’gar năm 2016. Cư M’gar Khác
11. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2008). Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2007. Đắk Lắk Khác
12. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2011). Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2010. Đắk Lắk Khác
13. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2014). Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2013. Đắk Lắk Khác
14. Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk (2017). Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2016. Đắk Lắk Khác
15. Cục Trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2012a). Hội thảo Hiện trạng sản xuất, giải pháp phát triển và trồng tái canh cà phê trong thời gian tới, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012 Khác
16. Cục Trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2012b). Hội nghị Đánh giá chương trình tái canh cà phê đến năm 2012, phương hướng và giải pháp thời gian tới, Lâm Đồng năm 2012 Khác
17. Cục Trồng trọt, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2014a). Đề án trồng tái canh cà phê giai đoạn 2014-2020, Hà Nội năm 2014 Khác
18. Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014b). Quyết định số 3417/QĐ-BNN-TT ngày 01 tháng 08 năm 2014 về việc Phê duyệt đề án phát triển ngành cà phê bền vững đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm