1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện cư mgar phục vụ tái canh cây cà phê dak lak (tt)

27 518 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nông hộ đã lựa chọn LUT cà phê trồng xen với một số cây lâu năm khi thực hiện tái canh cà phê, tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Cư M’gar nói riêng chưa có ngh

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

ĐẶNG THỊ THÚY KIỀU

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR PHỤC VỤ TÁI CANH CÂY CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 9.85.01.03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Hµ NéI, 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Vũ Thị Bình

Phản biện 1: PGS.TS Lê Thái Bạt

Hội Khoa học đất Việt Nam

Phản biện 2: PGS.TS Trần Quốc Vinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phản biện 3: TS Thái Thị Quỳnh Như

Tổng cục Quản lý đất đai

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, họp tại: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Vào hồi 08h30 ngày 28 tháng 12 năm 2017

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Huyện Cư M’gar cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk 18

km về phía Bắc Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 82.450,13 ha, trong đó có 35.754 ha đất trồng cà phê và được phân bố ở tất cả các xã Cư M’gar là huyện có diện tích đất trồng cà phê lớn nhất so với các địa phương khác trong tỉnh Đắk Lắk Tuy nhiên, diện tích cà phê cần phải tái canh khá lớn do cà phê già cỗi, năng suất thấp hoặc bị bệnh Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk thì đến năm 2020, huyện Cư M’gar cần phải thực hiện tái canh 11.894 ha, chiếm đến 33,27% diện tích đất trồng cà phê của huyện Kết quả khảo sát cho thấy những năm gần đây tại huyện Cư M’gar đang có xu hướng chuyển từ loại sử dụng đất (LUT) cà phê trồng thuần sang LUT cà phê trồng xen Nhiều nông hộ đã lựa chọn LUT cà phê trồng xen với một số cây lâu năm khi thực hiện tái canh cà phê, tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Cư M’gar nói riêng chưa có nghiên cứu nào làm rõ

cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê khi tái canh

Vì vậy nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar nhằm phục vụ tái canh cà phê là rất cần thiết và cấp bách góp phần thực hiện thành công tái canh cà phê tỉnh Đắk Lắk

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng và hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê (trồng thuần, trồng xen), đánh giá thích hợp đất đai đối với một số loại sử dụng đất trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Đề xuất định hướng sử dụng đất trồng cà phê khi thực hiện tái canh và các giải pháp sử dụng hiệu quả đất tái canh cà phê huyện Cư M’gar trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các LUT cà phê (trồng thuần, trồng xen tiêu, xen sầu riêng, xen bơ)

- Các loại đất đang trồng cà phê và có khả năng trồng cà phê

- Các hộ gia đình, cá nhân trồng cà phê và tái canh cà phê

- Các chính sách liên quan đến phát triển cây cà phê tại Việt Nam

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Công tác tái canh cà phê phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất trồng; đầu tư vốn; kỹ thuật canh tác, xử lý đất, chọn giống, cách trồng, chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh hại, Trong phạm vi giới hạn của đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu khả năng thích hợp đất đai và hiệu quả của các loại sử dụng đất trồng cà phê để phục vụ cho việc tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn toàn huyện Cư M’gar, trong đó tập trung nghiên cứu điểm tại 5 xã có diện tích trồng cà phê và tái canh cà phê tương đối lớn, đó là xã Quảng Tiến, Cư Suê, Ea Kpam, Quảng Hiệp, Ea Kiết

- Về thời gian:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005-2016

+ Số liệu sơ cấp như điều tra tình hình sản xuất của các vườn cà phê đang cho thu hoạch và theo dõi các mô hình trồng cà phê trong 3 năm liên tiếp là 2014, 2015

và 2016

Trang 4

1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Xác định được hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê, đánh giá được mức

độ thích hợp đất đai đối với các loại sử dụng đất cà phê trồng thuần, cà phê trồng xen với cây công nghiệp, cây ăn quả và định hướng sử dụng đất trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đã góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận khoa học về đánh giá thích hợp đất đai trồng cà phê phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar và các địa phương khác có điều kiện tương tự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

tố sinh thái chính ảnh hưởng đến cây cà phê thì yếu tố khí hậu mang tính quyết định

vì đây là yếu tố khó thay đổi Các biện pháp kỹ thuật canh tác chỉ có thể hạn chế bớt ảnh hưởng của khí hậu đến sinh trưởng và phát triển cà phê, do vậy khi quy hoạch vùng trồng cà phê phải đặc biệt quan tâm đến các yếu tố khí hậu trước rồi mới đến yếu tố đất đai (Lê Ngọc Báu, 2011)

Nhiều nghiên cứu cho thấy cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám,… với điều kiện các loại đất này có tầng canh tác dày, thoát và giữ ẩm tốt, tơi xốp, độ chua nhẹ, giàu hữu cơ, hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cao Đắk Lắk là tỉnh

có khí hậu, độ cao, đất đai phù hợp cho phát triển cây cà phê Vì vậy Đắk Lắk trở thành vùng phát triển cà phê tập trung và hiệu quả nhất ở Việt Nam

Trong 10 năm trở lại đây, biến đổi khí hậu thể hiện rõ tại khu vực Tây Nguyên

và đã ảnh hưởng đến sử dụng đất trồng cà phê Để ứng phó với biến đổi khí hậu thì việc chọn các LUT cà phê trồng xen đang chứng tỏ là một cách làm hiệu quả, đem lại lợi ích về nhiều mặt cho người trồng cà phê Tuy nhiên khi chọn các loại cây đưa vào

hệ thống trồng xen theo Boussard (1980), cần chú ý đến một số yếu tố như khả năng thích ứng với khí hậu và đất đai trong vùng của cây trồng chính, nhu cầu về nước, sự phân bố của hệ rễ và nhu cầu dinh dưỡng, vóc dáng hay tư thế ngoại hình, chu kỳ sinh trưởng, nguồn nhân công có sẵn, giá trị kinh tế của cây trồng, khả năng cải tạo đất và cơ giới hóa trên vườn cây

ỨNG DỤNG ĐÁNH GIÁ ĐẤT Ở VIỆT NAM

Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại sử dụng đất yêu cầu phải

có (FAO, 1976)

Trang 5

Hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp đánh giá đất chính đó là đánh giá đất theo định tính (chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán), đánh giá đất theo phương pháp thông số và đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng (Đào Châu Thu và cs., 1998) Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới

có những ưu điểm và hạn chế riêng Ưu điểm chung của các phương pháp đánh giá đất là đều xác định đối tượng đánh giá bao gồm toàn bộ quỹ đất của vùng lãnh thổ nghiên cứu Mục đích chung của các phương pháp đánh giá đất đều nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất thích hợp, hiệu quả và lâu bền

Phương pháp đánh giá đất của FAO là sự kế thừa, kết hợp được những điểm mạnh của phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và Hoa Kỳ, đồng thời có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá đất đai cho các mục đích sử dụng khác nhau Việc đưa ra phương pháp đánh giá đất mang tính quốc tế đã giúp cho các nhà khoa học có tiếng nói chung và giảm những trở ngại trên các phương diện trao đổi thông tin cũng như kiến thức trong đánh giá sử dụng đất Điểm nổi bật của phương pháp đánh giá đất của FAO là coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo vệ tài nguyên đất đai nhằm xây dựng cơ sở khoa ho ̣c trong viê ̣c sử du ̣ng bền vững đất nông nghiê ̣p trên phạm vi toàn thế giới cũng như trong từng quốc gia riêng rẽ (FAO, 1998)

Quy trình đánh giá đất của FAO gồm các bước đó là: xác định mục tiêu, thu thập tài liệu, xác định loại sử dụng đất, xác định đơn vị đất đai, đánh giá khả năng thích hợp, xác định hiện trạng kinh tế, xã hội và môi trường, xác định loại sử dụng đất thích hợp nhất, quy hoạch sử dụng đất và áp dụng của việc đánh giá đất

Phương pháp đánh giá đất theo FAO được ứng dụng vào Việt Nam từ cuối những năm 1980 Trong thời gian qua, các nhà khoa học đất cùng với các nhà quy hoạch quản lý đất đai đã sử dụng tài liệu đánh giá đất của FAO để áp dụng cho công tác đánh giá đất tại Việt Nam Đến nay đã có nhiều công trình ứng dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn cả nước

2.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ VÀ TÁI CANH CÀ PHÊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.3.1 Tình hình sử dụng đất trồng cà phê và một số công trình nghiên cứu về sử dụng đất trồng cà phê

* Trên thế giới

Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị cao trên thế giới, với diện tích trên

10 triệu ha Theo số liệu của ICO, hiện nay có 54 nước sản xuất cà phê, tập trung chủ yếu vào các khu vực là Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á-Thái Bình Dương Hiện tại có 10 nước đang đứng đầu về sản lượng cà phê của thế giới theo thứ tự là Brazil, Việt Nam, Comlombia, Indonesia, Ethiopia, Ấn Độ, Honduras, Uganda, Guatemala và Peru

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng đất trồng cà phê

như: Theo Raju et al (1982), trên thế giới cà phê được trồng trên nhiều loại đất như

đất phát triển trên phiến sét, đá vôi, bazan, diệp thạch, gơnai, granit,… trong đó đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan được xem là thích hợp nhất Những nước có diện tích

cà phê trên đất bazan nhiều là Indonesia, Costa Rica, Ethiopia, Colombia, Nicaragoa,

Philippines và Việt Nam Còn theo Krishnamurthy and Ramaiah (1985) và Ramaiah

Trang 6

(1985) thì đất trồng cà phê ở Ấn Độ gồm đất phát triển trên đá diệp thạch, gơnai, granit và một số loại đất khác có thành phần cơ giới từ sét pha đến sét nặng Kết cấu đất và độ dày tầng đất có tầm quan trọng rất lớn vì cây cà phê có năng lực phát triển

bộ rễ rất mạnh Ở Brazil, tại những vùng đất có độ màu mỡ dưới trung bình nhưng có

lý tính đặc biệt đã tạo điều kiện cho rễ cây cà phê phát triển mạnh Ở những vùng đất chặt, bí hoặc nông làm cho rễ cọc bị ngắn, các rễ khác chỉ lan rộng ở tầng đất mặt và không sâu quá 30 cm

* Ở Việt Nam

Theo Tổng cục Thống kê đến năm 2016, cà phê được trồng tại 19 tỉnh trên địa bàn cả nước, với tổng diện tích là 645.400 ha Trong đó, Đắk Lắk là tỉnh trồng cà phê nhiều nhất với diện tích 201.200 ha, chiếm 31,17% tổng diện tích cà phê cả nước

Ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng đất trồng

cà phê như: Theo Vũ Cao Thái (1989), đất bazan thuộc vùng Tây Nguyên nước ta có tầng đất dày, kết cấu tốt, tơi xốp, độ phì cao nên cây cà phê nơi đây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn những nơi khác, do vậy người

ta mệnh danh chúng là “thiên đường” của cây cà phê Theo Nguyễn Văn Toàn (2005), đất đỏ bazan hiện đang trồng cà phê ở Tây Nguyên có 405.284 ha, chiếm 26,2% tổng quỹ đất bazan và chiếm 92,6% tổng diện tích cà phê toàn vùng Hầu hết

cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên đều được trồng trên đất đỏ (Ferralsols - FR) 396.336

ha, chiếm 97,8%; trên đất đen (Luvisols - LV) có 8.468 ha và rải rác ở đất nâu thẫm (Phaeozems - PH) 480 ha Như vậy, xét về điều kiện đất (độ dốc, tầng dày) về cơ bản đất đang trồng cà phê là hợp lý

Đã có một số kết quả nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê như nghiên cứu của Nguyễn Văn Hóa (2014) cho thấy thu nhập cà phê trong niên vụ 2010/2011 của tỉnh Đắk Lắk cho thu nhập hỗn hợp (MI) đạt 74,57 triệu đồng/ha, lợi nhuận kinh tế đạt 64,76 triệu đồng/ha, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí là 1,08 lần (108%), lợi nhuận kinh tế trên một tấn cà phê nhân đạt 24,67 triệu đồng Phạm Thế Trịnh (2014), cũng đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sử dụng đất trồng cà phê trên địa bàn huyện Krông Năng của tỉnh Đắk Lắk cho thấy đối với các vườn trồng cà phê thuần lợi nhuận trung bình từ 37,34 triệu đồng/ha/năm đến 99,91 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt là mô hình cà phê trồng xen mắc ca năm thứ 9 cho lợi nhuận 294,47 triệu đồng/ha/năm

2.3.2 Tình hình tái canh cà phê của một số nước trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới đã có nhiều nước thực hiện chương trình tái canh cà phê như Ấn

Độ, Colombia, Indonesia, Uganda, Brazil, Lý do chính phải tiến hành tái canh cà phê vì già cỗi hoặc bị bệnh do tuyến trùng và nấm gây hại dẫn đến năng suất thấp

Ở Việt Nam, diện tích đã tái canh và ghép cải tạo cà phê của cả nước là 43.270

ha Theo kế hoạch, diện tích cà phê cần tái canh đến năm 2020 là 200.000 ha (Trung tâm Khuyến nông quốc gia, 2014)

Tỉnh Đắk Lắk có đến 66.783 ha cà phê già cỗi, trong đó có 28.603 ha độ tuổi từ

15 năm đến 20 năm chiếm 42,83% và 38.180 ha trên 20 năm chiếm 57,17% (Cục Trồng trọt, 2014) Ngoài diện tích cà phê già cỗi, còn một số diện tích có cây giống xấu, bị nhiễm bệnh dẫn đến sinh trưởng kém và cho năng suất dưới 2 tấn nhân/ha cần

Trang 7

phải tái canh Theo kế hoạch thì giai đoạn 2016 - 2020 toàn tỉnh Đắk Lắk phải thực hiện tái canh 32.335 ha cà phê

Một số công trình nghiên cứu về tái canh cà phê ở Việt Nam như: nghiên cứu của Chế Thị Đa và cs (2012), cho thấy kỹ thuật làm đất rà rễ kỹ, xử lý hố trước khi trồng, bón phân hữu cơ với liều lượng 15-20 kg/hố, luân canh với cây họ đậu hoặc cây ngô và thời gian luân canh ít nhất 1 năm với mật số tuyến trùng trong đất, rễ <

100 con/100g đất thì hầu hết tái canh cà phê đều thành công Đề tài cũng đã nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác tổng hợp trong tái canh cà phê vối Nghiên

cứu của Trương Hồng và cs (2016), đã khẳng định tuyến trùng Pratylenchus coffeae,

Meloidogyne incognita và nấm Fusarium sp., Rhizoctonia sp là tác nhân chính gây

chết cà phê tái canh Nghiên cứu của Vũ Anh Tú (2017), đã xác định được yếu tố hạn chế chính của đất bazan trồng tái canh cà phê tại Gia Lai đó là về hóa học là hàm lượng hữu cơ, kali dễ tiêu, magiê trao đổi; về vật lý là dung trọng; và về sinh học là

sự xuất hiện của các loài tuyến trùng Pratylenchus spp., Meloidogyne spp

và Rotylenchulus reniformis với mật độ cao, gây hại cà phê vối từ đó cung cấp cơ sở

khoa học để bổ sung quy trình tái canh cà phê trên đất bazan ở Gia Lai

2.4 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

2.4.1 Nhận xét chung về tổng quan tài liệu

Nhiều nghiên cứu đã nêu được đặc điểm, tính chất của đất trồng cà phê, yêu

cầu sử dụng đất đối với cây cà phê cũng như vai trò của việc trồng xen cây lâu năm với cây cà phê Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cũng đã làm rõ được nguyên nhân phải tái canh cà phê và khẳng định việc tái canh cà phê là cần thiết Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê nhiều nhất cả nước và cũng là tỉnh có diện tích cà phê cần phải tái canh khá nhiều (chỉ sau tỉnh Lâm Đồng) Một số báo cáo ban đầu của các

cơ quan chức năng cũng đã tổng kết được thực trạng tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ đi sâu về các biện pháp kỹ thuật tái canh

cà phê như kỹ thuật làm đất, chọn giống, bón phân, xử lý tuyến trùng,… mà chưa chú

ý nghiên cứu sâu về chất lượng đất và khả năng thích hợp đất đai, phương thức canh tác (trồng thuần, trồng xen) để làm sao giúp người trồng cà phê nâng cao hiệu quả sử dụng đất khi tái canh cà phê Vì vậy cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT cà phê, khả năng thích hợp đất đai đối với các LUT cà phê, trên cơ sở đó khuyến cáo nông hộ nên tái canh những LUT cà phê nào để đem lại hiệu quả cao, tránh được các rủi ro do biến động của thời tiết, sâu bệnh và giá cả

2.4.2 Hướng nghiên cứu của đề tài

Phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến sử dụng đất cà phê của huyện Cư M’gar Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng cà phê của huyện Cư M’gar như: diện tích đất cà phê, tình hình biến động diện tích cà phê, diện tích các LUT cà phê Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT cà phê và tình hình tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar Đánh giá thích hợp đất đai cho các LUT cà phê, đề xuất định hướng sử dụng đất cà phê và một số giải pháp sử dụng hiệu quả đất cà phê khi tái canh tại huyện Cư M’gar

Trang 8

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất trồng

cà phê tại huyện Cư M’gar

- Thực trạng sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005 - 2016

- Phân hạng thích hợp đất đai phục vụ tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

- Theo dõi một số mô hình sử dụng đất trồng cà phê

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong sử dụng đất trồng cà phê huyện

Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo công cụ SWOT

- Đề xuất sử dụng đất khi tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập từ các Bộ ngành, tỉnh Đắk Lắk, huyện Cư M’gar

và công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Dựa trên các nhóm đất chính hiện đang trồng cà phê của huyện Cư M’gar đề tài đã tiến hành phân ra 3 tiểu vùng đặc trưng cho 3 nhóm đất chính trên địa bàn gồm: Tiểu vùng 1 đặc trưng là nhóm đất đỏ vàng với diện tích 69.426,72 ha: chọn 3 xã Quảng Tiến, Cư Suê và Ea Kpam Tiểu vùng 2 đặc trưng là nhóm đất đen với diện tích 8.355,95 ha: chọn xã Quảng Hiệp Tiểu vùng 3 đặc trưng là nhóm đất xám với diện tích 2.185,71 ha: chọn xã Ea Kiết

3.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Chọn có chủ ý 300 nông hộ trồng cà phê theo các LUT trồng thuần và trồng xen trên địa bàn 5 xã để phỏng vấn, thông tin cần điều tra trong mẫu phiếu soạn sẵn

- Phỏng vấn sâu 8 cán bộ của ngành nông nghiệp, Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên theo những thông tin trong mẫu phiếu soạn sẵn

3.2.4 Phương pháp lựa chọn và theo dõi mô hình

Đề tài chọn 4 mô hình nghiên cứu gồm: cà phê trồng thuần, cà phê xen tiêu, cà phê xen sầu riêng và cà phê xen bơ tại các xã Cư Suê, Ea Tul, Ea Kpam Thời gian theo dõi mô hình trong 3 năm: từ năm 2014 đến 2016

3.2.5 Phương pháp lấy mẫu đất, phúc tra bản đồ thổ nhưỡng

Trên cơ sở bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk tỷ lệ 1/100.000, tách riêng phần huyện

Cư M’gar đưa về tỷ lệ 1/25.000 Tuân thủ quy trình điều tra, lập bản đồ đất của Bộ Khoa học và Công nghệ TCVN 9487:2012; sổ tay điều tra, phân loại, lập bản đồ đất

và đánh giá đất (Lê Thái Bạt và cs., 2015), đào 8 phẫu diện đất và lấy 8 mẫu đất tầng mặt, lấy mẫu đất phân tích theo tầng phát sinh để phân tích nhằm phúc tra bản

đồ thổ nhưỡng

3.2.6 Phương pháp phân tích đất

Các mẫu đất được phân tích tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học đất (Trường Đại học Tây Nguyên), các phương pháp phân tích tuân thủ theo các tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 9

3.2.7 Phương pháp xử lý số liệu, tổng hợp và phân tích

Số liệu điều tra sơ cấp được xử lý bằng phần mềm Excel Số liệu sau khi được

xử lý như hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các LUT cà phê, tình hình tái canh cà phê sẽ được tổng hợp thành các bảng thống kê hoặc các biểu đồ

3.2.8 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê

Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường đối với các LUT cà phê dựa theo Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp (tập 2) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2009 Hiệu quả các LUT cà phê được chia thành 3 mức: cao, trung bình, thấp dựa trên kết quả tính toán cụ thể tại địa bàn nghiên cứu

3.2.9 Phương pháp đánh giá đất đai theo FAO

Dựa vào quy trình đánh giá đất theo FAO để phân hạng thích hợp đất đai cho các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar theo các mức: rất thích hợp (S1), thích hợp (S2),

ít thích hợp (S3), không thích hợp (N)

3.2.10 Phương pháp phân tích SWOT

Khung phân tích SWOT sử dụng để tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong sử dụng đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar, làm cơ sở để lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê khi tái canh tại địa phương

3.2.11 Phương pháp xây dựng bản đồ

Sử dụng các chức năng của hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, bản đồ phân hạng thích hợp đất đai cho LUT cà phê, bản đồ định hướng sử dụng đất trồng cà phê và bản đồ định hướng sử dụng đất tái canh cà phê tại huyện Cư M’gar

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR

4.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

- Vị trí địa lý

Huyện Cư M’gar cách thành phố Buôn Ma thuột, tỉnh Đắk Lắk 18 km về phía Bắc Huyện gồm có 17 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 15 xã và 2 thị trấn

- Đặc điểm địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện được chia thành các dạng chính là đồi lượn sóng, thung lũng hẹp và đồi núi dốc Là huyện miền núi nhưng diện tích đất có độ dốc từ 30 đến

150 chiếm 59,09% diện tích tự nhiên, bề mặt thoáng, ít bị chia cắt, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất cà phê

- Khí hậu thời tiết

Huyện Cư M’gar có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu

từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình là 1.800,6 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23,430C Đây là kiểu khí hậu rất thích hợp để cây cà phê sinh trưởng và phát triển

Trang 10

- Đặc điểm thủy văn

Hệ thống thuỷ văn của huyện Cư M’gar chủ yếu là các suối thuộc lưu vực sông SrêPốk gồm suối Ea Tul và Ea M’Dróh Ngoài ra còn có hệ thống các suối nhánh của suối EaTul và Ea M’Dróh như Ea Drơng, Ea Néh, Ea Pôk, Pak Chur, góp phần cung cấp nước tưới cho sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar

- Đặc điểm tài nguyên đất

Địa bàn huyện Cư M’gar có 4 nhóm đất gồm:

+ Nhóm đất đỏ vàng (F) có diện tích 69.426,72 ha, chiếm 84,20% tổng diện tích

đất tự nhiên, gồm có 5 loại đất là đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk), đất nâu vàng trên đá bazan (Fu), đất đỏ vàng trên đá sét (Fs), đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa) và đất vàng nhạt trên đá cát (Fq)

+ Nhóm đất đen (R): có diện tích 8.355,95 ha, chiếm 10,13% diện tích tự

nhiên Nhóm đất đen gồm có 2 loại đất là đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hoá đá bọt và đá bazan (Ru) và đất đen trên sản phẩm bồi tụ của đá bazan (Rk)

+ Nhóm đất xám (X): chỉ có 1 loại đất xám trên đá macma axit và đá cát (Xa)

có diện tích 2.185,71 ha, chiếm 2,66% diện tích tự nhiên

+ Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): có 1 loại là đất dốc tụ (D), diện tích 1.530,84 ha, chiếm 1,86% diện tích tự nhiên

Hiện trạng cà phê của huyện Cư M’gar được trồng trên 3 nhóm đất chính là đất

đỏ vàng, đất đen và đất xám

- Đặc điểm tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt và nước ngầm có trữ lượng khá lớn, trong đó nguồn nước mặt của huyện chủ yếu được lấy từ 2 hệ thống suối chính là Ea Tul và Ea M’Dóh Ngoài nguồn nước mặt từ các suối, hiện nay huyện có 69 công trình hồ, đập thủy lợi thiết kế tưới cho 9.784 ha, thực tế tưới đạt 97,65% diện tích thiết kế

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Năm 2016 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 9.809,250 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế nông- lâm- ngư nghiệp chiếm 62,24%, công nghiệp - xây dựng chiếm

13,51%, thương mại- dịch vụ chiếm 24,25% Toàn huyện có tổng dân số là 174.693

người, với tổng số 39.660 hộ Trên địa bàn huyện có 29 dân tộc cùng sinh sống, dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc tại chỗ (Ê Đê) và các dân tộc phía Bắc di cư vào địa bàn Nguồn lao động của huyện Cư M’gar khá dồi dào với tổng số 98.475 người, chiếm 56,37% tổng dân số

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất trồng cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar

- Thuận lợi: Huyện có điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu thích hợp để phát triển cây cà phê và những cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả Lực lượng lao động của huyện dồi dào và có nhiều kinh nghiệm trong canh tác cây cà phê

- Khó khăn: Huyện có 29 thành phần dân tộc cùng sinh sống nhưng trình độ dân trí không đồng đều Hơn nữa phong tục, tập quán sinh hoạt và sản xuất khác nhau nên khó khăn trong việc chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật sử dụng đất trồng cà phê Khí hậu thời tiết trong những năm gần đây diễn biến bất thường, mùa khô kéo dài hơn, cùng với đó là xu hướng suy giảm nguồn nước ngầm đã ảnh hưởng đến sản xuất cà phê của người dân trong huyện

Trang 11

4.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2005 – 2016

4.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2005 – 2016

4.2.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cư M’gar năm 2016

Năm 2016, tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện là 74.554,18 ha, chiếm 90,42% diện tích tự nhiên; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp có 66.345,50 ha chiếm 80,47%, đất lâm nghiệp có 7.979,17 ha chiếm 9,68% và đất nuôi trồng thủy sản có 229,51 ha chiếm 0,28% Trong đất sản xuất nông nghiệp của huyện Cư M’gar gồm có đất trồng cây hàng năm với diện tích 7.685,98 ha, chiếm 10,31% và đất trồng cây lâu năm có 58.659,52 ha, chiếm 78,68% Cà phê là cây trồng có diện tích lớn nhất với 35.754 ha, chiếm 47,96% diện tích nhóm đất nông nghiệp và được phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện

4.2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar năm 2016

Trên địa bàn huyện Cư M’gar có diện tích cà phê trồng thuần chiếm 9,53%, cà phê xen tiêu chiếm đến 72,05%, cà phê xen bơ chiếm 10,55% và cà phê xen sầu riêng chiếm 6,01%, còn lại là cà phê trồng xen một số cây khác như mít, cam, na,…với diện tích rất nhỏ và trồng phân tán

Bảng 4.1 Hiện trạng các LUT cà phê huyện Cư M’gar năm 2016

STT Đơn vị hành chính

Diện tích (ha)

Trong đó (ha)

Cà phê thuần

Cà phê xen tiêu

Cà phê xen sầu riêng

Cà phê xen bơ

Cà phê xen các cây khác

1 Xã Cư Dliê M'nông 4.222 214,59 2.728,65 327,98 920,52 30,26

Trang 12

4.2.1.3 Biến động sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2005 – 2016

Cư M’gar là huyện có diện tích, sản lượng cà phê lớn nhất tỉnh Đắk Lắk Năm

2005 diện tích cà phê có 32.000 ha và đến năm 2016 diện tích cà phê trên địa bàn đã tăng lên đến 35.754 ha Sự phát triển về diện tích, năng suất, sản lượng cà phê đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển

4.2.2 Thực trạng canh tác cà phê tại huyện Cư M’gar

- Phân bón: Để chăm sóc vườn cà phê nông hộ đã sử dụng phân hoá học và phân hữu cơ Tuy nhiên, nông hộ sản xuất cà phê trên địa bàn huyện đã bón phân vô

cơ vượt liều lượng khoảng 15% và ít quan tâm bón phân hữu cơ

- Tưới nước: Nguồn nước mặt đã cung cấp nước tưới cho 20.000 ha, chiếm 55,94% tổng diện tích đất cà phê của huyện Số diện tích cà phê còn lại nông hộ khai thác nguồn nước ngầm như giếng đào, giếng khoan để tưới Đa số nông hộ đã tưới nước cho cà phê cao hơn khuyến cáo

- Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: huyện cũng đã chỉ đạo triển khai, thực hiện chương trình cà phê có thông tin chứng nhận trên địa bàn huyện, do đó việc

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây cà phê đã có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông hộ đã giảm đáng kể so với trước đây

4.2.3 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất cà phê tại huyện Cư M’gar

- Hiệu quả kinh tế

Kết quả điều tra 300 hộ cho thấy hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê có sự khác nhau do giá bán của sản phẩm cây trồng xen như tiêu, sầu riêng, bơ có sự khác nhau Mặt khác do mỗi tiểu vùng có chất lượng đất đai và điều kiện sản xuất khác nhau dẫn đến năng suất cà phê và các cây trồng xen cũng có sự chênh lệch, vì vậy hiệu quả của các LUT cà phê tại các tiểu vùng cũng có sự khác nhau

- Hiệu quả xã hội

Kết quả điều tra tại các tiểu vùng cho thấy LUT cà phê thuần có hiệu quả xã hội

ở mức trung bình vì nông hộ mong muốn giảm diện tích, khả năng thu hút lao động thấp và chỉ có 1 sản phẩm cung cấp cho xã hội (cà phê)

LUT cà phê xen tiêu tại tiểu vùng 1 và 2 có hiệu quả xã hội ở mức trung bình vì nông hộ hiện nay không mong muốn tăng diện tích LUT này, tại tiểu vùng 3 thì LUT

cà phê xen tiêu có hiệu quả xã hội cao do nông hộ mong muốn tăng diện tích Hơn nữa nguy cơ rủi ro về dịch bệnh tại tiểu vùng 3 thấp hơn so với tiểu vùng 1 và 2 vì vậy LUT cà phê xen tiêu được nông hộ chấp nhận

LUT cà phê xen sầu riêng và cà phê xen bơ tại 3 tiểu vùng đều có hiệu quả xã hội cao vì đây là các LUT ít có nguy cơ rủi ro về tiêu thụ sản phẩm, hơn nữa nguy cơ rủi ro về dịch bệnh cũng thấp, mặt khác lại có khả năng thu hút lao động cao nên được nông hộ chấp nhận

- Hiệu quả môi trường

Kết quả tổng hợp cho thấy hiệu quả môi trường của các LUT cà phê thuần, cà phê xen tiêu và cà phê xen sầu riêng đều đạt mức trung bình tại cả 3 tiểu vùng, LUT

cà phê xen bơ đạt hiệu quả cao ở cả 3 tiểu vùng Các LUT cà phê trên địa bàn huyện

Cư M’gar đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao hơn định mức từ 1,2 đến 3,4 lần, tưới nước cao hơn khuyến cáo từ 1,3 đến 2,9 lần

Chi tiết về hiệu quả các LUT cà phê tại bảng 4.2, 4.3 và 4.4

Trang 13

Bảng 4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT cà phê tại huyện Cư M’gar

số điểm

Đánh giá chung

Số tiền Số điểm Số tiền Số điểm Tỷ lệ (%) Số điểm

1 Tiểu vùng 1

2 Tiểu vùng 2

3 Tiểu vùng 3

Ngày đăng: 08/05/2018, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w