1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường đại học điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

125 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐÀO XUÂN SANG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO XUÂN SANG

QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO XUÂN SANG

QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ QUANG SƠN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ: “Quản lý ứng dụng Công nghệ Thông tin trong dạy

học tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”

đã được thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang bị vốn kiến thức lý luận về khoa học quản lý, giúp cho em nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Đặc biệt, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Quang Sơn, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ

để em hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo, Ban Giám hiệu và bạn bè đồng nghiệp trường Đại học Điện lực

đã tạo điều kiện giúp tôi nghiên cứu, khảo sát và cung cấp thông tin, tư liệu cho luận văn Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn động viên, chia sẻ để tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng song trong quá trình nghiên cứu luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Xuân Sang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Quang Sơn Các

số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Xuân Sang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Giả thuyết khoa học 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 23

1.4 Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học 29

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở đại học 35

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC 38

2.1 Khái quát về trường Đại học Điện lực 38

2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các khoa, đơn vị, bộ môn trong Trường 52

2.3 Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Điện lực 59

2.4 Đánh giá kết quả quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Điện lực 65

Trang 6

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG

NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

ĐIỆN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 70

3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 70

3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 73

3.3 Các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 75

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

1 Kết luận 103

2 Khuyến nghị 105

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 105

2.2 Đối với Bộ Công thương 105

2.3 Đối với Trường Đại học Điện lực 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 110

Trang 7

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

GADHTC Giáo án dạy học tích cực GADHTCĐT

TTTTTTTTTT

Giáo án dạy học tích cực điện tử

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

KH&CN Khoa học và công nghệ

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, MÔ HÌNH, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Thống kê số lượng giảng viên trường Đại học Điện lực từ

năm 2013 - 2016 44

Bảng 2.2: Thống kê trình độ tin học của giảng viên trường Đại học Điện lực từ năm 2013-2016 45

Bảng 2.3: Thực trạng CSVC của trường Đại học Điện lực (12/ 2016) 46

Bảng 2.4: Thống kê PTKTDH của trường Đại học Điện lực (Tại thời điểm 12/ 2016) 48

Bảng 2.5: Thống kê mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của cán bộ quản lý,giảng viên trong trường Đại học Điện lực 51

Bảng 3.1: Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (N=30) 98

Bảng 3.2: Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (N=30) 99

Bảng 3.3: Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 100

Biểu đồ 3.1: Mối tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp 101

Mô hình 3.1: Mô hình ứng dụng CNTT trong dạy học 86

Mô hình 3.2: Mô hình mối quan hệ giữa các biện pháp 96

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý 12

Sơ đồ 1.2: Dạy học bằng GADHTC có ứng dụng CNTT 27

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự bùng nổ của CNTT, lượng tri thức của nhân loại tăng nhanh như vũ bão Trên thế giới và ở Việt Nam hoạt động dạy học đang diễn ra hết sức mạnh mẽ theo ba xu hướng chính: Tích cực hóa, cá biệt hóa và công nghệ hóa nhằm góp phần nâng cao CLDH

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, tri thức mà mỗi người lĩnh hội được trong khoảng thời gian học tập ở các nhà trường trở nên lạc hậu rất nhanh Do đó vấn đề cấp đặt ra cho các nhà trường hiện nay là phải trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản, đồng thời dạy cách học cho người học, tạo cho họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời Để làm được điều này, các nhà trường cần phải có những giải pháp cụ thể trong việc ứng dụng CNTT để dạy học Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nghiệp GD&ĐT Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể Nghị quyết TW2, khóa VIII Đảng ta khẳng định: “Đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học” [10]

Chính phủ cũng thấy rõ vai trò của CNTT đối với sự phát triển xã hội nói chung và giáo dục nói riêng nên đã có nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm

2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 nêu rõ: “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng GV tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giảng viên các bộ môn chủ động tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT”[10]

Trang 10

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết Trong những năm qua trường Đại học Điện lực đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý Việc ứng dụng CNTT trong dạy học bước đầu đã đạt được một số kết quả Tuy nhiên, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng còn nhiều hạn chế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này trong đó có những nguyên nhân thuộc về công tác quản lý: Một số CBQL nhận thức còn chưa đầy đủ về công tác ứng dụng CNTT trong dạy học Nhiều GV chưa nắm vững kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản Bên cạnh đó công tác đầu tư mua sắm phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn yếu Phòng máy tính của các trường mới chỉ sử dụng để dạy tin học như một môn học còn việc sử dụng phòng máy, mạng máy tính, các phần mềm dạy học để tạo môi trường dạy học ĐPT thì vẫn chưa được quan tâm đúng mức…

Với các lý do nêu trên tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “ uản ứng

dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học và đổi mới PPDH, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin nhằm góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học tại trường Đại học Điện lực

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong DH ở các trường đại học

- Đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực

- Đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 11

4 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại trường Đại học Điện lực

5 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại trường Đại học Điện lực từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu Luật Giáo Dục; Luật dạy nghề; các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục đào tạo và định hướng phát triển ứng dụng CNTT trong DH

- Nghiên cứu các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công thương

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thông qua các phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của CBQL, GV và HS để thu thập thông tin về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ứng dụng CNTT trong DH

Trang 12

- Phương pháp bổ trợ: Trực tiếp dự một số giờ dạy có ứng dụng CNTT.Tiến hành phỏng vấn HS, GV và CBQL Rút ra được những nhận xét

về công tác quản lý ứng dụng CNTT trong DH

6.3 Xử lý kết quả điều tra bằng thống kê toán học

Phân tích xử lý các thông tin thu được, các số liệu bằng thống kê toán học

7 Giả thuyết khoa học

Hiện nay việc quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực đã đạt được một số kết quả nhất định song còn nhiều bất cập

Nếu chọn lựa, đề xuất và sử dụng một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong DH phù hợp với thực tiễn nhà trường thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả đào tạo tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học ở các trường đại học

Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong

dạy học tại trường Đại học Điện lực

Chương 3: Một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học tại trường Đại học Điện lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan ở trong nước

Cùng với vấn đề đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, vấn

đề ứng dụng CNTT trong HĐDH ở Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt những năm qua Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như Ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục hướng đến một nền giáo dục điện

tử của Quách Tuấn Ngọc (2009)[19], Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực của Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011)[20], E-Learning và ứng dụng trong dạy học của Lê Huy Hoàng (2011)[9], Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tài liệu chương trình Parner in learning của Microsoft (2008) [15]… Những công trình này chủ yếu nói về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục, trong đó có việc ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên, đồng thời đưa ra các giải pháp cũng như hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng CNTT trong giáo dục Bên cạnh những công trình nghiên cứu kể trên có thể kể đến một số lượng lớn các bài báo khoa học, các khóa luận, luận văn, nghiên cứu về đề tài ứng dụng CNTT trong giáo dục xong hầu hết cũng đều đề cập đến vai trò của ứng dụng CNTT trong giáo dục hoặc phương pháp ứng dụng CNTT vào môn học cụ thể nào đó Đặc biệt, hầu hết các công trình đều hướng đến đối tượng giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học Nguyễn Văn Hòa (2010)[8] đã tìm ra sự tác động của các yếu tố về thâm niên công tác và thông tin đào tạo đến năng lực ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giảng viên Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là chỉ giới hạn trong khuôn khổ Trường ĐH Sư phạm

Trang 14

Huế, các kết quả nghiên cứu của luận văn được khảo sát trên mẫu chưa đủ lớn

để có thể trở thành những đánh giá mang tính khái quát Mặc dù còn có những hạn chế nhưng nghiên cứu cũng đã đề xuất được mô hình các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên trường ĐH Sư Phạm - ĐH Huế Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011)[21] nghiên cứu

“Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam: Từ chính sách tới thực tế” đã khẳng định: “CNTT luôn được đề cao trong cuông cuộc đổi mới giáo dục như và một môn học cũng như là một công cụ quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học” Nghiên cứu đã cho thấy các nhà hoạch định chính sách đã rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và

“học tập điện tử (eLearning) và xây dựng, sử dụng bài giảng điện tử được hướng tới như là kết quả cuối cùng của ứng dụng CNTT trong giáo dục” Một nghiên cứu khác của Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010)[40] khảo sát các yếu tố ảnh hướng tới ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam, một nước đang ở giai đoạn đầu của ứng dụng CNTT Phương pháp phân tích hồi quy đa khám phá (Exploratory multiple regression analysis) được sử dụng

để đề cập tới tầm quan trọng của các yếu tố đối với giảng viên và tầm quạn trọng của các trường sư phạm đối với ứng dụng CNTT trong dạy học Nghiên cứu khẳng định việc sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT còn hạn chế, chủ yếu để thay cho phương pháp dạy học cũ Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thực hành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy tính, kỹ năng ICT, sự tự tin về ICT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với ICT và quan niệm về việc học tập ở học sinh) Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý về cách ứng dụng hiệu quả CNTT vào ngành sư phạm Việt Nam Đào Thái Lai cùng nhóm tác giả (2011)[12] đã tiến hành đánh giá “Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học của giảng viên các trường ĐH” theo mức độ thường xuyên sử dụng thông qua các tiêu chí như: trình chiếu Power Point, khai thác thông tin trên mạng internet vào dạy

Trang 15

học, thiết kế bài giảng điện tử, quản lí hồ sơ giảng dạy bằng máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, thi trực tuyến, dạy học qua mạng, làm phim video, và sử dụng máy tính hỗ trợ thí nghiệm Khảo cứu những nghiên cứu kể trên giúp tác giả khái quát được bức tranh toàn cảnh về việc ứng dụng CNTT trong HĐDH trong nước Các nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cũng như mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên, là nguồn tham khảo hữu ích cho tác giả trong việc xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này Cũng qua khảo cứu này tác giả phát hiện việc nghiên cứu sâu

về đề tài ứng dụng CNTT trong HĐDH là cần thiết và đặc biệt tác giả cũng nhận thấy chưa có nghiên cứu nào về đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH ở bậc ĐH

1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài

Luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003)[38], đại học Ohio (Hoa kỳ), đã nghiên cứu sâu về mối tương quan của các yếu tố cơ bản với mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên ngành công nghệ giáo dục (technology education teachers) Nghiên cứu đã chỉ ra được mối tương quan thuận của các yếu tố được lựa chọn với mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH tuy nhiên chỉ dừng lại ở khách thể nghiên cứu là giảng viên ngành công nghệ giáo dục trong phạm vi bang Ohio, Hoa Kỳ Trong nghiên cứu của mình, Mohammed đã xác định được các yếu cơ bản có tương quan đến mức

độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giảng viên cùng với bộ công cụ đo lường gồm 63 biến quan sát đã trở thành gợi ý hữu ích cho tác giả luận văn này trong việc xác định khung lý thuyết cũng như xây dựng công cụ đo lường cho đề tài luận văn “Teacher ICT skill”[35], một nghiên cứu của Sở giáo dục Tây Úc (Western Australia) đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng của giảng viên trên địa bàn Western Australia trong lĩnh vực ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ dạy học Nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lực sử dụng CNTT, nguồn lực của nhà trường về CNTT, thái độ và động

Trang 16

lực của giảng viên, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo là những yếu tố chủ yếu tác động đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT của giảng viên Nghiên cứu của Naser Jamil Al-Zaidiyeen, Leong Lai Mei và Fong Soon Fook (2010)[34], đã khảo sát trên 650 giảng viên ở Jordan và khẳng định có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của Giảng viên đối với việc ứng dụng CNTT và mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của họ Một nghiên cứu của Schacter (1999)[42] đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của sinh viên và kết luận rằng SV được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập Sara Hennessy, David Harrison, và Leonard Wamakote (2010) [37] chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố bên ngoài thì kỹ năng và mức độ tự tin về trình độ công nghệ, nghiệp vụ sư phạm trong sử dụng công nghệ, vai trò của giảng viên là những yếu tố quan trọng có tác động đến “lớp học có ứng dụng CNTT” (Classroom Use of ICT) trong một nghiên cứu tại Châu Phi Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối với giảng viên cũng như giảng viên sư phạm, việc ứng dụng CNTT trong dạy và học, sử dụng phương pháp sư phạm hiện đại, là điều cần thiết Cher Ping Lim, Ching Sing Chai, Daniel Churchill (2010)[39] chỉ ra rằng “Những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo sinh Việc đánh giá dựa trên bốn phương diện: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử dụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử CNTT trong thực tế” Và nhận định:

“Mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số giảng viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay thường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó.”

Trang 17

Nhấn mạnh yếu tố nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học, Craig Barrett (2012)[11] khẳng định: “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trường học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu giảng viên không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả Chính các giảng viên mới đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc máy vi tính” Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước cũng cho thấy việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong HĐDH được đặc biệt quan tâm Dựa trên các nghiên cứu đã khảo cứu tác giả rút ra được nhiều nội dung quan trọng để kế thừa như việc đánh giá tầm quan trọng và tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong HĐDH, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học, vai trò của tố nhân lực trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học… Dựa trên nghiên cứu của Isleem (2003)[38], Jef Peeraer và Peter Van Petegem[40] và một số nghiên cứu khác tác giả lựa chọn và bổ sung các tiêu chí để xây dựng bảng hỏi phù hợp với thực tế Việt Nam nhằm phục vụ nghiên cứu này

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm Sau đây là một số định nghĩa về

“Quản lý”

Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp,ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra

Theo F.W.Tay Lor (Nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”

Trang 18

Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [ 22, tr.8]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (Chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất

và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến” [19, tr.8]

Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có chất lượng mới”:

Quản lý = Quản + Lý

Trong đó: - Quản là coi giữ, cầm nắm tạo ra sự ổn định

- Lý là chỉnh sửa, sắp xếp, đổi mới để phát triển

Tuy nhiên có ổn định mà không phát triển thì dẫn đến trì trệ, lạc hậu, còn có phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren Trong ổn định tạo

mầm mống phát triển; phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định Vì vậy quản lý là vừa chống lạc hậu và chống sự lạc điệu làm cho tổ chức luôn giữ được sự ổn định và phát triển” [2,tr.15]

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua

sự nỗ lực của người khác Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

1.2.1.2 Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần

Trang 19

được thực hiện trong quá trình quản lý Nhìn chung các tác giả khác nhau đều thống nhất nêu lên các chức chức năng quản lý như sau:

- Chức năng kế hoạch

Chức năng kế hoạch hóa là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định các bước đi để đạt được mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, các biện pháp cách thức để đạt tới mục tiêu Để vạch

ra được mục tiêu và xác định được các bước đi cần có khả năng dự báo, tức là đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng lường trước sự phát triển của các sự vật (của bộ máy) Những nội dung chủ yếu của kế hoạch là:

- Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức

- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu

Quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đó Như vậy, có thể hiểu, chức năng kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức

- Chức năng tổ chức

Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những

ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức

- Chức năng chỉ đạo

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy

đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý

Trang 20

- Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra diễn ra ở giai đoạn cuối cuối cùng của chu trình quản lý, là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức, chức năng kiểm tra bao gồm những nhiệm

vụ chính sau đây:

+ Người quản lý đặt ra các chuẩn mực thành đạt của hoạt động

+ Đánh giá, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực

đã đặt ra

+ Điều chỉnh những sai lệch

+ Hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần

Trong những chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định, song các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau

Như vậy, chức năng quản lý là những vấn đế hết sức cơ bản của lý luận

về quản lý, nó giữ một vai trò quan trọng trong thực tiễn quản lý Chức năng quản lý và chu trình quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một chu trình là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ

hệ thống được quản lý Việc thực hiện chu trình quản lý có hiệu quả hay không là nhờ có thông tin Thông tin vừa là điều kiện, vừa là phương tiện tổng hợp các chức năng trên

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý

Chỉ đạo

Kế hoạch

THÔNG TIN

Trang 21

Nhìn về hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng

kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Song trong thực tế các chức năng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Sự liên kết giữa chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục và quản nhà trường

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [23,tr.119]

Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vi mô: “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các

cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động” [20,tr.37]

Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [5, tr.71]

Trang 22

Như vậy, quản lý giáo dục về thực chất là quản lý nhà trường và quản

lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác

Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý

mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục

1.2.2.2 Quản lý nhà trường

Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên qui mô toàn xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân

Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân Do đó, quản lý nhà trường là quản lý thiết chế của

hệ thống giáo dục, đó chính là quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô, cấp độ một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân

Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp

và tổ chức các hoạt động của Giảng viên, sinh viên và các lực lượng giáo dục khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong nhà trường

Theo điều 48 luật giáo dục 2005 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”.[25,tr.42]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, SV và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.[31, tr.205]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, SV và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi

Trang 23

hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới".[ 23,tr.43]

Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại

và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Trong đó cần lưu ý, quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những lý luận chung của khoa học quản lý, đồng thời cũng có nhũng nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi tạo ra nhưng sản phẩm hết sức đặc biệt,

đó là nhân cách con người

Tóm lại: Quản lý nhà trường là QLGD được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là con đường

để thực hiện mục đích giáo dục Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt nhằm trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức khoa học và kỹ năng vận dụng vào thực tiễn Dạy học bao hàm trong đó sự học và sự dạy gắn bó với nhau, dạy không chỉ là sự truyền thụ, giảng dạy kiến thức kỹ năng cho sinh viên mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo

và điều khiển hoạt động học (nghĩa hẹp) Dạy học là con đường giáo dục tích cực, chủ động ngắn nhất và có hiệu quả nhất giúp thế hệ trẻ tránh được những

mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa Giảng viên và sinh viên trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của Giảng viên, sinh viên tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã đặt ra

Trang 24

Hoạt động dạy có chức năng tổ chức các dạng hoạt động học cho sinh viên tham gia, qua tham gia các dạng hoạt động học khác nhau, người học tiếp cận với đối tượng học và lĩnh hội được nội dung học tập theo mục tiêu đặt ra Hoạt động dạy có chức năng thực hiện cơ chế di sản xã hội ở người Chức năng này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động dạy đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người vì cơ chế di truyền và cơ chế di sản xã hội là hai giá đỡ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Hoạt động học có chức năng tái tạo các giá trị của xã hội loài người trong mỗi cá nhân Nó thực hiện chức năng di sản xã hội ở người Trong khi hoạt động học, người học tiếp thu những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người, tạo ra năng lực hoạt động để có thể tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát triển Chính vì vậy, để hoạt động học có hiệu quả, người học phải tích cực tham gia các phương thức hoạt động (như nhận thức, xã hội, văn hoá, liên nhân cách), tiếp cận đối tượng học (nội dung tài liệu học) và chuyển hoá chúng từ cái khách quan thành các giá trị chủ quan trong bản thân người học Người học không học được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động Không có hoạt động thì trí tuệ không thể phát triển tốt được Trí tuệ có bản chất hoạt động Trí tuệ được hình thành dần trong mỗi hoạt động của cá nhân

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà trường nào, dưới góc độ của giáo dục học Dạy học là một quá trình toàn vẹn có

sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau thống nhất và biện chứng cho nhau tạo thành hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh, có phương pháp sáng tạo

1.2.4 Vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ở Việt Nam

Năm 2011 có một bước chuyển mới trong giáo dục, khi mà Đại hội Đảng toàn quốc khai mạc vào mùa xuân trong đó có đề cập việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

Trang 25

Tiếp bước lộ trình, năm 2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

XI đã tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ 8 với chủ điểm đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục

Theo đó, hội nghị lần thứ 8 đã ban hành Nghị quyết số 29 về chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

Tính đến nay đã được 4 năm, khi mà Nghị quyết số 29 đi vào thực tiễn Tuy nhiên, giáo dục Việt Nam vẫn chưa có một bước chuyển đáng kể nào được gọi là theo chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục

Chính vì thế, cần thiết phải xem lại chủ trương này một cách khách quan và toàn diện, đặc biệt là xem xét liệu có tuân theo đúng với các quy luật khách quan hay không

Trước hết, nói về sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Theo báo cáo đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" của Ban cán sự đảng Chính phủ trình Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) thì sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục dựa trên các lí

do sau đây:

1 Qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp

về giáo dục có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh

2 Yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh

tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục

Trang 26

phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao

Nếu không đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước

3 Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng;

sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và

sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới

Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục

Bên cạnh đó, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng

đã phát biểu:

" đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít hạn chế, yếu kém, nhất là về chất lượng giáo dục - đào tạo; công tác quản lý và cơ chế tạo nguồn lực và động lực cho phát triển

Để có thể cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nước ta đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng,

cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh dựa nhiều hơn vào yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) và kinh tế tri thức

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại toàn cầu hoá, phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đòi hỏi và cũng tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và

cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng cho phép chúng ta chuyển sang giai

Trang 27

đoạn phát triển mới, cao hơn về chất Đó chính là lý do giải thích vì sao Đại hội XI của Đảng đề ra chủ trương phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo"

Từ những căn cứ trên đây, có thể nhận thấy chủ trương đổi mới căn bản

và toàn diện của Đảng ta là có cơ sở đúng quy luật

Thứ nhất, với định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cụ thể là: đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ Mầm non đến Đại học

Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục Đại học và giáo dục nghề nghiệp

Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách Nhà nước

Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn

xã hội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định

Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 28

Như thế, với những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục hiện có thì đây chính là quy mô phát triển về mặt lượng, hiểu theo mặt lượng trong quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại

Từ đó đặt cơ sở phát triển về chất là phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục

Thứ hai, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so

với yêu cầu, nhất là giáo dục Đại học, giáo dục nghề nghiệp

Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc

Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu

và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Với tình hình đó đã tạo ra các mặt đối lập trong mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn bên trong giữa sự hạn chế yếu kém của hệ thống giáo dục với quy mô phát triển mang tính chiến lược

Mâu thuẫn bên ngoài với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực

Trang 29

giữa các quốc gia trên thế giới, mà thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ

Đó chính là cơ sở và tiền đề để giải quyết mâu thuẫn tuân theo quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tạo tiền đề cho nhu cầu đổi mới

và phát triển

Thứ ba, cũng chính từ hai cơ sở trên mà cần thiết phải đổi mới, phủ

định cái cũ để thiết lập cái mới phát triển cao hơn về chất

Ở đây, sự phủ định là khuynh hướng tất yếu của mối liên hệ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự khẳng định của các quá trình, vận động, phát triển của nền giáo dục

Do đó, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là tuân theo quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lên nin

Vấn đề ở chỗ là trong quá trình thực hiện, theo quy luật, những sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những sự thay đổi về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút

Do đó, trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng

tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất

Vì thế, cũng cần khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất

Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy, mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng

Vì bước nhảy là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng ngành học và cấp học cụ thể của giáo dục

Trang 30

Do đó cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể giáo dục

để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất

Với những ý nghĩa trên đây, chúng tôi hy vọng rằng chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại hiệu quả mới tích cực cho nền giáo dục Việt Nam và thành công tốt đẹp

1.2.5 Công nghệ, công nghệ thông tin

Khái niệm công nghệ

Công nghệ, theo gốc Latinh, được ghép từ Technic (kỹ thuật hay công cụ vật liệu) và từ logic (trình tự, các cách tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề)

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995 Khái niệm công nghệ được hiểu: “Là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên

và các nguyên lý khoa học, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần con người” hoặc “ là tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo

ra các sản phẩm dịch vụ”.[30]

Theo điều 2 luật Khoa học - Công nghệ năm 2000: “ Là tập hợp các phương pháp, quy trình kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm ” [ 9,tr 202]

Theo quan điểm truyền thống: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”

Theo quan điểm hiện đại: Công nghệ là tổ hợp của bốn thành tố có tác động qua lại với nhau, cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào:

- PTKTDH bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đây là “phần cứng ”của công nghệ Thiếu thiết bị kỹ thuật thì không có công nghệ, nhưng cũng rất nhầm lẫn khi đồng nhất công nghệ với thiết bị kỹ thuật

- Con người: bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền thiết bị Phần này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học

Trang 31

vấn chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo và tay nghề của từng người hoặc của từng nhóm người

- Thông tin: Bao gồm tư liệu, dữ kiện, bản thuyết minh, mô tả sáng chế, các bí quyết, các quá trình, các phương pháp, dữ liệu, các bản thiết kế

- Quản lý - tổ chức: Bao gồm các hoạt động, các liên hệ phân bố nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng, trả lương, chính sách khích lệ bố trí, tiếp thị

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.3.1 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy,

“CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người”

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh là: Information Technology gọi tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính

để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý,truyền và thu nhập thông tin

Theo luật CNTTsố 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 điều 4 giải thích: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số

Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ” [17, tr.90]

Trang 32

Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và Internet… trong giáo dục hiện nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú Công nghệ thông tin đã giúp con người có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động trí tuệ ấy

Trong nền giáo dục hiện đại, không chỉ đòi hỏi người học biết thêm nhiều tri thức, mà còn phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo ra tri thức mới cho bản thân Vì vậy, để công nghệ thông tin được ứng dụng hiệu quả vào dạy học trong điều kiện của xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng, mà thời gian học tập trong trường có hạn thì Giảng viên là người hướng dẫn cho sinh viên những phương pháp tư duy, khám phá, khai thác, tiếp cận tìm kiếm và phát hiện tri thức chứ không nhất thiết là tri thức và

1.3.2.2 Giáo án dạy học tích cực

Theo tác giả Ngô Quang Sơn: “GADHTC là giáo án (kế hoạch bài học) được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của SV

Cấu trúc của một GADHTC bao gồm:

Trang 33

- Mục đích, yêu cầu theo kiến thức, kỹ năng, thái độ

- Chuẩn bị thiết bị dạy học: PTKTDH truyền thống và PTKTDH có ứng dụng CNTT (PTKTDH hiện đại)

- Những phương pháp, biện pháp sẽ được phối hợp sử dụng trong quá trình giảng dạy

- Tiến trình dạy học: Giải quyết các nhiệm vụ của nhận thức (Mục tiêu kiến thức)

Chia thành các hoạt động để lĩnh hội kiến thức cơ bản

Hoạt động nhận thức 1: Nội dung hoạt động để thực hiện mục tiêu kiến thức 1

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của SV

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của SV

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này

Hoạt động nhận thức 2: Nội dung hoạt động để thực hiện mục tiêu kiến thức 2

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của SV

- Thao tác định hướng của GV

- Thao tác thi công của SV

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này’’ GADHTC thiết kế được phải thể hiện những đặc trưng cơ bản của các PPDH tích cực, đó là:

- Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, được trực tiếp quan sát, làm thí nghiệm, thảo luận để giải quyết vấn đề theo suy nghĩ của bản thân Từ đó không những nắm được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn nắm được cách thức và con đường đi tới tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ấy

Trang 34

- Tạo cho người học động cơ hứng thú học tập, rèn kỹ năng, thói quen ý chí tự học để khơi dậy nội lực vốn có ở họ

- Nâng cao khả năng học tập hợp tác ở người học trong hoạt động học tập theo nhóm, bằng việc tạo ra các tình huống học tập có vấn đề mà để giải quyết các tình huống có vấn đề này phải có sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm

- Phát triển ở người học kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân, từ đó hình thành được kỹ năng tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình

1.3.2.3 Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

Trên thực tế, nhiều GV đã có quan niệm sai là coi bản trình chiếu được được thiết kế trên phần mềm trình diễn MS PowerPoint chính là giáo án điện

tử Họ thiết kế giáo án dạy học trên các phần mềm trình diễn có sẵn mà không chú ý đến việc tích hợp được các phương pháp, biện pháp sư phạm vào trong giáo án Sử dụng cả tiết học để trình chiếu nội dung dạy học thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện (Máy tính - Máy chiếu đa năng - Màn chiếu), không có sự linh hoạt trong việc sử dụng các bảng tĩnh (bảng truyền thống, bảng phụ), bảng động… Với hình thức dạy học như trên, không những không đem lại hiệu quả mà thậm chí còn làm giảm chất lượng của các giờ dạy Để khắc phục nhược điểm này, CBQL cần giúp GV hiểu rõ bản chất của GADHTC có ứng dụng CNTT

Tác giả Ngô Quang Sơn đã quan niệm: “ Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT là kế hoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được Giảng viên chuẩn bị chi tiết trước khi lên lớp, thể hiện được mối quan hệ sư phạm tương tác giữa GV và SV, SV và SV (Giáo án dạy học tích cực) và một số nội dung kiến thức, kỹ năng quan trọng cần hình thành cho SV trong quá trình dạy học lại quá trìu tượng đối với các em mà các loại hình PTKTDH truyền thống (tranh ảnh giáo khoa, bản đồ, biểu đồ, mô hình, mẫu vật, thí nghiệm thật ) không thể hiện nổi thì sẽ được số hoá (ứng dụng CNTT) và trở thành các thí

Trang 35

nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng đơn giản hay các Video Clip để trình chiếu trong một thời gian rất ngắn cho SV, đảm bảo phù hợp với nhu cầu nhận thức của SV, giúp cho SV tự mình chiếm lĩnh các kiến thức

và kỹ năng mới”[28, tr.92]

Giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin là giáo án dạy học tích cực được thiết kế có sự tích hợp những nội dung ứng dụng CNTT vào trong giáo án và thể hiện trên bảng động cho sinh viên xem

Như vậy, chúng ta có thể hiểu GADHTC có ứng dụng CNTT trước hết phải là một GADHTC, thể hiện được đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một GADHTC Ngoài ra trong GADHTC có ứng dụng CNTT còn phải tích hợp thêm được các bức ảnh tĩnh, ảnh động, các Video Clip… khi có nhu cầu thực

sự cần thiết

Để phát huy hiệu quả của GADHTC có ứng dụng CNTT thì GV nên giảng dạy trong môi trường học tập ĐPT Vì trong môi trường học tập ĐPT tạo ra được sự tương tác giữa GV và SV, giữa GV và PTKTDH, giữa SV và PTKTDH tạo nhiều thuận lợi để GV thực hiện bài giảng

Sơ đồ 1.2: Dạy học bằng GADHTC có ứng dụng CNTT

Theo chuyên gia UNESCO PROAP:

GADHTC có ứng dụng CNTT= GADHTC + ứng dụng CNTT ở mức

cơ bản

Người học PTKTDH

Môi trường học tập ĐPT

PTKTDH: bao gồm PTKTDH truyền thống và PTKTDH hiện đại

Người dạy

Trang 36

1.3.3 Các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Đến nay việc ứng dụng CNTT trong nhà trường khi ứng dụng CNTT trong dạy học, các chuyên gia giáo dục và chuyên gia thiết bị dạy học của UNESCO PARIS và UNESCO PROAP chia ra 3 mức độ:

Mức độ 1: Giảng viên sử dụng MS.PowerPoint để thiết kế các bản trình chiếu điện tử/Bản trình diễn điện tử (Không phải là thiết kế được giáo án điện

tử như một số CBQLGD và GV đã quan niệm) GV ứng dụng CNTT ở mức

độ thấp Các bản trình chiếu điện tử cũng có thể được Giảng viên sử dụng trong quá trình dạy học Nếu chỉ sử dụng bản trình chiếu điện tử như vậy thì hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học là rất thấp Hiện nay, có 100% CBQLGD và GV biết sử dụng MS.PowerPoint thì có thể thiết kế được các bản trình chiếu điện tử Sinh viên được nhìn các nội dung trình bày trên bảng động

Mức độ 2: Giảng viên thiết kế và sử dụng GADHTC có ứng dụng CNTT Giảng viên ứng dụng CNTT ở mức độ trung bình (Yêu cầu GV có kiến thức, kĩ năng tin học cơ bản) Cho đến nay đại bộ phận (85% - 90% trong

số cán bộ QLGD và GV trong cả nước) đã làm được và làm tốt GV ứng dụng CNTT ở mức độ 2 có thể thiết kế và sử dụng được GADHTC có ứng dụng CNTT Sinh viên được nghe - nhìn các nội dung trình bày trên bảng động

Mức độ 3: Giảng viên thiết kế và sử dụng GADHTC điện tử (Giáo án điện tử) Hiện nay chỉ có khoảng 10% - 15% trong số CBQLGD và GV có quyết tâm học và sử dụng Macromedia Flash, trong việc thiết kế thí nghiệm

ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng… tạo sự tương tác cao của SV với máy tính GV cần có kiến thức, kĩ năng tin học nâng cao Ở mức độ 3 nhiều khi cần có sự hợp tác rất chặt chẽ giữa GV bộ môn với GV tin học hay chuyên gia CNTT trong việc thiết kế thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, mô hình mô phỏng… Nếu GV có khả năng ứng dụng CNTT ở mức độ 3 thì có thể thiết kế và sử dụng được GADHTC điện tử Sinh viên được nghe - nhìn - tương tác

Trang 37

Từ đó tác giả có thể nhận định hiện nay hầu hết GV trong các trường đại học đều có thể thiết kế và sử dụng được GADHTC có ứng dụng CNTT ở mức độ 2

1.4 Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học

Quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học với bản chất là nhằm dạy học và nâng cao chất lượng dạy học Ứng dụng CNTT hiệu quả trong dạy học là sử dụng PTKTDH có ứng dụng CNTT (PTKTDH hiện đại) trong môi trường dạy học đa phương tiện biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực Hiện nay, việc làm này vẫn còn nhiều bất cập Khi nói đến ứng dụng CNTT trong DH, các CBQLGD ở các trường vẫn còn lạm dụng CNTT (ví dụ: sử dụng bản trình chiếu được coi là GAĐT, sử dụng máy tính kết hợp với máy chiếu đa năng, chiếu toàn bộ các nội dung của bài giảng cho SV xem ) Như vậy, xét về bản chất, ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong DH là nhằm đưa các nội dung có ứng dụng CNTT (tư liệu điện tử) vào trong bài học một cách có hiệu quả, không lạm dụng CNTT

1.4.1 Quản lý việc xây dựng và sử dụng phòng học đa phương tiện

1.4.1.1 Quản lý việc xây dựng phòng học đa phương tiện

Để tiến hành quản lý việc xây dựng phòng học ĐPT, CBQL nhà trường cần phải lưu ý những điểm sau:

- Phòng học ĐPT, trước hết phải là một phòng học với đầy đủ các chức năng của một phòng học truyền thống đồng thời có tích hợp thêm các PTKTDH, ĐPT (PTKTDH hiện đại) như: máy chiếu bóng, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa năng, màn chiếu, bản trong, bảng kỹ thuật số, hệ thống loa, tai nghe, máy ghi âm, máy quay phim, bảng cảm ứng và đặc biệt là không thể thiếu các giàn máy vi tính có kết nối mạng Internet, và kết nối mạng LAN với nhau

Phòng học ĐPT được xây dựng phải đảm bảo có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố sư phạm và yếu tố công nghệ một cách khoa học Đồng

Trang 38

thời các phòng học ĐPT phải phù hợp với việc tổ chức hoạt động dạy học cho hầu hết các môn học hiện có trong các Khoa trong trường đại học hiện nay

Để xây dựng được phòng học ĐPT phải mất thời gian, tốn kém về kinh phí và phải được đầu tư cơ bản Điều này đòi hỏi Ban giám hiệu nhà trường, đặc biệt là Hiệu trưởng phải hết sức năng động Một mặt tận dụng được nguồn vốn “Xây dựng cơ bản hàng năm”; nguồn vốn “Mục tiêu chương trình”, tận dụng được sự giúp đỡ của các Bộ, Ngành đặc biệt là Bộ GD&ĐT

và Bộ Công thương, ngoài ra tận dụng được kinh phí từ các dự án đào tạo, nguồn vốn xã hội hoá vv

Tìm các đối tác chuyên nghiệp và có uy tín trong lĩnh vực cung cấp các PTKTDH hiện đại Tiến hành đấu thầu rộng rãi và công khai gói thầu cung cấp hệ thống PTKTDH hiện đại cho các phòng học ĐPT của nhà trường

Khi tiến hành xây dựng phòng học ĐPT cho các Khoa trong nhà trường, CBQL cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình thực tế của các khoa

về CSVC, thiết bị dạy học hiện có, nhu cầu thực tế về PTKTDH hiện đại cho nhà trường (có tính đến tiến trình phát triển của nhà trường và sự lạc hậu của các PTKTDH hiện đại trong 3 đến 6 năm tới) Trên cơ sở thực tế yêu cầu của các khoa, Hiệu trưởng mới lập kế hoạch cho tiến hành xây dựng phòng học ĐPT sao cho tránh được những lãng phí không cần thiết và phục vụ tốt cho nhu cầu dạy học của nhà trường

1.4.1.2 Quản lý việc sử dụng phòng học đa phương tiện

Ngay sau khi quản lý thành công việc xây dựng các phòng học ĐPT thì Hiệu trưởng phải giao cho các khoa chuyên môn tiến hành quản lý đưa các phòng học này vào sử dụng sao cho đạt hiệu quả cao nhất Muốn các phòng học ĐPT hoạt động có hiệu quả, Hiệu trưởng yêu cầu các Khoa chuyên môn cần phải làm tốt những công việc sau:

Trang 39

- Lên kế hoạch cho toàn bộ cán bộ GV, công nhân viên tham gia lớp tập huấn về cách sử dụng hiệu quả các PTKTDH hiện đại được trang bị trong phòng học ĐPT

- Cử GV có trình độ tin học của nhà trường chẳng hạn như một số GV tin học làm nhân viên phòng học ĐPT để hỗ trợ GV về mặt kỹ thuật trong quá trình GV sử dụng phòng học ĐPT tổ chức hoạt động dạy học

- Nghiên cứu đề ra nội quy của phòng học ĐPT một cách chặt chẽ để cho tất cả mọi người đều có ý thức bảo vệ các thiết bị có trong phòng học ĐPT Để bảo vệ các phương tiện truyền thông hiện đại có trong phòng học ĐPT, nếu chỉ dựa vào ý thức sử dụng của GV và SV không thôi thì chưa đủ

mà còn cần phải có kế hoạch bảo dưỡng định kỳ những phương tiện này

Phải thường xuyên quan tâm đến CLDH của GV và SV khi họ tham gia giảng dạy và học tập trong phòng học ĐPT Nếu kết quả diễn ra theo ý muốn của mình thì tìm cách phát huy, tiến hành áp dụng cho toàn trường Ngược lại kết quả không được như ý muốn thì nhanh chóng tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

1.4.2 Quản lý việc sử dụng các phần mềm dạy học

Muốn thiết kế được GADHTC có ứng dụng CNTT thì phải biết sử dụng các chức năng của một số phần mềm máy tính Trên thị trường hiện nay

đã xuất hiện rất nhiều phần mềm với nhiều chức năng mà GV có thể ứng dụng vào việc tổ chức hoạt động dạy học trong môi trường học tập ĐPT Việc tìm hiểu, khai thác tính năng của các phần mềm là một công việc khó Muốn tìm được những phần mềm hay, phù hợp với đặc điểm, nội dung môn học thì đòi hỏi người GV vừa phải có trình độ tin học, vừa phải có kỹ năng sư phạm tốt

và được nhà trường tạo điều kiện về thời gian nghiên cứu tìm hiểu Để quản

lý việc sử dụng các phần mềm dạy học được hiệu quả, hiệu trưởng trường giao nhiệm vụ cho các khoa chuyên môn cử một GV trong khoa của mình tìm hiểu các phần mềm dạy học bộ môn mà mình đang tham gia giảng dạy Đây

Trang 40

là một công việc khó đòi hỏi phải mất nhiều thời gian công sức cho nên nhà trường cần phải dành nhiều thời gian quan tâm hơn đến vấn đề này

Để GV của trường có thể khai thác tính năng của các phần mềm được diễn ra theo chiều hướng thuận lợi, nên nhờ thêm sự hỗ trợ từ phía các chuyên gia tin học Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về các phần mềm dạy học, những GV này phải có trách nhiệm về triển khai những điều mà họ tìm hiểu được cho các thành viên trong khoa chuyên môn, cùng những GV khác trong các bộ môn tiếp tục nghiên cứu và đi đến thống nhất một số nội dung cơ bản của việc ứng dụng các phần mềm để soạn giảng trong môi trường học tập ĐPT, sau đó báo cáo lại cho khoa, và khoa báo cáo lại cho Hiệu trưởng Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả báo cáo của các khoa chuyên môn và quan trọng hơn là phải căn cứ vào hiệu quả thực tế mà mỗi khoa có được khi tiến hành hoạt động dạy học trong môi trường học tập ĐPT có sử dụng các phần mềm dạy học để có sự động viên, khen thưởng kịp thời đối với những khoa chuyên môn và những cá nhân điển hình đã làm tốt Còn đối với những khoa chuyên môn chưa làm tốt thì hiệu trưởng cùng với Phòng đào tạo và những khoa chuyên môn bàn bạc tìm ra nguyên nhân để tìm cách khắc phục

1.4.3 Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứng dụng công nghệ thông tin

Để thiết kế được GADHTC điện tử trong dạy nghề thì GV cần phải có

kỹ năng sử dụng một số phần mềm như: Macromedia Flash; Electronic Design Automation; GiftAutomation Trong khi đó trình độ tin học của Giảng viên ở trường mới ở mức có kiến thức và kỹ năng tin học cơ bản cho nên chưa có khả năng thực hiện và đáp ứng được yêu cầu Chính vì vậy việc quản lý ứng dụng CNTT trong DH tại trường Đại học Điện lực chủ yếu là quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án DHTC có ứng dụng CNTT và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học có ứng dụng CNTT

Ngày đăng: 08/05/2018, 10:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh (2003), Những nẻo đường lập nghiệp, NXB Văn hóa thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nẻo đường lập nghiệp
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Nhà XB: NXB Văn hóa thể thao
Năm: 2003
2. Nguyễn Kim Ánh, Ngô Trung Việt và Phạm Ngọc Khôi (2002), Phương pháp luận quản lý dự án công nghệ thông tin, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận quản lý dự án công nghệ thông tin
Tác giả: Nguyễn Kim Ánh, Ngô Trung Việt và Phạm Ngọc Khôi
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2002
3. Alastair Welsh (1995), Designing an MIS for VTE, Brunei Darussalem Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing an MIS for VTE
Tác giả: Alastair Welsh
Năm: 1995
5. Đặng Quốc Bảo (2003), Bài giảng phát triển nhà trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tài liệu cho lớp cao học quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phát triển nhà trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2003
6. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
7. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục iệt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục iệt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2006), Bài giảng Lý luận đại cương về quản lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2006
9. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Bài giảng những quan điểm giáo dục hiện đại, Tài liệu cho lớp cao học quản lý giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng những quan điểm giáo dục hiện đại
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2003
10. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20010-2020, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 20010-2020
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
11. Chính phủ (2002), Chiến lược Phát triển Giáo dục 2001- 2010, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển Giáo dục 2001- 2010
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
12. Phạm Khắc Chương (2004), Lý luận QLGD,NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận QLGD
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
14. Trần Khánh Đức (2005) , Quản lý nhà nước về giáo dục, Tài liệu bài giảng cao học QLGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục
15. Nguyễn Văn Đạo, Đổi mới giáo dục đại học và hoạt động khoa học công nghệ, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục đại học và hoạt động khoa học công nghệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
16. Vũ Cao Đàm (2008), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
17. Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục, HÀ Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
18. Giáo trình Triết học Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học (2008), NXB Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học
Tác giả: Giáo trình Triết học Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2008
19. Đặng Xuân Hải (2004), Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong QLGD/QLNT, Chuyên đề cao học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sự thay đổi và vận dụng nó trong QLGD/QLNT
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Năm: 2004
20. Nguyễn Trọng Hậu (2009), Bài giảng đại cương khoa học quản lý giáo dục , NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng đại cương khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trọng Hậu
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
21. Nguyễn Thị Phương Hoa (2008), Tập bài giảng lý luận dạy học hiện đại, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
22. Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn (2008), Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực
Tác giả: Phó Đức Hòa, Ngô Quang Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w