Thanh Oai là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội.Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, huyện Thanh Oai đã có nhiều
Trang 1-
ĐÀO CƯ THẮNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY
ĂN QUẢ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2016
Trang 2-
ĐÀO CƯ THẮNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY
ĂN QUẢ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGHÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THU HÀ
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu đã đƣợc sử dụng trong bản luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin,tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Đào Cư Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này của tôi đã đề cập đến thực trạng và giải pháp nhằm phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Thanh Oai, TP Hà Nội.Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường, phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Lâm nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo huyện uỷ, UBND huyện, các phòng ban chuyên môn huyện Thanh Oai Thành phố Hà Nội, đặc biệt là phòng kinh tế huyện Thanh Oai cùng UBND các xã của huyện Thanh Oai, xin trân trọng cảm ơn các sở, ngành của T P H à N ộ i , trạm bảo vệ thực vật
T P H à N ộ i , viện rau quả Hà Nội và đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Trần Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn trong quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bè bạn gần xa đã tạo điều kiện, khuyến khích, động viên giúp đỡ tôi bằng cả thời gian, vật chất, tinh thần trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đã cổ vũ động viên tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn và các quý vị đại biểu, xin kính chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Đào Cư Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Bố cục luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ BỀN VỮNG 4
1.1 Cơ sở lí luận về phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững 4
1.1.1 Khái niệm về phát triển 4
1.1.2 Phát triển bền vững 4
1.1.3 Phát triển sản xuất nông nghiệp và cây ăn quả bền vững 9
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững 14
1.2.1 Tình hình phát triển cây ăn quả trên thế giới và Việt Nam 14
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cây ăn quả trên thế giới và Việt Nam 21
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội 25
Trang 62.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Thanh Oai 29
2.1.3 Một số thuận lợi, khó khăn chung của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội với tình hình phát triển cây ăn quả ở Thanh Oai 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 34
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 36
2.2.3.1 Phương pháp phân tích thống kê 36
2.2.3.2 Phương pháp so sánh 36
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu về phát triển sản xuất 37
2.3.2 Các chỉ tiêu về kết quả, hiệu quả kinh tế 37
2.3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội 38
2.3.4 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thực trạng sản xuất và phát triển cây ăn quả ở huyện Thanh Oai 39
3.1.1 Kết quả phát triển cây ăn quả ở huyện Thanh Oai 39
3.1.2 Hiệu quả sản xuất cây ăn quả tại huyện Thanh Oai 49
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững ở huyện Thanh Oai 63
3.2.1 Tập đoàn cây ăn quả 63
3.2.2 Quy hoạch đất đai 64
3.2.3 Các yếu tố đầu tư chăm sóc 64
3.2.4 Công tác chế biến, bảo quản sau thu hoạch và thị trường 65
3.2.5 Hệ thống dịch vụ nông nghiệp và tài chính ngân hàng 66
3.2.6 Trình độ văn hoá, khả năng tiếp cận khoa học công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, thị trường của các hộ nông dân 66
3.2.7 Phương thức sản xuất 66
Trang 73.3 Đánh giá về thực trạng phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững ở huyện
Thanh Oai 67
3.4 Cơ sở đề ra giải pháp phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội 69
3.4.1 Những quan điểm phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững 69
3.4.2 Giải pháp phát triển cây ăn quả trên địa bàn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội 71
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân CAQ : Cây ăn quả BVMT : Bảo vệ môi trường TBVTV : Thuốc bảo vệ thực vật HQKT : Hiệu quả kinh tế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, giá trị sản xuất cây ăn quả Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
(tính theo giá cố định 2010) 16
Bảng 1.2 Các hoạt động bảo quản trước khi tiêu thụ 18
Bảng 1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm quả ở các thành phố và các vùng 19
Bảng 1.4 Tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam từ 2011-2015 21
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất huyện Thanh Oai giai đoạn 2013-2015 29
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp mẫu điều tra 35
Bảng 3.1 Diện tích một số cây ăn quả chủ yếu qua các năm 2013-2015 42
Bảng 3.2 Sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu qua các năm 2013-2015 43
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất một số cây ăn quả chủ yếu qua các năm 2013-2015 44
Bảng 3.4 Cơ cấu diện tích, sản lượng một số cây ăn quả cho thu hoạch giữa các vùng năm 2015 46
Bảng 3.5 Giá bán bình quân 1kg sản phẩm qua các năm 46
Bảng 3.6 Chi phí sản xuất cho 01ha của một số cây ăn quả chủ yếu trong giai đoạn 2013-2015 50
Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế tính cho 01 ha của một số cây trồng trong giai đoạn 2013-2015 51
Bảng 3.8 So sánh giá trị gia tăng giữa một số cây ăn quả chủ yếu với một số cây lương thực 52
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của cây ăn quả phân theo vùng sinh thái tính cho 1ha năm 2015 53
Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế cây ăn quả tính theo mô hình canh tác (tính cho 01 ha) giai đoạn 2013-2015 56
Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế cây ăn quả tính theo quy mô diện tích Năm 2015 (tính cho 1ha) 57
Bảng 3.12 Tình hình sử dụng phân bón và thuốc BVTV một số cây trồng năm 2015 61
Trang 10DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai năm 2015 29 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 30 Biểu đồ 3.1: Diễn biến diện tích, sản lƣợng, giá trị sản xuất cây ăn quả chủ yếu qua các năm 2013-2015 45 Hình 3.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ cây ăn quả của huyện Thanh Oai 48
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cây ăn quả là loại cây trồng đã có từ xa xưa, luôn gắn liền với sản xuất và đời sống của con người Ngày nay cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đang trở thành một phong trào rộng lớn ở các tỉnh trung du miền núi, do đã khai thác phát huy được tiềm năng lợi thế của những vùng đất đồi núi và mang lại thu nhập cao, giúp người nông dân xoá đói giảm nghèo và nhiều hộ đã đi đến làm giầu
Thanh Oai là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội.Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, huyện Thanh Oai đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là trồng CAQ.Có thể nói CAQ đã giúp người dân nơi đây lựa chọn được một giải pháp phát triển kinh tế rất quan trọng trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên xét theo quan điểm bền vững, việc phát triển CAQ ở huyện Thanh Oai, vẫn còn nhiều vấn đề cần được đưa ra nghiên cứu giải quyết, đó là:
Về kinh tế: Tăng trưởng không ổn định, lợi nhuận từ sản xuất CAQ không tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của GO nguyên nhân chủ yếu do: Sự mất cân đối về cơ cấu chủng loại cây trong tập đoàn CAQ; cơ cấu giống đối với từng loại CAQ, không chủ động điều tiết được sản lượng hợp lí theo mức cầu của thị trường, trong vụ thu hoạch thường xảy ra tình trạng cung vượt quá cầu; công tác đăng ký thương hiệu hàng hoá, quản lý chất lượng sản phẩm quả bằng thương hiệu còn nhiều bất cập; chưa có sự đầu tư thoả đáng cho chế biến, sản phẩm sau chế biến chất lượng thấp và nghèo về chủng loại; thị trường tiêu thụ cục bộ, chất lượng thấp, chủ yếu là xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc và thường xuyên bị ép giá
Việc làm, thu nhập của người dân không ổn định, nguyên nhân: một phần do nội lực của người dân còn hạn chế; một phần do sự quan tâm đầu tư của Chính phủ đối với nhân dân như: Công tác đào tạo; ứng dụng chuyển giao
Trang 12khoa học công nghệ; hỗ trợ về sản xuất, thương mại…còn hạn chế;
Sản xuất chưa gắn với BVMT do khả năng tiếp cận khoa học công nghệ phục vụ sản xuất và vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng còn hạn chế, dẫn đến tình trạng sử dụng thuốc BVTV bừa bãi, thiếu khoa học, gây ảnh hưởng không tốt đến vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khoẻ con
người và môi trường sinh thái Việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải
pháp phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Thanh Oai Thành phố Hà Nội” sẽ góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên.Đó là lý do
tôi lựa chọn thực hiện nghiên cứu này làm luận văn tốt nghiệp cao học Kinh tế nông nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xây dựng cơ sở khoa học để đề ra một số giải pháp có tính khả thi cho việc phát triển CAQ theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề về kinh tế và phát triển một số CAQ mang tính chủ lực của địa phương; quy mô, cơ cấu sản xuất, phát triển CAQ, những tác động từ các chính sách của Nhà nước đối với nhân dân; sản xuất gắn với BVMT sinh thái
Trang 13số giải pháp khả thi nhằm phát triển CAQ theo hướng bền vững cho huyện Thanh Oai
-Về thời gian: Luận văn thu thập số liệu thứ cấp từ 2013-2016, các số liệu điều tra kinh tế hộ được thực hiện trong năm 2016.Thời gian thu thập từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2016
4 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÂY ĂN QUẢ BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lí luận về phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững
1.1.1 Khái niệm về phát triển
Trong thế giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội, “Phát triển” được biểu hiện dưới nhiều quan niệm và trạng thái khác nhau; song tựu chung lại “Phát triển” được hiểu là một thuật ngữ chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh kết quả gia tăng, tiến bộ, sau quá trình vận động biến đổi của một hay nhiều hoạt động kinh tế- xã hội trong một giai đoạn, một thời kỳ nhất định
Phát triển kinh tế là kết quả gia tăng về số lượng, quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ, sự tiến bộ về chất lượng, cơ cấu kinh tế xã hội
Phát triển là một khái niệm chung song mỗi chủ thể kinh tế, hoạt động kinh
tế đều có riêng một tiêu trí phát triển dựa theo khả năng, trình độ và công nghệ của từng chủ thể
Kết quả phát triển kinh tế - xã hội mang lưỡng tính, gồm cả chủ quan và khách quan vì: Khi một chủ thể kinh tế xây dựng kế hoạch phát triển đều phải phải căn cứ vào các điều kiện chủ quan, khách quan ở quá khứ, hiện tại và tương lai, đồng thời trong quá trình vận động biến đổi chúng luôn ảnh hưởng và chi phối một cách chặt chẽ với nhau; mặt khác, trong mối liên hệ xã hội chủ thể này luôn là yếu tố khách quan của chủ thể kia
1.1.2 Phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển kinh tế là phương thức duy nhất và là điều kiện cơ bản để đạt tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của tất cả các dân tộc trên khắp thế giới.Nhưng trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình thì con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu của chính mình
Chẳng hạn con người vừa cần có củi để đun nấu và sưởi ấm lại vừa rất
Trang 15cần có rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn, bảo vệ nguồn nước ngầm và phòng, chống nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng [19]
Từ những mâu thuẫn đó vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhân loại phải đối mặt với nhiều thách thức rất to lớn về các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường mang tính toàn cầu, đó là:
Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng dân số quá nhanh
và hàng loạt những vấn đề xã hội khác nảy sinh; nạn ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trái đất làm suy giảm, thủng tầng ô zôn dẫn tới hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên và ngày càng dữ dội hơn
Những thách thức nêu trên gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế và đe doạ sự tồn tại không phải chỉ của từng quốc gia riêng lẻ mà của cả cộng đồng quốc tế
Năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra “Chiến lược bảo toàn thế giới” với mục tiêu tổng thể là “đạt được sự phát triển bền vững, cách bảo vệ các tài nguyên sống”
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta’ của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, đã đưa ra khái
niệm “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển được tổ chức ở
Cộng hoà Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 03 mặt của sự phát triển, đó là: Phát triển kinh tế; Phát triển xã hội; Bảo vệ môi trường.[19]
1.1.2.2 Nội dung của phát triển bền vững
- Phát triển bền vững về kinh tế:
Phát triển kinh tế bền vững là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao đông, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế -xã hội và MT sống
Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về qui mô sản
Trang 16lượng hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Người ta thường dùng các thước đo: Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tính mức tăng trưởng tuyệt đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân hay theo mức bình quân đầu người về giá trị tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một năm
Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ có nghĩa là: Trong một thời kỳ, cơ cấu kinh tế có tỷ trọng của ngành nông nghiệp, công nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng giá trị và lao động của ngành dịch vụ ngày càng tăng nhanh và chiếm ưu thế Nếu tăng trưởng kinh tế không dựa trên cơ sở chuyển dịch có cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, mà chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và bán sản phẩm thô thì không thể có phát triển bền vững (trường hợp một số nước vùng Trung Đông tăng trưởng kinh tế dựa vào bán dầu mỏ)
Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, đồng thời phải làm tăng năng lực nội sinh Năng lực nội sinh được thể hiện ở những chỉ tiêu như: Chất lượng nguồn nhân lực, năng lực sáng tạo, công nghệ quốc gia, mức độ tích luỹ của nền kinh tế; mức độ hoàn thiện, hiện đại của hệ thống kết cấu hạ tầng….[19]
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, bởi xoá đói giảm nghèo làm tăng năng lực sản xuất cho người nghèo, thông qua nâng cao kiến thức, trình độ cho người nghèo, hỗ trợ vốn cho người nghèo.Xoá đói giảm nghèo còn tạo ta mặt bằng xã hội phát triển tương đối đồng đều, đảm
Trang 17bảoan sinh xã hội, đó là một điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững
Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân
cư như: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ trẻ em sơ sinh
tử vong, tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ bác sĩ trên 1000 dân, tỷ lệ dân số được dùng nước sạch, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đi học Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI), là chỉ số tổng hợp của ba chỉ số cơ bản: thu nhập bình quân đầu người, chỉ số về giáo dục (tỷ lệ % người lớn biết chữ) và chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân)[19]
- Phát triển bền vững về môi trường:
Trong thực tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhiều doanh nghiệp, nhiều quốc gia đã không không chỉ khai thác cạn kiệt tài nguyên mà còn thải ra môi trường nhiều chất độc hại làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí ; làm mất cân bằng sinh thái, mất đi sự đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu trái đất ; đe doạ trực tiếp cuộc sống của con người hiện tại chứ chưa nói đến của thế
hệ tương lai Vì vậy, nội dung của phát triển bền vững về môi trường là sự tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm môi trường, không huỷ hoại môi trường:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với nuôi dưỡng và cải thiện chất lượng môi trường, nghĩa là: Bảo vệ rừng và trồng từng mới, trồng cây phân tán,
trồng CAQ…chống xói mòn, tăng độ phì cho đất
Trong sản xuất, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường; sáng tạo ra nhiều vật liệu mới thay thế vật liệu truyền thống; sử dụng vật tư, nguyên liệu vào sản xuất khoa học và hợp lý để bảo vệ lý tính, hoá tính của đất, tài nguyên nước; bảo vệ nguồn lợi hải sản… [19]
Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên:
Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên
có nghĩa là: phải có kế hoạch lựa chọn, cân nhắc khi quyết định khai thác tài nguyên, xét cả về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trang 18Với lịch sử hình thành và khái niệm đã nêu ở trên, phát triển bền vững không đưa ra một khuôn mẫu chung nào đó để áp dụng cho tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ, điạ phương, mà phải thay đổi theo từng thời kỳ, từng vùng lãnh thổ, từng nền văn hoá từng hoàn cảnh kinh tế -xã hội cụ thể
Năm 2015 trong chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đã
đề xuất năm nội dung của phát triển bền vững đó là:
- Tập trung phát triển ở các vùng nghèo đói, nhất là những vùng rất nghèo
mà ở đó con người không có sự lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn lực và môi trường
- Tạo sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện có hạn
về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kĩ thuật và công nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kĩ thuật truyền thống
- Thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương thực, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khỏe, chống suy dinh dưỡng thông qua các công nghệ thích hợp
- Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia
Để có sự phát triển bền vững cần có các yếu tố sau:
- Một hệ thống chính trị đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của người dân vào việc ra quyết định
- Một hệ thống kinh tế góp phần tạo ra sản phẩm thặng dư và kĩ thuật công nghệ dựa trên tính tự lập và bền vững
- Một hệ thống sản xuất đảm bảo phục hồi hệ sinh thái cho sự phát triển
- Một hệ thống công nghệ làm nền tảng cho xây dựng các giải pháp bền vững, lâu dài
- Một hệ thống quốc tế đẩy mạnh mối quan hệ bền vững về thương mại và tài chính
Trong chương trình nghị sự 21, mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam được Chính phủ xác định như sau:
Trang 191- Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
2- Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, đến năm 2020, nước ta căn bản trở thành một nước công nghiệp
3- Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho nhân dân
4- Tăng cường nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng vàan ninh
5- Phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học.[19]
1.1.3 Phát triển sản xuất nông nghiệp và cây ăn quả bền vững
1.1.3.1 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp bền vững
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) năm
1992 quan niệm rằng: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn
sự thay đổi về tổ chức và kĩ thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) sẽ bảo đảm không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kĩ thuật và công nghệ,
có hiệu quả về kinh tế và được chấp thuận về phương diện xã hội Theo Ủy ban kỹ thuật của FAO nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lí có hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Như vậy trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp một cách bền vững vừa đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tang về sản phẩm nông nghiệp vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân lạo trong tương lai.Mặt khác phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn, vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi trường
1.1.3.2 Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững
Mục tiêu chiến lược của các nước có nền nông nghiệp là xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững.Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm:
Trang 20- Tăng năng suất nông nghiệp một cách bền vững và ổn định
Chỉ có năng suất mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp Việc tăng năng suất này phải được thực hiện một cách ổn định, bền vững, nông nghiệp không bị chao đảo trước các cú sốc của kinh tế thị trường Tăng năng suất nông nghiệp trước hết phải tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động, vốn sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm
để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp
- Phân phối công bằng sản phẩm và tài nguyên nông nghiệp
Sự phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các biện pháp thực hiện sự công bằng về phân phối, chia sẻ sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên nông nghiệp Một hệ thống nông nghiệp càng công bằng bao nhiêu thì sự phân bố tài nguyên trong cư dân, trong cộng đồng, vùng và quốc gia càng công bằng bấy nhiêu.Đạt được sự công bằng thường là điều khó Cách mạng xanh ở các nước thuộc thế giới thứ ba đã làm cho nông dân sản xuất quy mô lớn có lợi hơn là nông dân sản xuất nhỏ, đặc biệt là các vùng nghèo Vì vậy chiến lược phát triển thủy lợi, phân bón, giống phải tính đến các yếu tố công bằng cho sự phát triển của nền nông nghiệp
- Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
Nông nghiệp chỉ có thể phát triển bền vững khi tài nguyên thiên nhiên, đất, nước rừng, biển được sử dụng đúng đắn không bị giảm cấp, không bị tài phá bởi những kỹ thuật canh tác không phù hợp Trong chiến lược phát triển nông nghiệp cần phải có các nội dung bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên kết hợp với việc phát triển nông lâm nghiệp và thủy sản
- Làm tăng sự công bằng giữa các thế hệ và hoàn thiện chất lượng cuộc sống
Sự phát triển nông nghiệp được gọi là bền vững khi mà các hoạt động hiện tại về nông nghiệp không làm ảnh hưởng xấu mà chỉ làm tốt hơn các khả năng phát triển của thế hệ mai sau Vì thế việc giải quyết các vấn đề hôm nay sẽ làm cơ sở để hạn chế và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tương lai.Thực trạng nghèo đói là nguyên nhân cơ bản của sự tàn phá và giảm cấp tài nguyên
Trang 21rừng và đất Vì thế cần có chiến lược giải quyết tốt những khó khăn, nhất là các vùng điều kiện sản xuất khó khăn Để làm được điều này, sự tham gia của nhóm người hưởng lợi, sự phân bố công bằng lợi ích và khả năng tự lập là những yếu
tố cơ bản của mọi chương trình phát triển nông nghiệpvà nông thôn
1.1.3.3 Các yếu tố chủ yếu của phát triển nông nghiệp bền vững
- Lao động: Lao động là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đồng thời
nó cũng là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong phát triển kinh tế Mặt khác,lao động là một bộ phận của dân số, cũng là những người được hưởng lợi ích của sự phát triển Suy cho cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người Nói đến nhân tốlao động thì phải quan tâm đến cả hai mặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực
- Điềukiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên là yếu tố tạo sở cho việc phát triển các ngành, cho quá trình tích luỹ vốn; đồng thời cũng là đối tượng sản xuất nông nghiệp Cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn Cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên
- Kinh tế (vốn đầu tư): Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng đối với mọi hoạt động của một nền kinh tế Vốn là chìa khoá đối với sự phát triển bởi lẽ phát triển về bản chất được coi là vấn đề bảo đảm đủ các nguồn vốn đầu tư để đạt được một mục tiêu tăng trưởng Thiếu vốn, sử dụng vốn kém hiệu quả được đánh giá là một cản trở quan trọng nhất đối với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh Tích luỹ vốn là điều mấu chốt của sự phát triển song tỷ lệ tích luỹ cao có thể không
có tác dụng lớn đối với tăng trưởng, tạo ta ít công ăn việc làm và không cải thiện được phân phối thu nhập khi nguồn vốn đó bị phân tán vào những dự án
có năng suất lao động thấp Một cơ cấu SX thiếu vốn sẽ không có điều kiện
để phát triển.[21]
- Khoa học và công nghệ: Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật Những phát minh, sáng chế khi được ứng dụng vào
Trang 22sản xuất đã giảm thiểu lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho người lao động; tăng năng suất lao động, tạo sự tăng trưởng nhanh, góp phần tác động mạnh mẽ vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện tại
Trong những năm gần đây, nông nghiệp được quan tâm ứng dụng nhiều tiến bộ tiến bộ khoa hoặc công nghệ vào sản xuất như: công nghệ sinh học, di truyền học, biến đổi gien…Những thành tựu khoa học công nghệ mới đã giúp sản xuất nông nghiệp có được những bước nhảy vọt về hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới
- Chính sách pháp luật của Nhà nước: Ở mỗi thời kỳ, nền kinh tế của mỗi nước đều vận hành theo một cơ chế nhất định.Sau đại hội lần thứ VI của Đảng, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hỗn hợp “nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Trên thực tế, qua 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế Điều đó đã khẳng định chính sách pháp luật của Nhà nước có một vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển của nền kinh tế, sự đặc biệt đó thể hiện bằng các chính sách vĩ mô, tạo hành lang pháp lý cho các thành phần kinh tế điều chỉnh khối lượng, phương hướng sản xuất một cách phù hợp với sức cạnh tranh của sản phẩm và mức cung, cầu của thị trường Hoặc các chính sách vi mô điều tiết, hỗ trợ của chính phủ nhằm tạo cơ hội và điều kiện phát triển một cách cân đối giữa các vùng miền, các ngành thiết yếu
1.1.3.4 Ý nghĩa của phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững
Phát triển bền vững CAQ giữ một vai trò quan trọng, không thể tách rời trong phát triển nông nghiệp bền vững Sản xuất và phát triển CAQ đã chuyển hoá được những khó khăn về điạ hình thổ nhưỡng của một vùng đất thành tiềm năng lợi thế mang lại lợi ích cho con người, trong khi loại đất đó nếu trồng những cây trồng khác mang lại hiệu quả kinh tế thấp hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế Sản xuất và phát triển CAQ là điều kiện tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động, tăng trưởng GDP, từng bước góp phần phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và đô thị hoá nông thôn.Đồng thời tham
Trang 23gia tích cực vào chương trình quốc gia về phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng độ che phủ đất, cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái
1.1.3.5 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật một số cây ăn quả ở Việt Nam
Hầu hết CAQ là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất.Với đặc tính này, CAQ phân bố tương đối rộng, thường là cây lâu năm (trừ một số cây như dứa, đu đủ, chuối…); cây ăn quả phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài 2- 3 năm tuỳ theo từng loại CAQ, thời kỳ này, về kỹ thuật canh tác nên trồng xen các loại cây họ đậu ngắn ngày như lạc, đỗ… vừa
có tác dụng chống trừ cỏ dại, giữ ẩm, chống xói mòn, tăng độ phì nhiêu cho đất, vừa có thu nhập để thực hiện phương châm “lấy ngắn nuôi dài”
Sau thời kỳ kiến thiết cơ bản đến thời kỳ kinh doanh, thời kỳ kinh doanh kéo dài hàng chục năm; một số CAQ có hiện tượng ra quả cách năm như bưởi, nhãn… Do đó để nâng cao hiệu quả kinh tế cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tạo điều kiện cho cây hạn chế hiện tượng trên
- Năng suất CAQ có quan hệ mật thiết đến tuổi cây, mật độ cây/ha, do vậy khi tính toán đánh giá HQKT thường được tính năng suất bình quân trong
kỳ kinh doanh và mật độ kỹ thuật cho phép,
- Cây ăn quả có thể trồng phân tán trong các vườn nhà hoặc trồng ở các trang trại, các nông trường quốc doanh; từ đặc điểm này dẫn đến việc tập hợp chi phí và tính các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế cây ăn quả thường gặp phải những trở ngại nhất định
- Sản phẩm CAQ có khối lượng lớn, thuỷ phần cao, thời gian thu hoạch ngắn, vấn đề này đặt ra các giải pháp có liên quan đến công tác phòng trừ sâu bệnh, bảo quản chế biến và tiêu thụ sản phẩm một cách hợp lý
- Hiệu quả kinh tế CAQ cũng thường bị chi phối bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội
+ Về yếu tố tự nhiên: Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Công Hậu, các yếu tố khí hậu chi phối và tác động tất lớn đến năng suất CAQ Qua theo dõi vườn cam 60 cây ở Phú Hộ trong 10 năm, tác giả đã kết luận sản lượng quả phụ thuộc vào các yếu tố nhiệt độ, mưa, nắng theo công thức sau:
Trang 24S = A+BX+CY+DZ trong đó:
S: sản lượng quả
A : hệ số diễn tả ảnh hưởng của các yếu tố chưa theo dõi được
BX: hệ số diễn tả ảnh hưởng của nhiệt độ
CY: hệ số diễn tả ảnh hưởng của lượng mưa
DZ: hệ số diễn tả ảnh hưởng của số giờ nắng
Các yếu tố khí hậu qua các tháng trong năm ảnh hưởng đến sản lượng cam như sau: Tháng 11 nếu nhiệt độ tăng lên 0,1oC thì sản lượng 60 cây cam giảm 49kg; nếu lượng mưa tăng 0,1mm thì sản lượng cam giảm 14kg và ngược lại số giờ nắng tăng 01 giờ/tháng sản lượng cam tăng 18% [12]
+ Các yếu tố kinh tế xã hội
Tuy các điều kiện đất đai, khí hậu có thể phát triển CAQ nhưng điều kiện kinh tế đặc biệt là cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, mức độ đầu tư chi phí và thị trường sản phẩm tác động sâu sắc đến khả năng phát triển CAQ của từng vùng, từng địa phương
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển cây ăn quả theo hướng bền vững
1.2.1 Tình hình phát triển cây ăn quả trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình phát triển cây ăn quả trên thế giới
Năm 2010 tổ chức FAO công bố về sản lượng quả của một số CAQ trên thế giới như sau:
Trang 25- Xoài: đạt sản lượng 18.9 triệu tấn; Châu Á cũng là nơi có sản lượng 10 triệu tấn cao nhất thế giới
- Nho: đạt sản lượng 59.7 triệu tấn; Châu Âu đạt 38.9 triệu tấn
Trong những năm gần đây, lợi dụng lợi thế so sánh trong sản xuất các nước như Braxin, Mỹ, Ấn Độ, Pháp đã phát triển CAQ ở diện rộng, sản phẩm quả xuất khẩu ngày một tăng
Theo số liệu thống kê của (FAO) năm 2014, sản lượng quả toàn thế giới
là 333,6 triệu tấn, trong đó sản lượng quả mọng là 329,5 tr tấn chiếm 98,8% tổng sản lượng của toàn thế giới, còn lại 4,1 tr tấn là quả vỏ cứng chiếm 1.2% Xếp theo thứ tự sản lượng, Châu Á là nước có sản lượng cao nhất, tiếp đến là Châu Mỹ, Châu Phi, Liên Bang Nga, cuối cùng là Châu Đại Dương Thị trường quả trên thế giới cũng có xu hướng tăng dần, trong đó sản lượng quả có múi xuất khẩu tăng nhanh (chủ yếu là bưởi và cam đường)
1.2.1.2 Tình hình phát triển cây ăn quả của Việt Nam
Từ sau khi Luật đất đai 1993 được áp dụng, ruộng đất đã được giao lâu
dài cho nông dân, cùng với nhu cầu quả trong nước tăng cao, phong trào trồng CAQ theo mô hình kinh tế trang trại, mô hình nông lâm kết hợp phát triển mạnh
ở nhiều địa phương, đặc biệt các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ như: Bắc Giang, Yên Bái, Hà Giang ; vùng đồng bằng Sông Hồng gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình ; vùng đồng bằng Sông Cửu Long gồm: Vĩnh Long, Cần Thơ Sự phát triển các mô hình trồng CAQ có vai trò tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập kinh tế của nông hộ Tuy nhiên trong quá trình phát triển, do thiếu định hướng quy hoạch, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến chưa được chú trọng đầu tư và phát triển, thị trường tiêu thụ không ổn định và cục bộ, nên CAQ thường tồn tại theo quy luật: “được mùa mất giá, được giá mất mùa” Theo Vũ Công Hậu (2000) đã phân chia tập đoàn CAQ Việt Nam theo các nhóm có nhu cầu sinh thái khác nhau: cây nhiệt đới, cây á nhiệt đới và cây ôn đới
Theo Vũ Mạnh Hải 2008 [23], vùng trồng CAQ ở miền Bắc chủ yếu tập trung vào các cây trồng chính như sau:
Trang 26- Nhóm cây có múi: Vùng trồng tập trung ở miền Bắc thuộc khu vực Trung du miền núi phía bắc và Bắc trung bộ, tâm điểm của vùng là các tỉnh
Hà Giang (các huyện vùng thấp) và Hàm Yên -Tuyên Quang.Các khu vực bổ trợ khác như: Phú Thọ, Lạng Sơn, Kim Bôi- Hoà Bình các vùng ven sông Hồng; vùng phía Bắc Trung bộ, tập trung chủ yếu là Nghệ An chủ lực là các giống cam chanh; Hà Tĩnh
Cây vải: Chủ yếu ở các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh, một phần của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc; Cây bưởi trồng chủ yếu tại các vùng ngoại thành Hà Nội như bưởi diễn, bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Kim
Chỉ số phát triển
(%)
Giá trị (tỷ đồng)
Chỉ số phát triển (100%)
[Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2015]
Trong thời gian qua diện tích một số CAQ của nước ta có xu hướng tăng, thể hiện Qua 5 năm 2010-2015, tổng diện tích cây có múi cả nước tăng 1157,3 ha, chỉ số năm sau đều cao hơn năm trước (GO) trong 5 năm tăng từ 6.402,5 tỷ lên 8.008,3 tỷ đồng Với số liệu trên chứng tỏ tình hình sản xuất cây
ăn quả của nước ta trong giai đoạn hiện nay đang có những bước phát triển tốt
1.2.1.3 Tình hình sản xuất và phát triển cây ăn quả trên địa bàn Thành Phố Hà Nội
Thành Phố Hà Nội có 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành, tổng diện tích cây lâu năm cho sản phẩm năm 2013 là 17923ha, trong đó:Diện tích
Trang 27CAQ là 14.551ha, diện tích chuối chiếm 20,33%, diện tích cam chiếm 30,35%, diện tích bưởi chiếm 27,30%, diện tích táo chiếm 10,08%, diện tích nhãn chiếm 9,15%, diện tích cây trồng khác chiếm 2,79% Cây ăn quả được trồng chủ yếu ở các huyện: Thanh Oai, Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm với tổng diện tích: 12324ha chiếm 84,7%.Riêng huyện Thanh Oai chiếm 20% diện tích CAQ toàn thành phố Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn 2050 đã xác định huyện Thanh Oai là huyện trọng điểm
về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm quả
1.2.1.4 Tình hình chế biến, tiêu thụ sản phẩm
- Chế biến: các nhà máy chế biến rau quả ở nước ta hầu hết được xây dựng trước năm 1990, máy móc thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, sản phẩm làm ta không đủ sức cạnh tranh trên thị trường, chủ yếu do tiêu chuẩn kỹ thuật, mẫu mã không cập nhật với cầu của thị trường Năm 1999, cả nước có 12 nhà máy và 48 cơ sở chế biến rau quả, tổng công suất 150.000 tấn sản phẩm/năm Đến cuối năm 2013 đã đầu tư 12 dự án với tổng công suất 53.000 tấn sản phẩm/năm, nâng cao năng suất chế biến của cả nước lên 290.000 tấn sản phẩm Trong đó doanh nghiệp Nhà nước là 143.747 tấn sản phẩm/năm chiếm 50-%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh 48.650 tấn sản phẩm/năm chiếm 16%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 101.180 tấn sản phẩm/năm chiếm 34% Tổng công ty rau quả nông sản chiếm vị trí quan trọng trong ngành rau quả, công suất chế biến hơn 100.000 tấn sản phẩm/năm, chiếm 34% tổng công suất của cả nước [6]
Trong các năm qua nhờ có các chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư thông qua luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhiều dự án đã bỏ vốn
ra đầu tư vào lĩnh vực chế biến với quy mô khác nhau.Đã có hàng trăm ngàn có
sở làm công việc sơ chế bảo quả theo công thức sấy, chiên sấy, đông lạnh sản phẩm rau quả Theo báo cáo thống kê của 35 tỉnh thành thì có 25 đơn vị quốc doanh, 07 đơn vị liên doanh, 129 đơn vị tư nhân và hơn 10.000 hộ quy mô gia đình Năm 2013 các hội viên của hiệp hội trái cây Việt Nam đã đầu tư nhiều cơ
sở chế biến rau quả mới như nhà máy đồ hộp rau quả Mỹ Luông Chợ Mới tỉnh An Giang, nhà máy đông lạnh rau quả Duy Hải tại Đồng Nai của
Trang 28Vegetexco, xưởng chế biến trái cây doanh nhiệp Hoàng Gia tỉnh Vĩnh Long, nhà máy chế biến trái cây tại Cần Thơ [6]
Chế biến sau thu hoạch có thể dưới nhiều hình thức như ướp lạnh, sấy khô, ngâm muối, dầm chua và đóng hộp Qua hoạt động chế biến làm thay đổi hình thức và chất lượng quả nguyên liệu tạo ra nhiều sản phẩm mới cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu
+ Công nghệ bảo quản: bảo quản sản phẩm quả hiện nay chủ yếu theo công nghệ truyền thống, quy mô nhỏ, các nghiên cứu đã đề cập bảo quản với quy mô vừa (nhỏ hơn vài chục tấn/hộ như vải (20-30 tấn/hộ, cam 20tấn/hộ, mận 10-20tấn/hộ) Với công nghệ tiên tiến hơn như kết hợp sử dụng nhiệt nóng 49-530c hoặc mát dưới 180C hoặc lạnh dưới 100C hoặc đông lạnh dưới –
100C nhằm hạn chế hô hấp chín Qua bảng dưới đây cho ta thấy: ở miền Bắc khoảng 87% cơ sở buôn bán rau quả tươi có hoạt động sau thu hoạch; ở miền Nam 100% các cơ sở có hoạt động sau thu hoạch Hoạt động sau thu hoạch phổ biến nhất là khâu đóng gói 68% ở miền Nam và chỉ có 24,1% ở miền Bắc, riêng khâu phân loại miền Nam đạt đến 90% nhưng ở miền Bắc chỉ đạt 37% [26]
Bảng 1.2.Các hoạt động bảo quản trước khi tiêu thụ
Đvt: %
Hoạt động
Bán trong nước
Nhà xuất khẩu
Bình quân chung
Bán trong nước
Nhà xuất khẩu
Bình quân chung
Trang 29Tình hình tiêu thụ: Việc tiêu thụ sản phẩm quả chủ yếu ở dạng tươi và
cho thị trường trong nước là chính, sản phẩm quả chế biến công nghiệp mới chỉ chiếm 10% Do đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp kéo dài thời gian sử dụng nên chất lượng sản phẩm quả được nâng lên [26] Theo phân tích điều tra về mức sống của Việt Nam năm 2013 sản phẩm quả tiêu thụ chỉ đạt 23 kg/người/năm, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và trong dịp
lễ, tết Nhu cầu tiêu dùng quả của các vùng và thành phố cũng có sự khác nhau
Hiện nay, theo thống kê của FAO tiêu thụ quả bình quân đầu người ở nước ta đạt khoảng 40 kg/người/năm, thấp hơn nhiều so với bình quân của thế giới Năm 2015 trong báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện chương trình rau quả và hoa cây cảnh thời kỳ 2010- 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra kế hoạch phấn đấu đến năm 2020 bình quân tiêu thụ 65kg quả/người/năm
Trang 30+ Thị trường xuất khẩu quả:
Trong bối cảnh nước ta đã là thành viên tổ chức thương mại Thế giới, ngành sản xuất và chế biến hoa quả của ta đang đứng trước những thách thức rất lớn về xuất khẩu và cả tiêu thụ nội địa, điều đó có thể thấy ở một số điểm chính như sau:
* Thị trường Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu 50-80% sản lượng quả tươi từ nước ta chủ yếu qua đường tiểu ngạch Trong thời gian tới rau quả nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc phải chịu mức thuế cao hơn Thái Lan, Ấn Độ 22-25%, các đòi hỏi về chất lượng nghiêm ngặt hơn trước
* Các thị trường tiêu thụ tiềm năng khó tính như Hoa Kỳ, EU ngày càng đòi hỏi chất lượng cao, an toàn, sạch bệnh, mẫu mã bao bì đẹp, thuận lợi cho tiêu dùng Sản xuất CAQ ở nước ta qui mô phân tán, việc cung ứng các giống tốt vào sản xuất đại trà cũng như việc điều tiết để có được sự hài hoà giữa sản xuất, tiêu thụ và chế biến vẫn còn là một khó khăn lớn, tính thương phẩm của quả tươi còn thấp, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường
*Tuy nhiên, với điều kiện thuận lợi về đấtđai, khí hậu, nước ta có nhiều chủng loại quả đặc trưng, do vậy sản phẩm quả của nước ta vẫn có nhiều lợi thế so sánh đối với các nước trong khu vực và trên thế giới
+ Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả:
Tổng Công ty rau quả nông sản Việt Nam và các công ty trực thuộc là đơn vị giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông, phân phối mang tính chất nhà nước, thông qua việc hướng dẫn sản xuất, giới thiệu sản phẩm, ký kết các hợp đồng xuất khẩu sản phẩm quả Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tuy vậy, thị trường tiêu thụ quả có chỗ, có nơi sôi động trong lúc đó có vùng lại bỏ ngỏ mang tính chất tự do thông qua chợ nông thôn và thành thị
Kênh tiêu thụ do tư nhân đảm nhận thu gom, vận chuyển và bán hàng cho các cửa hàng, đại lý, siêu thị
Trong các kênh tiêu thụ trên thì tiêu thụ sản phẩm quả hiện nay do tư
Trang 31nhân, thương lái tiêu thụ là chủ yếu
Qua số liệu (bảng 1.4) dưới đây, chỉ số phát triển tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm sau đều tăng so với năm trước; về giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 253,5 triệu USD cao hơn năm 2011 là 40,4 triệu USD tăng 19%; sản lượng xuất khẩu tăng hơn 6 lần Với kết quả trên xét
về tổng thể, kim ngạch xuất khẩu có chiều hướng tăng trưởng tích cực, song so với tốc độ tăng về sản lượng xuất khẩu thì giá trị kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng Điều đó chứng tỏ rằng chất lượng hàng xuất khẩu của chúng ta chất lượng còn ở mức độ thấp, sản phẩm xuất thô và phải trải qua nhiều khâu trung gian mới đến được tay người tiêu dùng nên hiệu quả còn hạn chế Nếu rút ngắn được các khâu trung gian, xuất khẩu rau quả sẽ mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế
Bảng 1.4.Tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam từ 2011-2015
[Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2015]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về cây ăn quả trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu phát triển cây ăn quả trên thế giới
Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, Singh R.B cho biết: Ấn Độ là một nước sản xuất nhiều quả và tiêu thụ phần lớn trong nước Xoài, táo hiệu quả kinh tế gấp 6,14 lần so với lúa và gấp 33,2 lần so với ngô; cam gấp 5,16 lần so với lúa và gấp 32,4 lần so với ngô Số liệu lấy từ những năm mà cây lương thực
có ý nghĩa với đời sống con người cao hơn so với CAQ [32]
- Các tài liệu nghiên cứu về CAQ của Trung Quốc (giáo trình trồng CAQ dùng cho các trường Đại học Nông nghiệp phía Nam Trung Quốc đều cho
Trang 32nhận xét là: Các loại CAQ là loại cây trồng không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa ven sông đất ruộng, đất đồi núi ở Trung du cả miền núi thuộc loại phù sa cổ, sa thạch phiến thạch
- Nghiên cứu về tổ chức sản xuất CAQ khu vực châu Á Thái Bình Dương, Singh R.B (1993) đã chia ra 03 nhóm nước:
+ Nhóm 01: Bangladesh, inđônêsia, Nepal và Srilanka là những nước chưa chú trọng phát triển CAQ;
+ Nhóm 02: Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Thailand là những nước chú trọng phát triển CAQ;
+Nhóm 03: Hàn Quốc, Nhật Bản là các nước phát triển mạnh CAQ
-Nghiên cứu về giống cây trồng ở các nước như Nhật Bản tạo ra giống quýt Inshin có nguồn gốc từ Ôn Châu Trung Quốc không có hạt ăn ngon [34]
Nhóm 1: các nước thuộc châu Mỹ: chiếm 30% sản lượng thế giới;
Nhóm 2: các nước khu vực Địa Trung Hải: Ý, Ai Cập chiếm 25-28%; Nhóm 3: Chiếm 40% tổng sản lượng là châu Á Thái Bình Dương, đứng đầu là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu phát triển cây ăn quả ở Việt Nam
- Nghiên cứu ở một số vùng trong nước:
+ Theo Vũ Công Hậu: Trước hết phải khẳng định trồng CAQ có HQKT lớn hơn so với trồng nhiều cây khác Một số công trình điều tra cho thấy hiện nay thu nhập về cây ăn trái gấp 2- 4 lần so với lúa trên cùng một đơn vị diện tích Chính nhờ quả bán được giá cao phong trào trồng cây ăn trái đang lên mạnh và xu hướng này còn có thể kéo dài khi tình hình kinh tế ngày càng được cải thiện, vấn đề an toàn lương thực đã được đảm bảo [12]
Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc ở huyện Văn Yên- Yên Bái các tác giả: Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà, Phạm Tấn Dũng (2012) đã kết luận: hệ thống CAQ trong đó cây trồng chính là mơ và hồng phát triển thuận lợi
ở vùng thung lũng đồi nam Văn Yên cho lãi với cây mơ 41 triệu đồng/ha/năm Cây hồng (giống Bảo lương) cho lãi 16 triệu đồng/ha/năm [20]
Trang 33+ Nghiên cứu về HQKT cây ăn quả trên các vùng đất khác nhau, các tác giả: Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, Đỗ Đình Ca (2008) đã có kết luận Các tỉnh trồng nhiều cam quýt là các tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp chiếm 88% diện tích và sản lượng của vùng Trong các loại cây trồng quýt cho HQKT cao nhất, lãi thuần 82,4 triệu đồng /ha/năm; Cam lãi thuần 54,6 triệu đồng/ha/năm [23]
+ Theo Vũ Mạnh Hải -Trần Thế Tục, vùng khu 04 cũ: Vùng Phủ Quỳ là vùng có tiềm năng lớn về cam quýt, có nhiều điển hình đạt năng suất cao Trong
số các loại cây trồng ở vùng này như cà phê, chè, cao su, cam thì cam cho HQKT cao nhất [23]
+ Tác giả Dương Đức Vĩnh và các cộng sự nghiên cứu hệ thống cây trồng
ở Chợ Đồn- Thái Nguyên đã kết luận về các công thức xen canh CAQ:
Dứa xen ổi cho lãi 10.370.000đ/ha/năm
Dứa xen vải thiều cho lãi 22.022.000đ/ha/năm
Dứa xen táo lãi 16.643.400đ/ha/năm
Dứa xen mơ lãi 25.138.000đ/ha/năm [29]
+ Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thanh Hà - Hải Dương cho thấy: Thanh Hà có 2000ha vải thiều ước tính thu được 7000- 8000 tấn quả/ năm thu được 1520 tỷ đồng trong khi đó cấy gần 7000ha lúa năng suất bình quân 50tạ/ ha, sản lượng đạt 35000 tấn thóc, giá bán 6.500đ/kg, giá trị sản lượng của thóc hơn 227 tỷ đồng Như vậy giá trị 01 ha trồng vải gấp 6,7 lần trồng lúa
-Những nghiên cứu cây ăn quả vùng ven sông đồng bằng châu thổ sông Hồng:
+ Các tác giả Nguyễn Văn Tiễn, Nguyễn Văn Phi, Đặng Thị Ngoan (2010) nghiên cứu hệ thống cây trồng hợp lý cho sản xuất lâu bền trên đất phù sa huyện Ứng Hòa và huyện Thanh Oai của thành phố Hà Nộiđã đưa tập đoàn CAQ thích nghi với điều kiện tự nhiên của Ứng Hòa và Thanh Oai
+Cao Anh Long, Đoàn Thế Lư, Trần Như Ý (2005- 2006) tuyển chọn
Trang 34nguồn gien CAQ cho vùng sinh thái đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.Trong đó có nghiên cứu các giống cam đường canh của huyện Thanh Oai
+ Phạm Chí Thành, Đoàn Văn Điểm, Nguyễn Hữu Tề (2001- 2002) nghiên cứu hệ thống luân canh phù hợp với điều kiện sinh thái đất phù sa miền Bắc Việt Nam trong đó có hai huyện Ứng Hòa và Thanh Oai của thành phố Hà Nội
+ Vũ Thiện Chính (2004) nghiên cứu khả năng phát triển cam đường canh Tràng Cát và Bưởi Kim An Ngoài hiệu quả xã hội, về hiệu quả kinh tế CAQ cũng cao hơn hẳn so với loại cây trồng khác trên cùng một đơn vị diện tích
+ Các nghiên cứu về CAQ vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến các yếu tố kỹ thuật và có ý nghĩa
lý luận, thực tiễn cao; đây là những căn cứ khoa học quan trọng giúp việc nghiên cứu đồng bộ tình hình phát triển CAQ ở thành phố Hà Nội, để có được những giải pháp phù hợp tại địa phương
-Tóm lại: Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đều có những kết luận như sau:
+ Cây ăn quả là cây lâu năm không kén đất có thể phân bố rộng rãi ở các vùng các khu vực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia.Chính vì vậy CAQ có thể trồng ở những vùng đất trồng cây lương thực không có hiệu quả trong lúc đó CAQ đem lại HQKT cao
+Cây ăn quả có vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất vật chất nói chungvà trong ngành trồng trọt nói riêng
+Phát triển CAQ cũng là một giải pháp, sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, bảo vệ đất đai, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Trang 35Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Thanh Oai nằm phía Nam Thủ đô Hà Nội, có trung tâm là thị trấn
Kim Bài, cách trung tâm thủ đô hơn 20 km theo quốc lộ 21B Diện tích tự nhiên: 12314,81 ha, dân số 188.069 người Phía Bắc giáp Quận Hà Đông, phía Tây giáp huyện Chương Mỹ, phía Đông giáp huyện Phú Xuyên, Thường Tín, Thanh Trì và phía Nam giáp huyện ứng Hoà, Phú Xuyên Vị trí của huyện có điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi, lưu thông hàng hoá với các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước
Toàn huyện có 21 đơn vị hành chính, trong đó có 20 đơn vị thuộc khu vực nông thôn và 1 thị trấn đó là các xã: Cự Khê, Bích Hòa, Cao Viên, Thanh Cao, Bình Minh, Tam Hưng, Mỹ Hưng, Thanh Thùy, Thanh Mai, Kim An, Kim Thư, Phương Trung, Đỗ Động, Thanh Văn, Cao Dương, Xuân Dương, Dân Hòa, Hồng Dương, Tân Ước, Liên Châu và thị trấn Kim Bài
Với vai trò cửa ngõ và là vành đai thực phẩm phía Nam thủ đô Hà Nội, huyện Thanh Oai có lợi thế rất lớn về thị trường tiêu thụ nông sản và là địa bàn tiêu thụ một khối lượng đáng kể hàng tiêu dùng sản xuất ở nội thành Bên cạnh đó huyện Thanh Oai còn có lợi thế rất lớn trong việc tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào các ngành kinh tế do Hà Nội là trung tâm đầu não của cả nước về khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Trong quy hoạch thủ đô Hà Nội đến năm 2030 thì các khu đô thị Thanh Hà
và Mỹ Hưng sẽ hình thành, đây là một điều kiện rất thuận lợi để Thanh Oai phát triển kinh tế, có thể bắt kịp sự phát triển chung của toàn thành phố về kinh tế - xã hội Trong thời gian tới tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư để nền kinh tế của huyện có bước phát triển đột phá
Trang 362.1.1.2 Đặc điểm về khí hậu và thủy văn
- Điều kiện về khí hậu
Huyện Thanh Oai mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng này có nền nhiệt độ cao và thường hay có gió, bão, lượng mưa trong mùa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa
cả năm dễ gây ngập úng cho cây trồng và một số khu dân cư vùng trũng ven sông Nhuệ
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng này có nền nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí thấp, lượng bốc hơi cao, để phát triển các loại cây trồng cần có hệ thống tưới nước trong vụ này
- Độ ẩm không khí từ 84 - 96%, lượng bốc hơi nước cả năm 700 - 900 mm, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 1, lơn nhất vào tháng 5 - 6
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23.5 0C mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,4 0
C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể tới 40°C vào mùa Hạ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới 5°C vào mùa Đông nhưng ít khi xảy ra Trong mùa lạnh biên độ nhiệt ngày đêm có thể biến động tới 10 -15 0
C
- Lượng mưa trung bình nhiều năm xấp xỉ 1.700 mm, năm cao nhất đạt tới 2.100 mm Mưa tập trung vào mùa nóng âm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8 Mưa lớn và tập trung làm thiệt hại đáng kể đến mùa màng của nhân dân
- Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất 1.150 giờ, cao nhất 1.970 giờ Mùa hạ có số giờ nắng cao nhất và cường độ nắng cũng cao hơn các mùa khác Bình quân số giờ nắng/ngày trong năm khoảng 4,5 giờ, tối đa 6,5 giờ (mùa hạ), thấp nhất 1,6 giờ/ngày (mùa đông) Tổng lượng bức xạ cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển
- Hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão kèm theo mưa
Trang 37lớn gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân Gió mùa Đông Bắc từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa lạnh, lạnh và ẩm ướt tháng 2 và 3 do có mưa phùn Đôi khi có sương mù, sương giá trong các tháng 12 và tháng 1 song ít gây thiệt hại cho sản xuất
Các đặc điểm khí hậu, thời tiết tuy có gây ra những khó khăn nhất định cho sản xuất và đời sống, nhưng nó cho phép phát triển một nền nông nghiệp đa dạng
về chủng loại cây trồng vật nuôi và cho phép sản xuất nhiều vụ trong năm
- Đặc điểm về thủy văn
Trong huyện có 2 con sông và một tuyến kênh La Khê chảy qua:
- Sông Đáy chạy dọc qua 9 xã phía tây huyện,
- Sông Nhuệ ở phía đông huyện;
- Hệ thống kênh La Khê được cung cấp nước từ sông Đáy và sông Nhuệ
- Trên địa bàn huyện còn có hệ thống ao, hồ, đầm nằm rải rác ở tất các xã Nguồn nước mặt cơ bản đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện Tuy nhiên đối với vùng bãi sông Đáy về mùa khô vẫn gặp khó khăn trong việc cung cấp nước tưới Mực nước ngầm trong huyện có liên quan chặt chẽ đến mực nước của sông Nhuệ, sông Đáy Nên về mùa mưa mực nước tĩnh thường dâng lên cao theo mức độ dâng cao của nước sông Nhuệ, sông Đáy Mực nước ngầm nằm ở độ sâu từ 30 - 60 m Trữ lượng nước ngầm trong vùng khá dồi dào Chất lượng nước ngầm: theo kết quả phân tích nước cho thấy hàm lượng sắt và hàm lượng manggan trong nước cao hơn tiêu chuân cho phép Vì vậy, nước ngầm cần được xử lí trước khi sử dụng Qua khảo sát cho thấy, nước ngầm nằm từ độ sâu từ 30 - 60 m có đủ lưu lượng nước để khai thác được lâu dài.Như vậy, nguồn nước ở Thanh Oai khá phong phú, đủ để đáp ứng cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, do địa hình nên ở một số vùng trũng bị ngập úng vào mùa mưa, vùng bãi bị khô hạn vào mùa khô Vì vậy, cần có giải pháp chuyển đổi cây trồng
để thích ứng với những vùng úng trũng hay khô hạn
2.1.1.3 Đặc điểm về tài nguyên đất đai và khoáng sản
Đất đai trên địa bàn Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi đắp
Trang 38phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:
Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài đê trong vùng phân lũ sông Đáy, có độ màu mỡ cao, thành phân cơ giói cát pha thịt nhẹ, thích hợp cho canh tác các loại rau màu và cây trồng cạn
Đất phù sa không được bồi (P): Loại đất này chiếm chủ yếu, phân bố rộng khắp khu vực đồng bằng, đã được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao như mô hình lúa
- màu, lúa - rau, lúa - cá, ở Hồng Dương, Dân Hoà, Tam Hưng, và trồng các loại cây lâu năm như cam, vải, bưởi ở Cao Viên, Thanh Cao, Thanh Mai, Kim An Đất phù sa gley (Pg): có diện tích lớn nhất 7.352,7 ha, chiếm 59,36% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bổ ở địa hình thấp có ở hầu hết các xã trong huyện như Thanh Văn, Đỗ Động, Dân Hoà, Tam Hưng Mực nước ngầm nông, mức độ bị gley từ trung bình đến mạnh, tỷ lệ cấp hạt sét (<0,002 mm) ở các tầng rất cao và tăng theo chiều sâu, đất có phản ứng chua (pHKCL= 4,3 - 4,7) Hàm lượng mùn đạm, kali tổng số cao trong khi lân tổng số thấp (0,073%), lân dễ tiêu nghèo (l,18mg/100g đất), kali dễ tiêu trung bình (10mg/100g) Đất được hình thành trên sản phẩm phù sa của hệ thông sông, trên địa hình vàn, vàn thấp là chủ yếu Hiện nay ở những chân tương đối cao, dễ thoát nước có thể sản xuất 3 vụ (2 lúa 1 màu)
Nhìn chung, đất đai của huyện có độ phì cao, có thể phát triển nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây rau màu, cây lâu năm, cây ăn quả và có thể ứng dụng nhiều mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao.Theo tài liệu của Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường thì trên địa bàn huyện không có khoáng sản nào đáng kể.Theo số liệu (bảng 2.1) năm 2015 tổng diện tích đất tự nhiên của huyện: 12314.81ha, trong đó: Đất nông nghiệp: 66.81%, Đất phi nông nghiệp chiếm 32.01%, đất chưa sử dụng: 1.09%
Có thể nói trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp ở Thanh Oai
đã tập trung phát triển mạnh CAQ
Trang 39Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất huyện Thanh Oai giai đoạn 2013-2015
năm
7232.50 7318.41 7520.15 91.39 101.18 103,98
Đất trồng lúa 7138.70 7099.27 6972.23 82.55 99.44 97,67 Đất trồng cây hằng
nghiệp
3542.90 3852.80 3953.70 32.10 108.74 111,60
III.Đất chƣa sử dụng 136.63 135.09 133.16 1.09 98.87 97,46
[Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện Thanh Oai]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Thanh Oai
2.1.2.1 Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai năm 2015
Trang 40Trồng Trọt, 37.62
Chăn Nuôi, 53.96
Dịch Vụ, 8.42
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Mặc dù trong những năm gần đây do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kinh tế huyện Thanh Oai vẫn tiếp tục có mức tăng trưởng khá, đang dần dần đi vào ổn định và phát triển
Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010-2015 (theo giá so sánh 2010) ước đạt 9.714 tỷ đồng/năm Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và phát triển nông nghiệp chất lượng hiệu quả bền vững, Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010- 2015 đạt 13,5%, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của thành phố Hà Nội Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 26 triệu đồng/người/năm Kinh tế huyện Thanh Oai trong những năm qua chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ Trong nông nghiệp, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi Xét quá trình phát triển từ năm 2015 đến nay cho thấy: Tỷ trọng ngành nông nghiệp năm 2013 trong GTTT vẫn còn ở mức cao, chiếm 47,61% Đến năm 2015 ngành nông nghiệp chỉ còn chiếm 17,35% Tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng có xu hướng tăng dần qua các năm: Năm 2010 chỉ chiếm 27,71%; năm 2014 chiếm 41,64% và đến năm 2015 tăng lên: 53,05%