Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh thì người trồng chè cần chú trọng những vấn đề gì trong tất cả các khâu trồng, chăm sóc đến tiêu thụ sản phẩm vẫn là vấn đề mang tính cấ
Trang 1LĂNG QUỐC HIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CH QUY M H GI ĐÌNH TẠI C NG TY CỔ PHẦN CH THÁI BÌNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hải Ninh
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI C M ĐO N
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2017
Người cam đoan
Lăng Quốc Hiệp
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với TS Nguyễn Thị Hải Ninh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng nhờ sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ Luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu lý luận, tích luỹ kinh nghiệm thực tế của tác giả
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo cùng các đồng nghiệp Cục thống kê tỉnh Lạng Sơn và Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Phòng Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Khi Tác giả được kết quả này, tôi không thể không nói đến công lao và sự giúp đỡ của Uỷ ban Nhân dân các huyện, xã trong địa bàn tỉnh Lạng Sơn, các phòng ban chức năng và bà con nông dân các xã Lâm Ca, xã Thái Bình, và thị trấn Vùng Thái Bình những người đã cung cấp số liệu thực tế, tư liệu chính xác để giúp đỡ tôi đưa ra những phân tích đúng và chính xác nhất
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào
Hà Nội, Ngày tháng 11 năm 2017
Tác giả
Lăng Quốc Hiệp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TRONG N NG SẢN XUẤT N NG NGHIỆP 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 4
1.1.2 Nội dung hiệu quả kinh tế 9
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp 19
1.1.4 Tổng quan về cây chè 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Kinh nghiệm về hiệu quả sản xuất chè búp trên thế giới 26
1.2.2 Kinh nghiệm về hiệu quả sản xuất chè búp của Việt Nam 27
1.2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊ BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 33
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 33
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty 34
2.1.3 Tình hình sử dụng đất đai của công ty 36
2.1.4 Bộ máy tổ chức quản lý của công ty 37
2.1.5 Đặc điểm về lao động của công ty 40
2.1.6 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty 43
Trang 52.1.7 Đặc điểm về vốn sản xuất kinh doanh của công ty 44
2.1.8 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 45
2.1.9 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển của công ty 46
2.1.10 Đặc điểm cơ bản vùng chè nguyên liệu của công ty 50
2.1.11 Mối quan hệ giữa công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn với hộ gia đình trồng chè (nguyên liệu) của công ty 51
2.2 Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu khảo sát nghiên cứu 52
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 52
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 53
2.2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 53
2.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 53
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 53
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
ầ ái B Lạ Sơn 55
3.1.1 Diện t ch trồng chè 55
3.1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của công ty 56
3.1.3 Cơ cấu giống chè của công ty 58
3.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 58
3.2 Thực trạng sản xuất chè quy mô hộ gia đình tại công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 62
3.2.1 Các thông tin cơ bản của HGĐ điều tra 62
3.2.2 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ điều tra 66
3.2.2.1 Chi phí sản xuất chè của các hộ 66
3.2.2.2 Hiệu quả kinh tế cây chè của các hộ gia đình 70
Trang 63.2.4 Phân t ch SWOT về sản xuất chè quy mô hộ gia đình tại Cty cổ
phần chè Thái Bình Lạng Sơn 75
3.3 Phân tích SWOT về sản xuất chè quy mô hộ gia đình tại Cty chè Thái Bình Lạng Sơn……… ……… 75
3.4 Những thành công, tồn tại trong sản xuất chè tại các HGĐ tại công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 79
3.4.1 Những thành công 79
3.4.2 Những tồn tại 80
3.4.3 Nguyên nhân của tồn tại 80
3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất chè của các hộ gia đình tại công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 81
3.5.1 Phương hướng SXKD của công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn….81 3.5.2 Một số giải phápnâng cao hiệu quả sản xuất chè quy mô hộ gia đình tại công ty cổ phần Chè Thái Bình Lạng Sơn 82
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU TH M KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 7D NH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
Trang 8D NH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Tình hình sử dụng đất của Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn năm
2.3 Tình hình lao động của Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 422.4 Cơ cấu tài sản cố định của công ty ( tính đến 31/12/2016) 432.5 Đặc điểm về vốn sản xuất kinh doanh của Công ty 44
3.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Công ty 56
3.4 Cơ cấu giống chè của Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 583.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn 603.6 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 61
3.11 Chi phí đầu tư trung bình tính cho 1 ha chè ở thời kỳ KTCB 673.12 Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha chè kinh doanh của các hộ điều tra 693.13 Hiệu quả kinh tế sản xuất chè của các hộ điều tra năm 2016 tính cho 1 ha 713.14 So sánh HQKT cây chè và các loại cây trồng khác tại địa phương 73
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập hàng năm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, cây chè đang được coi là một cây trồng mũi nhọn, một thế mạnh của khu vực trung du miền núi
Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn, tiền thân là một doanh nghiệp nhà nước, được thành lập từ năm 1962 Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã đạt được nhiều thành tích trong sản xuất và phát triển kinh tế Sản phẩm của công ty được trồng trên vùng núi cao Đông Bắc Việt Nam, có điều kiện tự nhiên lý tưởng, thuận lợi về nhiều mặt như địa hình, đất đai và khí hậu phù hợp để phát triển cây chè Với diện tích 2900 ha, năng suất đạt 10 tấn/ha, sản xuất 500 tấn chè khô các loại/năm cho thu nhập bình quân 100 triệu đồng/ha Các sản phẩm của công ty được nhiều khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng Việc sản xuất, kinh doanh chè đã tạo công ăn, việc làm cho 60 công nhân trong công ty và 700 hộ gia đình dân cư địa phương Trong những năm qua, nhờ được hỗ trợ giống và kỹ thuật
để sản xuất chè, đời sống của các hộ gia đình trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, cây chè được coi là cây kinh tế mũi nhọn của người dân địa phương, góp phần làm tăng thu nhập, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho bà con nơi đây
Tuy nhiên, so với tiềm năng của địa phương, thì việc sản xuất, chế biến kinh doanh chè còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém Mặt khác phương thức sản xuất của người dân còn mang tính nhỏ lẻ thủ công, dựa vào kinh nghiệm là chính Việc sử dụng phân bón chưa hiệu quả, cơ cấu giống còn nghèo nàn chủ yếu là giống chè trồng bằng hạt năng suất, chất lượng còn thấp, nhiều vùng trong huyện chè ngày một xuống cấp đang rất cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền có liên quan
Trang 10Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh thì người trồng chè cần chú trọng những vấn đề gì trong tất cả các khâu trồng, chăm sóc đến tiêu thụ sản phẩm vẫn là vấn đề mang tính cấp thiết để nâng cao giá trị sản xuất cây chè, tương xứng với tiềm năng của vùng, đặc biệt là quy mô hộ gia đình Chính vì vậy, tác giả
lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nâng cao i u quả sản u t c qu m gi n tại C ng t cổ p ần c T ái B n Lạng Sơn" là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sản xuất chè quy mô hộ gia đình
tại Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung:
Trang 11Hiệu quả sản xuất chè của các hộ gia đình tại Công ty cổ phần chè Thái Bình
Đề tài tập trung thu thập số liệu thứ cấp qua 3 năm từ 2014 – 2016, số liệu
sơ cấp được điều tra năm 2017
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và hiệu quả sản xuất chè nói riêng
- Thực trạng hiệu quả sản xuất chè quy mô hộ gia đình tại công ty cổ phần
chè Thái Bình Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất chè quy mô
hộ gia đình tại công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè quy mô hộ gia đình
tại công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT TRONG N NG SẢN XUẤT N NG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 M t số k ái ni m cơ bản liên qu n ến v n ề ng iên cứu
1.1.1.1 Hiệu quả sản xuất
* Hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất
ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả [8]
Muốn đạt hiệu quả sản xuất cần quan tâm một số vấn đề sau:
+ Hiệu quả kinh tế:
Trang 13Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
+ Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống
Trang 14khác Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc
sử dụng đất bền vững hơn
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [2], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
+ Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại cây được trồng phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài; Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt Cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dung tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Trang 151.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm kinh tế hộ gia đình
* Các khái niệm cơ bản về kinh tế nông hộ [10]
Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ
Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng:
“Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc
ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người
có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”
Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một
số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:[20]
Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn
các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai
Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính
kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản
Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân làm
công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” (Woly,
Trang 161966) nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vàoích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận
Từ những đặc trưng trên có thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ
sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh:
Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà,
ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình
Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng,
có cùng chung huyết tộc Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế
* Vị trí, vai trò của kinh tế h trong thời kỳ ổi mới [20]
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc,
tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ)
Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-01-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã
Trang 17Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 05 – 04 - 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp.[20]
Đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất
03-hiện.[20]
1.1.2 N i dung i u quả kin tế
1.1.2.1 Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (EE) là mục tiêu của người sản xuất bao gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nó là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào và đầu ra tối ưu EE được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ (EE = TE * AE)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt một trong hai yếu tố trên mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu trên thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế [14]
Tuy nhiên, để hiểu rõ thế nào là hiệu quả kinh tế, cần phải tránh những sai lầm như đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế, hoặc quan niệm cũ về hiệu quả kinh tế đã lạc hậu không phù hợp hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường
Thứ nhất, kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế là hai khái niệm hoàn toàn khác
nhau Hiệu quả kinh tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ
Trang 18ra và kết quả thu được Còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả là tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu bán hàng Nhưng kết quả này chưa nói lên được
nó tạo ra bằng cách nào? bằng phương tiện gì? chi phí bao nhiêu?, như vậy nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất hoặc trình độ của nền kinh tế quốc dân Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất cao và nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuấtkhác
Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả
kinh tế Hiệu quả kinh tế vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể
Là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân Các yếu tố cấu thành của nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan
hệ sản xuất của xã hội Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ
sở và thượng tầng kiến trúc Với nghĩa này thì hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện
sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội Tính trìu tượng của phạm trù hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả cao
ở đầu ra
Là phạm trù cụ thể vì nó có thể đo lường được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hiệu quả kinh
tế Thông qua các chỉ tiêu thống kê, kế toán có thể xác định được hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh
tế trên phạm vi mà nó được tính toán Hệ thống chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá
Trang 19trình sản xuất kinh doanh Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, nó bao gồm hai mặt định tính và định lượng Còn các chỉ tiêu hiệu quả chỉ phản ánh từng mặt các quan hệ định lượng của hiệu quả kinh tế Việc nâng cao hiệu quả kinh tế được hiểu là nâng cao các chỉ tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực
Tóm lại, khi xem xét hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh
tế xã hội về lượng là biểu hiện kết quả thu được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Còn về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực của từng khâu, mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế, nó
có quan hệ mật thiết với nhau
Thứ ba, phải có quan niệm về hiệu quả kinh tế phù hợp với hoạt động kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Trước đây khi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước giao như: giá trị sản lượng hàng hóa, khối lượng sản phẩm chủ yếu, doanh thu bán hàng, nộp ngân sách Thực chất đây là các chỉ tiêu kết quả không thể hiện được mối quan hệ so sánh với chi phí bỏ ra Mặt khác, giá cả trong giai đoạn này mang tính bao cấp nặng
nề do Nhà nước áp đặt nên việc tính toán hệ thống các chỉ tiêu kinh tế mang tính hình thức không phản ánh được trình độ thực về quản lý sản xuất của tổ chức sản xuất kinh doanh nói riêng và của cả nền sản xuất xã hội nói chung
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản
lý bằng các chính sách vĩ mô thông qua công cụ là hệ thống luật pháp hành chính, luật kinh tế, luật doanh nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội Các chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ đều là các đơn vị pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật Mục tiêu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế
Trang 20không những nhằm thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với những yêu cầu của xã hội theo những chuẩn mực mà Đảng và Nhà nước quy định gắn liền với lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích xã hội [17]
Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trùphản ánh trình độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả cao những mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất
Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh tế đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau
về vấn đề này chúng ta có thể phân thành hai nhóm quan điểm là:
- Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinhtế
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh[2]
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến hiệu
quả kinh tế Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ
xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào
Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ Thứ hai,
nó không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và
chính xác Thứ ba, hiệu quả kinh tế chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi
Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí lúc đầu không
Trang 21hoặc khó lượng hoá được nhưng nó là những con số không phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này[2]
- Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế
Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm mới về hiệu quả kinh tế, nhằm khắc phục những điểm thiếu của quan điểm truyền thống Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố
+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency); hiệu quả phân bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (Economic efficiency) Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số DO/DI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó
là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối
đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa [2]
+ Yếu tố thời gian, các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau
+ Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường
Các quan điểm mới về hiệu quả phù hợp với xu thế thời đại và chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện nay [2]
1.1.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất, hiệu quả kinh tế hàng hóa và tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh tế được hiểu là một mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án hay một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả cao là một phương án đạt được tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí sẽ đầu tư
Trang 22- Nội dung hiệu quả kinh tế
Theo các quan điểm trên về hiệu quả kinh tế, thì hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Vậy nội dung xác định hiệu quả kinh doanh bao gồm:
Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh tế là các mục tiêu đạt được của từng doanh nghiệp, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận v.v
Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai v.v
- Bản chất của hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sản xuất ra một lượng của cải, vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí lao động xã hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội [16]
Làm rõ bản chất của hiệu quả cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa “kết quả” và “hiệu quả” Kết quả mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào những trường hợp cụ thể xác định Do tính mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn về tài nguyên với nhu cầu tăng lên của con người mà người ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và chi phí bỏ ra là bao nhiêu, có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm đó
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì vậy, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với
Trang 23lượng hao phí lao động xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả
và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn tài nguyên hữu hạn [16]
- Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào, một ngành kinh tế nào hay một đơn vị sản xuất kinh doanh đều mong muốn rằng với nguồn lực có hạn làm thế nào để tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất và chất lượng cao nhất nhưng có chi phí thấp nhất Vì thế, tất cả các hoạt động sản xuất đều được tính toán kỹ lưỡng sao cho đạt hiệu quả cao nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng lợi nhuận, từ đó các nhà sản xuất tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tạo ra lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường đồng thời không ngừng nâng cao thu nhập cho người lao động Đây chính là cái gốc để giải quyết mọi vấn đề
Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lực trong
đó hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế các hình thức sử dụng đất nông nghiệp thì một trong những vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực Cụ thể, với nguồn lực đất đai có hạn, yêu cầu đặt ra đối với người sử dụng đất là làm sao tạo ra được số lượng nông sản nhiều và chất lượng cao nhất Mặt khác, phải không ngừng bồi đắp độ phì của đất Từ đó sản xuất mới
có cơ hội để tích luỹ vốn tập trung vào tái sản xuất mở rộng
Nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở các địa vị khác nhau thì có sự quan tâm khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hoá với giá thành ngày càng hạ và chất lượng hàng hoá ngày càng tốt hơn Khi xã hội càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả sẽ gặp nhiều thuận lợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cho
cả xã hội có lợi hơn, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trước mắt
và lâu dài
Trang 241.1.1.1 Phân loại hiệu quả kinh tế
Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế ta có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định, từ đó làm rõ nội dung của các loại hiệu quả kinhtế
Căn cứ vào nội dung và bản chất có thể phân biệt thành ba phạm trù: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫnnhau
Căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại: hiệu quả sử dụng đất đai, hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên khác nhau, hiệu quả của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật
Căn cứ theo yếu tố hợp thành bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả pháttriển
Căn cứ theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu gồm: hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành, hiệu quả kinh tế vùng, hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sảnxuất
1.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
* Các chỉ tiêu phản ánh kết quả, chi phí
- Tổng giá trị sản xuất thu được (GO):
Là tổng thu nhập của một loại mô hình hoặc một đơn vị diện tích; công thức tính là: GO = ΣQi*Pi, trong đó Qi là khối lượng sản phẩm thứ i, Pi là giá sản phẩm thứ i
- Chi phí trung gian (IC), còn được gọi là chi phí sản xuất: Là chi phí cho một
mô hình hoặc một đơn vị diện tích, trong một khoảng thời gian; bao gồm: Chi phí vật chất, dịch vụ, không bao gồm công lao động, khấu hao
- Chi phí lao động (CL): Chi phí số ngày công lao động cho một chu kỳ sản xuất hoặc một thời gian cụ thể
- Khấu hao tài sản cố định (KH): Tài sản cá nhân, hộ đầu tư để sản xuất (Như nhà kho, máy bơm, máy khác )
- Chi phí khác (K)
- Tổng chi phí (TC): TC = IC + CL + KH + K
Trang 25* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế:
- Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị tăng thêm so với chi phí sản xuất bỏ ra Công thức: VA= GO - IC
- Hiệu suất đồng vốn (HS): Do sản xuất nông nghiệp có chu kỳ ngắn nên có thể gọi là "Hiệu quả sử dụng đồng vốn"; Công thức tính là: HS = VA/IC
- Lợi nhuận (Pr): Pr = GO - TC
- Chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế:
+ Hiệu quả kinh tế tuyệt đối (H0): Là so sánh tuyệt đối giữa giá trị gia tăng (VA), hoặc Lợi nhuận (Pr) của mô hình này so với mô hình khác, phương án sản xuất này so với phương án sản xuất khác ; công thức tính: H0 = VA1-VA2 hoặc Pr1- Pr2.+ Hiệu quả kinh tế tương đối (H1): Là so sánh tương đối giữa giá trị gia tăng (VA), hoặc Lợi nhuận (Pr) của mô hình này so với mô hình khác, phương án sản xuất này so với phương án sản xuất khác ; công thức tính: H1 = VA1/VA2 hoặc Pr1/Pr2.+ Hiệu quả kinh tế tăng thêm (ΔH) = ΔGO/ΔIC hoặc ΔGO/ΔTC; ΔG = GO2 -
GO1; ΔIC = IC2-IC1; ΔTC = TC2-TC1
Trong đó: GO2 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư IC2 hoặc TC2, G1 là giá trị sản xuất ở mức đầu tư IC1 hoặc TC1
1.1.2.5 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất
Việc xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất liên quan đến việc xác định lượng đầu ra và lợi nhuận được tạo ra từ những yếu tố đầu vào của quá trình đó Do vậy, nghiên cứu về hiệu quả thường được bắt đầu từ việc nghiên cứu hàm sản xuất Hàm sản xuất của một loại sản phẩm nào đó là biểu diễn về mặt toán học của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của một quá trình sản xuất Vì thế hàm sản xuất thường được biểu diễn như sau:
Y = f(x1, x2, xn) (1)
Trong đó, số lượng sản phẩm đầu ra, Y là một hàm số đầu vào xi Đẳng thức (1) cho thấy sự tồn tại một số dạng hàm toán học về mối quan hệ giữa biến phụ thuộc Y và số lượng yếu tố đầu vào (biến độc lập) Có nhiều dạng hàm sản xuất được ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệm nhưng dạng hàm Cobb - Douglas được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Các ông Cobb
Trang 26và Douglas (1928) thấy rằng logarit của sản lượng và các yếu tố đầu vào thương quan hệ theo dạng tuyến tính Do vậy, hàm sản xuất Cobb-Douglas được viết dưới dạng:
LnY = lnα0 + α1lnx1 + α2lnx2 + + αnlnxn (2) Hay: Y = α0x1α1 x2α2 xnαn (3) Trong đó: Y và xi(i = 1, 2, n) lần lượt là các lượng đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất Hằng số α0 có thể được gọi là tổng năng suất nhân tố, biểu diễn tác động của những yếu tố nằm ngoài những yếu tố đầu vào có trong hàm sản xuất Nhưng yếu tố này có thể là sự tiến bộ công nghệ, sự hiệu quả Với cùng lượng đầu vào xi, α0 càng lớn sản lượng tối đa đạt được sẽ càng lớn Những tham số αi đo lường hệ số co giãn của sản lượng theo các yếu tố đầu vào Chúng giả định là cố định và có giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Hiệu suất theo quy mô của hàm sản xuất này có thể được tính bằng công thức:
Hiệu suất theo quy mô =
dx dx
.
1 , (i = 1, 2, , n)
Áp dụng công thức này đối với công thức (3), ta có
Hiệu suất theo quy mô =
i
α i
Do vậy, tổng các mũ số của các yếu tố đầu vào đo lường hiệu suất theo quy
mô của hàm sản xuất Cobb - Douglas Do hàm Cobb - Douglas đơn giản và bảo đảm những thuộc tính quan trọng của sản xuất nên thường được sử dung nhiều trong nghiên cứu thực nghiệm
Một dạng hàm sản xuất được chỉ định cụ thể, dạng hàm cụ thể của hàm lợi nhuận sẽ được xác định tương ứng Rõ ràng cấu trúc của hàm sản xuất sẽ quy định cấu trúc hàm lợi nhuận Những tham số của hàm lợi nhuận sẽ là một ví dụ về hàm
số đối ngẫu của chính nó, nghĩa là hàm đối ngẫu sẽ có dạng giống như hàm khởi thủy Như vậy, hàm sản xuất Cobb - Douglas có hiệu suất theo quy mô giảm dần theo các đầu vào biến đổi được biểu diễn như sau (Cobb - Douglas, 1928):
Trang 27Trong đó μ = m
1
α1 < 1 Hàm lợi nhuận đối với hàm sản xuất Cobb - Douglas là:
Ta thấy rõ rằng hàm lợi nhuận cũng có dạng Cobb - Douglas bởi vì hàm sản xuất Cobb - Douglas là trường hợp của hàm tự đối ngẫu
Lấy logarit 2 vế của (5), ta có:
* ln
c
(8) Đối với hàm lợi nhuận Cobb - Douglas (8) trở thành:
1.1.3 Các n ân tố ản ưởng tới i u quả kin tế trong sản u t n ng ng i p
* Điều ki n tự n iên:
Trang 28Bao gồm các yếu tố như đất đai, khí hậu thời tiết, nước, sinh vật… có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây
trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
- Đặc điểm lý, hóa tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghiệp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất… quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh vật phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp… sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất
- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân,
sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian… trực tiếp ảnh hưởng tới
sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh,…lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia
súc, thủy sản
* Điều ki n kin tế, ã i:
Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng,…) các yếu
tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản
Trang 29xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó, thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có
hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và giá
cả nông sản Cung, cầu trên thị trường có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển đối với các hàng hoá nông nghiệp Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng
Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
* C ín sác , p áp luật
Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, đất đai, có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp Hệ thống chính sách pháp luật tác động rất lớn tới sự phát triển của nông nghiệp và cách thức
tổ chức, sắp xếp, cơ cấu sản xuất nông nghiệp Mỗi một sự thay đổi của chính sách, pháp luật thường tạo ra sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó có thể thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển hoặc giới hạn, hạn chế một khuynh hướng phát triển
Trang 30* Yếu tố tổ c ức, kỹ t uật:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công nghiệp chế biến Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
- Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
- Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
1.1.4 Tổng qu n về câ c
1.1.4.1 Đặc điểm sản xuất cây chè
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của
chúng được sử dụng để sản xuất thức uống Cây chè có thân thẳng và tròn, phân nhánh liên tục thành một hệ thống cành và chồi.[20] Thân, cành, bộ lá tạo thành tán cây chè, để mọc tự nhiên có dạng vòm đều Lá mọc ra từ các mấu, chồi mọc ra từ nách lá Theo chức năng thì chồi có hai loại: chồi dinh dưỡng mọc ra lá và chồi sinh thực mọc ra nụ, hoa, quả Theo vị trí trên cành, chồi có 3 loại là chồi ngọn, chồi nách và chồi ngủ Lá chè có 3 loại: lá vảy ốc rất nhỏ và cứng, mọc ở điểm sinh trưởng, lá cá nhỏ phát triển không đầy đủ, kích thước nhỏ, hình thuôn, mép không hoặc ít răng cưa, mọc tiếp theo là các lá vảy ốc, lá thật gồm một phiến lá và một phiến chè mọc tiếp theo các lá cá, mới mọc là lá non, tiếp theo là các lá bánh tẻ rồi đến lá già tùy theo trình độ sinh trưởng
Trang 31Hoa và quả cây của cây chè: Hoa bắt đầu nở trên cây chè 2 – 3 tuổi, từ chồi sinh thực ở nách lá, hoa lưỡng tính, tràng có 5 – 9 cánh màu trắng hay phớt hồng Quả chè có hình tròn hay hình tam giác tùy vào số hạt bên trong, vỏ quả màu xanh, khi chín có màu nâu rồi nứt ra Hạt chè có vỏ sảnh màu nâu, ít khi đen, hạt to nhỏ tùy vào giống chè và chất dinh dưỡng
Hệ rễ gồm có rễ cọc, rễ trần màu nâu hay nâu đỏ và dễ hút hay dễ hấp thụ < 1mm, màu vàng ngà, rễ trụ dài hay ngắn tùy theo giống chè, chất đất, chế độ làm đất và chất dinh dưỡng
Cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn do tác động của các điều kiện sinh thái trong quá trình sống của nó
Điều kiện đất đai và địa hình:
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Song
để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0.[20].Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường
Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 - 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ
Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế, không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4
Điều kiện độ ẩm và lượng mưa
Thực vật nói chung muốn hình thành nên một phần vật chất hữu cơ để cấu tạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phần nước Chè là loại cây ưa
ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân
bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng
Trang 32không tốt Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85% Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp
Điều kiện nhiệt độ, không kh
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định Cây chè bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 100C Độ nhiệt bình quân hàng năm
để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,50C và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 230C Chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.0000C Nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp Chiết Giang cho thấy độ nhiệt thích hợp đối với cây chè là 20 - 300C[20] Độ nhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin Cây chè quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây và giống
Không khí rất cần cho sự sống của thực vật Hàm lượng CO2 trong không khí khoảng 0,03%, song chỉ cần có một biến động nhỏ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quang hợp Chè là một cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp cũng thay đổi theo hàm lượng CO2 có trong không khí Nói chung hàm lượng CO2 trong không khí tăng lên đến 0,1 - 0,2% thì cường độ quang hợp tăng lên rất rõ rệt Không khí lưu thông tạo thành gió Gió nhẹ và có mưa có lợi cho sự sinh trưởng của chè vì nó có tác dụng điều hòa cân bằng nước của cây
1.1.5.2 V i trò củ câ c trong cu c sống
Giá trị y học:
Do chứa các chất chống ôxy hóa nên trà giúp làm chậm đi sự già cỗi của tế bào Chất gallotanin trong trà ngăn chặn sự thoái hóa của tế bào thần kinh và kích thích quá trình phục hồi của chúng Các flavonoide hạn chế sự lắng đọng cholesterol và xơ hóa mạch máu, làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và tỷ lệ tử vong do các vấn đề tim mạch Trà cũng có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giúp tinh thần hưng phấn, kích thích hô hấp và làm tim đập nhanh hơn
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trà có khả năng phòng chống ung thư, ngăn chặn
sự tổn thương ADN Việc uống trà thường xuyên giúp giảm 50% nguy cơ ung thư
dạ dày, 40% nguy cơ ung thư da (tỷ lệ này có thể lên đến 70% nếu uống trà với chanh) Hợp chất Florua có trong trà có tác dụng ngăn ngừa sâu răng Catechin và
Trang 33các chất chống oxy hóa có thể tiêu diệt vi khuẩn giúp ngăn ngừa chứng hôi miệng Trong trà còn có canxi và magiê, hai chất này tác động với nhau có tác dụng làm cho răng chắc khỏe Vitamin D có trong trà có tác dụng giúp xương chắc khỏe Ngoài ra, các axit amino giúp hình thành protein trong cơ thể có lợi cho cơ bắp, xương, da, tóc và có tác dụng chống lại các loại vi khuẩn, vi rút gây hại
Theo kinh nghiệm dân gian, có thể dùng nước trà tươi đậm đặc hoặc trà tươi giã nát đắp vào vết hăm, lở loét, viêm tấy hay các vết nứt da do lạnh để giúp vết thương mau lành
Giá trị văn hóa:
Trà có giá trị tinh thần trong tổ chức đời sống con người
Nghiên cứu văn hóa trà thế giới và Việt Nam cho thấy uống trà không những
để thưởng thức những giá trị vật chất, mà cũng để hưởng thụ những giá trị tinh thần Trong tiến trình lịch sử, uống trà đó kết hợp với môi trường thiên nhiên, nghệ thuật gốm sứ, thi ca, vũ nhạc, hoa pháp, thư pháp, hội hoạ, kiến trúc, tôn giáo Chính sự kết hợp hài hòa hai giá trị nêu trên trong văn hóa trà Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Việt Nam đó tạo nên sắc thái văn hoá nghệ thuật của "Chén trà phương Đông"
Giá trị kinh tế:
Chè là cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế dài, mau cho sản phẩm, cho HQKT cao Chè trồng một lần có thể thu hoạch 30 – 40 năm hoặc lâu hơn nữa Chè là cây cho thu nhập cao và ổn định giúp người dân xóa đói giảm nghèo Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càng được mở rộng bởi chè có nhiều giá trị sử dụng như trên cho nên ngày nay nó được sử dụng phổ biến trên thế giới Năm 2015, theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Chè Việt Nam (Vitas), cả nước ta hiện đang có khoảng 140.000ha đất trồng chè Diện tích chè đang cho thu hoạch là 130.000ha, năng suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/ha Tổng sản lượng hàng năm đạt xấp xỉ 180.000-190.000 tấn/năm Trong đó, xuất khẩu chiếm từ 75-80% tổng sản lượng với trên 110 thị trường và đăng ký bảo hộ thương hiệu trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ
Trang 34* Giá trị xã hội: Sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào Nguồn lao động của nước ta dồi dào nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, chè là một loại cây yêu cầu một lượng lao động sống lớn
Do đó, việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp
có hiệu quả, vừa để sử dụng hợp lý vừa để phân bố đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nước Việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân bố các xí nghiệp công nghiệp chế biến chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do đó làm cho việc phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du và miền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hoá
Giá trị môi trường
Chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực, nó là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy, cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà cũng góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kin ng i m về i u quả sản u t c búp trên t ế giới
Trên thế giới chỉ có khoảng hơn 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích hợp
để trồng chè trong khi đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chè với mức
độ khác nhau Các nước trồng chè đã tận dụng ưu thế đó để phát triển sản xuất, có những nước xem chè là cây trồng chính của đất nước như Kênya, ấn Độ
Sau đây là kinh nghiệm sản xuất chè của một số nước trên thế giới
Trung Quốc: Là nước phát hiện và sử dụng chè sớm nhất trên thế giới
Chè trở thành thứ nước uống giải khát phổ thông trong mọi tầng lớp nhân dân và được coi là 1 trong 7 thành phẩm quan trọng của đời sống nhân dân Trung Hoa
Trung Quốc là nước có điều kiện tự nhiên rất phù hợp với sản xuất chè, tận dụng lợi thế này, Trung Quốc xây dựng các vùng chè nguyên liệu, đa dạng hoá các giống chè có năng suất và chất lượng cao Xây dựng các nghiên cứu chè cả nước, xây dựng các trường đại học và cơ sở nghiên cứu ở các tỉnh Xuất bản các tạp chí,
Trang 35sách tham khảo và phổ biến tài liệu khoa học kỹ thuật trồng và chế biến chè Đặc biệt, Trung Quốc rất chú trọng phát triển văn hoá trà: xây dựng các nhà bảo tàng văn hoá, biên soạn các tác phẩm về trà, tổ chức các lễ hội văn hoá trà, trà sử, trà pháp Điều này đã thu hút nhiều du khách và nâng cao được vị thế của chè Trung Quốc trên thị trường thế giới
Nga: Nga là một nước sản xuất chè lớn và cũng là một trong những nước tiêu
thụ chè lớn nhất thế giới hiện nay Ngành chè ở Nga rất chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật đặc biệt ở khâu trồng chè Người ta trồng chè theo từng hàng, khoảng cách giữa các hàng là 1,5-1,75 cm, khoảng cách giữa các cây là 0,35 cm, lượng hạt giống dùng cho 1 ha là 150 kg Khi phân chia lô chè người ta đặc biệt chú ý tới độ thẳng của từng hàng chè và san phẳng mặt đất giữa các hàng chè để khi cơ giới hoá thì quá trình như đốn chè, thu hoạch búp và các quá trình canh tác khác không bị sai lệch khi làm việc
N ật Bản: Nhật Bản vốn là nước sản xuất và xuất khẩu chè xanh lâu đời trên
thế giới Nhật Bản là nước trồng chè có nền kinh tế phát triển, do đó giá nhân công cao thêm vào đó là khả năng công nghệ cao nên họ chủ yếu tiến hành cơ giới hoá trên đồi chè Nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý chăm bón vườn chè bằng hoá chất Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè nên đã thông qua được trên 60 giống chè mới Vườn chè có năng suất 18 tấn búp/ha phải tuân theo quy trình bón nghiêm ngặt: N
540 kg, P2O5 180 kg, K2O 270 kg, bón nhiều lần Sử dụng cơ khí nhỏ trong công tác chăm sóc
Hầu hết các nước sản xuất chè chính trên thế giới như ấn Độ đều là những nước đang phát triển Việc phát triển ngoài mục đích đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn mà nó còn giúp thực hiện các mục đích xã hội khác Những nước này mở rộng sản xuất dựa vào lực lượng lao động nông thôn dồi dào, giá nhân công rẻ Tuy vậy, do coi trọng phát triển chè họ cũng đầu tư vào công nghệ chế biến cho năng suất cao, chất lượng tốt, từ đó nâng cao giá thành và uy tín sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thế giới
1.2.2 Kin ng i m về i u quả sản u t c búp củ Vi t N m
* Lâm Đồng
Theo thống kê, hiện tại, Lâm Đồng có 21.961ha chè, trong đó diện tích chè chất lượng cao 5.635ha, phân bổ tại 11 huyện, thành phố trong tỉnh, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc và cao nguyên Di Linh Diện tích cho thu hoạch
Trang 36là 20.524ha, sản lượng chè búp tươi năm 2014 ước đạt 230 ngàn tấn, tăng 8% so với cùng kỳ Thành phố Bảo Lộc được mệnh danh là “thủ đô” chè - nơi tập trung 219 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh chè (hay còn gọi trà) với công suất của các nhà máy đạt gần 52 ngàn tấn Cùng với rau, hoa và chè,chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Lâm Đồng trong lĩnh vực nông nghiệp, được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Trong số các đơn vị sản xuất, chế biến chè tại thành phố Bảo Lộc, có tới 22 doanh nghiệp, cơ sở xuất khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp
đi nước ngoài Các sản phẩm xuất khẩu gồm: chè olong, chè xanh, chè xanh ướp hương và chè đen Thị trường tiêu thụ trải dài từ các nước Đông Nam Á (Indonesia, Thái Lan, Singapor), khu vực Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan) đến các nước Trung Á (Apganistan, Pakistan, Ả Rập) và Mỹ… Chỉ tính riêng sản lượng xuất khẩu chè của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến tại Bảo Lộc, giá trị xuất khẩu bình quân mỗi năm khoảng 20,3 triệu USD
* Ng An
Cây chè Nghệ An được trồng tập trung ở 6 huyện miền núi phía Tây Nam: Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Kỳ Sơn, Quỳ Hợp, Quế Phong với tổng diện tích năm 2014 là 7.056 ha Diện tích trồng chè tỉnh tăng nhanh từ 3.678 ha năm 2000 lên 7.851 ha năm 2010 và 7.056 ha năm 2014 Diện tích trồng chè tập trung nhiều nhất ở huyện Thanh Chương (4.136 ha), Anh Sơn (2.001 ha), Kỳ Sơn (423 ha), Con Cuông (334 ha) Diện tích thu hoạch chè công nghiệp năm 2014 là 5.610 ha
Nhằm nâng cao năng suất và sản lượng chè, Tỉnh đã đầu tư nghiên cứu, ứng dụng các giống mới cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh Năm 2014, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 87/2014/QĐ- UBND ngày 17 tháng
11 năm 2014 về hỗ trợ sản xuất chè như sau: Hỗ trợ 1.500 đồng/bầu giống chè Tuyết Shan, mật độ 3.300 bầu/ha; Hỗ trợ giống chè LDP1, LDP2, chè chất lượng cao với mức 400 đồng/bầu, mật độ 1.600 cây/ha; Hỗ trợ chi phí trồng mới, làm đất chè LDP1, LDP2, chè chất lượng cao, chè Tuyết Shan với mức 5.000.000 đồng/ha đối với các huyện Con Cuông, Kỳ Sơn, Tương Dương, khu tái định cư thủy điện
Bản Vẽ tại huyện Thanh Chương và mức 2.000.000 đồng đối với các huyện còn lại
Trang 37* Thái Nguyên:
Tính đến năm 2016 Tỉnh Thái Nguyên hiện có 21.127 ha chè, trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 17.376 ha, hằng năm, năng suất chè búp tươi bình quân đạt 111,88 tạ /ha, sản lượng chè búp tươi 194.409 tấn, sản lượng chè chế biến các loại 41.307 tấn Thái Nguyên lấy ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao làm hạt nhân, động lực, then chốt phát triển nông nghiệp, vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, thông qua chính sách hỗ trợ đầu tư, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, đẩy mạnh thực hiện khuyến nông, tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm chè Nhờ đó đến nay, toàn tỉnh có 13.234 ha trồng chè giống mới, chiếm tỷ trọng 62,6%, số còn lại là diện tích trồng giống chè trung du, chiếm 37,4% tổng diện tích chè Chè được xuất khẩu sang các thị trường: Pa-ki-xtan, Đài Loan (Trung Quốc), Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đạt giá trị 14 triệu USD/năm nhưng chỉ chiếm 20% tổng sản lượng chè của tỉnh, còn lại 80% tiêu thụ trong nước
Tỉnh cũng xây dựng cơ chế chính sách về đầu tư phát triển chè với một số nội dung: hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sản xuất chè an toàn, hỗ trợ lãi suất và giảm một phần thuế thu nhập cho các doanh nghiệp thu mua chế biến sản phẩm chè có cơ chế ứng trước vốn, vật tư cho người trồng chè, hỗ trợ kinh phí cho công tác đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực cho ngành sản xuất chè Tuy vậy, chương trình phát triển, nâng cao giá trị cây chè ở Thái Nguyên vẫn còn một số hạn chế: cơ cấu giống chè mới so với tổng diện tích còn thấp chưa quy hoạch đồng bộ giữa phát triển vùng nguyên liệu với sản xuất, chế biến, sản xuất chè đa phần có quy
mô nhỏ lẻ, manh mún Tại xã Tân Cương, Chi cục bảo vệ thực vật Thái Nguyên cùng với Hội nông dân xã đã mở các lớp tập huấn IPM (quản lý tổng hợp dịch hại) cho người trồng chè Tại đó, người dân được cung cấp kĩ năng sản xuất chè an toàn, cách chăm sóc chè cho hiệu quả; đặc biệt, hướng người trồng chè tích cực sử dựng phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu vi sinh và thảo dược Việc sản xuất chè được tiến hành theo một quy trình khép kín từ khâu chăm sóc, thu hoạch, cho đến khâu chế biến và bảo quản chè đều phải đảm bảo an toàn để tạo ra những sản phẩm chè sạch, chất lượng cao
Trang 38* Yên Bái:
Chè Yên Bái được hình thành từ năm 1960, cho đến năn 2016, tổng diện tích hiện còn trên 11.000 ha, với khoảng trên 2 vạn hộ nông dân có thu nhập về chè Sản xuất chè Yên Bái đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương Tuy nhiên trong bối cảnh chung của ngành chè Việt Nam, những năm qua sản xuất kinh doanh chè Yên Bái đã đối mặt với những khó khăn bất cập đó là: năng suất chè búp tươi thấp, chất lượng và loại sản phẩm chè chế biến mới chỉ phù hợp với một số thị hiếu tiêu dùng truyền thống, chưa đa dạng để phù hợp với các yêu cầu cao và thị hiếu khác nhau của người tiêu dùng, công suất các cơ sở chế biến còn vượt quá khả năng cung cấp nguyên liệu, đời sống thu nhập của người làm chè còn chưa được nâng cao, đóng góp vào ngân sách của ngành chè còn thấp
Với diện tích trên 11.000 ha, giống chè tiến bộ kỹ thuật đạt trên 5.000 ha (chiếm 48% tổng diện tích), năng suất đạt trên 85,0 tạ/ha Sản lượng chè búp tươi bình quân hàng năm đạt trên 87.000 tấn, nhưng giá trị sản phẩm chè tươi mới đạt gần 300 tỷ đồng Giá thu mua chè búp tươi bình quân 2.800- 3.500 đồng/kg (giá chè Shan Suối Giàng 12.000- 16.000 đồng/kg, giá chè Shan thâm canh 5.000-7.000 đồng/kg, giá chè nhập nội 10.000-15.000 đồng/kg) So sánh với mức độ giá chè búp tươi bình quân của cả nước thì giá chè Yên Bái cơ bản vẫn còn thấp, dẫn đến không khuyến khích được người tham gia phát triển sản xuất chè
Về chế biến: Hiện tại toàn tỉnh có 107 doanh nghiệp, đơn vị, cơ sở chế biến chè với công suất chế biến 1.145 tấn chè búp tươi/ngày Hiện có khoảng 80 đơn vị tham gia chế biến (27 đơn vị tạm ngừng hoạt động) và trên 1.500 cơ sở sản xuất chè nhỏ lẻ Chế biến khoảng 19.000 tấn chè khô các loại Cơ cấu sản phẩm chế biến chủ yếu là chè đen chiếm 85%, chè xanh 15% Giá tiêu thụ chè đen khoảng 20.000 – 30.000 đ/kg Giá chè xanh trung bình đạt 50.000-70.000 đồng/kg, trong đó chè Suối Giàng đạt 200.000-800.000 đồng/kg
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chè, ngày 18 tháng 01 năm 2016,
Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã ban hành Quyết định số 111/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển chè vùng cao tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2016 - 2020 Trong
đó Đề án xây dựng những mục tiêu sẽ đạt được thời gian tới như: Ưu tiên đầu tư xây dựng, hỗ trợ các vùng trọng điểm, nòng cốt để thúc đẩy phát triển cho toàn
Trang 39vùng Phát triển vùng chè gắn với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển du lịch Từng bước hình thành các vùng Nông, Lâm nghiệp bền vững trên các khu vực phát triển chè ở vùng cao (Suối Giàng, Gia Hội, Nậm Búng, Phình Hồ, Làng Nhì ) Cùng với các cây trồng khác cải tạo môi trường sinh thái vùng cao và phát huy hiệu quả phòng hộ đầu nguồn Phấn đấu đến năm 2020, tổng diện tích chè vùng cao là 3.385 ha (trong đó có 800 ha chè Shan công nghiệp) Sản lượng chè búp tươi đạt 8.000 tấn Chế biến 1.600 tấn chè khô thành phẩm Đầu tư xây dựng 1 nhà máy chế biến công suất chế biến 5 tấn chè búp tươi/ngày Giá trị thu nhập từ chè búp tươi ước đạt trên 35 tỷ đồng
* P ú T ọ:
Đến hết năm 2013, toàn tỉnh có 15.226,6 ha chè trong đó có 11.157.74 ha của dân, còn lại của các doanh nghiệp Diện tích đó cho sản phẩm là 13.194,4 ha, sản lượng thu hoạch là 103.756,5 tấn, năng suất bình quân đạt 78,64 tạ/ha Nhờ có
sự đầu tư thâm canh, áp dụng khoa học tiến bộ vào sản xuất, năng suất chè của nhiều huyện khá cao như: Đoan Hùng 84,5 tạ/ha, Thanh Sơn 99,42 ta/ha, Tân Sơn 92,22 tạ/ha Như vậy, với giá bình quân năm 2013 ở mức dưới 3000đ/kg chè búp tươi thì mỗi ha chè với năng suất bình quân như trên người trồng sẽ có khoản thu 30 triệu đồng/ha/năm, trừ các khoản chi phí người trồng sẽ thu được khoảng 12 triệu đồng/ha/năm Tuy chưa cao nhưng đối với điều kiện ở nông thôn miền núi như vậy
là chấp nhận được
Để đạt được kết quả trên người dân đã chú trọng đến việc áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào tất cả các khâu trong sản xuất và tiêu thụ chè Áp dụng mô hình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và kinh doanh, đồng thời không ngừng đẩy mạnh thâm canh, thay đổi cơ cấu giống chè nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, cơ giới hóa trong sản xuất được đẩy mạnh nhằm tăng năng suất lao động Ngoài ra, một số địa phương còn chú trọng đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, việc sản xuất chè theo tiêu chuẩn ViêtGap cũng được quan tâm
và đẩy mạnh
Tuy nhiên, mức thu nhập trung bình 12 triệu đồng/ha/năm chưa phải là cao
do còn tồn tại những hạn chế sau: chỉ có một số địa phương như Đoan Hùng, Thanh
Trang 40Ba, Tân Sơn, Thanh Sơn người dân chú trọng đến đầu tư cho cây chè, còn lại do người dân còn giữ những tập quán canh tác lạc hậu, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế từ đó dẫn đến năng suất và chất lượng chè vẫn còn thấp
1.2.3 Tổng qu n các c ng tr n ng iên cứu có liên qu n
Phạm Thị Mai Dung (2017), Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Tân Sơn, Tỉnh Phú Thọ
Nguyễn Tuấn Anh (2015), Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn xã Sơn Tùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
Dương Thị Nguyệt (2013), Thực trạng sản xuất kinh doanh chè của các hộ nông dân huyện Đại từ, Thái Nguyên
Lê Lâm Bằng (2008), Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Văn Chấn – Yên Bái
Theo như sự tìm hiểu của tác giả hiện tại chưa có ai nghiên cứu vấn đề này tại Công ty cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Do đó tác giả đi nghiên cứu là hết sức cần thiết