1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thực hiện thành công chương trình giảm nghèo theo nghị quyết 30a 2008 NQ CP trên địa bàn huyện mường la, tỉnh sơn la

122 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phát triển những địa phương thuộc các khu vực này, một trong những yếu tố quyết định chính là chính sách giảm nghèo của Nhà nước đã góp phần cải thiện cuộc sống của người dân nâng cao

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tác giả

Phạm Tuấn Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy

cô giáo trong Khoa Kinh tế - những người đã trang bị cho tôi những kiến thức

cơ bản và những định hướng đúng đắn trong học tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để tôi học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Phó Hiệu trưởng - Người thầy giáo đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Mường La, ban lãnh đạo các cấp, các phòng ban của huyện, các đơn vị hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh tế đóng trên địa bàn, UBND các xã Chiềng Ân, Nậm Giôn, Mường Trai

và những người dân địa phương đã cung cấp những thông tin cần thiết và giúp

đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài tại địa bàn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 7 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Phạm Tuấn Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 5

1.1 Cơ sở lý luận về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo 5

1.1.1 Một số khái niệm về nghèo đói 5

1.1.2 Nguyên nhân đói nghèo 15

1.1.3 Các khía cạnh của đói nghèo 18

1.1.4 Hoạt động xóa đói giảm nghèo 21

1.2 Chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ 24

1.2.1 Mục tiêu 24

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về xóa đói giảm nghèo 26

1.3.1.Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số nước trên thế giới 26

1.3.2 Thực tiễn về kinh nghiệm về hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam 30

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN HUYỆN MƯỜNG LA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Mường La tỉnh Sơn La 34

2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Mường La 34

2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên 35

Trang 4

2.1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội huyện Mường La 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 45

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 45

2.2.3 Phương pháp phân tích liệu 46

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 47

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Tình hình thực hiện chương trình Hỗ trợ giảm nghèo theo NQ 30 A tại huyện Mường La 48

3.1.1 Nội dung chương trình Hỗ trợ giảm nghèo theo NQ 30 A tại huyện Mường La 48

3.1.2 Kết quả triển khai các hoạt động của chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015 51

3.2 Thực trạng kết quả xóa đói giảm nghèo tại điểm nghiên cứu 67

3.2.1 Tình hình thực hiện các hoạt động giảm nghèo tại các xã điều tra 67

3.2.2 Tác động của các hoạt động giảm nghèo đến hộ điều tra 71

3.3 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả xóa đói giảm nghèo của hộ điều tra87 3.3.1.Quan điểm của người dân về các chương trình giảm nghèo được thực hiện tại địa phương 87

3.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo 90

3.4 Đánh giá những thành công, tồn tại trong thực hiện chương trình giảm nghèo tại huyện Mường La 91

3.4.1 Những thành công trong quá trình thực hiện chương trình giảm nghèo 91

3.4.2 Những tồn tại, hạn chế của chương trình giảm nghèo tại huyện Mường La 93

Trang 5

3.4.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 95 3.5 Giải pháp để thực hiện thành công chương trình giảm nghèo tại huyện Mường

La 98 3.5.1 Cơ sở của giải pháp: Kết quả phân tích SWOT 98 3.5.2 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả một số chương trình giảm nghèo tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La 100 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Giới hạn đói nghèo ở một số nước trên thế giới 9

1.2 Bảng chỉ số ngưỡng thiếu hụt - Theo Đề án Nghèo đa chiều của

1.3 Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo vùng 14 2.1 Cơ cấu loại hình sử dụng đất huyện Mường La năm 2015 37 2.2 Thống kê Dân số, Lao động huyện Mường La năm 2015 40 2.3 Kết quả đạt được trong phát triển kinh tế huyện 44 2.4 Các chỉ tiêu và đối tượng thu thập số liệu sơ cấp 46

3.1 Hỗ trợ chuyển đổi cây trồng vật nuôi giai đoạn 2011 - 2015 tại

3.2 Sự phát triển giáo dục - đào tạo huyện Mường La Giai đoạn

3.3 Kết quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông

3.4 So sánh số xã, bản đặc biệt khó khăn của huyện Mường La 63 3.5 Diễn biến hộ cận nghèo tại điểm nghiên cứu năm 2015 70 3.6 Thông tin cơ bản về các hộ điều tra 71 3.7 Tình trạng nhà ở và một số tiện nghi chính trong HGĐ 76 3.8 Nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo tại điểm nghiên cứu 79 3.9 Tổng hợp nhu cầu hỗ trợ của các HGĐ điều tra 83

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

3.1 Sự thay đổi hộ nghèo huyện Mường La giai đoạn 2011 - 2015 60 3.2 So sánh tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 và 2015 62 3.3 Kết quả thực hiện giảm nghèo tại điểm nghiên cứu năm 2015 69 3.4 Biểu đồ trình độ học vấn của chủ hộ theo nhóm hộ tại 3 xã 74

3.6 Tổng hợp nhu cầu của các hộ gia đình điều tra 84

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua một thời kỳ dài trong chiến tranh nền kinh tế của Việt Nam đã

bị sa sút nghiêm trọng Để xây dựng và khôi phục lại nền kinh tế thì chính sách đổi mới từ nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Việt Nam qua từng giai đoạn phát triển đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế

xã hội Một trong những thành công to lớn của công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội đó là tỷ lệ đói nghèo chung của nước ta từ 58,1% năm 1993 xuống còn dưới 5% năm Trong vòng 12 năm thì tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống hơn 10 lần

Việt Nam hiện được coi là một trong những nước đang phát triển thành công nhất thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế vẫn chưa đồng đều giữa các vùng, các thành phần kinh tế Khu vực nông thôn, nhất là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Để phát triển những địa phương thuộc các khu vực này, một trong những yếu tố quyết định chính là chính sách giảm nghèo của Nhà nước đã góp phần cải thiện cuộc sống của người dân nâng cao so với bạn bè các nước trong và ngoài khu vực Asian và trên trường quốc tế

Mường La là huyện miền núi nghèo của tỉnh Sơn La, cách thành phố Sơn La 41km về phía Đông Bắc Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm

2015, dân số toàn huyện là 91,6 nghìn người với mật độ dân số là 64 người/km2

Toàn huyện có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, bao gồm: Dân tộc Thái chiếm 63,21%, Mông 16,98%, Kinh 12,65%, La Ha 5,91%, Kháng 0,93%, Khơ Mú 0,32% Kinh tế của huyện phát triển chậm Bình quân mức tăng giá trị sản xuất hàng năm là 10%, thấp hơn bình quân của tỉnh Trong

Trang 10

những năm qua, huyện đã được sự quan tâm hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước, các cấp chính quyền bằng nhiều hình thức, nhiều chương trình dự án, những dự án phải kể tới như chương trình 134, 135, 327, dự án Giảm nghèo do Ngân hàng thế giới World Bank hỗ trợ … Đến hết năm 2015 các dự án chương trình đã mang lại nhiều đổi thay cho vùng đất này, đặc biệt là sự cải thiện đáng kể về cơ

sở hạ tầng phục vụ phát triển - kinh tế xã hội và cuộc sống đồng bào ở đây

Tuy nhiên, năm 2015, huyện Mường La vẫn nằm trong 64 huyện nghèo nhất của cả nước, đặc biệt vùng cao, tình trạng đói giáp hạt vẫn thường xuyên xảy ra như vậy, việc triển khai thực hiện các Chương trình phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo trước đây trên địa bàn huyện còn có những tồn tại bất cập, để tiếp tục thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo cho các huyện nghèo, ngày 27 tháng 12 năm 2008 Chính phủ đã có Nghị quyết số 30a/2008/NQ - CP về việc giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện nghèo (nay là 62 huyện) trong cả nước, trong đó có huyện Mường La, tỉnh Sơn La

Để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong thực hiện các dự án phát triển KTXH gắn với công tác xóa đói giảm nghèo, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện tốt Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn huyện theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, nên tôi chọn đề tài:

“Giải pháp thực hiện thành công chương trình giảm nghèo theo nghị quyết 30a/2008/NQ-CP trên địa bàn huyện Mường La, Tỉnh Sơn La”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ - CP của Chính phủ trên địa bàn huyện Mường La tỉnh Sơn La

Trang 11

- Chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Mường La tỉnh Sơn la

- Đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Mường La tỉnh Sơn La

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng và kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ trên địa bàn huyện Mường La giai đoạn 2011- 2015

Trang 12

4 Nội dung nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo trong phát triển nông thôn

- Thực trạng và kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 - 2015

- Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tại huyện Mường La

- Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện Mường La

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ HOẠT

ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.1 Cơ sở lý luận về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo

1.1.1 Một số khái niệm về nghèo đói

1.1.1.1 Khái niệm về nghèo

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định và trong xã hội luôn tồn tại ba bộ phận dân cư, đó là: người giàu, người khá và người nghèo Bộ phận người nghèo phải sống trong cảnh thiếu thốn trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, xã hội, thể chế chính trị và đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có sự khác nhau Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để chỉ mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số để xác định mức độ

và giới hạn của nghèo khổ

Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu n hập mà một hộ gia đình, một cá thể nào đố có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc, ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành [10]

Đói nghèo là vấn đề nổi cộm của xã hội, không chỉ ở phạm vi quốc gia,

sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường; di dân quốc tế ồ ạt, phá huỷ môi trường, tiêu cực xã hội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế [10] Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Trang 14

Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ

cực của những người nghèo Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế [4]

Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo

đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận

khác nhau:

- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương

do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối [4]

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng

và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương

+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức

trung bình của cộng đồng

+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng

cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế

+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh

tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng

Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện

về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham

Trang 15

gia vào các quyết định của cộng đồng Qua các cách tiếp cận giúp chúng ta nâng cao sự hiểu về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cách thức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn

1.1.1.2 Các cấp độ nghèo đói

Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9

năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" [4]

Đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói Định nghĩa này tuy không định hướng một cách chính xác mức độ nghèo đói, nhưng nó chỉ ra được cái phổ biến của sự đói, đó là những nhu cầu về ăn, ở, đi lại tối thiếu được xã hội thừa nhận Theo định nghĩa này thì mức độ đói nghèo ở các nước, khu vực khác nhau là khác nhau

Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng thế giới, hiện nay trên thế giới có khoảng trên 1 tỉ người sống ở mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em Ở mỗi thời kì phát triển của nền kinh tế - xã hội đều phải đưa ra một chuẩn mực riêng đề xác định mức đói nghèo cho phù hợp với sự phát triển và mức thu nhập bình quân theo đầu người trong từng giai đoạn khác nhau

Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia

và nó thay đổi theo thời gian và không gian

"Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó

có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng"

Trang 16

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về

nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô

la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản

phẩm thiết yếu để tồn tại" [4]

Ngoài ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)- ông Abapia Sen, người được giải thưởng Nooben về kinh tế năm 1998, cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng” [4]

Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trongcuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn

Ngân hàng thế giới thì khuyến nghị tính chuẩn nghèo theo 4 nhóm nước là chậm phát triển, đang phát triển, phát triển và các nước công nghiệp

phát triển:

- Đối với các nước chậm phát triển: các cá nhân bị coi là nghèo khi mà

có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với nước đang phát triển là 1 USD - 2USD/ngày

- Các nước Châu Âu là 4 USD/ngày

- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau để xác định ngưỡng đói nghèo trên thế giới như: dựa vào tỉ lệ USD/người, tiêu chuẩn calo/người, dựa theo các chỉ số HDI… Bởi vì ở mỗi nước có những đặc trưng riêng, phong tục tập quán riêng, trình độ phát triển khác nhau, mức thu nhập bình

Trang 17

quân đầu người không giống nhau Do vậy chuẩn đói nghèo được quy định khác nhau [4]

Theo Ngân hàng thế giới 1993, chuẩn mực để xác định ranh giới giữa người giàu và người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước khu vực ASEAN được xác định bằng ngưỡng thu nhập bình quân đầu người một năm

là 370 - 450 USD, tức khoảng 30 - 35 USD/tháng Nhưng các nước khác nhau

có các quan niệm khác nhau để xã định ngưỡng đói nghèo [3]

Bảng 1.1 Giới hạn đói nghèo ở một số nước trên thế giới

Nguồn: Ngân hàng ADB [3]

Theo ngân hàng thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để xác định gianh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm

Ấn Độ: Lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày

Băng- la- Đesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày

Trang 18

Indonexia: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là2100calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo

Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/người/ngày Các nước công nghiệp phát triển châu âu: 2570 calo/người/ngày

Tính theo mức calo tối thiểu trên đầu người, mức chi phí lương thực, thực phẩm, nhu cầu cần thiết khác để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2200 - 2350 calo/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD người/năm [4]

1.1.1.2 Quan niệm và chuẩn mực về đói nghèo ở Việt Nam

Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình phát triển của kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân đã tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt

- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn

một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [4]

Hiểu một cách khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương

- Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức

tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND) [4]

Trang 19

Ở Việt Nam chúng ta, hộ gia đình được xem là thành phần kinh tế tồn tại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hộ có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của hộ và góp phần vào sự phát triển kinh tế của cả cộng đồng và đất nước Đánh giá, xem xét theo mô hình kinh tế hộ gia đình được Việt Nam quan tâm đúng mức trong việc thúc đẩy sự phát triển của nó và đánh giá một cách toàn diện

- Khái niệm hộ đói: Hộ đói là một bộ phận hộ gia đình có mức sống

của từng thành viên dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất

để duy trì cuộc sống; hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ [8]

- Khái niệm hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng một số hội gia đình chỉ

thõa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn

mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện [8]

- Chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2011 - 2015 Theo Quyết định số:

- Khái niệm hộ cận nghèo:

Là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 130% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình so với hộ nghèo (Khu vực nông thôn từ 401 ngàn đồng đến 520 ngàn đồng/người/tháng; khu vực thành

Trang 20

thị từ 501 ngàn đồng đến 650 ngàn đồng/người/tháng), là những hộ hộ đã thoát nghèo năm trước, hộ tách ra từ hộ thoát nghèo năm trước, những hộ có dấu hiệu ảnh hưởng đến giảm sút thu nhập trong năm do các nguyên nhân như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và những hộ có lao động chính mất sức lao động hoặc bị chết, có người trong hộ ốm đau bệnh nặng kéo dài, gặp rủi ro Bên cạnh xem xét, đánh giá hộ cận nghèo để có những chính sách phù hợp cho đối tượng này Cơ sở để đánh giá là những hộ đã thoát nghèo, hộ có nguy

cơ tái nghèo [3]

Ngày nay chuẩn tiếp cận và đo lường nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới và nó sẽ hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều khác

Theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Cụ thể như sau:

* Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch

và vệ sinh, thông tin

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ

số): tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Trang 21

Bảng 1.2 Bảng chỉ số ngưỡng thiếu hụt - Theo Đề án Nghèo đa chiều của

Bộ Lao động - Thương Binh - Xã Hội

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ

15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ sở và hiện không đi học

1.2 Tình trạng đi học của trẻ em

Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi học (5-dưới 15 tuổi) hiện không

đi học

2 Y tế

2.1 Tiếp cận các dịch vụ y tế

Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường)

2.2 Bảo hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2

4 Điều

kiện sống

4.1 Nguồn nước sinh hoạt

Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh

4.2 Hố xí/nhà tiêu Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà

tiêu hợp vệ sinh

Trang 22

5 Tiếp

cận thông

tin

5.1 Sử dụng dịch vụ viễn thông

Hộ gia đình không có thành viên nào

sử dụng thuê bao điện thoại và internet

5.2 Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Hộ gia đình không có tài sản nào trong

số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn

Nguồn: Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội [5]

Thực tế cho thấy rằng nghèo đói là một khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của tương khu vực, từng quốc gia, phụ thuộc vào thời gian và phương pháp tiếp cận Theo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo

cả nước theo 8 khu vực của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thể hiện dưới bảng 1.3

Bảng 1.3 Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo vùng STT Khu vực Tổng số hộ

2 Miền núi Đông Bắc 2.470.555 429.579 17,39 220.307 8,92

3 Miền núi Tây Bắc 635.962 181.591 28,55 72.985 11,48

Trang 23

1.1.2 Nguyên nhân đói nghèo

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của đói nghèo Trên thực tế không có một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói nghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội Nó cũng không phải là nguyên nhân thuần túy về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế hoặc do thiên tai địch họa Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo có

sự đan xen, thâm nhập vào nhau của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản

và cái tức thời, của nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên

lẫn xã hội Nó tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Do điều kiện tự nhiên xã hội khác nhau

- Sự khác nhau về của cải (chênh lệch lớn nhất trong thu nhập là do sự khác nhau về sở hữu tài sản)

- Sự khác nhau về khả năng cá nhân

- Sự khác nhau về giáo dục - đào tạo

Tại Việt Nam, cho đến nay đã tổng kết nhận định có các nguyên nhân của đói nghèo như sau:

- Nguyên nhân từ chủ trương chính sách, trước hết là vấn đề thực hiện quy hoạch vùng còn nhiều hạn chế, manh mún, thiếu đồng bộ; thiếu các cơ chế chính sách trong thu hồi đất, dạy nghề, giải quyết việc làm trong lĩnh vực lao động nông thôn Lao động chưa qua đào tạo còn cao, tác phong lao động,

kỷ luật lao động kém, năng suất lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo

- Về cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, dự báo thị trường,trong đó thị trường sản phẩm nông nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước, đặc biệt là xuất khẩu còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh Vẫn còn tình trạng giá cả tăng thì người dân đua nhau sản xuất, giá cả hạ thì người dân phá

bỏ Các dịch vụ phục vụ sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp còn nhiều hạn chế,

Trang 24

tính cạnh canh của sản phẩm nông nghiệp nước ta còn thấp so với sản phẩm cùng loại của nhiều nước

- Việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở nhiều địa phương còn gặp nhiều khó khăn Cải cách thủ tục hành chính kết quả thấp Điều hành giá cả các mặt hàng thiết yếu chưa linh hoạt ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng của người dân đặc biệt là bộ phận dân cư

có thu nhập thấp dẫn đến nguy cơ nghèo và tái nghèo cao Việc tiếp cận và sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều khó khăn trong khi đó việc tháo gỡ của Nhà nước chưa kịp thời [10]

- Cơ cấu trong lĩnh vực Nông, Lâm, Ngư nghiệp chưa thực sự hợp lý Khai thác tận dụng lợi thế từ các nghành chưa thực sự mang lại giá trị so với tiềm năng

* Nguyên nhân xuất phát từ đối tượng nghèo

- Do trình độ dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, miền núi; trình độ học vấn thấp, không có trình độ để tiếp thu khoa học vào sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp Trình độ, kỹ năng tổ chức trong hộ gia đình hạn chế, không quản lý và phân công được lao động trong hộ gia đình Cá biệt có lao động trong hộ gia đình lười lao động,

ăn chơi đua đòi, không quan tâm đến học hành cũng như trách nhiệm lao động sản xuất

- Do nhận thức của người dân thấp nên việc tiếp thu các chủ trương

chính sách của Nhà nước có phần hạn chế Tự ti, cam chịu, có biểu hiện “chịu khổ mà không chịu khó” Thà khổ chứ không chịu khó làm ăn, tần tảo để

kiếm kế sinh nhai và thoát nghèo

- Một bộ phận dân cư có tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước Đặc biệt là 62 huyện nghèo thuộc chương trình 30a của Chính phủ về

hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2008 - 2015 và định hướng

Trang 25

đến năm 2020 Tư tưởng một bộ phận người dân "muốn được vào hộ nghèo",

có thể nhận thấy đây là biểu hiện không tốt, bên cạnh đó còn một thực tế nữa

là: một bộ phận hộ nghèo và cận nghèo "vui mừng khi được công nhận là hộ nghèo và lo khi phải ra khỏi diện hộ nghèo" Thực trạng này đã làm triệt tiêu

động lực sản xuất trong bộ phận người dân; nên có một số chính sách của Nhà nước cho bộ phận dân cư này bị phản tác dụng

- Dân số nước ta có mức tăng bình quân mỗi năm hơn 1 triệu người Tỉ

lệ nam nữ có xu hướng mất cân đối (49,5% nam; 50,5% nữ) Trong khi đó ở nhiều vùng, địa phương nghèo số gia đình đông con nhiều, tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao, thiếu được chăm sóc cả y tế và giáo dục đã ảnh hưởng đến chất lượng dân số

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và giảm mạnh, hiện chỉ còn 0,11 ha; nếu tính riêng diện tích trồng lúa thì còn thấp hơn nhiều (chỉ còn 0.048 ha) Điều đó cảnh báo rằng: Thứ nhất: Phải khai hoang tận dụng khoảng 340 ha đất chưa được sử dụng; Hai là: Phải bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực

- Dân số đông lại tăng lớn, nguồn lao động vốn đã dồi dào, tạo áp lực cho giải quyết công ăn việc làm hàng năm Quy mô nền kinh tế thấp, năng suất lao động thấp (Bình quân lao động chỉ đạt 1959 USD; trong đó nhóm nông, lâm, thủy sản là 821 USD, riêng nông nghiệp còn thấp hơn nữa) Lợi thế lao động giá rẻ đang giảm dần, sức mua kém, nguy cơ tăng số hộ nghèo,

hộ cận nghèo ở nông thôn và trong lĩnh vực nông nghiệp

- Một nguyên nhân nữa là do thiếu vốn sản xuất Vốn là nhân tố quan trọng phục vụ sản xuất và tái sản xuất mở rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vốn của nông dân chủ yếu đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Do thiếu vốn, nên họ gặp khó khăn trong sản xuất và đời sống Mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn gặp nhiều khó khăn, không có khả năng xây dựng dự án,

Trang 26

không có tài sản thế chấp vay vốn tín dụng, việc sử dụng đồng vốn tự có hay vốn vay hiệu quả thấp do thiếu trình độ quản lý, sử dụng

- Tập quán sản xuất lạc hậu cũng là một nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Hộ nghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi Do vậy mà còn ảnh hưởng tập quán sản xuất lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên; việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế; ý thức lao động và lao động không khoa học còn nhiều, thậm chí một bộ phận lười lao động, cam chịu đói nghèo, không có ý chí vươn lên làm giàu và thoát nghèo

* Một số nguyên nhân khác

- Do rủi ro, mắc tệ nạn xã hội Một số hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, lại gặp tai nạn rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh Đã khó khăn nay lại gặp tai nạn, rủi ro phải chi phí nhiều dẫn đến nghèo đói Một

bộ phận khác lại mắc vào các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè… Vòng luẩn quẩn đó khiến người nghèo nghèo thêm

- Do hậu quả của chiến tranh Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, nhưng hậu quả mà nó để lại vẫn còn hết sức nặng nề: Cơ sở hạ tầng bị tàn phá, đất đai bị ô nhiễm do bom mìn, chất độc hóa học; kinh phí để giải quyết các chính sách cho các đối tượng chính sách là rất lớn, nguy cơ nghèo và tái nghèo trong bộ phận hộ gia đình này là rất cao

1.1.3 Các khía cạnh của đói nghèo

* Về thu nhập

Đa số những người nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ Họ có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao Hơn thế nữa, những công việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc

Trang 27

vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo là rất hạn chế Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên, chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt động sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách khó khăn Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập

cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra được [12]

lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà

mẹ mang thai thiếu máu rất cao Có điều này là do người nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, người nghèo không được quan tâm chữa trị bằng người giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ

y tế của người nghèo là rất thấp Bên cạnh đó, do nhận thức của người nghèo,

họ thường không quan tâm lắm bệnh tật của mình, khi bị bệnh họ thường cố

Trang 28

tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng

họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệu quả không cao mà còn tốn thêm nhiều khoản tiền không đáng có [12]

* Nguy cơ dễ bị tổn thương

Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm với sự khốn cùng về vật chất và con người Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là gì? Nó chính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác, những rủi ro mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của

họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thương Những người nghèo

do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ dàng vượt qua được

Do thu nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởng kinh tế, vì thế họ thường phải bỏ thêm các chi phí không đáng

có hoặc giảm thu nhập ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra như mất cắp hay

có người bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi được Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn Chẳng hạn, ví dụ trên, do thiếu tài sản nên để chạy chữa cho một người bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những phương tiện lao động cần thiết của gia đình Cũng có thể người bệnh thì không khỏi được còn gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng Như vậy, nếu có thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là điều khó tránh khỏi với người nghèo [12]

Trang 29

Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của người nghèo là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví dụ đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng phương thức sản xuất mới ) chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trường và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn

* Không có tiếng nói và quyền lực

Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài

lề xã hội do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân

họ Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tước đi những quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên được hưởng Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại [12]

Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ

nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ Người phụ nữ không

có quyền quyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của

họ

1.1.4 Hoạt động xóa đói giảm nghèo

1.1.4.1 Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói giảm nghèo là chương trình tổng thể các biện pháp chính sách của Nhà nước và xã hội hay của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không

Trang 30

đáp ứng được với những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia

Xóa đói, giảm nghèo được thể hiện trên một số nội dung sau đây:

- Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thu nhập bằng các biện pháp:

+ Cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo, cho vay với lãi suất thấp, giúp họ có vốn sản xuất để từ đó thoát nghèo

+ Giảm, miễn các loại thuế trong sản xuất nông nghiệp

+ Thực hiện hỗ trợ xây dựng cơ cở hạ tầng về giao thông, thủy lợi, tạo điều kiện cho người dân tham gia sản xuất, nâng cao năng suất lao động

+ Tạo điều kiện cho người dân học hỏi và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

+ Dựa trên từng cơ sở vùng miền, xác định thế mạnh, có kế hoạch phát triển các nghành nghề, tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng thu nhập cho người nghèo

- Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường và nước sạch

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước

và là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước

và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói

giảm nghèo [7]

Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp

Trang 31

ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến

tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình [7]

Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung trong cả nước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Căn cứ vào tinh thần của Nghị quyết này, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọn thêm một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sống tập trung để huy động nguồn lực của địa phương đầu tư hỗ trợ các huyện này giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững [7]

1.1.4.2 Hoạt động giảm nghèo

Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện

để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia

Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả giảm nghèo:

- Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăng thu nhập

+ Cung cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo

+ Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người nghèo

+ Thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng

+ Thực hiện các chính sách khuyến nông, khuyến ngư

+ Phát triển các ngành nghề truyền thống phù hợp với địa phương

- Giảm nghèo thông qua các chính sách an sinh xã hội

+ Hỗ trợ dịch vụ y tế

Trang 32

+ Hỗ trợ dịch vụ giáo dục

+ Hỗ trợ hộ nghèo về đất sản xuất, nhà ở, điện, nước sinh hoạt

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả giảm nghèo:

Các nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo là hết sức đa dạng, vì nghèo đói là hậu quả của nhiều nguyên nhân, vì vậy ta có thể chia ra thành nhóm các nhân tố sau:

- Cơ chế, chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện giảm nghèo: + Đường lối chính sách của Đảng và nhà nước

+ Công tác tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo

- Các nguồn lực thực hiện giảm nghèo: Các yếu tốnguồn lực như đất đai, nguồn vốn, năng lực đội ngũ cán bộ, sự tham gia của các lực lượng giảm nghèo, sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảm nghèo

- Ý thức vươn lên của bản thân người nghèo: Nếu người nghèo lười lao động, ăn tiêu lãng phí thì cũng khó có thể thoát nghèo Do đó nếu những hộ

có ý chí thoát nghèo, nhận thức tốt và chăm chỉ học hỏi kinh nghiệm làm ăn,

áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động trong chi tiêu, biết tiết kiệm

và tính toán thì việc thoát nghèo là không khó

1.2 Chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ

1.2.1 Mục tiêu

1.2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ

Trang 33

chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng

1.2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2010: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40% (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005); cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơi không

có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đời sống Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25%

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2015: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của tỉnh Tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bước đầu phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy

mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 40%

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất,

Trang 34

việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 -

6 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội,

tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản điều kiện học tập; chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về xóa đói giảm nghèo

1.3.1 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà tập trung để phát triển vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp ở các thành phố lớn Tuy vậy, 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là

tá điền, ruộng đất do tầng lớp địa chủ sở hữu Đời sống của nhân dân hết sức khó khăn Vì vậy, tạo nên làn sóng di dân tự do từ nông thôn đến thành thị để kiếm việc làm Chính phủ không thể kiểm soát được, gây nên tình trạng mất

ổn định chính trị - xã hội

Trước tình hình đó, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách phát triển kinh tế xã hội của mình, đã chú ý đến phát triển nông nghiệp, nông thôn Đó là sự ra đời của của chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn với 4 nội dung cơ bản sau:

- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay

Trang 35

- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

- Thay thế các giống lúa mới năng suất cao vào sản xuất

- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn, bằng việc thành lập các hợp tác xã sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu vực nông thôn

Thông qua việc xây dựng kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông nghiệp, theo hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế cân đối Chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp người dân có việc làm, thu nhập khá,

ổn định cuộc sống; giải quyết được tình trạng di dân đến các thành phố lớn, các khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm; từng bước đưa nền kinh tế phát triển gắn với công tác xóa đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn

Ngày nay, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển Là hình mẫu của sự phát triển đi lên chính nhờ sự quan tâm đến phát triển nông nghiệp, nông thôn và thực hiện tốt các chính sách XĐGN [1]

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, quốc gia này đã có những phát triển vượt bậc Trong nhiều năm liền, nền kinh tế tăng trưởng cao, có những năm tăng trưởng 2 con số; là một trong những nước có

dự trữ ngoại tệ cao nhất thế giới Trung Quốc đã lớn mạnh vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ 2 của thế giới

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển mạnh mẽ đó cũng đã đặt ra những vấn đề mà Chính phủ Trung Quốc cần quan tâm Đó là: Sự phân hóa giàu nghèo tăng lên rõ rệt (giữa vùng này với vùng khác đặc biệt là khu vực nông thôn vùng sâu, vùng xa), giữa người giàu và người nghèo khoảng cách ngày càng xa hơn Tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tỉ lệ người nghèo

ở khu vực nông thôn ngày càng tăng Để khắc phục tình trạng này, Đảng

Trang 36

Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra mục tiêu chiến lược là thực hiện chính sách Tam nông (Nông nghiệp, nông dân, nông thôn); tập trung thực hiện nhiều chính sách xóa đói, giảm nghèo ;xây dựng các vùng định canh, định cư, khu kinh tế mới Chính phủ coi trọng đầu tư nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng, các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ người nghèo Ngân sách hỗ trợ cho các dự án "Tam nông" năm 2007 là 3.917 tỷ nhân dân tệ, thu nhập bình quân của người nông dân là 2.111 tệ, tăng 13% so với năm 2006 Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới, bùng nổ phát triển hợp tác nông dân chuyên

sâu, thúc đẩy sản xuất theo phương thức “ nhất thôn, nhất phẩm” ( Một thôn

một sản phẩm) Công nghiệp hóa nông nghiệp của Trung Quốc có những bước tiến vượt bậc, an toàn chất lượng nông sản được nâng cao Tư tưởng tiêu chuẩn hóa nền nông nghiệp hiện đại đã đi vào tiềm thức người lao động Việc làm của người nông dân được cải thiện đáng kể Công tác xóa đói, giảm nghẻo của Trung Quốc được quốc tế ghi nhận Chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Trung Quốc là bài học kinh nghiệm cho nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [3]

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Philippines

Philippines chỉ đạt được những thành tựu khiêm tốn về giảm nghèo kể

từ sau sự sụp đổ nền kinh tế và chính trị vào giữa thập niên 1980 Hơn nữa,

sự chênh lệch lớn giữa các vùng vẫn tồn tại Tỷ lệ hộ gia đình nghèo ở Philippines sống dưới đường phân chia nghèo giảm chậm và không đều, từ 59% năm 1961 xuống dưới 39% năm 1991 và 36% năm 1994 Tỷ lệ nghèo ở

đô thị là 23% năm 1991 và ở nông thôn là 53% Hai phần ba số người nghèo làm việc trong các khu vực nông, lâm, thủy sản và có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống Gia đình có nhiều nhân khẩu có tỷ lệ nghèo cao hơn, đặc biệt là những hộ gia đình có từ 8 nhân khẩu trở lên

Một điểm khác biệt so với những nước Châu Á khác trong vùng là

Trang 37

phần lớn những hộ gia đình có chủ hộ là người nữ lớn tuổi thường có tỷ lệ nghèo thấp và điều này cho thấy vai trò của phụ nữ Philippines trong xã hội khá quan trọng Tuy nhiên, công tác XĐGN ở Philippines không mấy thành công so với những nước Đông Á khác Nguyên nhân là do tốc độ tăng trưởng chậm và thấp ở nước này không đủ tạo ra nội lực để giảm nghèo một cách hiệu quả Hơn nữa, sự tăng trưởng trong quá khứ có khuynh hướng làm tăng chứ không phải giảm chênh lệch về thu nhập Đồng thời, sự tăng trưởng chậm của những khu vực có năng suất cao hơn làm cho lao động chuyển sang khu vực có năng suất thấp hơn [1]

1.3.1.4 Kinh nghiệm của Thái Lan

Trong ba thập kỷ qua, Thái Lan không những đạt được những thành tựu đáng kể về mặt kinh tế mà còn gặt hái được nhiều thành công trên nhiều lĩnh vực khác như xã hội, y tế và giáo dục Kết quả giảm nghèo của Thái Lan cũng rất khả quan từ 33% (Năm 1988) xuống còn 11% (năm 1996) Do đó, trong suốt giai đoạn này số người nghèo sống dưới ngưỡng nghèo thu nhập giảm từ 17,9 triệu xuống còn 7 triệu người

Để đạt được những thành tựu trên, Thái Lan đã áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với chính sách phát triển nông thôn, qua việc phát triển các xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp nhỏ, mở rộng trung tâm dạy nghề ở nông thôn Ngoài ra, để giảm bớt chênh lệch về mức thu nhập giữa người giàu và người nghèo (12,3 lần) Thái Lan đã đề ra những chiến lược ưu tiên phát triển trong thập niên tới dựa trên nền tảng của sự phát triển bền vững dưới đây:

- Củng cố tăng trưởng theo hướng có lợi cho người nghèo

- Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực

- Chú trọng về việc cải thiện môi trường [9]

Trang 38

1.3.2 Thực tiễn về kinh nghiệm về hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam

a Kinh nghiệm giảm nghèo của tỉnh Gia Lai

Sau quá trình thực hiện giảm nghèo tại địa bàn tỉnh đã xác định được các nguyên nhân gây nên đói nghèo của tỉnh một phần là do tình trạng không

có đất sản xuất, thiếu đất và vốn sản xuất, thiếu việc làm và kiến thức làm ăn vẫn còn khá phổ biến Phần lớn tỷ lệ hộ nghèo là các hộ thuần nông xấp xỉ 96,8% Sở dĩ tỷ lệ hộ thuần nông nghèo chiếm tỷ lệ cao bởi sản xuất nông nghiệp phát triển không bền vững, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất theo phương thức lạc hậu, tự cung tự cấp, vẫn còn tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước

Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng

bộ trong giai đoạn 2011-2015 Theo đó, giải pháp chủ yếu để giảm nghèo trong thời gian tới là: Tích cực vận động nhân dân khắc phục khó khăn, chủ động xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả; vận động các tổ chức chính trị

xã hội, doanh nghiệp tích cực tham gia chương trình giảm nghèo; lồng ghép chương trình giảm nghèo với các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới… Cùng với đó, việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính năng động, linh hoạt của cả hệ thống chính trị đối với công tác giảm nghèo là cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, chỉ có sự vào cuộc của các cấp

ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp… thì mới khơi gợi ý thức vươn lên của người nghèo

b Kinh nghiệm giảm nghèo của tỉnh Yên Bái

Trong 5 năm qua, tổng nguồn lực huy động cho chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội toàn tỉnh ước đạt 6.813,4 tỷ đồng Trong đó, vốn trung ương 3.505,5 tỷ đồng, vốn địa phương 578,2 tỷ đồng, vốn vay ưu đãi Ngân hàng Chính sách xã hội 1.720 tỷ đồng Từ đó, toàn tỉnh đã tuyển mới đào tạo

Trang 39

nghề cho 58.893 người Đến hết năm 2014, tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn

tỉnh đạt 42,6% (trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 27,8%)

Ước đến cuối năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45% (trong đó,

tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%); giải quyết cho trên 26.441 lượt hộ nghèo, 3.200 hộ cận nghèo được xét duyệt cho vay vốn phát triển sản xuất; mỗi năm cấp phát miễn phí khoảng 460 nghìn thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số vùng khó khăn, đối tượng người có công, bảo trợ xã hội và trẻ em dưới 6 tuổi, góp phần nâng tỷ lệ số người dân tham gia bảo hiểm y tế trên phạm vi toàn tỉnh lên 84% hiện nay

Thông qua thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 32,53% cuối năm 2011 xuống còn 20,56% cuối năm 2014 (bình quân giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh trên 4%/năm, riêng 2 huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải trên 6%/năm), vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Ước tính năm 2015, giảm trên 4% tỷ

lệ hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 16%, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, an sinh xã hội được bảo đảm; nhận thức của nhân dân về công tác giảm nghèo đã có sự chuyển biến và nâng cao rõ rệt, nhóm hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp và nhóm hộ ở vùng cao đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá, biết kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm làm ra để có thu nhập, vươn lên thoát nghèo

và làm giàu chính đáng

c Kinh nghiệm giảm nghèo tại tỉnh Phú Thọ

Đến tại thời điểm này tỉnh phú thọ về cơ bản thoát khỏi diện tỉnh nghèo sau những nỗ lực của các chính quyền đoàn thể Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo của tỉnh chưa vững chắc; tỷ lệ hộ nghèo, đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo và nghèo mới; các mô hình xóa đói giảm nghèo chưa nhiều, hiệu quả thấp

Trang 40

Khoảng cách chênh lệch về thu nhập và đời sống giữa nhóm hộ giàu và

hộ nghèo cũng như giữa khu vực nông thôn và thành thị chưa được thu hẹp

Để công tác giảm nghèo tiếp tục đạt được những kết quả thiết thực, tỉnh Phú Thọ đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể trong việc thực hiện các chính sách pháp luật của Nhà nước về giảm nghèo

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh chủ trì, phối hợp với các tổ chức thành viên chỉ đạo các cấp hội cơ sở tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động toàn dân hưởng ứng, tham gia các cuộc vận động Ngày vì người nghèo, phong trào Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; xây dựng nông thôn mới và cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.” Mặt trận các cấp tiếp tục tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi hơn để người nghèo dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như: y tế, giáo dục, chính sách hỗ trợ về đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt; mở rộng các cơ sở bảo trợ xã hội nhằm thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; tiến hành rà soát, đánh giá lại việc bình xét hộ nghèo đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, khách quan; tăng cường công tác kiểm tra việc triển khai thực hiện và đưa các chính sách giảm nghèo đến với người dân

Hội Nông dân tỉnh phối hợp với các sở, ban, ngành tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân

về chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới bằng nhiều hình thức

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế,” “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo,” “Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập”

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội giới thiệu các mô hình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả; nhân rộng các dự án mô hình giảm nghèo bền vững

Ngày đăng: 08/05/2018, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (1993), Báo cáo tổng thuật Hội nghị về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, do ASCAP tổ chức tại Bangkok Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng thuật Hội nghị về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Năm: 1993
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (2002), Việt Nam tham vấn cộng đồng dự thảo chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tham vấn cộng đồng dự thảo chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Năm: 2002
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (2004), Báo cáo phát triển Việt Nam - giảm nghèo, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam - giảm nghèo
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2004
4. Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (2005), Báo cáo Chính Phủ về chuẩn nghèo gia đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính Phủ về chuẩn nghèo gia đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Năm: 2005
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (2012), Quyết định số 749/QĐ- LĐTBXH về việc phê duyệt hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 749/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt hộ nghèo và hộ cận nghèo năm 2012
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Năm: 2012
6. Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội (2015), Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
Tác giả: Bộ Bộ Lao động - Thương binh và Xã Hội
Năm: 2015
8. Đại Học Kinh Tế Quốc Dân (2013), Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo, http://voer.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị Hằng (1997), Vấn đề đói nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đói nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 1997
10. Bùi Bá Lạc (2013), Một số giải pháp giảm nghèo bền vững huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp giảm nghèo bền vững huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Bùi Bá Lạc
Năm: 2013
7. Chính Phủ (2008), Nghị quyết số: 30a/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w