Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ chuyên môn thuộc UBND Thị xã Chí Linh, UBND xã Lê Lợi, xã Đồng Lạc, xã Hoàng Hoa Thám, cùng các cán bộ trong các ban quản lý thực hiện
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2017
Người cam đoan
Trần Thị Nhung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chí cán bộ cơ sở, nhân dân địa phương, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực tập và làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ chuyên môn thuộc UBND Thị xã Chí Linh, UBND xã Lê Lợi, xã Đồng Lạc, xã Hoàng Hoa Thám, cùng các cán bộ trong các ban quản lý thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và lãnh đạo và cán bộ, nhân dân các xã và nhân dân trên địa bàn thị xã Chí Linh đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Khoa Kinh tế quản trị kinh doanh, phòng đào tạo sau đại học trường Đại Học Lâm Nghiệp, và các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cùng toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài mặc dù đã hết sức cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy, cô và các bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1- Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 4
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nông thôn 4
1.1.2 Phát triển nông thôn 6
1.1.3 Khái niệm về nông thôn mới 7
1.1.4 Chương trình XD NTM ở Việt Nam 8
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông thôn và xây dựng NTM 16
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở một số nước 16
1.2.2 Kinh nghiệm XD NTM của một số địa phương của Việt nam 19
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho TX Chí linh 23
CHƯƠNG 2.ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ XÃ CHÍ LINH VÀ PHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đặc điểm cơ bản của thị xã Chí linh 25
Trang 42.1.1 Các đặc điểm tự nhiên 25
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thị xã Chí Linh 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu khảo sát 37
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 37
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Thực trạng kết quả thực hiện chương trình XDNTM tại Thị Xã Chí Linh 40
3.1.1 Công tác chỉ đạo triển khai chương trình XD NTM tại Chí Linh 40
3.1.2 Kế hoạch thực hiện chương trình XD NTM giai đoạn 2011-2015 của Thị xã Chí Linh 42
3.1.3 Kết quả thực hiện chương trình XD NTM trên địa bàn TX Chí Linh 44
3.2 Tiến độ thực hiện chương trình XD NTM của Thị xã Chí Linh 56
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiến độ xây dựng NTM của Thị xã Chí Linh 58
3.3.1 Công tác tuyên truyền vận động nhân dân vầ XD NTM 58
3.3.2 Mức độ và kết quả huy động các nguồn lực của xây dựng NTM 59
3.3.3 Sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng NTM 61
3.3.3.1 Tham gia của người dân vào việc thảo luận, ra quyết định 61
3.3.3.2 Sự tham gia đóng góp các nguồn lực cho XD NTM 63
3.3.4 Chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong XD NTM 64
3.4 Đánh giá chung về kết quả và tiến độ XD NTM của TX Chí Linh 66
3.4.1 Những thành công 66
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 68
3.4.3 Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế 69
3.5 Các giải pháp đẩy nhanh tiến độ XD NTM trên địa bàn TX Chí Linh 70
3.5.1 Rà soát lại kế hoạch triển khai xây dựng NTM 70
3.5.2 Làm tốt công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân 72
3.5.3 Tăng cường khai thác, huy động các nguồn vốn cho XD NTM 72
3.5.4 Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trong thực hiện chương trình XD NTM 73
Trang 53.5.5 Tăng cường sự tham gia đóng góp của người dân vào XD NTM 74 3.4.6 Một số giải pháp khác 74 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
CN-TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
NN-ND-NT Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VH - TT - DL Văn hoá - Thể thao - Du lịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của Thị xã Chí Linh (năm 2016) 28
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động thị xã Chí Linh năm 2016 30
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương (2013-2015) 34
Bảng 2.4 : Kết quả sản xuất nông nghiệp ở thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong 3 năm 2013-2015 36
Bảng 3.1: Kế hoạch triển khai XD NTM Thị xã Chí Linh giai đoạn 2011-2015 43
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí NTM 44
Bảng 3.3: Bảng chi tiết kết quả đạt chuẩn các tiêu chí NTM của Chí Linh 45
Bảng 3.4: Tình hình thực hiện tiêu chí quy hoạch năm 2015 46
Bảng 3.5: Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông năm 2015 47
Bảng 3.6: Tình hình thực hiện tiêu chí thủy lợi năm 2015 48
Bảng 3.7: Thực hiện tiêu chí về hạ tầng điện lưới nông thôn năm 2015 49
Bảng 3.8: Tình hình thực hiện tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa năm 2015 50
Bảng 3.9: Tình hình thực hiện tiêu chí về giáo dục năm 2015 54
Bảng 3.10 Những tiêu chí đảm bảo tiến độ kế hoạch XD NTM 57
Bảng 3.11 Những tiêu chí thực hiện chậm tiến độ 57
Bảng 3.12: Bảng tổng hợp kết quả tổng hợp ý kiến người dân được phỏng vấn về công tác tuyên truyền 59
Bảng 3.13: Kết quả thực hiện huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM giai đoạn 2010-2015 60
Bảng 3.14: Sự tham gia của người dân trong xây dựng đề án và 62
quy hoạch NTM 62
Bảng3.15: Tổng hợp ý kiến của người dân về hoạt động của các đoàn thể và chương trình XD NTM tại địa phương 65
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương 26 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức chỉ đạo XD NTM Thị xã Chí Linh 41
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 4 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Mục
tiêu chung là: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa"
Chí Linh là một huyện miền núi của tỉnh Hải Dương đã phát triển lên thành thị xã năm 2010 Tuy đã là thị xã nhưng Chí Linh vẫn có hơn một nửa dân số sống ở 12 xã nông thôn vùng trung du và miền núi
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu của thị xã Chí Linh và cả hệ thống chính trị, cần huy động sức của toàn dân cùng tham gia
Mặc dù quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của Chí Linh đã đạt được những thành tựu quan trong, nhưng cũng còn một khoảng cách khá xa so với kế hoạch và so với chuẩn nông thôn mới
Những tồn tại hiện nay thể hiện trên các khía cạnh: đời sống nhân dân một số nơi còn ở mức thấp, vấn đề giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường ở nông thôn còn đang gặp khó khăn; lĩnh vực văn hóa - xã hội một số mặt còn hạn chế; hệ thống chính trị còn một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở còn một số nội dung mang tính hình thức; chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, thiếu chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ khu vực nông thôn; Vốn ngân sách địa phương ít, các chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư vào địa phương còn hạn chế
Trang 10Những khó khăn nêu trên là nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc thực hiện chương trình XD NTM còn chậm so với tiến độ đề ra, rất cần phải có những giải pháp phù hợp để tháo gỡ
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài: “ Giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.” có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, kết quả và tiến độ thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn nghiên cứu, đề tài đề xuất một số các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xâu dựng nông thôn mới tại thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng, kết quả và tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung:
Trang 11Các vấn đề cơ liên quan đến nội dung và tiến độ thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn nghiên cứu
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
- Thực trạng, kết quả và tiến độ thực hiện chương trình XD NTM trên địa bàn TX Chí Linh tỉnh Hải Dương
- Các yếu tố ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nồng thôn mới tại thị xã Chí Linh
- Giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại thị xã Chí Linh
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nông thôn
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nông thôn
Khái niệm về nông thôn
Ngày nay có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ
sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn
có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn
Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định vì vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân số thấp hơn vùng thành thị
Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý,
có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa -
Trang 13xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [6]
Hay một khái niệm khác về nông thôn là, nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau [ 6 ]
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” [ 1 ]
Đặc trưng cơ bản của nông thôn
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ
yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v
- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất
nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất
đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở
Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho
hệ thống xã hội nông thôn
Trang 141.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn mới là một trong nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Mục đích của phát triển nông thôn là hướng đến xây dựng một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng hiện đại, thu hẹp khoảng cách với các vùng đô thị trên các mặt kinh tế, xã hội
Phát triển nông thôn là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan
hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí
Vùng nông thôn với cơ cấu mới, mang những nét đặc trưng của một vùng nông thôn phát triển theo hướng đô thị hóa mà biểu hiện cụ thể đó là sự phát triển nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH sản xuất Ở đó nền sản xuất không chỉ đơn thuần là sản xuất các ngành nông nghiệp mà có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch…
Phát triển nông thôn hiện nay hướng tới các mục tiêu sau đây:
- Sản xuất nông nghiệp hiện đại: Sản xuất chủ yếu ở nông thôn là nông nghiệp, sản xuất các sản phẩm nông sản dồi dào với chất lượng cao Sản xuất nông nghiệp của nông thôn bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp có sự kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp hiện đại với phát triển công nghiệp và các ngành khác, đưa sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự, tạo thuận lợi để hội nhập nền kinh tế thế giới Có sự phân định rõ ràng giữa nông thôn
và thành thị trong mối quan hệ hỗ trợ và thúc đẩy
- Giữ gìn nét truyền thống của văn hóa Việt: Nước ta với truyền thống văn hóa lúa nước nên những phong tục tập quán lâu đời gắn bó rất nhiều với
Trang 15sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp nông thôn Hay nói cách khác, các phương thức sản xuất, tập quán sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hoá mang đậm màu sắc Việt Nam Văn hoá quê hương với những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giản dị tiết kiệm, thật thà chân chất, yêu quý quê hương…, tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù
- Giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, Việc con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến ô nhiễm môi trường và phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu từ môi trường đem lại Phát triển nông thôn mới phải đảm bảo giữ gìn và cải tạo môi trường tự nhiên vốn có của nông thôn truyền thống, đồng thời làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường
1.1.3 Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TƯ của Trung ương, nông thôn mới
là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với
mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản sau đây:
- Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, hạ tầng hiện đại
Trang 16- Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa
- Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao
- Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển
- Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh
tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí
1.1.4 Chương trình XD NTM ở Việt Nam
1.1.4.1 Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới" bao gồm 19 tiêu chí với 39 chỉ tiêu và được chia thành 5 nhóm cụ thể: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị
Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung
Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: quy hoạch và thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập bình quân đầu người/năm; tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ chức sản xuất; giáo
Trang 17dục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh;
an ninh, trật tự xã hội [11]
Với 19 tiêu chí, mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để được công nhận đạt xã nông thôn mới Ví dụ, về tiêu chí giao thông, 1 xã thuộc Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt 100% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải
Tiêu chí này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên là 70% còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 50%
Về hộ nghèo, xã vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt tiêu chuẩn tỷ lệ hộ nghèo <3%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
<5%, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long <7% và Trung du miền núi phía Bắc <10%
Bộ tiêu chí cũng quy định, tất cả các xã nông thôn mới đều phải có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; có nhà văn hóa
và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến thôn; có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả và không có nhà tạm, dột nát
Để được công nhận là huyện nông thôn mới, phải có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới
Nếu tỉnh có 80% số huyện nông thôn mới thì sẽ đạt tỉnh nông thôn mới
1.1.4.2 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 11 nội dung chính như sau:
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả
Trang 18nước làm cơ sở đầu tư xây dựng NTM, thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020;
+ Nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
+ Nội dung: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Các trục đường xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá, các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hoá; Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hoá thể thao trên địa bàn xã; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn xã; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa bàn xã; Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 10; 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;
+ Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao; Tăng cường công tác khuyến nông; Đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hoá nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm "mỗi làng một sản phẩm", phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; Đẩy mạnh đào tạo nghề
Trang 19cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
Giảm nghèo và An sinh xã hội
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM; + Nội dung: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo; Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
+Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ cư dân nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực Y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn
+ Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia
Trang 20nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hoá xã, thôn và 45% số xã
có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hoá xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn
+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM
về văn hoá, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân
cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến
2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số
xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới; Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh
Trang 21chóng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ ở các vùng này; Bổ sung chức năng, nhiệm
vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn
+ Nội dung: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh
xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã
Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền
Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống tới địa phương
Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội
Trong điều kiện nguồn lực có hạn, Ban Chỉ đạo đã thống nhất các xã lựa chọn những tiêu chí mà đa số người dân thấy cần thì tập trung làm trước, khuyến khích triển khai những công việc từng thôn, xóm, từng hộ dân có thể
tự làm được đã tập trung cao cho nhiệm vụ phát triển sản xuất, dồn điền, đổi thửa, tập trung ruộng đất gắn với quy hoạch đồng ruộng, cơ giới hóa các khâu
Trang 22trong quá trình sản xuất, chế biến và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất
Đã huy động tổng lực các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới, ngoài nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, rất chú trọng huy động các nguồn vốn khác, như từ ngân hàng, doanh nghiệp và xã hội, đặc biệt là huy động nội lực trong nhân dân, như góp công lao động, hiến đất, vật liệu, tiền, đóng góp tinh thần và động viên người thân thành đạt tham gia
Bên cạnh đó, đã quan tâm tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao kỹ năng tay nghề, giải quyết việc làm cho nông dân theo cả hai hướng phi nông nghiệp và nông nghiệp; quan tâm tới chất lượng các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xây dựng tình làng nghĩa xóm, giữ gìn vệ sinh môi trường và an ninh nông thôn
Đồng thời, chú trọng phát động và tổ chức rộng khắp phong trào thi
đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Có thể nói, quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản bảo đảm, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuất; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề Đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao
Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc tiếp tục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiến độ xây dựng nông thôn mới
Chính sách của Đảng và Nhà nước
Vai trò lãnh đạo, định hướng của Đảng là kim chỉ nam để thực hiện thắng lợi 3 mục tiêu cốt yếu cho nông dân: trở thành lực lượng lao động tiên
Trang 23tiến, là lực lượng chính trị vững manh và phát triển manh mẽ, có những thay đổi về chất Trước hết, Nhà nước phải có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không phải chỉ tập trung vào nông nghiệp Thứ hai, Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn, xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng; hợp tác xã và các tổ chức dân sự, nghề nghiệp của nông dân [13]
Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Nước ta xây dựng nông thôn mới trong điều kiện trình độ phát triển kinh
tế còn thấp; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, nguồn lực còn hạn hẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư thấp, chưa đủ tạo sức bất mới đối với sản xuất và phát triển thị trường Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Cải cách hành chính tiến hành còn chậm Những tồn tạo, hạn chế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và kết quả xây dựng nông thôn mới [12]
Trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân
Thực trạng học vấn, dân trí và chuyên môn kỹ thuật đang còn thấp kém
đã gây rất nhiều khó khăn trong việc đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp - nông thôn Thực trạng này cũng đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho nhiều vấn đề trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân chậm được giải quyết
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn hiện nay trên dưới 500.000 đồng/tháng, trong khi đó việc chi cho ăn, mặc chiếm tới 80-90% Hiện trạng về khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) vẫn còn ở mức 18% (ở nhiều vùng sâu, vùng xa tới 40%) [11]
Năng lực, trình độ, trách nhiệm và kinh nghiệm xây dựng NTM của cán bộ địa phương
Một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có nhận thức chưa đầy đủ về Chương trình xây dựng nông thôn mới Họ cho rằng đó là dự án
Trang 24phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng; hoặc là biến đổi nông thôn thành thị trấn, thị tứ để đô thị hóa; hoặc xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của Nhà nước phải làm cho dân nên nảy sinh tâm lý trông chờ, thụ động, ỷ lại, ảo tưởng là sắp có nông thôn mới, Vì vậy vấn để đổi mới tư duy để nâng cao nhận thức, hiệu quả công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là hết sức cần thiết [2]
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là lực lượng tiên phong, đi đầu trong xây dựng nông thôn mới Trước tiên họ phải đổi mới tư duy để nhận thức đúng về chủ trương của Đảng, chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Chỉnh phủ; từ đó tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nhân dân tham gia
Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp
Sự phối họp thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong tổ chức về
ý nghĩa và nhiệm vụ trong công tác xây dựng nông thôn mới; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân; Thứ ba, tuyên truyền, vận động
và tổ chức các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công việc cụ thể; Thứ tư, gương mẫu, trách nhiệm và đi đầu trong việc triển khai, thực hiện và duy trì sử dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới [11]
Thu hút đầu tư vào nông thôn
Các doanh nghiệp ít quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì đây là ngành sản xuất có nhiều rủi ro, đầu tư lớn mà hiệu quả thấp và mâu thuẫn giữa các thị trường lớn trong khi sản xuất nhỏ Nếu không giải quyết được các mâu thuẫn này thì việc thu hút đầu tư nguồn lực vào nông nghiệp, nông thôn sẽ không mang lại hiệu quả [14]
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông thôn và xây dựng NTM
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở một số nước
Kinh nghiệm của Nhật Bản
Trang 25Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của Nhật Bản Ba nguyên tắc chính của phong trào là:
(1) Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực Trong đó nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm,
(2) Kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà
cả sự thất bại,
(3) Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào
Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979 – 1999, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” của Nhật Bản đã tạo ra 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre… được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao Bài học kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” trong việc tận dụng được nguồn nhân lực của địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, phát huy thế mạnh của từng vùng [9]
Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trong lĩnh vực nông thôn, Trung Quốc đã hình thành xí nghiệp Hương Trấn từ năm 1950 trên cơ sở các xí nghiệp, đội sản xuất của công xã nhân dân trước đây
Từ năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn, phát triển xí nghiệp Hương Trấn Đầu năm 1997 toàn quốc đã có khoảng 20 triệu xí nghiệp Hương Trấn với số lao động là 130 triệu người
Trang 26Trong đó, xí nghiệp do tập thể quản lý 1,5 triệu với 60 triệu lao động, 30.000
xí nghiệp Hương Trấn hợp tác, liên doanh với nước ngoài, ngoài ra là các loại
xí nghiệp khác do tư nhân hoặc tư nhân liên doanh, liên kết (Phạm Vân Đình, 1998) Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước
Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã
hội nông thôn Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh
hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước
và địa phương)
Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi và một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách”
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh
là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực
Trung Quốc thực hiện hạn chế lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nước này được quy định rất ngặt nghèo Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm
Trang 27trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên
Tài chính hỗ trợ Tam nông tại Trung Quốc tập trung 3 mục tiêu là nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, và nông dân tăng thu nhập Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ
về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn
Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền
tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm [ 14 ]
1.2.2 Kinh nghiệm XD NTM của một số địa phương của Việt nam
Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Quảng Ninh
Triển khai công tác xây dựng NTM, các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh đồng loạt triển khai, với phương châm: Cùng với sự đầu tư lớn của nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp, phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn thể nhân dân, dựa vào nội lực của cộng đồng dân cư, mọi việc phải được dân biết, dân bàn, dân làm và dân hưởng thụ Đồng thời không làm thí điểm
mà triển khai đồng bộ ở 125 xã nông thôn của 13 huyện, thị, thành phố (trừ thành phố Hạ Long vì không còn xã) và thực hiện đồng bộ tất cả các tiêu chí Trong đó, lựa chọn 2 xã ở 2 huyện Hoành Bồ và Đông Triều làm mẫu triển khai thẩm định, phê duyệt quy hoạch Đề án Nông thôn mới cấp xã để làm mẫu cho các đơn vị khác, rút kinh nghiệm trước khi các huyện phê duyệt trên phạm vi toàn tỉnh
Trang 28Theo báo cáo đánh giá thực trạng xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh, tính đến nay, các tiêu chí đạt tương đối cao như: 100% số xã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS; 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 123/125 xã có điểm bưu điện cấp xã; 100% xã hoàn thành việc xóa nhà tạm, dột nát; 91/125 xã có trên 20% người dân tham gia bảo hiểm y tế; 89/125 xã có tỷ lệ hộ dân sử dụng điện thường xuyên trên 95%; 107/125 xã có an ninh, trật tự xã hội được giữ vững Toàn tỉnh có 28 xã đạt trên 20/39 chỉ tiêu NTM; 69 xă đạt từ 10-20/39 chỉ tiêu; 28 xã đạt dưới 10/39 chỉ tiêu Công tác lập đề án được cấp huyện, cấp xã tích cực thực hiện, đã có 101 xã hoàn thiện đề án, 59 xã thông qua HĐND cùng cấp, 5 xã đã được UBND huyện phê duyệt; có 87/125 xã đã thông qua phương án quy hoạch tổng thể trung tâm xã lần 1 và quy hoạch phát triển mạng lưới điểm dân cư nông thôn lần 2 Dự kiến đến hết ngày 30-9-
2011, tất cả các xã sẽ phê duyệt xong quy hoạch xây dựng NTM và quy hoạch trung tâm xã [ 7 ]
Như vậy có thể khẳng định với sự quyết tâm cao, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong nhân dân đã huy động được sức mạnh tổng hợp trong toàn dân tham gia thực hiện Chương trình xây dựng NTM
Do đó, chương trình xây dựng NTM trên địa bàn toàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo động lực để tỉnh Quảng Ninh về đích sớm so với cả nước
Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Bình
Thái Bình là tỉnh nông nghiệp, có gần 90% số dân sống ở nông thôn và hơn 70% lao động làm nông nghiệp Vì vậy, việc xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện tích cực Từ cuối năm 2008, ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã của Thái Bình đều thành lập Ban chỉ đạo xây dựng thí điểm NTM, do đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban Kế hoạch được thực hiện từ quý 4-2008 và các năm tiếp theo, tùy theo tính chất, quy mô của từng dự án Nhưng trước hết
là tập trung vào các nội dung như: quy hoạch vùng sản xuất, vùng dân cư, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, tạo điều kiện
Trang 29thuận lợi trong sinh hoạt, phát triển văn hóa, giữ gìn môi trường và phát triển các làng nghề ở mỗi địa phương
Trong triển khai xây dựng nông thôn mới, mặc dù điểm xuất phát của các xã trong tỉnh Thái Bình không giống nhau, nhưng các địa phương đều phải đạt năm mục tiêu: Sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sáng sủa, thôn xóm văn minh và quản lý dân chủ Tỉnh đã tiến hành xây dựng mô hình nông thôn mới tại 8 xã điểm: Thanh Tân (Kiến Xương), Vũ Phúc (TP Thái Bình), Thụy Trình (Thái Thụy), An Ninh (Tiền Hải), Nguyên Xá (Vũ Thư), Trọng Quan (Đông Hưng), Hồng Minh (Hưng Hà) và Quỳnh Minh (Quỳnh Phụ) Đây là những điểm sáng đầu tiên ở những vùng nông thôn khác nhau trong tỉnh, từ đó sẽ tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm để nhân điển hình ra diện rộng
Trong 8 hình mẫu về NTM của tỉnh thì Thanh Tân là điểm được xây dựng đầu tiên Đến nay, xã đã xây xong quy hoạch chi tiết vùng sản xuất hàng hóa và vùng dân cư ở địa phương, đồng thời chuẩn bị tiếp nhận nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng hệ thống cấp nước sạch Mỗi vùng sản xuất hàng hóa được bố trí từ 30 đến 100 ha trở lên, trên đó đường bờ vùng thiết kế từ 3,5 đến 4 m, bảo đảm cho xe cơ giới đi lại thuận tiện Hệ thống mương máng, sông ngòi, cống đập, trạm bơm đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục
vụ sản xuất trong vùng, phù hợp sản xuất bằng cơ giới hiện đại
Cùng với sự phát triển kinh tế, Thái Bình còn chú trọng đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế văn hóa ở nông thôn gắn với nâng cao dân chủ cơ sở, bảo đảm 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% số trường học ở tất cả các cấp học được xây dựng kiên cố Hiện nay toàn tỉnh đã
có 39/296 trường mầm non, 242/294 trường tiểu học, 57/274 trường THCS và 7/49 trường THPT đạt chuẩn quốc gia Tất cả các thôn, làng trong tỉnh đều có nhà văn hóa, thư viện và khu vui chơi giải trí; đồng thời tích cực thực hiện xóa đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân
Trang 30Sau 2 năm kể từ khi tỉnh Thái Bình triển khai xây dựng NTM, điều thay đổi nhận thấy rõ nhất là trên những cánh đồng ở Thái Bình giờ đây nhiều người dân đã được sản xuất ở những thửa ruộng to hơn, với bờ vùng bờ thửa được quy hoạch rộng rãi, khang trang Đó chính là kết quả của công tác dồn điền đổi thửa, một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng NTM ở Thái Bình hiện nay [ 7 ]
Xây dựng nông thôn mới tại Đăk Lăk
Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), UBND tỉnh, Ban chỉ đạo cấp tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo các đơn vị liên quan, các huyện, thành phố tập trung công tác lãnh chỉ đạo để chương trình được thực hiện đúng tiến độ và hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được bước đầu, trên thực tế, việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM còn gặp phải rất nhiều khó đòi hỏi phải có sự nỗ lực và phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và sự tham gia tích cực của người dân
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo thì tiến độ xây dựng NTM chậm so với
kế hoạch Đầu tiên phải kể đến là việc lập đồ án quy hoạch Đến nay, đối với
22 xã điểm thì mới có 3 xã Đăk Mar, Hà Mòn (huyện Đăk Hà), Đoàn Kết (TP Kon Tum) đã phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM, còn 19 xã cũng chỉ dừng lại ở phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch và đang hoàn chỉnh hồ sơ đồ án quy hoạch để phê duyệt
Hiện nay, toàn tỉnh chưa có xã nào hoàn thành việc lập đề án xây dựng NTM cấp xã theo quy trình Trong tổng số 81 xã xây dựng NTM, hiện tại, chỉ một số xã cơ bản hoàn thành Đề án đang trình xin ý kiến, thẩm định phê duyệt như: xã Hà Mòn, Đăk Mar, Đăk La (huyện Đăk Hà); Đăk Kroong, Đăk Môn (huyện Đăk Glei); Sa Sơn, Sa Nghĩa (huyện Sa Thầy); Măng Cành, Pờ Ê (huyện Kon Plông); Đăk Rơ Ông, Ngọc Lây (huyện Tu Mơ Rông) Các xã còn lại, mới có 02 xã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch và đang hoàn chỉnh hồ
sơ đồ án quy hoạch để phê duyệt; một số xã đang tập trung lập đồ án quy
Trang 31hoạch; còn một số xã còn chưa triển khai thực hiện lập đề án, thậm chí có xã còn giao hết cho đơn vị tư vấn tự điều tra, khảo sát
Nguyên nhân dẫn đến tiến độ xây dựng NTM chậm ngay từ khâu đầu tiên là do nhận thức của người dân chưa đúng với tinh thần của chương trình xây dựng nông thôn mới; một số xã còn trông chờ, ỷ lại; đội ngũ cán bộ xã yếu cả về trình độ và năng lực chuyên môn Công tác tuyên truyền chưa thực
sự sâu rộng, trách nhiệm của ban quản lý xây dựng nông thôn mới của xã và Đảng ủy, UBND các xă chưa cao, chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của xây dựng NTM Công tác phối hợp thực hiện giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ; việc kiểm tra, giám sát chưa kịp thời và thường xuyên
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay trong quá trình xây dựng NTM tại Đăk Lăk chính là người dân phải nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình Đây là yếu tố mang tính quyết định vì mục đích của chương trình xây dựng NTM chính là phát huy nội lực, huy động sự tham gia của người dân và kết hợp với sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế, người dân vẫn chưa thực sự quan tâm [ 7 ]
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho TX Chí linh
Từ những kinh nghiệm triển khai thực hiện NTM tại các địa phương có thể rút ra một số kinh nghiệm quan trong cho Chí Linh như sau:
Sự ủng hộ và tham gia đầy đủ, toàn diện của nhân dân vào tất cả các nội dung của chương trình XD NTM là nhân tố quyết định đến sự thành công của chương trình
Phải quán triệt bài học xuyên suốt đó là “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quyết định đóng góp và hưởng thụ” trong toàn bộ quá trình thực hiện chương trình XD NTM
Trong quá trình chỉ đạo, Đảng bộ, chính quyền phải bàn cái gì “dân cần”, làm cái gì “dân muốn” mọi tư duy phải xuất phát từ cái chung, vì dân, không vì lợi ích và cá nhân ai thì mới có hiệu quả bền vững, từ đó mới khơi
Trang 32dậy và phát huy tốt vai trò chủ thể của nhân dân là nhân tố quyết định thành công của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Đảng bộ, chính quyền, các ngành, đoàn thể chính trị xã hội phải đồng lòng, đồng sức đoàn kết, quyết tâm xây dựng phong trào vững mạnh toàn diện Với những tiêu chí khó, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo cấp trên bằng cả tinh thần và vật chất cũng như cơ chế, chính sách
Yếu tố quan trọng nữa là cần có đội ngũ cán bộ đoàn kết, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, hành động quyết liệt bằng cả tấm lòng, tâm huyết với quê hương, trách nhiệm với phong trào Bởi có những thời điểm đòi hỏi cả sự hy sinh quyền lợi của những người đi đầu khi hiến đất làm đường và các công trình phúc lợi
Ở địa phương, cơ sở nào lãnh đạo cấp ủy, chính quyền thực sự quyết tâm cao thì ở đó có tiến độ xây dựng nông thôn nhanh, vì công tác tuyên truyền, công tác dân vận được làm tốt, cán bộ đảng viên gương mẫu đi đầu, mọi việc làm đều đưa ra bàn bạc, thảo luận tạo sự đồng thuận trong cán bộ và nhân dân
Những xã làm tốt công tác quy hoạch đất phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất, xử lý tốt đất dôi dư, đất xen kẹt trong khu dân cư và các khoản thu khác đã chủ động được nguồn vốn để xây dựng các công trình NTM từ ngân sách địa phương, giảm thiểu tối đa nợ đọng xây dựng cơ bản
Kinh nghiệm cho thấy xây dựng NTM cần tiến hành đồng thời 3 nhiệm
vụ chính của chương trình, gồm:
(1) Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn hiện đại;
(2) Đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng, kiên cố hóa kênh mương, dồn điền đổi thửa, xây dựng các mô hình sản xuất, hỗ trợ phát triển làng nghề );
(3) Duy trì và phát triển các loại hình văn hóa làng xã (văn hóa lễ hội, tâm linh, hoạt động văn nghệ, thể thao, khuyến học); đặc biệt là các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái và chăm sóc sức khỏe nhân dân để đảm bảo tính bền vững của chương trình
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ XÃ CHÍ LINH
VÀ PHƯƠNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của thị xã Chí linh
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã nằm ở phía đông bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh 40
km Phía đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Phía tây giáp tỉnh Bắc Ninh Phía nam giáp huyện Nam Sách Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang
Thị xã được chia thành 8 phường (Bến Tắm, Phả Lại, Sao Đỏ, Chí Minh, Cộng Hòa, Hoàng Tân, Thái Học, Văn An) và 12 xã (An Lạc, Bắc An,
Cổ Thành, Đồng Lạc, Hoàng Hoa Thám, Hoàng Tiến, Hưng Đạo, Kênh Giang, Lê Lợi, Nhân Huệ, Tân Dân, Văn Đức)
Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng đông-tây qua trung tâm thị xã nối liền Hà Nội - Quảng Ninh, đường Quốc lộ 37 nối Quốc lộ 5 và đường 18, đường 37 là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị xã đi tỉnh Bắc Giang Đường thủy có chiều dài 40 km đường sông bao bọc phía đông, tây, nam của thị xã thông thương với Hải Phòng, Bắc Giang, Đáp Cầu (Bắc Ninh)
Trang 34Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương
(Nguồn: UBND thị xã Hải Dương)
2.1.1.2 Điều kiện về khí hậu, địa hình, thuỷ văn
Khí hậu:
Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm 23°C; tháng có nhiệt độ thấp nhất
là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6
và tháng 7 (khoảng 37-38°C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.463 mm, tổng tích ôn khoảng 8.2000, độ ẩm tương đối trung bình là 81,6%
Do đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh được chia làm 2 vùng:
Trang 35+ Khí hậu vùng đồng bằng phía nam mang đặc điểm khí hậu như các vùng đồng bằng trong tỉnh
+ Khí hậu vùng bán sơn địa chiếm diện tích phần lớn trong vùng, do vị trí địa lí và địa hình phân hoá nên mùa đông ở đây lạnh hơn vùng khí hậu đồng bằng
Địa hình
Địa hình Chí Linh đa dạng phong phú, có diện tích đồi núi, đồng bằng xen kẽ, địa hình dốc bậc thang từ phía bắc xuống phía nam, nhìn chung địa hình chia làm 3 tiểu vùng chính:
- Khu đồi núi bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, càng về phái Bắc đồi núi càng cao, đỉnh cao nhất là Dây Diều cao 616 m, đèo Trê cao 536 m
- Khu đồi bát úp gó lượn sóng xen kẽ bãi bằng, đồi ở đây không cao lắm, trung bình từ 5- - 60 m, có độ dốc từ 10-150, xen kẽ là những bãi bằng
có độ cao bình quân + 2,5 m
- Khu bãi bằng phù sa mới, phân bố ở phía nam đường 18, địa hình tuơng đói bằng phẳng, càng về phái Nam càng trũng, có nơi cốt đất chỉ +0,8m
Đất Chí Linh được hình thành từ 2 nhóm chính, nhóm đất đồi núi được hình thành tại chỗ, phát triển trên các đá sa thạch; nhóm đất thuỷ thành do phù
sa sông Kinh Thày và Thái Bình bồi tụ
Chí Linh có nguồn nước phong phú bởi có sông Kinh Thày, Thái Bình, Đông Mai bao bọc, có kênh mương trung thuỷ nông từ Phao Tân đến An Bài dài 15,5 km chạy qua những cánh đồng canh tác chính của huyện, có nguồn nước của nhà máy điện Phả Lại cung cấp quanh năm Ngoài ra còn có 33 hồ đập với tổng diện tích tự thuỷ 409 ha, đặc biệt có nguồn nước ngầm sạch trữ lượng lớn
Trang 36Thuỷ văn
Hệ thống các công trình thuỷ lợi đã được đầu tư nâng cấp, sửa chữa và phát triển Hiện nay thị xã có 29 trạm bơm có công suất 1.000m3 với 208 máy bơm phục vụ cho việc tưới tiêu trên địa bàn
Chí Linh có tới 74 đập, hồ thủy lợi với năng lực tưới thiết kế là 1.480
ha Tuy nhiên, phần lớn các công trình đã được đầu tư xây dựng lâu, xuống cấp, hệ thống mương chủ yếu là mương đất nên mới huy động được 75% công suất thiết kế
2.1.1.3 Đặc điểm đất đai, tài nguyên của Chí Linh
Cơ cấu đất đai của Chí Linh
Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Chí Linh được nêu trên bảng 2.1
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của Thị xã Chí Linh (năm 2016)
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và môi trường thị xã Chí Linh, 2016)
Tổng diện tích đất tự nhiên là 28.202,78ha Địa hình chủ yếu là đồi núi, tạo điều kiện phát triển kinh tế rừng, trồng các loại cây ăn quả mang lại giá giá kinh tế cao
Trang 37Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua các năm: Năm 2015, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9.742,84 ha Đến năm 2016, diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã giảm còn 8.850,78ha chiếm 46,37% tổng diện tích đất tự nhiên Nguyên nhân của việc giảm này là do sau khi có các dự án đất chuyên dùng tăng lên vì đầu tư được mở rộng đường giao thông, đất xây dựng cơ bản, công trình phúc lợi
Điều đó cho thấy nền kinh tế xã hội của thị xã Chí Linh ngày càng phát triển theo chiều hướng có lợi, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp
Đất chưa sử dụng năm 2016 chỉ còn là 56,8 ha chủ yếu là đất gò đồi, những diện tích đất không có khả năng tưới tiêu
Tài nguyên rừng:
Chí Linh có 14.470 ha đất đồi rừng, trong đó rừng trồng 1.208 ha, rừng
tự nhiên 2.390 ha Rừng tự nhiên có nhiều loại gỗ quý, ước khoảng 140.000 m³, có nhiều loại động thực vật đặc trưng cung cấp nguồn dược liệu cho y học Rừng trồng chủ yếu là keo tai tượng, bạch đàn và rừng thông thuộc khu
di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc
Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản Chí Linh tuy không nhiều về chủng loại, nhưng có loại có trữ lượng lớn và giá trị kinh tế như: đất cao lanh trữ lượng 40 vạn tấn, sét chịu lửu 8 triệu tấn, đá, cát vàng xây dựng, mỏ than nâu trữ lượng hàng tỷ tấn
Tài nguyên du lịch:
Chí Linh có phong cảnh đẹp và nhiều di tích lịch sử quốc gia Quần thể
di tích văn hóa của Chí Linh bao gồm: Chùa Côn Sơn và đền thờ Nguyễn Trãi, Đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, và một số di tích khác như Đền Sinh, Đền Hoá, Đền Cao…
Những cơ sở di tích văn hóa này là một trong những thế mạnh có thể khai thác cho phát triển các hoạt động dịch vụ du lịch gắn với sinh thái và tâm linh
Trang 382.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thị xã Chí Linh
Nhìn chung dân số thị xã Chí Linh là dân số trẻ Những điều kiện tự nhiên, tài nguyên và nguồn nhân lực tạo cho Chí Linh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển toàn diện về công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
Bảng 2.2 Tình hình dân số và lao động thị xã Chí Linh năm 2016
(%)
2.1 Nhân khẩu nông nghiệp Người 104.432 54,83
2.2 Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 85.917 45,13
3.2 Lao động phi nông nghiệp Người 41.039 41,16
Trang 392.1.2.2 Tình hình phát triển y tế, văn hóa, xã hội
Về y tế
Công tác y tế, c ông tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được coi trọng và đạt nhiều kết quả tốt:
- Mạng lưới y tế từ thị xã đến cơ sở được củng cố, phát triển; trang thiết
bị được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại
- Đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng
- Các chương trình y tế quốc gia được thực hiện có hiệu quả
- Toàn Thị xã 11/12 xã, phường có bác sỹ, bình quân 1 vạn dân có 4 bác sỹ; 12/12 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế
Về lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục thể thao:
Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục phát triển Toàn Thị xã có 85% hộ gia đình văn hoá, 169/286 làng văn hoá, 106/180 cơ quan, trường học văn hoá; xây dựng 15/27 nhà văn hoá xã, 222/286 nhà văn hoá thôn, bản, tổ dân phố
Một số điểm di tích lịch sử, văn hoá được đầu tư cải tạo nâng cấp Phong trào rèn luyện sức khoẻ, luyện tập thể thao phát triển rộng rãi, thu hút 26,5% dân số tham gia luyện tập thường xuyên Các môn thể thao mũi nhọn được duy trì, phát huy và đạt thành tích cao trong các cuộc thi đấu do Tỉnh tổ chức
Cơ sở vật chất đầu tư cho hoạt động văn hoá thể thao được tăng cường
Về Giáo dục Đào tạo:
Chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn ở các cấp học được duy trì và phát triển Kiên cố hoá trường học được đẩy mạnh, cơ sở vật chất được tăng cường, đội ngũ giáo viên phát triển cả về số lượng và chất lượng Phong trào
xã hội hoá giáo dục, công tác khuyến học, khuyến tài được quan tâm và phát triển
Trang 40Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, đến năm
2013 có 100% trường tiểu học, 51,9% trường THCS, 44,4% trường mần non đạt chuẩn quốc gia
Đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện nhiều mặt, công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm,
tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh
Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được thực hiện tích cực và
có hiệu quả, bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho trên 4000 lao động, xuất khẩu gần 200 lao động
2.1.2.3 Tình hình phát triển kết cấu hạ tầng
Hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp Giá
trị sản xuất ngành xây dựng (giá cố định năm 2010) năm 2014 đạt 1.004 tỷ đồng, năm 2015 ước đạt 1.105 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 9,4%/năm
Hệ thống đường giao thông, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, công viên, vườn hoa, cây xanh trong các đô thị được quan tâm đầu tư, chỉnh trang, nâng cấp
Trong 5 năm gần đây đã mở rộng, nâng cấp các quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua địa bàn; trải nhựa hoặc bê tông đường thị xã đạt 90%; trục đường xã, phường đạt 60%; cứng hóa đường trục thôn, khu dân cư đạt 65%; triển khai thực hiện các dự án đường nội thị, như:
- Đường Trần Phú, Thống Nhất (Sao Đỏ), các đường đi đền Sinh, đền Quốc Phụ, đền Kiếp Bạc;
- Đường Chí Minh đi quốc lộ 37,
- Đường Hoàng Tiến-Tân Tiến-Ngũ Đài,
- Đường từ quốc lộ 18 đi Kiệt Đông (Văn An),
- Đường giao thông Bát Giáo-Đại Bát-Trại Hoa (Hoàng Tân);
- Xây dựng hệ thống tín hiệu tại 3 nút giao thông quan trọng, Trạm kiểm định xe cơ giới Văn An