39 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRONG VIỆC XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN Q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
BÙI QUANG LẬP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẬP THẠCH,
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Mai
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
BÙI QUANG LẬP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẬP THẠCH,
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Mai
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình từ các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
- Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai đã trực tiếp hướng dẫn tôi và có những lời
khuyên, đóng góp quý báu, đồng thời động viên tôi trong những lúc khó khăn để hoàn thành luận văn này Hơn tất cả, Thầy, cô đã dạy cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học, đó là tài sản quý giá tôi đã có được Điều đó sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong những chặng đường tiếp theo Thầy cô là những tấm gương sáng về đạo đức, là những người thầy mẫu mực để tôi suốt đời noi theo
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Lập Thạch, Phòng Thống kê huyện Lập Thạch đã cung cấp cho tôi những số liệu cấn thiết để tôi học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu và giáo viên trường THCS Đình Chu, trường THCS Đồng Ích, trường THCS Thị trấn Hoa Sơn của huyện Lập Thạch đã giúp đỡ tôi có những kết quả điều tra chính xác và tin cậy
Cuối cùng tôi vô cùng biết ơn bố mẹ, gia đình tôi, nơi hậu phương vững chắc cho tôi trong học tập Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, những người đã giúp đỡ tôi trong học tập, động viên tinh thần để tôi hoàn thành luận văn này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Quang Lập
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Vĩnh Phúc, ngày 28 tháng 11năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Quang Lập
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Giải thuyết khoa học 6
7 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.2 Một số khái niệm thuật ngữ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 15
1.2.1 Quản lý giáo dục và quản lý trường học 15
1.2.2 Xã hội hóa giáo dục và quản lý công tác xã hội hóa giáo dục 17
1.3 Quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia 21
1.3.1 Khái niệm quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 21
1.3.2 Vai trò của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia 22
1.3.3 Nội dung quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong trường THCS 27
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS 34
Trang 61.4.1 Nhận thức của nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp
về xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa cơ sở vật chất - thiết bị dạy học 34
1.4.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội và truyền thống của địa phương 35
1.4.3 Cơ chế quản lý xã hội hóa giáo dục ở địa phương 36
1.4.4 Năng lực quản lý xã hội hóa giáo dục của cán bộ quản lý giáo dục nhà trường 36
Kết luận chương 1 37
Chương 2 39
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRONG VIỆC XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA 39
2.1 Vài nét khái quát về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục THCS của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình dân cư 39
2.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội 39
2.1.3 Tình hình giáo dục và đào tạo 40
2.2 Thực trạng công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Lập Thạch 42
2.2.1 Thực trạng cơ cấu, chất lượng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 42
2.2.2 Thực trạng đầu tư kinh phí mua sắm, tu sửa cơ sở vật chất và thiết bị dạy học từ nguồn xã hội hóa giáo dục 43
2.3 Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục cơ sở vật chất và thiết bị dạy học các trường THCS huyện Lập Thạch đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia 45
2.3.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 45
2.3.2 Đối tượng quản lí/tham gia quản lí xã hội hóa CSVC-TBDH trong trường của Ông/Bà là ai và ở mức độ nào? 48
Trang 72.3.3 Những CSVC-TBDH ở trường có từ nguồn XHHGD 51
2.3.4 Các nội dung quản lý công tác xã hội hóa giáo dục xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở huyện Lập Thạch 52
2.3.5 Các biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở huyện Lập Thạch đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia 55
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học các trường THCS huyện Lập Thạch đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia 57
2.4.1 Điểm mạnh 57
2.4.2 Điểm yếu 61
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng 62
Kết luận chương 2 63
Chương 3 65
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRONG VIỆC XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHUẨN QUỐC GIA 65
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 65
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 65
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 65
3.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ 66
3.2 Các biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 66
3.2.1 Lập kế hoạch thu hút các nguồn lực xã hội hóa giáo dục để xây dựng, củng cố cơ sở vật chất - kỹ thuật của nhà trường 66
3.2.2 Quản lý việc sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của nhà trường được xây dựng từ nguồn lực xã hội hóa giáo dục 69
Trang 83.2.3 Quản lý việc duy trì và bảo quản cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của
nhà trường được xây dựng từ nguồn lực xã hội hóa giáo dục 72
3.2.4 Kiểm tra, giám sát các hoạt động xã hội hóa giáo dục cơ sở vật chất và thiết bị dạy học của nhà trường được xây dựng từ nguồn lực xã hội hóa giáo dục 73
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia 74
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 74
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 75
3.3.4 Khách thể khảo nghiệm 75
3.3.5 Tiêu chí và thang đánh giá kết quả 76
3.3.6 Kết quả khảo nghiệm 77
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn coi Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đây chính
là cơ sở quan trọng của xã hội hóa giáo dục (XHHGD)
Xã hội hoá công tác giáo dục có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục Trong Điều 12 của Luật giáo dục có nêu “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục” nên công tác quản lý (QL) chỉ đạo, phát triển giáo dục trung học cơ sở (THCS) phải gắn chặt với công tác vận động mọi lực lượng trong
xã hội cùng tham gia chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ, coi đó là mục tiêu, là sức mạnh để phát triển giáo dục trung học cơ sở một cách căn bản và có chất lượng
Với tầm quan trọng của công tác xã hội hóa giáo dục, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số văn bản chỉ đạo thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục như: Nghị quyết số 05/2005/NQ- CP, ngày 18/4/2005 “đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao”[14]; Quyết định số
20/2005/QĐ - BGD&ĐT, phê duyệt đề án: “Quy hoạch phát triển xã hội hóa
giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” [7]; Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2005 ở
Điều 12 có nêu: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp
của nhà nước và nhân dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [9]
Trang 11Như vậy, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về
xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện cho toàn dân được tham gia chăm lo, phát triển sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ
Giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu “Phát triển giáo dục phải
gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng
cố quốc phòng an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” [7]
Muốn chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa thì ngành giáo dục cần phải xây dựng một hệ thống các nhà trường có đầy đủ điều kiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ nhà trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước về xây dựng (XD) nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, ngành giáo dục đã ban hành “Quy chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia” ban hành kèm theo Thông tư số 47/2012/TT-BGDĐT ngày 7/10/2012 của Bộ Giáo dục và đào tạo [10]
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia, các trường THCS luôn hướng tới đáp ứng 5 tiêu chuẩn mà một trong những tiêu chuẩn
đó là Tiêu chuẩn 4: Tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học [10]
Nhưng do ngân sách đầu tư cho giáo dục ở các địa phương còn hạn chế – nhất là các huyện miền núi Nhà trường đang gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh nên cần có sự chung tay góp sức của toàn xã hội
Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước cũng đã quan tâm đến việc huy động các nguồn lực xã hội, coi đây là giải pháp quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng và duy trì trường chuẩn quốc gia
Các trường trung học cơ sở ở huyện Lập Thạch trong nhiều năm qua đã được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Lập Thạch, Hội cha mẹ học sinh quan tâm,
Trang 12đầu tư tương đối đầy đủ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (CSVC,TBDH) được trang
bị cơ bản, đảm bảo yêu cầu tối thiểu trong nhà trường Từ đó đã tạo được động lực nhất định cho đội ngũ giáo viên nâng cao được chất lượng dạy và học Tuy nhiên,
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường còn nhiều hạn chế Một số trường đã đạt chuẩn quốc gia trước năm 2005, nhưng đến nay cơ sở vật chất đã xuống cấp rất nhiều, có nguy cơ không đạt chuẩn quốc gia trong thời gian tới Các trường mới đạt chuẩn quốc gia nhưng nhiều phương tiện kĩ thuật phục vụ dạy học đã cũ kĩ, lạc hậu hoặc hư hỏng, cơ sở vật chất thiếu khang trang Vì vậy, việc quản lý đầu tư, sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy trong các trường trung học cơ sở ở huyện Lập Thạch vẫn còn nhiều bất cập, chưa phát huy được hết vai trò của nó trong các hoạt động giáo dục và đáp ứng mục tiêu xây dựng trường chuẩn Quốc gia Công tác quản lý việc huy động, giám sát nguồn đầu tư CSVC, TBDH từ xã hội hóa (XHH) hiệu quả còn thấp; quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các nhà trường chưa được quan tâm đúng mức; Kinh phí cho việc mua sắm, sửa chữa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học còn rất thiếu Việc quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết
bị dạy học (CSVC, TBDH) còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm sát sao dẫn đến thiết bị nhanh xuống cấp và hư hỏng nhiều, chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn Quốc gia Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý công tác
xã hội hóa giáo dục hiện nay ở các trường THCS trên địa bàn, để từ đó đề ra được những biện pháp đồng bộ, có tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng CSVC, TBDH đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia là vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào về vấn đề này tại địa phương
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”
làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường THCS trên địa bàn để đề xuất những biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục về cơ sở vật chất thiết bị dạy học, góp phần duy trì, đảm bảo chất lượng xây dựng trường chuẩn Quốc gia ở các trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu trên, luận văn tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu trên:
Thứ nhất, xác định cơ sở lí luận của công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở đáp ứng xây dựng trường chuẩn Quốc gia
Thứ hai, đề tài tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng việc công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở 3 trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia
Thứ ba, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở các trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia
Thứ tư, đề tài tiến hành khảo nghiệm các biện pháp quản lý của Ban giám hiệu đối với công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia
Trang 144 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia trường phổ thông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn Quốc gia
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (các phương tiện kĩ thuật phục vụ dạy học) ở trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Về phạm vi thời gian: Chủ yếu từ năm 2012- 2017
Về phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu về quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở ba trường trung học
cơ sở: THCS Đình Chu, THCS Đồng Ích, THCS Thị trấn Hoa Sơn của huyện Lập Thạch
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
- Phương pháp mô hình hóa, phương pháp sơ đồ, phương pháp đề xuất
5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập ý kiến đánh giá thông
qua phiếu hỏi đối với cán bộ quản lý và giáo viên cấp THCS
Trang 15- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý,
giáo viên và học sinh các nhà trường nhằm tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường THCS trên địa bàn huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc
- Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các buổi học của học sinh,
buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, dự giờ các tiết học thực hành
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn về quản lý cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học ở các trường THCS làm cơ sở để tác giả đề xuất biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết
bị dạy học
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình tiến hành luận văn thường
xuyên xin ý kiến các chuyên gia về các lĩnh vực liên quan để vấn đề nghiên cứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất
- Phương pháp nghiên cứu qua hồ sơ: kiểm kê cơ sở vật chất, các biên
bản tự đánh giá thiết bị dạy học, phòng học bộ môn, hồ sơ sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên và báo cáo tổng kết năm học 2014- 2015 đến năm học
2016 - 2017 để tác giả phân tích, nhận định, đánh giá thực trạng quản lý, sử
dụng cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của các trường THCS huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
- Nhóm các phương pháp khác: Sử dụng các phần mềm toán học hỗ trợ
như thống kê, vẽ biểu đồ trong quá trình xử lý, phân tích số liệu thu thập được trong quá trình khảo sát thực trạng
6 Giải thuyết khoa học
Công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường THCS ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh
Trang 16Phúc còn nhiều hạn chế, như: Công tác quản lý việc huy động, giám sát nguồn đầu tư CSVC, TBDH từ XHH hiệu quả còn thấp; quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các nhà trường chưa được quan tâm đúng mức, Nếu đề xuất và thực hiện được những biện pháp quản lý hợp lý sẽ tăng cường được nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nâng cao ý thức bảo
vệ, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, góp phần thực hiện chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh và đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn Quốc gia của các trường THCS trên địa bàn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý xã hội hóa giáo dục đáp
ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia ở trường Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc
xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia
Chương 3: Biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục trong việc xây dựng
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia
Trang 171.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện nay, đa số các quốc gia trên thế giới đều coi trọng chính sách xã hội hóa giáo dục, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo dục phát triển và quan tâm sâu sắc đến hiệu quả giáo dục mang lại cho nền kinh tế - xã hội Nhiều quốc gia chú trọng phát huy sức mạnh tổng hợp của xã hội trong cải cách giáo dục để bảo đảm ai cũng học tập, ai cũng được hưởng thụ giáo dục, ai cũng tham gia phát triển giáo dục Trong phạm vi đề tài, tác giả khảo cứu chính sách xã hội hóa giáo dục ở một số quốc gia như Nhật Bản, Vương quốc Thái
Lan, Indonesia và Hoa Kỳ Cụ thể như sau:
Năm 1947, Nhật Bản đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu của các chính
sách quốc gia Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống giáo dục nhằm tạo ra một
hệ thống giáo dục mở với mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển những năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ Năm 1971, Nhật Bản thành lập Bộ giáo
dục, đề ra chính sách: Đối với các trường Trung học bắt buộc thì “sự bình
đẳng” là nguyên tắc tối cao Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì
nguyên tắc “tài năng” là cao nhất Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất
bình đẳng trong xã hội về giáo dục, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển
tiềm năng của con người
Để xây dựng xã hội học tập, Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Uỷ ban Quốc gia về giáo dục suốt đời Ở Nhật Bản có hai hệ giáo dục: Giáo dục nhà
Trang 18trường và giáo dục xã hội Trong đó, giáo dục nhà trường chính là hệ giáo dục ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học Nhật Bản rất quan tâm đến hệ giáo dục xã hội (giáo dục tiếp tục) vì đây là hệ giáo dục có tác dụng quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Ở Thái Lan, Chính Phủ cũng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của
nhà trường Trong các nhà trường ở Thái Lan, thường có Ban điều hành nhà trường Thành phần của Ban này, gồm có cha mẹ học sinh, giáo viên, những người tài trợ, những nhà hảo tâm và phải họp ít nhất 4 lần trong năm Ở trường Wat Sai Ma, ngoài Ban điều hành nhà trường, còn có 6 ban điều hành
bộ phận có trách nhiệm về các vấn đề dạy học, tổ chức hoạt động, nhân sự, tài chính, xây dựng và quan hệ với cộng đồng Ban điều hành bộ phận thảo luận các vấn đề nảy sinh trong nhà trường và kiến nghị, đề xuất lên Ban điều hành nhà trường hướng giải quyết Mỗi Ban điều hành bộ phận cử 1 giáo viên làm thư ký của Ban
Ban điều hành về dạy học, nhân sự tổ chức vận động sự tham gia của cộng đồng qua việc xin ý kiến của cha mẹ học sinh và các cán bộ cộng đồng góp ý về chương trình học, tuyển dụng giáo viên tình nguyện để cộng tác với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và tăng nguồn tài chính để mua trang thiết bị phục vụ dạy và học
Ban điều hành về quan hệ với cộng đồng tăng cường niềm tin của cộng đồng đối với nhà trường bằng việc thông báo rộng rãi đến công chúng về các hoạt động của nhà trường, khuyến khích cộng đồng tham gia vào các hoạt động của nhà trường vào Ngày Trẻ em, Ngày Thầy Cô giáo, các hoạt động thể thao và các cuộc thi…
Trang 19Ban điều hành về xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức các chiến dịch huy động nguồn tài chính cho việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường
Ban điều hành về tài chính tìm kiếm hoặc xác định các nguồn tài chính
và dự án nhằm mang lại lợi ích cho cả nhà trường và cộng đồng
Indonesia đặc biệt quan tâm giáo dục phi chính quy với sự tham gia
của cộng đồng Một hình thức tham gia của xã hội là lập “quỹ học tập” để lo việc học cho thanh thiếu niên và cho người lớn Các tổ chức hoặc loại hình học tập với những điều kiện nhất định đều được hỗ trợ tài chính của “quỹ học tập” Cộng đồng tham gia giáo dục phi chính quy bằng việc thành lập những trung tâm học tập và phát triển công nghiệp nhỏ với sự hợp tác của các cơ quan nghiên cứu kinh tế, xã hội giáo dục và thông tin ở Indonesia Ở đây kết hợp nhiệm vụ đào tạo với phát triển công nghiệp nhỏ theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội địa phương Giáo dục phi chính quy ở Indonesia quan tâm đến giáo dục cho phụ nữ nông thôn và huy động cả sự tham gia của lực lượng tôn giáo và dạy văn hoá và dạy nghề trong các trường tôn giáo theo đạo Hồi
Trong thời gian qua, Hoa Kỳ rất quan tâm tới xây dựng mối quan hệ
giữa nhà trường và cộng đồng Ở các trường và cộng đồng ở Broadus, Saco
và Methow Valley đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác, mở ra con đường cho học sinh học tập dựa vào cộng đồng, và học sinh góp phần vào sự phát triển của cộng đồng với những cách tiếp cận sau đây:
Cách tiếp cận thứ nhất là coi nhà trường là trung tâm của cộng đồng,
đồng thời là nơi cung cấp nguồn lực cho việc học tập suốt đời và cũng là nơi
mang lại nhiều dịch vụ khác nhau cho cộng đồng Nguồn lực của nhà trường bao gồm thiết bị, công nghệ và đội ngũ cán bộ có trình độ giáo dục cao có thể cung cấp nhiều cơ hội giáo dục và đào tạo cho cộng đồng Biểu hiện đầu tiên của cách tiếp cận này là phong trào trường cộng đồng đã phát triển vào những
Trang 20năm 1970, ở đó các cơ hội giáo dục biểu hiện trong mọi hoạt động: từ những công việc thường nhật đến việc xoá mù chữ cho người lớn.Trong những năm gần đây ý tưởng đưa trường học trở thành trung tâm của cộng đồng đã tạo nên một cách nhìn nhận mới, đó là những dịch vụ gia đình hoà nhập, ở đó trường học đóng vai trò là một cơ quan kết nối các nhu cầu về dịch vụ xã hội của giới trẻ nông thôn và gia đình của họ Những dịch vụ này bao gồm khám sức khoẻ, chăm sóc trẻ nhỏ và chăm sóc răng miệng Tại Saco, Montana, Sở giáo dục đã tài trợ mạng lưới dịch vụ bảo vệ thị giác nhằm kết nối ba cộng đồng hẻo lánh với nhau Mạng lưới này sẽ cung cấp những khoá đào tạo chuyên môn về y khoa Ngoài ra, chương trình này cũng kết nối các trường
và cộng đồng với nhau do đó có thể hỗ trợ và chia sẻ nguồn lực
Cách tiếp cận thứ hai là sử dụng cộng đồng như một chương trình học,
tập trung vào các nghiên cứu đa dạng của cộng đồng Học sinh cung cấp thông tin nhằm phát triển cộng đồng dựa vào những chương trình đánh giá yêu cầu, nghiên cứu và giám sát các phương thức sử dụng đất và môi trường
và lưu giữ những dữ kiện lịch sử của cộng đồng dựa vào các phỏng vấn và các bài luận ảnh Khi học sinh được học về cộng đồng của họ và được làm việc trực tiếp với các cư dân của cộng đồng các em sẽ hiểu được những giá trị của cộng đồng Cách tiếp cận toàn diện nhất khi coi cộng đồng như là chương trình, là cách tiếp cận Foxfire, đã được sử dụng trên toàn quốc Ở đó mạng lưới Foxfire dã giúp giáo viên phát triển chuyên môn và xây dựng mạng lưới
hỗ trợ giáo viên Foxfire khuyến khích các học sinh học tập về cộng đồng thông qua việc trực tiếp tìm tòi về lịch sử của cộng đồng Ở Broadus, Montan, học sinh học cách phỏng vấn các cư dân, tìm và phân tích các văn bản lịch sử nhằm khôi phục và bảo tồn các dữ kiện lịch sử của cộng đồng cho thế hệ tương lai
Trang 21Cách tiếp cận thứ ba mang tên “kinh doanh dựa vào nhà trường”
(SBE), đặt trọng tâm vào phát triển các kỹ năng kinh doanh, ở đó học sinh không chỉ xác định các nhu cầu tiềm ẩn về các dịch vụ trong cộng đồng nông thôn của các em mà còn phải thực sự tiến hành công việc kinh doanh nhằm giải quyết những nhu cầu đó Sher và DeLargy đã vận dụng khái niệm “Kinh doanh dựa vào nhà trường” vào một chương trình giảng dạy tổng hợp mang tên (kinh doanh nông thôn thông qua việc học hành động) Với sự trợ giúp của chương trình này học sinh đã cung cấp các dịch vụ có mặt trên địa bàn nông thôn như: sửa chữa giầy, mở cửa hàng bán các món ăn ngon, chăm sóc trẻ nhỏ Giống như Foxfire, đây là một chương trình đào tạo và hỗ trở tổng hợp và toàn diện
Những cách tiếp cận trên có quan hệ chặt chẽ với nhau đã mang lại một cách tư duy mới về cách thức kết hợp giữa cộng đồng và nhà trường vì lợi ích chung Giá trị của kinh nghiệm học tập dựa vào cộng đồng là ở chỗ nó mang lại lợi ích lâu dài cho công tác quản lý, mang lại một cách nhìn nhân mới về trách nhiệm công dân và một cách thức làm mới cộng đồng Tuy nhiên, vì những cách tiếp cận này tạo ra một sự khởi đầu khá khác biệt với quan niệm truyền thống về chương trình học (chỉ bó hẹp trong nhà trường và sách giáo khoa…) nên bắt buộc phải xây dựng chính sách hỗ trợ các tổ chức và cá nhân ủng hộ cách tiếp cận mới này, những người chủ chốt làm nên thành công của mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng trong chương trình này
Như vậy, chúng ta thấy rằng các quốc gia có đặc điểm riêng về kinh tế
- xã hội nhưng đều có điểm chung trong phương thức xã hội hóa giáo dục: Đó
là huy động mọi tiềm lực của cộng đồng cho giáo dục Xã hội hóa giáo dục là
sự lựa chọn ưu tiên, có tính chất quyết định cho mô hình phát triển giáo dục của các quốc gia
Trang 221.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nền giáo dục mới được hình thành và phát triển “nền giáo dục của dân, do dân, vì dân” Tuy nhiên, trước giai đoạn đổi mới, với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền giáo dục khủng hoảng Sự nghiệp giáo dục toàn dân chưa được coi trọng, bản chất của xã hội chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục Cơ sở vật chất- thiết bị dạy học xuống cấp và thiếu thốn, lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và xu thế phát triển chung của thời đại
Năm 1997, trong Đại hội VII của Đảng đã xác định “Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu”, trong đó xã hội hóa là một trong những quan
điểm, chủ trương lớn để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội
Bàn về vấn đề xã hội hóa giáo dục, ở Việt Nam có một số công trình tiêu biểu như sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn sách Phát triển văn hoá giữ
gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại khẳng định
“Xã hội hóa công tác giáo dục, một con đường phát triển giáo dục ở nước ta” [24,tr16] Cụ thể, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng xã hội hóa giáo dục là làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với giáo dục, giáo dục phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế xã hội, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; xã hội hóa giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa giáo dục
“Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của
đường lối chiến lược, một con đường phát triển giáo dục nước ta… Sự nghiệp giáo dục không chỉ là của nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo
Trang 23dục” [23]
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “xã hội hóa giáo dục phản ánh bản
chất của luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục”[4] Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân
góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không
phải là một ý tưởng mới lạ Tác giả Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh: “Không có xã
hội nào có thể tồn tại nếu không có sự giáo dục và mọi sự giáo dục đều hướng tới sự tiến bộ của xã hội Như vậy là luôn luôn tồn tại nền giáo dục xã hội” [4,
tr.6]
Nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục, Nguyễn Trần Bạt khẳng định xã hội hóa giáo dục là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục,
bảo đảm sự thành công của cải cách giáo dục: “Xã hội hóa giáo dục có ý nghĩa
là nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội” và “xã hội hóa giáo dục không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo, mà quan trọng nhất là
đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá, hiện đại hoá chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã hội” [5]
Bên cạnh đó, còn kể đến các công trình nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục của GS.TS Nguyễn Mậu Bành, PGS.TS Trần Quang Nhiếp, TS Hồ Thiệu Hùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã và đang tiến hành hệ thống hoá các đề tài nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục, đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn quản lý để phát triển lý luận và đề xuất chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận, ban hành các văn bản hướng dẫn địa phương, các đơn vị giáo dục thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội hóa giáo dục
Trang 24Các văn bản pháp lý và các công trình khoa học nêu trên đều khẳng định tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục và đề xuất ra nhiều giải pháp cho công tác quản lý Tuy nhiên, để công tác xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt tìm ra những biện pháp, giải pháp phù hợp cho thực tiễn giáo dục THCS ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc thì chưa có đề tài nào đề cập Chính vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác xã hội hóa giáo dục tại huyện Lập Thạch vẫn là vấn đề cấp thiết cần tiếp tục tìm hiểu phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên
1.2 Một số khái niệm thuật ngữ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý giáo dục và quản lý trường học
Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được thừa kế, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển
Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Bàn về khái niệm quản lý giáo dục, có một số quan điểm tiêu biểu sau:
Trong “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục”, tác giả Nguyễn Ngọc Quang có nhận định như sau “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [36]
Trang 25Cũng bàn về khái niệm quản lý giáo dục, tác giả Phạm Minh Hạc cho
rằng “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý
hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [23]
Tác giả Đặng Quốc Bảo góp phần bàn về khái niệm quản lý giáo dục
trong cuốn “Phát triển giáo dục và Quản lí nhà trường: Một số góc nhìn” như sau “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr 8]
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác
động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống ở các cấp khác nhau (từ Trung ương đến địa phương) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [28, tr.10]
Từ những quan niệm trên, nội dung quản lý giáo dục bao gồm những nội hàm về chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục ngoài ra còn phải kể tới cách thức thực hiện như công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục và phương pháp quản lý giáo dục hoặc các cách thức tác động qua lại một cách có mục đích,
có kế hoạch và có tổ chức để hoạt động có hiệu quả
Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định
hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra
Quản lý trường học
Bàn về trường học, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Trường học là một
thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động
Trang 26tương tác của hai nhân tố thầy và trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”
[2]
Như vậy, trường học là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, ở đó vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục và tiến hành quá trình giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ Trường học là cơ sở chuyên trách hoạt động giáo dục, có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp, do đội ngũ các nhà sư phạm thực hiện Trường học có môi trường giáo dục thuận lợi, với tập thể học sinh cùng nhau học tập, rèn luyện Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do trường học đảm nhiệm
Về quản lý trường học, tác giả Phạm Minh Hạc đã khẳng định: “Quản
lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy
và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo giáo dục đã xác định” [23, tr.16]
Từ quan niệm trên có thể khẳng định rằng quản lý trường học là một hệ
thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả
Quản lý nhà trường cũng như các hoạt động quản lý khác được thực hiện thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.2 Xã hội hóa giáo dục và quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa là một thuật ngữ được dùng trong nhiều chuyên ngành khác nhau, vì vậy nội hàm của khái niệm này rất phong phú, đa dạng Theo quan
điểm xã hội học của tác giả Bùi Gia Thịnh- Võ Tấn Quang thì “Xã hội hoá là
Trang 27quá trình tương tác, lan toả các chuẩn mực, các giá trị, các khung mẫu, hành
vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội”[37,tr.571]
Trong Văn kiện hội nghị lần 4, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Đảng ta xác định: Xã hội hóa giáo dục là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp phần xây dựng nền giáo dục dưới
sự quản lý của Nhà nước
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự
nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân dân
Xã hội hóa giáo giáo dục là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục Đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục – đào tạo, mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động giáo dục Mở rộng nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng
về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy có hiệu quả các nguồn lực tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục – đào tạo phát triển nhanh có chất lượng cao hơn
Xã hội hóa giáo dục gồm hai thành phần chính:
Thứ nhất, xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời
Thứ hai, vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục
Việc thực hiện xã hội hóa giáo dục đem lại nhiều lợi ích quan trọng trong sự nghiệp giáo dục quốc dân Cụ thể như sau:
Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạo quá
Trang 28trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt (chuyên môn và nghiệp vụ) trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo dục (ngành giáo dục), trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc vào các lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của xã hội để đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
Xã hội hóa giáo dục tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập
Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật chất, trí tuệ, khoa học kĩ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng và nhà nước Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ (người dân được Nhà nước và xã hội chăm lo) mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Theo Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của các chủ thể quản
lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất Quản lý giáo dục là sự tác động của hệ thống quản lý giáo dục của Nhà nước từ
Trang 29Trung ương đến địa phương, đến khách thể quản lý và hệ thống giáo dục quốc dân và sự nghiệp giáo dục của mỗi địa phương nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn” [36, tr 35]
Vậy, quản lý công tác xã hội hóa giáo dục là quá trình chỉ đạo, điều hành
công tác xã hội hóa giáo dục, là hệ thống những tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến các lực lượng trong và ngoài ngành giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hóa, tạo hành lang để hoạt động xã hội hóa đi đúng quỹ đạo, theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục có các cách làm khác nhau, cùng giúp cho công tác quản lý có những phương pháp thích hợp, linh hoạt với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể Nếu quản lý theo phương pháp cứng nhắc, máy móc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt động xã hội hóa giáo dục Nếu quản lý nghiêng về tính dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy hoạt động xã hội hóa vào những sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu
Quản lý xã hội hóa giáo dục là quản lý sự phối hợp của các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ em trên địa bàn dân cư Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn đầu tư khác, là quản lý việc huy động nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trình nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục không còn là của riêng ngành giáo dục Với chức năng nhà nước của mình, ngành Giáo dục - Đào tạo chủ yếu là công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn
về giáo dục, chia sẻ khó khăn về giáo dục, cộng đồng trách nhiệm và tham gia
Trang 30vào quá trình phát triển Giáo dục và đào tạo Tuy nhiên trong một trừng mực nhất định, ngành giáo dục và đào tạo trực tiếp chỉ đạo và quản lý hoạt động xã hội hóa trong các nhà trường, giúp cho công tác xã hội hóa đi đúng hướng và
có kết quả cao
Một cách tổng quát, quản lý công tác xã hội giáo dục là quản lý mục tiêu,
nội dung, phương pháp, hình thức xã hội hóa giáo dục, bảo đảm quá trình xã hội hóa giáo dục được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
Quản lí công tác xã hội hóa giáo dục đáp ứng xây dựng trường chuẩn quốc gia là tác động của chủ thể quản lí giáo dục bằng các hoạt động kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra về công tác xã hội hóa giáo dục nhằm
hoàn thành mục tiêu trường chuẩn quốc gia
1.3 Quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia
1.3.1 Khái niệm quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - thiết bị dạy học phục vụ đắc lực cho giáo dục và đào tạo Xét từ phương diện quản lý giáo dục theo hướng xã hội hoá thì có thể hiểu đây chính là quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học
Cơ chế của xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là cơ
chế “mềm” theo xu hướng “mở” Quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết
bị dạy học dạy học cũng là một dạng quản lý linh hoạt, tuy nhiên vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định theo hướng tôn trọng sự vận động của xã hội hướng vào giáo dục và đào tạo, đảm bảo đúng luật pháp
Trang 31( CSVC-TBDH
của Nhà nước
Quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của
xã hội và cộng đồng cho giáo dục và đào tạo
1.3.2 Vai trò của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia
Quá trình dạy học được cấu thành bởi các thành tố có liên quan chặt chẽ
và tương tác với nhau Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học Sơ đồ dưới đây thể hiện các thành tố cấu thành quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản trong quá trình dạy học
Theo sơ đồ trên, mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học trong đó cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là một thành
Trang 32tố không thể tách rời Trong đó, các cặp thành tố tương ứng đều có mối quan
hệ tương hỗ hai chiều Việc điều khiển tối ưu các mối quan hệ của các thanh
tố có thể được coi là một nghệ thuật về mặt quản lý sư phạm
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học có mặt trong quá trình nêu trên
có vai trò và vị trí như các thành tố khác và không thể thiếu được một thành tố nào, nó góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu trong quá trình dạy học và nó có vai trò lớn trong quá trình dạy học Cụ thể:
Thứ nhất, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học nâng cao năng lực nhận thức và rèn kỹ năng của học sinh
Vần đề này Lênin đã nêu như sau “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của
nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”
Trực quan sinh động là sự phản ánh trực tiếp thực tại khách thể bằng
các giác quan và diễn ra dưới những hình thức cơ bản kế tiếp nhau: cảm giác, tri giác và biểu tượng và từ đó nâng cao năng lực nhận thức của học sinh Nhờ
có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học mà từ tư duy trừu tượng với những hình thức kế tiếp nhau như: khái niệm, phán đoán và suy luận làm cho học sinh dễ dàng hơn trong nhận thức
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là công cụ nhận thức của học sinh, là sự cụ thể hóa nội dung dạy học và rèn luyện kỹ năng nó có thể trở thành nguồn tri thức quan trọng cho người học, nó có vai trò là đối tượng của nhận thức và rèn luyện kỹ năng
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là công cụ hoạt động học, là điều kiện chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách dễ dàng Nó không chỉ tham gia xây dựng biểu tượng phương thức hành động mà còn tham gia kiểm tra, kiểm soát, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động, vì thế người học có
Trang 33thể điều chỉnh hoạt động cho phù hợp Nhờ nó mà hoạt động học trở nên đa dạng và hấp dẫn hơn tạo sự say mê, hứng thú, giúp cho người học nhớ lâu các kiến thức, khắc sâu trong trí nhớ người học
Thực hiện chức năng trực quan hóa hoạt động nhận thức của người học
Để thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực hiện mà người dạy cũng như người học không thể tiếp cận trực tiếp Ngoài ra,
nó còn giúp người học làm quen các yếu tố các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng học tập Có thể hiểu sâu sắc nội dung vấn đề đồng thời còn biết cách tiến hành nghiên cứu tìm hiểu chuyên môn mà mình yêu thích Chúng ta biết rằng, nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con người, con người nhận thức được thế giới bên ngoài là nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai mà hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở Người ta không thể hiểu được dùng ngôn ngữ để mô tả khái niệm, một hiện tượng nếu không có biểu tượng ban đầu nào đó trong quá trình nhận thức thế giới vĩ mô, vai trò của cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học vô cùng quan trọng, với các cơ quan cảm giác thông thường lúc này ta không thể quan sát được các hiện tượng thực tiễn mà phải dùng công cụ để cho phép con người đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan Do đó nhờ công cụ con người có khả năng phát hiện ra một số tính chất của vật chất lớn hơn nhiều so với khi không sử dụng nó Sự nghiên cứu lịch sử khoa học hiện đại cũng cho thấy rằng, mỗi lần có những công cụ mới lại có những tiến bộ mới
trong quá trình nhận thức thế giới, vì vậy có thể nói rằng: “Việc nhận thức thế
giới vi mô luôn gắn với công cụ, hay cụ thể hơn việc nhận thức thế giới của học sinh với cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học”
Trong quá trình làm việc với các cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học, các kiến thức lý thuyết mà học sinh tiếp thu ở trên lớp thường ở dạng tĩnh và cô lập với kiến thức khác, sẽ tác động tương hỗ làm cho chúng trở nên
Trang 34sinh động, làm lộ rõ bản chất và khả năng của chúng, tạo nên ra hứng thú cho học sinh vì tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn được đặt trước những tình huống mới, mỗi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ phát triển trí sáng tạo
Qua làm việc với các cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học, tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ luật được rèn luyện, đó là những phẩm chất rất cần thiết đối với người lao động và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng
Thứ hai, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học giáo dục vật chất hóa phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là công cụ lao động của giáo viên và học sinh, vật chất hóa phương pháp đào tạo Góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy trò tạo điều kiện cho hoạt động dạy học diễn
ra hợp lý, đúng quy luật Nó cung cấp cho người học thông tin chính xác chắc chắn về các quá trình diễn ra phức tạp và trừu tượng mà bình thường bằng ngôn ngữ người dạy diễn đạt rất khó khăn Nó kích thích, tích cực hóa các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp…làm cho tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ hơn Lao động của người dạy sẽ được giảm nhẹ, từ đó họ có thời gian phân tích các vấn đề trong bài dạy và huy động người học trực tiếp tham gia phát hiện và lĩnh hội các tri thức mới Người học giảm thiểu sự đầu tư sức lực và thời gian khi tiếp cận lĩnh hội tri thức mới
Trong xã hội hiện đại, con người phải tư duy và hoạt động chính xác, khoa học, nhanh chóng, điều đó không thể có được khi sử dụng trong nhà trường những phương tiện thô sơ hoặc dạy chay, từ việc dạy học bằng truyền đạt một chiều Khi nhà trường được đầu tư trang bị cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học, những phương pháp làm việc của thầy và trò sẽ thay đổi, phong cách tư duy và hành động do đó cũng được hiện đại hóa Cơ sở vật chất
Trang 35- thiết bị dạy học dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc năng suất lao động không ngừng tăng lên Việc sử dụng các cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học hiện đại vào nhà trường sẽ cho phép giới thiệu những kiến thức chính xác cho nhiều học sinh hơn Điều đó cho phép rút ngắn thời gian học
Các thiết bị hiện đại mở ra khả năng to lớn cho công tác dạy học Chúng không chỉ cho phép thông báo kiến thức đồng thời cho số lớn học sinh mà còn
có thể điều khiển tối ưu hóa quá trình học tập của học Đó là điều vô cùng quan trọng và là một trong những đặc điểm của nhà trường hiện đại
Thứ ba, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học, hiệu quả
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là nguồn thông tin thể hiện nội dung dạy học gây cảm xúc và tạo biểu tượng về đối tượng học tập: Cấu tạo sự vật, hình dáng, kích thước, cắt bổ bên trong, mối liên hệ các yếu tố của sự vật,
sự biến đổi phát triển của sự vật hiện tượng
Một nền giáo dục tiên tiến đòi hỏi mục tiêu đào tạo phải luôn bắt kịp mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đôi khi nó còn phải đi trước một bước để định hướng lại cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội Yêu cầu này đặt ra cho mọi nền kinh tế giáo dục phải thường xuyên cải tiến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo Yêu cầu cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học đủ mạnh theo sự tiến
bộ của nội dung và phương pháp đào tạo
Không có sự tương hợp nhau về nội dung và phương pháp đào tạo với cơ
sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học thì sớm muộn việc thực hiện mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, quá trình đào tạo sẽ bị phá vỡ sự cân đối toàn vẹn và nền giáo dục sẽ bị suy thoái Khi có nội dung và phương pháp đào tạo tiên tiến mà cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học lạc hậu, trình độ giáo viên còn bất cập, thái độ giáo viên còn chưa hăng say, nhiệt tình với việc sử dụng
Trang 36cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học trong công tác giảng dạy thì đều dẫn tới sự suy giảm chất lượng và hiệu quả đào tạo
Ngoài ra, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học còn tạo ra môi trường sinh động mà trong đó người học đóng vai trò là chủ thể được hoạt động thực
sự với cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với cả người học và người dạy, phát huy tối đa tính tích cực của hoạt động nhận thức
Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ cho phép mở ra những khả năng sư phạm không giới hạn cho con người trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Một lần nữa khẳng định mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, nếu không chú ý tới đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học đúng mức thì việc thực hiện phương pháp dạy học, nội dung dạy học để đạt được mục tiêu đào tạo sẽ gặp nhiều khó khăn
Như vậy, xây dựng cơ sở vật chất giáo dục là cấp thiết hiện nay, tuy nhiên làm thế nào để cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học có mối liên lạc chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng mục tiêu đào tạo đã vạch sẵn là nhờ công tác quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học Động thái của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học trong nhà trường là sự phát triển của nó trong mối quan hệ thầy- trò cũng là đối tượng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.3.3 Nội dung quản lý xã hội hóa giáo dục về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong trường THCS
1.3.3.1 Quản lý việc nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Quản lý việc nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh về vai trò của cơ sở vật chất , thiết bị dạy học dạy học là một trong những nội dung quan trọng và thực sự khó khăn đối với chủ thể quản lý,
Trang 37với người đứng đầu trong nhà trường (Hiệu trưởng) Thực chất là làm cho họ thấu hiểu được vai trò của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học trong quá trình dạy học Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học có vai trò quan trong như các thành tố khác như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học không thể tách ra khỏi được quá trình dạy học, nó có tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau và nếu thiếu cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học nhất định sẽ không đem lại hiệu quả trong việc giảng dạy, cũng như đáp ứng mục tiêu xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia trong giai đoạn hiện nay
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học không chỉ được sử dụng trong khuôn khổ chật hẹp trước đây chủ yếu là minh họa mà hiện nay cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học đóng vai trò là công cụ quan trọng trong hoạt động nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh, nhất là các thiết bị
có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông Trong quá trình dạy học, giáo viên điều khiển nhận thức thế giới của Học sinh thông qua các cơ sở vật chất, kỹ thuật dạy học
1.3.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong trường THCS
Công tác tổ chức nói chung và tổ chức quản lý nhà trường nói riêng thực chất là việc tích hợp các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu, đó là phân công giao trách nhiệm và quyền hạn cho cá nhân, một bộ phận hay một nhóm người quản lý Đó là việc tạo điều kiện cho sự hợp tác liên kết của họ trong quá trình quản lý với mục đích cao nhất là phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý
Đối với một bộ máy tổ chức quản lý xã hội hóa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học của một trường phổ thông, nhất thiết phải phân chia tổ chức
ra thành các cấp độ quản lý và trên cơ sở của từng cấp độ quản lý để phân
Trang 38chia phạm vi quản lý, quyền hạn quản lý và xác định rõ biên chế quản lý
Phân chia phạm vi quản lý có nghĩa là phải xác định rõ ranh giới về
quyền hạn được quản lý: Quản lý ai? Quản lý trong thời gian nào? Quản lý đến đâu?
Phân chia trách nhiệm quản lý có nghĩa phải xác định rõ ranh giới về
trách nhiệm trong công tác quản lý: Quản lý cái gì? Quản lý như thế nào?
Xác định biên chế quản lý thực chất là sắp xếp con người vào các vị trí
trong cơ cấu tổ chức
Khi xác định biên chế cần làm rõ yêu cầu về lực lượng cần có; những người cần sử dụng, tuyển mộ, lựa chọn, sắp xếp, đào tạo; bồi dưỡng; đề bạt… Trong việc xác định biên chế quản lý việc lựa chọn cán bộ là khâu quan trọng nhất Do vậy, khi lựa chọn cần chú ý đến khía cạnh: kỹ năng quản lý, cá tính người quản lý và các yêu cầu về chức vụ mà họ đảm nhận
Xuất phát từ những cơ sở như đã nêu ở trên, bộ máy tổ chức quản lý cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học của trường phổ thông cần phân chia thành ba cấp quản lý sau:
Thứ nhất, lãnh đạo nhà trường (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng)
Thứ hai, các tổ văn phòng (tổ trưởng, kế toán, y tế, bảo vệ, cán bộ thư viện, cán bộ thiết bị, tạp vụ, thủ quỹ), các tổ chuyên môn (tổ trưởng, cán bộ phụ trách phòng học bộ môn)
Thứ ba, người sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học (cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh)
Giữa các cấp quản lý, ngoài phạm vi và trách nhiệm cụ thể đã được quy định bởi các văn bản, cần phải có sự phân cấp về quyền hạn, trách nhiệm và
sự phối hợp dọc, ngang nhằm tác động thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng cơ
sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học trong nhà trường
Nội dung của cơ chế phối hợp trong công tác quản lý cơ sở vật chất, thiết
Trang 39bị dạy học dạy học cần xác định rõ: Trách nhiệm và quyền hạn của hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ văn phòng, các tổ chuyên môn, cán bộ phụ trách các bộ phận, giáo viên và học sinh trong công việc quản lý và sử dụng
cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dạy học; mối quan hệ dọc, ngang giữa hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các tổ chuyên môn, các phòng chức năng và cá nhân mỗi cán bộ, giáo viên và học sinh trong việc quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học
1.3.3.3 Quản lý đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Trong nguồn vốn cố định mà ngành giáo dục quản lý hoặc bộ ngành liên quan đến công tác giáo dục quản lý, nguồn vốn cho nhân tố cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học có ý nghĩa kinh tế quan trọng Xét về mặt kinh tế sư phạm trong công tác quản lý giáo duc đối với cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học, việc đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học trong mỗi nhà trường cần tập trung vào các vấn đề sau:
Mỗi nhà trường căn cứ vào kế hoạch dạy học phải có phương án đầu tư
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học, phương án này phải tính đến năng lực kinh tế tài chính mà nhà trường được cung ứng theo định mức đề ra
Việc đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học phải xem xét về giá thành, chất lượng và hiệu quả sử dụng Không thể mua về các thiết
bị rẻ tiền mà không có hiệu quả sư phạm hoặc có hiệu quả sư phạm mà không tương ứng với dự toán chi tiêu của trường (tức là quá đắt, quá sức với nguồn tài chính của nhà trường)
Phải có kế hoạch xây dựng, trang bị trước mắt và lâu dài cho nhà trường bằng các nguồn lực khác nhau: ngân sách nhà nước, xã hội hóa, giáo viên và học sinh tự làm Phải giải quyết được tính cấp thiết và tính kế thừa cho vận hành và phát triển
Cập nhật thông tin về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy học, đồng
Trang 40thời cập nhật các thông tin về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học mới để thường xuyên có kế hoạch bổ sung theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa
1.3.3.4 Quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là một hoạt động hết sức cần thiết và hữu ích của mọi chủ thể trực tiếp là các giáo viên, các cán bộ phụ trách các phòng chức năng và khách thể là các yếu tố vật chất: phòng thí nghiệm thực hành, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học phục vụ cho công tác dạy và học
Lựa chọn, cử cán bộ phụ trách các phòng chức năng và giáo viên đi học tập, tập huấn, dự các lớp các bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng cơ sở vậtchất- kỹ thuật dạy học Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ giáo viên về kỹ năng sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học Đặc biệt là đối với thiết bị hiện đại, mới lạ, cấu tạo phức tạp, quy trình
sử dụng nghiêm ngặt cần tập huấn nghiêm túc cho tất cả đội ngũ về tính năng và tác dụng của các cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học, đồng thời hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất và tập dượt thành thạo trước khi đưa vào
sử dụng Quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học trong nhà trường có hiệu quả, ngoài yếu tố con người, người quản lý cần phải thể chế hóa bằng các văn bản Chính vì vậy, người quản lý phải biết dựa vào các các văn bản pháp quy: quyết định, quy chế, quy định… để bắt buộc mọi thành
viên trong nhà trường tuân theo ý đồ quản lý của mình
1.3.3.5 Duy trì và bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Duy trì và bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học là khâu quan trọng trong việc quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học dạy học nhằm nâng cao tuổi thọ của thiết bị và giảm chi phí trong đầu tư mua sắm thiết bị Muốn duy trì và bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị dạy học có hiệu quả cần tập trung vào các vấn đề sau: