ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH 1. Người hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỵ Đơn vị công tác: Trường Đại học Hải Phòng. 2. Học viên thực hiện: Nguyễn Đức Thông Mã học viên: H0916055 3. Tên đề tài luận văn: “Tăng cường quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng”. 4. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội, khi định hướng phát triển các lĩnh vực về chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định quan điểm phải giải quyết tốt việc Thực hiện và hoàn thiệnchế độ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện, đến nay khi luật số 582014QH13 thông qua và có hiệu lực sẽ giữ vai trò trụ cột, bền vững trong hệ thống an sinh xã hội, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị xã hội bền vững. Qua các năm thực hiện số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm khoảng 7,5%, số thu BHXH tăng bình quân khoảng 10% và hình thành quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.Hiện nay, trong khu vực doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp ngoài nhà nước thì số lượng lao động, đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH còn hạn chế nếu không muốn nói là chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Nguyên nhân là do nhận thức của người lao động còn hạn chế, ý thức chấp hành pháp luật về BHXH của đơn vị sử dụng lao động chưa cao, cá biệt còn có đơn vị cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH hoặc nợ đọng BHXH thời gian dài, thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến chế độ an sinh xã hội của Nhà nước, việc thực hiện pháp luật về BHXH, nguồn thu của cơ quan BHXH và đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Do đó, để thực hiện nghiêm các chế độ chính sách về BHXH của Nhà nước, để công tác thu BHXH của cơ quan BHXH quận Dương Kinh đạt hiệu quả và đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì việc nghiên cứu đề tài Tăng cường quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng là hết sức quan trọng và cần thiết. 5. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan Đề tài đã đi sâu nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh. Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng số liệu thống kê báo cáo qua các năm từ 2015 đến nay tại BHXH quận Dương Kinh và kết quả tổng hợp báo cáo tại BHXH thành phố Hải Phòng. Các bài báo về thực hiện chính sách, pháp luật về công tác BHXH, việc thực hiện tuyên thực hiện chính sách BHXH và từng bước đưa luật BHXH từng bước đi vào đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, luận văn đã đề xuất được một số biện pháp tăng cường quản lý thu hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh. 6. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đánh giá một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng công tác quản lý thu BHXH trong giai đoạn vừa qua. Rút ra những bài học kinh nghiệm, những mặt còn hạn chế để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trong hiện tại và tương lai để đạt mục tiêu mọi người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc được tham gia BHXH và đảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả. Câu hỏi nghiên cứu Trong những năm qua chính sách quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bất buộc tại quận Dương Kinh có những ưu điểm và hạn chế gì? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nợ đọng và tỷ lệ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không ổn định trong quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại quận Dương Kinh ? Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh cần phải có những giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tới. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.Đánh giá thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh. Chương 3: Biện pháp tăng cường quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁCTHU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc 1.1.1. Lịch sử ra đời, quan niệm về BHXH và BHXH bắt buộc Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội Trong quá trình tồn tại và phát triển, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu con người phải lao động để làm ra những của cải, vật chất. Nhưng trong thực tế, có rất nhiều trường hợp rủi ro xảy ra làm con người bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc ốm đau, tai nạn, già yếu, tử vong,… ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển. Vì vậy con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau. Từ xa xưa, con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang đùm bọc lẫn nhau. Sự tương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như việc lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Đây chính là hình thức manh nha của bảo hiểm, nhưng sự tương hỗ này vẫn chỉ mang tính tự phát và chỉ được thực hiện trong cộng đồng nhỏ. Sự trợ giúp này là thụ động, cục bộ, không ổn định và không chắc chắn. Vì vậy, đòi hỏi phải có sự trợ giúp có tổ chức, có quan hệ ràng buộc. Nhu cầu này là bức bách, đặc biệt sau cuộc cách mạng công nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá ở các nước công nghiệp phát triển đã làm đội ngũ làm công ăn lương tăng nhanh. Tuy nhiên sự hẫng hụt về tiền lương khi bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, mất việc làm, già yếu,... luôn đe doạ đối với người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Các cuộc đấu tranh của người lao động diễn ra ngày càng gay gắt ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh và trật tự, an toàn xã hội. Trước sức ép của người lao động và để duy trì lực lượng làm công ăn lương, giới chủ buộc phải từng bước cam kết đảm bảo cho người lao động có một khoản trợ cấp nhất định để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn,... Vì thế, đã xảy ra mâu thuẫn giữa giới chủ và những người thợ làm thuê, và mẫu thuẫn này càng trở nên ngay gắt. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải đứng ra giải quyết, buộc các bên phải đóng góp một khoản tiền nhất định để hình thành một quỹ tập trung trong phạm vi của quốc gia, trong trường hợp cần thiết quỹ tập trung này sẽ được ngân sách Nhà nước cấp bổ sung. Nhờ vậy mà người lao động đã phần nào đảm bảo được cuộc sống của mình và giới chủ cũng yên tâm phát triển sản xuất, tránh được tình trạng mất ổn định. Những mối quan hệ giữa giới chủ và người làm thuê được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ nêu trên được thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội cho người lao động. Điều này chứng tỏ BHXH ra đời là một yếu tố tất yếu khách quan. Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc a. Một số khái niệm về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm xã hội nói riêng đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về BHXH. Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý,... Do đó, hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về BHXH, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học. Theo từ điển Bách khoa: BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo quan niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội”. Quan niệm trên đây đã phản ánh đầy đủ hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thể hiện bản chất của BHXH.
Trang 1TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hưng Yên, ngày 15 tháng 9 năm 2017
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
1 Người hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỵ
Đơn vị công tác: Trường Đại học Hải Phòng
2 Học viên thực hiện: Nguyễn Đức Thông
Mã học viên: H0916055
3 Tên đề tài luận văn: “Tăng cường quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng”.
4 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, khi định hướngphát triển các lĩnh vực về chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội Từ Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định quan điểm phải giải
quyết tốt việc "Thực hiện và hoàn thiện chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm đời
sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện", đến nay khi luật
số 58/2014/QH13 thông qua và có hiệu lực sẽ giữ vai trò trụ cột, bền vữngtrong hệ thống an sinh xã hội, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thànhviên trong xã hội, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trongmột thể chế chính trị - xã hội bền vững
Qua các năm thực hiện số lao động tham gia BHXH tăng hàng nămkhoảng 7,5%, số thu BHXH tăng bình quân khoảng 10% và hình thành quỹBHXH độc lập với ngân sách nhà nước.Hiện nay, trong khu vực doanh nghiệpđặc biệt là doanh nghiệp ngoài nhà nước thì số lượng lao động, đơn vị sử dụnglao động tham gia BHXH còn hạn chế nếu không muốn nói là chiếm tỷ lệ rất
Trang 2nhỏ Nguyên nhân là do nhận thức của người lao động còn hạn chế, ý thứcchấp hành pháp luật về BHXH của đơn vị sử dụng lao động chưa cao, cá biệtcòn có đơn vị cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH hoặc nợ đọng BHXH thờigian dài, thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH, lạmdụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh.Điều này đã ảnh hưởng lớn đến chế độ an sinh xã hội của Nhà nước, việc thựchiện pháp luật về BHXH, nguồn thu của cơ quan BHXH và đặc biệt là ảnhhưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động
Do đó, để thực hiện nghiêm các chế độ chính sách về BHXH của Nhànước, để công tác thu BHXH của cơ quan BHXH quận Dương Kinh đạt hiệu
quả và đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì việc nghiên cứu đề tài " Tăngcường quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận Dương
Kinh, Thành phố Hải Phòng " là hết sức quan trọng và cần thiết
5 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan
Đề tài đã đi sâu nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công tác thubảo hiểm xã hội bắt buộc và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng số liệu thống kê báo cáo quacác năm từ 2015 đến nay tại BHXH quận Dương Kinh và kết quả tổng hợp báocáo tại BHXH thành phố Hải Phòng Các bài báo về thực hiện chính sách, phápluật về công tác BHXH, việc thực hiện tuyên thực hiện chính sách BHXH vàtừng bước đưa luật BHXH từng bước đi vào đời sống nhân dân
Bên cạnh đó, luận văn đã đề xuất được một số biện pháp tăng cường quản
lý thu hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh
6 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng công tác quản lýthu BHXH trong giai đoạn vừa qua Rút ra những bài học kinh nghiệm, nhữngmặt còn hạn chế để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lýthu BHXH trong hiện tại và tương lai để đạt mục tiêu mọi người lao động thuộc
Trang 3diện phải tham gia BHXH bắt buộc được tham gia BHXH và đảm bảo thực hiệncác quy định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả.
* Câu hỏi nghiên cứu
- Trong những năm qua chính sách quản lý công tác thu bảo hiểm xã hộibất buộc tại quận Dương Kinh có những ưu điểm và hạn chế gì?
- Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nợ đọng và tỷ lệ phát triển đốitượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không ổn định trong quản lý thu bảohiểm xã hội bắt buộc tại quận Dương Kinh ?
- Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh cần phải có những giải pháp nào đểhoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tới.Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.Đánh giá thực trạng công tác thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh
Chương 3: Biện pháp tăng cường quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
trên địa bàn quận Dương Kinh.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁCTHU BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC 1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1 Lịch sử ra đời, quan niệm về BHXH và BHXH bắt buộc
- Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội
Trong quá trình tồn tại và phát triển, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiếtyếu con người phải lao động để làm ra những của cải, vật chất Nhưng trongthực tế, có rất nhiều trường hợp rủi ro xảy ra làm con người bị giảm hoặc mấtthu nhập hoặc ốm đau, tai nạn, già yếu, tử vong,… ảnh hưởng đến sự tồn tại vàphát triển Vì vậy con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau
Trang 4Từ xa xưa, con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang đùm bọc lẫn nhau Sựtương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thứckhác nhau như việc lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc bằng hiệnvật Đây chính là hình thức manh nha của bảo hiểm, nhưng sự tương hỗ này vẫnchỉ mang tính tự phát và chỉ được thực hiện trong cộng đồng nhỏ Sự trợ giúpnày là thụ động, cục bộ, không ổn định và không chắc chắn Vì vậy, đòi hỏiphải có sự trợ giúp có tổ chức, có quan hệ ràng buộc Nhu cầu này là bức bách,đặc biệt sau cuộc cách mạng công nghiệp Quá trình công nghiệp hoá ở cácnước công nghiệp phát triển đã làm đội ngũ làm công ăn lương tăng nhanh.Tuy nhiên sự hẫng hụt về tiền lương khi bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, mất việclàm, già yếu, luôn đe doạ đối với người không có nguồn thu nhập nào khácngoài tiền lương Các cuộc đấu tranh của người lao động diễn ra ngày cànggay gắt ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh và trật tự, an toàn xãhội.
Trước sức ép của người lao động và để duy trì lực lượng làm công ănlương, giới chủ buộc phải từng bước cam kết đảm bảo cho người lao động cómột khoản trợ cấp nhất định để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếukhi ốm đau, tai nạn, Vì thế, đã xảy ra mâu thuẫn giữa giới chủ và những ngườithợ làm thuê, và mẫu thuẫn này càng trở nên ngay gắt Điều đó đòi hỏi Nhànước phải đứng ra giải quyết, buộc các bên phải đóng góp một khoản tiền nhấtđịnh để hình thành một quỹ tập trung trong phạm vi của quốc gia, trong trườnghợp cần thiết quỹ tập trung này sẽ được ngân sách Nhà nước cấp bổ sung Nhờvậy mà người lao động đã phần nào đảm bảo được cuộc sống của mình và giớichủ cũng yên tâm phát triển sản xuất, tránh được tình trạng mất ổn định
Những mối quan hệ giữa giới chủ và người làm thuê được thể hiện trongmối quan hệ chặt chẽ nêu trên được thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội chongười lao động Điều này chứng tỏ BHXH ra đời là một yếu tố tất yếu kháchquan
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
Trang 5a Một số khái niệm về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm xã hội nói riêng đã hình thành rất sớmtrong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đềcập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về BHXH Bởi lẽ,BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế,
xã hội, pháp lý, Do đó, hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau vềBHXH, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học
Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắpmột phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bêntham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo,
an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảmbảo an toàn xã hội"
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau:
“BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thôngqua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn vềkinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây
ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, vàchết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh
tế và mặt xã hội
Còn theo quan niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hộiđối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấpcho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc
bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả nănglao động, tuổi già và chết Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho cácthân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của
Trang 6bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội” Quan niệm trênđây đã phản ánh đầy đủ hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thểhiện bản chất của BHXH.
Như vậy, có thể khái quát về BHXH như sau: “BHXH là hệ thống bảo đảmkhoản thu nhập thay thế cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặcmất khả năng lao động hay mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụngquỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhànước, nhằm góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình
họ đồng thời góp phần bảo vệ an toàn xã hội Đối tượng của BHXH chính là thunhập bị biến động giảm hoặc mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặcmất việc làm của những người lao động tham gia BHXH”
Có 2 loại BHXH: Bắt buộc và tự nguyện được quy định tại điều 3 LuậtBảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 kỳ họp thứ 8 ngày 20/11/2014 Cụ thể nhưsau:
BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham
gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham giahưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm
xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia
b Quỹ BHXH bắt buộc
+ Nguồn hình thành: Người sử dụng lao động đóng theo quy định; Ngườilao động đóng theo quy định; Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ; Hỗ trợcủa Nhà nước; Các nguồn thu hợp pháp khác
+ Các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản; Quỹ tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp; Quỹ hưu trí và tử tuất
+ Sử dụng quỹ: Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theoquy định; Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc
Trang 7hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, thất nghiệp; Chiphí quản lý; Chi khen thưởng theo quy định; Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởngquỹ theo quy định.
c Một số khái niệm về thu BHXH và quản lý thu BHXH
- Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đốitượng tham gia BHXH bắt buộc phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặccho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia lựa chọn mức đóng và phươngthức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹtiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho an sinh xã hội
- Quản lý thu BHXH là quy trình thu của cơ quan BHXH, xác nhận chínhxác số lao động, số tiền phải thu, số tiền đã nộp, số tiền lãi, số tiền nợ, số tiềnnộp thừa của người sử dụng lao động; các dữ liệu vê nhân thân, thời gian nộp,mức tiền lương, tiền công nộp BHXH của người lao động, đồng thời xác nhậnviệc thực hiện chính sách, chế độ BHXH của cơ quan BHXH đối với đơn vị sửdụng lao động và người tham gia BHXH từng thời điểm và theo yêu cầu quản
lý Tình hình chấp hành các nguyên tắc, quy định của Nhà nước về thu BHXH
và một số nội dung khác
- Vai trò công tác thu BHXH:
+ Thu BHXH là một trong những nội dung quan trọng nhất trong hoạt
động của ngành BHXH Thu bảo hiểm xã hội tạo quỹ tài chính chủ yếu, quantrọng nhất quyết định đến sự hình thành quỹ BHXH và phát triển của hệ thốngBHXH "Có thu mới có chi" hàng tháng, hàng năm, quỹ BHXH phải chi trả mộtkhoản tiền rất lớn cho những người thụ hưởng chế độ BHXH và các khoản chikhác Nhờ có công tác thu BHXH mà quỹ có đủ khả năng tài chính để chi trả,đảm bảo cân đối quỹ, giảm chi từ ngân sách Nhà nước cho hệ thống BHXH vàthực hiện được đầu tư tăng trưởng quỹ
+ Thu BHXH cũng là đầu vào, khâu mở đầu, xương sống của nghiệp vụ
BHXH, các khâu nghiệp vụ của BHXH đều căn cứ vào nhân thân, mức đóng,thời gian đóng, từ chương trình quản lý thu để xử lý các tác nghiệp
Trang 8+ Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của
các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần của cảidưới dạng giá trị
+ Ngoài ra, công tác thu BHXH còn góp phần tạo lập mối quan hệ 3 bên:
giữa người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH Người laođộng tham gia BHXH thông qua người sử dụng lao động, người sử dụng laođộng tham gia BHXH cho người lao động thông qua cơ quan BHXH hoặc tựbản thân mình trực tiếp cho đóng cho cơ quan BHXH Cơ quan BHXH có tráchnhiệm theo dõi, kiểm tra đôn đốc đơn vị sử dụng lao động, người lao động thuđúng, đủ, kịp thời và giải quyết các chế độ đối với người lao động
1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc của bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Đặc điểm của BHXH bắt buộc
Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH bắt buộc là trụcột chính trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, tạo cho người laođộng trong xã hội có một sự đảm bảo về sản xuất cũng như đời sống vật chất vàtinh thần
BHXH bắt buộc có những đặc điểm sau:
Một là, Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyềnlời của người lao động và của cả cộng đồng BHXH bắt buộc hình thành là domối quan hệ giữa người chủ sử dụng lao động và người lao động Người chủ sửdụng lao động và người lao động cùng tham gia và cùng được hưởng các chế độBHXH
Hai là, trong BHXH bắt buộc, việc phân phối sử dụng quỹ được chia thành
Trang 9Ba là, BHXH bắt buộc hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số
đông bù cho số ít" tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham giaBHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đónggóp của từng người trong trường hợp họ gặp rủi ro
Bốn là, hoạt động BHXH bắt buộc là một loại hoạt động dịch vụ công,
mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Đây là điểmkhác biệt rõ rệt của BHXH bắt buộc so với các loại hình BH mang tính kinhdoanh khác
- Nguyên tắc của BHXH bắt buộc
BHXH bắt buộc có những nguyên tắc hoạt động mang tính phổ biến vànhất quán đó là:
Thứ nhất, Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH
Thứ hai, Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng
của người lao động
Thứ ba, Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời
gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ
sở thời gian đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXHmột lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH
Thứ tư: Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹthành phầ, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quyđịnh và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định
Thứ năm: Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo
đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
1.1.3 Vai trò của BHXH bắt buộc
BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột chính trong hệthống an sinh xã hội của Nhà nước và giữ một vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế xã hội ở nước ta Kể từ khi ra đời và phát triển cho đến nay, BHXH luôn
Trang 10giữ vững bản chất là một hoạt động vừa mang tính tính kinh tế, vừa mang tínhcộng đồng lại vừa mang tính nhân văn, xã hội, được thể hiện trên những mặt chủyếu sau:
1.1.3.1 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với người lao động và gia đình họ Thứ nhất, BHXH giúp cho bản thân người lao động và thân nhân của họ có
thu nhập ổn định Vì trong quá trình làm việc, hàng tháng người lao động phảitrích một phần tiền lương tiền công để tham gia BHXH Và trong trường hợp rủi
ro, họ sẽ được nhận một phần để bù đắp cho những phần thu nhập bị mất hoặc
bị giảm
Thứ hai, Bên cạnh vai trò giúp người lao động và thân nhân của họ đảm
bảo được nguồn thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống hàng ngày, thì việc thamgia BHXH có nghĩa tinh thần rất lớn cho người lao động, giúp họ yên tâm côngtác, lạc quan trong cuộc sống, dồn hết tâm sức trong công việc
1.1.3.2 Vai trò của BHXH bắt buộc đối với xã hội
Thứ nhất, mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân nói chung cũng như
giữa Nhà nước và người sử dụng lao động, người lao động không ngừng đượctăng cường, gắn kết chặt chẽ
Thứ hai, BHXH giúp cho mọi người có điều kiện đảm bảo cuộc sống, đặc
biệt đối với những người có hoàn cảnh bất hạnh BHXH thể hiện chủ nghĩanhân văn mình vì mọi người
Thứ ba, BHXH đã giúp cho xã hội phát triển bền vững, thể hiện tinh thần
chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau, lá lành đùm lá rách, thể hiện truyền thống tương thântương ái
Thứ tư, BHXH bắt buộc chính là một trong những công cụ giúp cho việc
bình đẳng xã hội Vì bên cạnh việc tạo điều kiện cho người lao động yên tâmcông tác, đảm bảo cuộc sống thì BHXH bắt buộc còn là công cụ để phân phốilại thu nhập trong cộng đồng
1.1.3.3 Vai trò BHXH bắt buộc đối với nền kinh tế thị trường
Trang 11Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, việc phân hóa giàu nghèo càng trở
nên rõ nét, kèm theo đó là sự bất bình đẳng trong thu nhập, trong các ngànhnghề khác nhau giữa các tầng lớp trong xã hội Có một thực tế là, trong cuộcsống đôi khi những rủi ro sẽ xảy ra bất kể lúc nào và đối với bất kể ai, đặc biệt
là rơi vào những người có hoàn cảnh khó khăn thì chính cuộc sống của họ sẽđược chia sẻ, giúp đỡ bởi chính sách BHXH
Thứ hai, về phía doanh nghiệp, những rủi ro mà người lao động gặp phải
đã được cơ quan BHXH chi trả, vì vậy doanh nghiệp sẽ không lo về vấn đề tàichính Với tình hình tài chính được ổn định, doanh nghiệp tập trung vào sảnxuất kinh doanh Chính vì vậy, hệ thống BHXH đã tạo tiền đề cho phát triểnkinh tế thị trường, góp phần đảm bảo ổn định xã hội
Thứ ba, nhờ chính sách BHXH mà người lao động yên tâm công tác, nâng
cao tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong sản xuất, gắn bó tận tình với doanhnghiệp, làm cho mối quan hệ trong thị trường lao động trở nên lành mạnh hơn.Điều này giúp doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chungphát triển ổn định, bền vững
Thứ tư, qũy BHXH bắt buộc đã tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Bởi vì qũy BHXH là do các bên đóng góp, được tích tụ tập trung rất lớn và mộtphần quỹ nhàn rỗi sẽ được đầu tư vào các dự án, công trình phát triển kinh tếcủa Nhà nước
Thứ năm, BHXH bắt buộc thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều
ngang và chiều dọc theo nguyên tắc ‘số đông bù số ít’, BHXH bắt buộc chính làđộng lực cho nền kinh tế phát triển Thông qua sự phân phối lại thu nhập đã tạo
ra sự bình đẳng trong xã hội, làm lành mạnh hóa thị trường lao động
1.2 Cơ chế thu và các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu BHXH bắt buộc
1.2.1 Khái niệm cơ chế thu BHXH
Cơ chế thu BHXH bắt buộc là mối quan hệ tổng thể giữa các biện pháp, hình thức có phương pháp thu BHXH bắt buộc theo chính sách hiện hành nhằm
Trang 12mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời BHXH của các đối tượng bắt buộc phải tham gia
1.2.2 Những yếu tố thu BHXH bắt buộc
1.2.2.1 Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh cơ chế thu BHXH bắt buộc
Luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến thu BHXH là công
cụ quan trọng để cơ quan BHXH thực hiện việc thu BHXH, đồng thời cơquan BHXH dùng công cụ này để tác động lên các đối tượng thu và thụhưởng BHXH nhằm đạt mục tiêu quản lý của mình
1.2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc
a Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Luật BHXH đã quy định cụ thể các đối tượng và các đơn vị thuộc diệnphải tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm người lao động là công dân Việt Nam
và người sử dụng lao động:
* Người lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợpđồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo mộtcông việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợpđồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theopháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhândân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học đượchưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật ngườilao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Trang 13- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã cóhưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cógiấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơquan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
theo quy định của Chính phủ (áp dụng từ 01/01/2018).
* Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm:
- Các cơ quan của Đảng, nhà nước, đơn vị sự nghiệp từ trung ương đến địaphương
- Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hộinghề nghiệp
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp
- Hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác và các tổ chức khác có thuê mướn sửdụng và trả công người lao động
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng người lao động là người Việt Nam
b Xác định căn cứ và phương thức thu BHXH bắt buộc
* Căn cứ thu BHXH bắt buộc
Căn cứ đóng BHXH bắt buộc được quy định tại điều 89 Luật BHXH số58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 và các Thông tư, Văn bản quy định, hướng dẫn
cụ thể hóa hoặc giải thích rõ các vấn đề liên quan đến tiền lương làm căn cứ thubảo hiểm xã hội của người lao động, được quy định cụ thể như sau:
- Tiền lương do Nhà nước quy định
+ Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhànước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theongạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niênvượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên mứclương cơ sở
Trang 14Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại điểm này bao gồm
cả hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương
+ Người lao động là Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường,thị trấn thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương cơ sở
- Tiền lương do đơn vị quyết định
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương(Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017 theo quy định tại Khoản 1 và Điểm aKhoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều vềHĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-
CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số nội dung của Bộ luật lao động)
Phụ cấp lương theo quy là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố vềđiều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độthu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong HĐLĐ chưa được tính đếnhoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm;phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực;phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế
độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật laođộng, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điệnthoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động cóthân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của ngườilao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêngtrong HĐLĐ theo Khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP
Trang 15+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người quản lý doanhnghiệp có hưởng tiền lương là tiền lương do doanh nghiệp quyết định, trừ viênchức quản lý chuyên trách trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên donhà nước làm chủ sở hữu.
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người quản lý điềuhành hợp tác xã có hưởng tiền lương quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Nghịđịnh số 115/2015/NĐ-CP là tiền lương do đại hội thành viên quyết định
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người đại diện phầnvốn nhà nước không chuyên trách tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công tynhà nước sau cổ phần hóa; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên làtiền lương theo chế độ tiền lương của cơ quan, tổ chức đang công tác trước khiđược cử làm đại diện phần vốn nhà nước
Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc đối với người đại diện phần vốnnhà nước chuyên trách tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty là tiền lương theochế độ tiền lương do tập đoàn, tổng công ty, công ty quyết định
- Mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản nàykhông thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với người laođộng làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bìnhthường
+ Người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đàotạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất7% so với mức lương tối thiểu vùng;
+ Người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao độngnặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chứcdanh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn
ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạptương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường
Trang 16- Đóng 03 tháng hoặc 06 tháng một lần: Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác
xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóngtheo phương thức hằng tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng một lần Chậm nhất đếnngày cuối cùng của phương thức đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹBHXH
Trong khoảng thời gian khi cơ quan BHXH thực hiện việc truy đóngBHXH, người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi hoàn chi phí chongười lao động nếu người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp, mức truy đóng được tính theo mức lương tối thiểu tại thời điểmtruy đóng
Trụ sở chính của đơn vị sử dụng lao động đóng ở địa bàn nào thì Đơn vịđăng ký tham gia BHXH tại địa bàn đó Chi nhánh của đơn vị đóng BHXH tạiđịa bàn nơi cấp giấy phép hoạt động cho chi nhánh
Người lao động thuộc đối tượng tự đóng BHXH thì thực hiện đóng BHXHtại cơ quan BHXH quận, huyện nơi cư trú
- Hàng tháng, người lao động đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và
tử tuất như sau:
+ Từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 mức đóng bằng 5% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội;
+ Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 mức đóng bằng 6% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội;
Trang 17+ Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 mức đóng bằng 7% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội;
+ Từ tháng 01 năm 2014 trở đi: mức đóng bằng 8% mức tiền lương, tiềncông tháng đóng bảo hiểm xã hội
+ Người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinhdoanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêmnghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định trên Phươngthức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần
+ Mức đóng và phương thức đóng của người lao động đi làm việc có thờihạn ở nước ngoài; Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất:
Từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 mức đóng bằng 16% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi
đi làm việc ở nước ngoài;
Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 mức đóng bằng 18% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi
đi làm việc ở nước ngoài;
Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 mức đóng bằng 20% mứctiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi
đi làm việc ở nước ngoài;
Từ tháng 01 năm 2014 trở đi mức đóng bằng 22% mức tiền lương, tiềncông tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ởnước ngoài
+ Phương thức đóng được thực hiện hằng quý hoặc 6 tháng hoặc 12 thángmột lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa ngườilao động đi làm việc ở nước ngoài Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa ngườilao động đi làm việc ở nước ngoài thu nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động
và đăng ký phương thức đóng với tổ chức bảo hiểm xã hội hoặc người lao độngđóng qua cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người lao động đã tham gia bảo hiểm xã
Trang 18hội hoặc đóng trực tiếp với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người laođộng trước khi đi làm việc ở nước ngoài.
Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng mớingay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theophương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho tổ chức bảo hiểm xã hộisau khi về nước
- Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động: Hằng
tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công tháng đóngbảo hiểm xã hội của những người lao động mà đơn vị sử dụng:
+ Mức đóng vào quỹ ốm đau và thai sản bằng 3%; Hằng quý, người sửdụng lao động có trách nhiệm quyết toán với tổ chức bảo hiểm xã hội
+ Mức đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bằng 1% (Thựchiện Luật BHXH sửa đổi năm 2014 số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, Luật vệsinh an toàn lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015 từ 01/7/2017 mức đóngbằng 0.5%);
+ Mức đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất như sau:
+ Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất,kinh doanh thì mức đóng hằng tháng theo quy định này Phương thức đóngđược thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc 6 tháng một lần trên cơ sở người sửdụng lao động đăng ký với tổ chức bảo hiểm xã hội
c Xây dựng quy trình thu BHXH bắt buộc
Trang 19* Người sử dụng lao động và người lao động kê khai hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc
- Người lao động: Kê khai các thông tin cần thiết vào ‘Tờ khai tham gia,điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT’ (Mẫu số TK1-TS) Khi kê khai các thôngtin thì người lao động phải căn cứ vào hồ sơ gốc (chứng minh thư, sổ hộ khẩu,HĐLĐ, quyết định tuyển dụng…) Đối với những lao động đã hưởng chế độmột lần nhưng chưa hưởng chế độ BHTN thì nộp thêm giấy xác nhận thời giantham gia BHTN nhưng chưa hưởng BHTN do cơ quan BHXH cấp
đầu (gửi kèm theo Bản sao quyết định thành lập hoặc Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy phép hoạt động để đối chiếu kiểm tra trong trường hợp cần xác minh thông tin) Đối với các đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp,
ngư nghiệp, diêm nghiệp đóng BHXH theo quý hoặc 6 tháng một lần thì phảigửi kèm theo phương án kinh doanh và phương thức trả lương cho người laođộng
- Cơ quan BHXH: Nhận hồ sơ trực tiếp tại bộ phận 1 cửa cơ quan BHXHQuận hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc giao dịch điện tử (nếu có) Kiểm tra giấy
tờ hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp nếu đúng theo quy định thì tiến hànhhoàn thiện các thủ tục để trả cho đơn vị Trường hợp có sai sót thì hướng dẫnđơn vị sử dụng lao động hoàn thiện, bổ sung các chứng từ theo đúng quy định
* Lập và giao kế hoạch thu BHXH bắt buộc
Trang 20- Bảo hiểm xã hội quận, huyện: căn cứ vào tình hình thực hiện của nămtrước, 06 tháng đầu của năm và dựa vào khả năng mở rộng, phát triển đối tượngtrên địa bàn, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN năm sau (MẫuK11-TS) gửi 01 bản đến BHXH thành phố trước ngày 10/6 hàng năm.
- Bảo hiểm xã hội thành phố: Phòng Thu lập 02 bản kế hoạch thu BHXH,BHYT, BHTN; Phối hợp với các phòng có liên quan lập kế hoạch kinh phí hỗtrợ công tác thu đối với các đối tượng do thành phố trực tiếp thu; tổng hợp toànthành phố, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT (Mẫu K01-TS), gửi BHXH
VN 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm
d Công tác quản lý thu BHXH bắt buộc
BHXH tỉnh và BHXH quận, huyện không được phép sử dụng tiền thuBHXH vào bất cứ mục đích gì Trường hợp đặc biệt, nếu sử dụng thì phải có ýkiến bằng văn bản của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam
Định kỳ hàng quý, BHXH tỉnh, thành phố ( Phòng Kế hoạch – Tài chính)
và BHXH quận, huyện gửi thông báo quyết toán cho Phòng Thu hoặc bộ phậnThu
Định kỳ 6 tháng hoặc hàng năm, BHXH Việt Nam tiến hành thẩm định sốthu BHXH đối với BHXH tỉnh
* Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc
- BHXH Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loạiđối tượng tham gia BHXH bắt buộc; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thuBHXH bắt buộc; kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH bắt buộc, cấp sổBHXH và thẩm định số thu BHXH bắt buộc
- BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh),
BHXH tỉnh (Phòng Thu BHXH) trực tiếp thu
+ Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh;
+ Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh, thành phố quản lý;
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế;
+ Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang;
Trang 21+ Các đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổchức thu
Phòng thu BHXH có trách nhiệm: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH bắtbuộc; Định kỳ quý, năm thẩm định số thu BHXH bắt buộc đối với BHXH quận,huyện; Phối hợp với Phòng Kế hoạch Tài chính lập và giao kế hoạch, quản lýtiền thu BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh quản lý
- BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung làBHXH huyện) trực tiếp thu BHXH bắt buộc:
+ Các đơn vị trên địa bàn do quận, huyện quản lý;
+ Các đơn vị khác do BHXH thành phố giao nhiệm vụ thu;
Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quản lý thu, nộp BHXH bắt buộc;
* Quản lý tiền thu BHXH bắt buộc
- Ngành BHXH thực hiện một nguyên tắc nhất quán, toàn bộ tiền thu đượcchuyển vào tài khoản chuyên thu; BHXH tỉnh, huyện không được dùng vào mụcđích nào khác (trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của BHXH ViệtNam) Do đó tiền thu BHXH của người sử dụng lao động và người lao độngtham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHXH huyện thu có trách nhiệmchuyển toàn bộ về BHXH tỉnh, BHXH tỉnh chuyển toàn bộ số tiền thu dohuyện chuyển lên và thu trực tiếp tại BHXH tỉnh chuyển về BHXH Việt Nam
- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
+ Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định, cụ thểnhư sau:
Quỹ ốm đau và thai sản trả chế độ ốm đau, thai sản; Quỹ tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Quỹ hưu trí và
tử tuất trả chế độ hưu trí, tử tuất
+ Đóng bảo hiểm y tế từ các quỹ thành phần sau:
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đóng bảo hiểm y tế cho người
nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;
Trang 22Quỹ hưu trí và tử tuất đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương
hưu
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi khen thưởng người sử dụng
lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp
+ Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội.
+ Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.
+ Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hàng năm được trích từ tiền
sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ
Hằng năm, ngân sách Nhà nước cấp đủ, kịp thời cho Bảo hiểm xã hội ViệtNam khoản kinh phí để thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế cho các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước ngày 01tháng 01 năm 1995, bao gồm các khoản: Lương hưu; Trợ cấp mất sức lao động;Trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người phục vụ người
bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trang cấp dụng cụ cho người bị tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp công nhân cao su; Tiền tuất và mai tángphí; Đóng bảo hiểm y tế theo chế độ; Lệ phí chi trả; Các khoản chi khác (nếucó)
Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được quy định như sau: Bảohiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăngtrưởng quỹ bảo hiểm xã hội từ tiền tạm thời nhàn rỗi Hoạt động đầu tư từ quỹbảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định việc đầu tư theo cáchình thức sau đây: Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngânhàng Thương mại của Nhà nước; Cho Ngân hàng Thương mại của Nhà nướcvay; Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia; Đầu tư vào một số
dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu BHXH bắt buộc.
a Hệ thống thể chế, chính sách về thu BHXH bắt buộc qua từng thời kỳ
Trang 23Ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau của nền kinh tế, với thể chế kinh tếkhác nhau, thì cơ chế thu BHXH bắt buộc cũng khác nhau Từ sau 1995, cùngvới sự phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cơ chế thuBHXH bắt buộc được cải cách cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội củađất nước.
Thể chế về cơ chế thu BHXH bắt buộc, bao gồm các văn bản pháp luật quyđịnh về: Tổ chức bộ máy quản lý công tác thu; các quy định về thu BHXH;trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong chu trình thuBHXH; mối liên hệ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thuBHXH
Nếu Nhà nước và ngành BHXH xây dựng được các quy tắc, quy định, cácvăn bản pháp quy hướng dẫn thu BHXH bắt buộc càng chặt chẽ, càng đầy đủ,đồng bộ, toàn diện càng phù hợp với điều kiện thực tế, điều kiện kinh tế củangười lao động thì thu BHXH bắt buộc càng có hiệu quả Do đó càng góp phầnđảm bảo cuộc sống ổn định và không ngừng nâng cao
b Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Đây là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến cơ chế thu BHXH
và kết quả thu BHXH bắt buộc Thực tế cho thấy, những nơi có nguồn thuBHXH lớn là những địa phương có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn
so với nơi khác
Mặt khác, nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thì người sửdụng lao động cũng sẽ tự giác, có trách nhiệm với nguồn nhân lực của doanhnghiệp, nên sẽ có ý thức nộp đúng, nộp đủ nghĩa vụ đóng góp BHXH bắt buộc
của họ cho người lao động
c Năng lực tổ chức, quản lý, điều hành, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc
Đây là nhân tố phản ánh trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản
lý, điều hành, khai thác nguồn thu của cơ quan BHXH; là quá trình vận dụng,
Trang 24triển khai chủ trương, chính sách BHXH bắt buộc để tổ chức thực hiện vào mỗiđịa phương theo những mục tiêu đã định.
Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy được thiết lập hoàn chỉnh, vận hành đồng bộ,từng bộ phận thực hiện tốt chức năng và quyền hạn trách nhiệm của mình thìcông tác thu BHXH sẽ đạt kết quả tốt
d Trình độ nhận thức và ý thức trách nhiệm của người tham gia BHXH bắt buộc
Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành từ việc đóng BHXH của người sửdụng lao động và người lao động, được quản lý thống nhất, tập trung, độc lậpvới ngân sách nhà nước và được Nhà nước bảo hộ Thực tế cho thấy, số ngườitham gia BHXH bắt buộc chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số laođộng xã hội
Bên cạnh đó, nguồn thu BHXH còn chịu ảnh hưởng lớn từ ý thức tráchnhiệm của người sử dụng lao động Hiện tượng trốn tránh đóng BHXH bắt buộccho người lao động và số tiền nợ đọng của các chủ doanh nghiệp lên tới con sốnhiều tỷ đồng đã gây không ít khó khăn cho ngành bảo hiểm
e Mức độ, hiệu quả đôn đốc kiểm tra giám sát và chế độ thưởng phạt đối với đội ngũ thực hiện và đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Muốn thu BHXH bắt buộc có hiệu quả, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thìbên cạnh tính tự giác phải luôn đi đôi với việc đôn đốc thường xuyên, kiểm tragiám sát kịp thời Đồng thời phải luôn gắn liền với chế độ khen chê kịp thời,thưởng phạt nghiêm minh; thưởng phạt cả về vật chất, tinh thần đối với đội ngũthực hiện thu BHXH bắt buộc và cả những người sử dụng lao động, và ngườilao động tham gia BHXH bắt buộc
f Dân số và lực lượng lao động: Người lao động là đối tượng tham gia
BHXH, họ là những người trong độ tuổi lao động, trực tiếp tạo ra của cải cho xãhội Như vậy nếu một quốc gia có dân số "vàng" nhiều người trong độ tuổi laođộng thì số người tham gia BHXH tăng; ngược lại dân số "già" tức là số ngườitrong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số do đó số người tham
Trang 25gia đóng góp vào quỹ ít, trong khi số người hưởng các chế độ BHXH đặc biệt làchế độ hưu trí tăng, dẫn đến số thu và việc mất cân đối quỹ BHXH.
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác thu BHXH bắt buộc.
1.3.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến BHXH bắt buộc
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và Hiến pháp năm 1992, ngày23/6/1994 Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội thông qua trong đó dành cảChương XII để quy định về BHXH và có quy định “Loại hình tham gia BHXH
áp dụng đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên”
Với quy định đầu tiên trong thực hiện thu BHXH bắt buộc là ngày26/01/1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP,trong đó quy định rõ về đối tượng tham gia BHXH và tỷ lệ thu BHXH Bêncạnh đó, Bộ Tài Chính có Thông tư số 58/TT-BTC hướng dẫn quy định tạmthời về tài chính BHXH, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, quy trình quản
lý thu BHXH
Đặc biệt, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo hiểm Xã hội; Mặt khác, đểphù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước Chính phủ tiếp tục quyđịnh đối tượng lao động hợp tác có thời hạn ở nước ngoài theo quy định tạiNghị định số 152/2000/NĐ-CP; các chức danh thuộc xã phường, thị trấn theoquy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 20/10/2009
Sau 8 năm triển khai và thực hiện Luật BHXH mới với những quy địnhđược thay đổi phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng còn nhiều bất cập Năm
2014 tại kỳ họp thứ 13 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH sửa đổi số58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 sửa đổi bổ sung và thay thế Luật BHXH số71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 Đồng thời Chính phủ ban hành các Nghị định,thông tư hướng dẫn thực hiện Luật BHXH sửa đổi 2014 cụ thể: Thông tư số59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật BHXH về Bảo hiểm xã hội bắt buộc; Nghị định số
Trang 26115/2015/NĐ-Cp ngày 11/11/2015 quy định chi tiết về một số điều của LuậtBHXH về BHXH bắt buộc.
Trong công tác quản lý thu BHXH Việt Nam đã ban hành rất nhiều các vănbản hướng dẫn triển khai thực hiện công tác quản lý thu BHXH trên cơ sở LuậtBHXH đến các cơ quan, đơn vị, người lao động Nhằm đảm bảo thực hiện thuđúng, thu đủ giải quyết kịp thời chế độ chính sách cho người lao động và ngườidân trong thu đóng BHXH bắt buộc như: Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày25/10/2011 về việc ban hành quy trình quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN, quản
lý sổ BHXH, thẻ BHYT áp dụng từ năm 2011 Ngày 9/9/2015 ban hành quytrình quản lý thu số 959/QĐ-BHXH thay thế quy trình tại quyết định số1111/QĐ-BHXH
Hiện đại hóa hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện giaodịch hồ sơ điện tử Tiếp tục thực hiện công khai kịp thời các thủ tục hành chínhsửa đổi, bổ sung, thay thế ban hành trong tháng đầu năm theo Nghị định số166/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Thủ tướng chính phủ về giao dịch điện
tử trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN; thực hiện thành công sổ BHXH, thẻBHYT điện tử theo lộ trình BHXH Việt Nam sửa đổi và ban hành quyết định
số 595/QĐ-BHXH ngày 14/5/2017 về quy trình quản lý thu BHXH, BHYT,BHTN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT mới trên cơ sở cải cách thủ tục hànhchính, rút gọn hồ sơ thủ tục quản lý thu BHXH
1.3.2 Tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc
- Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Trong công tác thu BHXH việc quan trọng nhất là phải xác định được đốitượng thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc Theo luật BHXH, đối tượngtham gia BHXH là người lao động và người chủ sử dụng lao động Việc xácđịnh người chủ sử dụng lao động thì tương đối dễ dàng vì người sử dụng laođộng là các doanh ngiệp, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng Để thuận tiệntrong công tác quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp thì cơ quan BHXHthường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Nhà
Trang 27nước để nắm rõ được số lượng các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trênđịa bàn, để từ đó yêu cầu các doanh nghiệp phải có trách nhiệm cung cấp cho cơquan BHXH các tiêu thức như: lĩnh vực hoạt động, số lao động hiện có, tổngquỹ lương trích nộp BHXH.
Về phía người lao động, khi tham gia BHXH bắt buộc phải kê khai đầy đủnhững thông xin chính xác của bản thân như: tên, ngày ngày tháng năm sinh,giới tính, Nếu người lao động thực hiện tốt những việc trên sẽ giúp cho cơquan BHXH thống nhất trong quản lý đối tượng tham gia BHXH, tránh trườnghợp trùng lặp một người tham gia có nhiều số đăng ký Số đăng ký dành chongười lao động thường được mã hóa, do đó để dễ quản lý thì số đăng ký càngngắn càng tốt
- Tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH
Hiện nay, cơ quan BHXH căn cứ vào tiền lương của người lao động và quỹtiền lương của toàn doanh nghiệp để xác định mức đóng BHXH, và tùy theođiều kiện phát triển kinh tế xã hội để điều chỉnh tỷ lệ đóng cho phù hợp với từnggiai đoạn cụ thể
Để quản lý được mức đóng, đặc biệt đối với người lao động và đơn vị sửdụng lao động đang thực hiện chế độ tiền lương do đơn vị quy định thì cơ quanBHXH phải quy định được mức đóng phù hợp cho cả người lao động và người
sử dụng lao động
Bên cạnh đó, cơ quan BHXH cũng phải thường xuyên kiểm tra, theo dõitình hình kinh doanh của các doanh nghiệp và diễn biến thu nhập của người laođộng, tổng quỹ lương của doanh nghiệp để làm cơ sở cho việc tính tiền BHXH
mà đơn vị phải có trách nhiệm nộp
- Phương thức và mức đóng BHXH
Hiện nay, phương pháp thu đang được áp dụng rộng rãi ở các nước đó làphương pháp thu các khoản đóng góp theo lương
Hàng tháng, căn cứ vào kỳ thanh toán lương cho người lao động, thì đơn vị
sử dụng lao động nộp tiền đóng BHXH của đơn vị và của người lao động vào
Trang 28tài khoản thu của cơ quan BHXH thông qua hệ thống ngân hàng và Kho bạcNhà nước
Để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc đóng tiền nộpBHXH, cơ quan BHXH cần phải phối hợp với các đơn vị sử dụng lao động đểthỏa thuận phương pháp thu hợp lý kiểm soát chặt chẽ danh sách người laođộng, tổng số tiền đóng BHXH của toàn đơn vị cũng như của từng người laođộng Và vấn đề quan trọng là có được một phương thức thu hợp lý, an toàn,không bị thất thoát
- Các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội
là chính sách lớn giữ vai trò "trụ cột" trong hệ thống chính sách an sinh xã hộicủa Đảng và Nhà nước ta, được thể chế trong Luật BHXH; Luật BHXH đượcthực hiện đánh dấu một bước tiến quan trọng của quá trình xây dựng, hoàn thiệnchính sách, pháp luật về BHXH và có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tổchức thực hiện chế độ chính sách BHXH ở nước ta Để thi hành Luật Bảo hiểm
xã hội nghiêm túc, đạt được mục tiêu của chính sách, Luật quy định các hành vi
vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội cụ thể là:
Quy định tại Điều 134:
+ Không đóng
+ Đóng không đúng thời gian quy định
+ Đóng không đúng mức quy định
+ Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội
Luật Bảo hiểm xã hội cũng có quy định cá nhân có những hành vi này tùytheo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luậthoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theoquy định của pháp luật Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luậtquy định tại Điều 134 nêu trên từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng sốtiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phảiđóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạtđộng đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội của từng thời kỳ Trong trường hợp người
Trang 29sử dụng lao động không thực hiện quy định này thì theo yêu cầu của người cóthẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, Ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, Khobạc nhà nước có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụnglao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này (Điều 138).Bên cạnh việc quy định cụ thể của Luật BHXH về các hành vi vi phạm nhưtrên.
Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 đã cụ thể hoá các mức xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tối đã được nâng lên75.000.000 đồng (Mức xử phạt tối đa quy định tại Nghị định 86/2010/NĐ-CP
là 30.000.000 đồng)
Ngoài ra, tại Thông tư liên tịch số NHNN ngày 18/02/2008, Nhà nước đã quy định về việc trích tiền từ tài khoảntiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền bảo hiểm xã hội chưa đóng,chậm đóng và tiền lãi phát sinh của số tiền chưa đóng, chậm đóng vào quỹBHXH Theo đó, hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạmhành chính mà người sử dụng lao động không tự nguyện truy nộp hoặc đã truynộp nhưng chưa đủ thì Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội đề xuấtvới người có thẩm quyền liên quan (gồm: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận,huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương, Chánh Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội,Chánh Thanh tra Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) áp dụng biện pháp buộctrích tiền từ tài khoản của đơn vi sử dụng lao động vi phạm nộp vào quỹ bảohiểm xã hội Biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP là “buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội chưa đóng, chậmđóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm(điều 26 Nghị định 95)
03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-Đặc biệt Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội thông quangày 27/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016, đã bổ sung 03 điềuluật quy định tội danh riêng đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
Trang 30vực BHXH: Điều 214 quy định về Tội gian lận BHXH, BHTN; Điều 215 quyđịnh về Tội gian lận BHYT và Điều 216 quy định về Tội trốn đóng BHXH,BHYT, BHTN Đây là quy định được người lao động kỳ vọng sẽ hạn chế đượctình trạng cố tình trục lợi vi phạm về BHXH, BHYT, BHYT hiện nay.
Những hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội được quy định đối vớicác loại chủ thể: người sử dụng lao động, người lao động, cơ quan bảo hiểm xãhội và các cơ quan, tổ chức khác
- Nhận dạng những hành vi vi phạm chủ yếu hiện nay:
+ Thứ nhất, đối với chủ sử dụng lao động: Với vai trò là một bên tham gia
quan hệ bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động phải thực hiện nhiệm vụ củamình theo quy định của pháp luật là đóng bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, tình trạng
vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động đang diễn
ra ngày càng tăng ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến quyền lợi của ngườilao động, vì người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội thì người laođộng sẽ không được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội Để hạn chế tình trạngnày, các hành vi vi phạm đã được liệt kê cụ thể, thuận lợi cho việc xử lý, gồm:Hành vi không đóng bảo hiểm xã hội cho toàn bộ người lao động thuộcdiện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;
Hành vi đóng bảo hiểm xã hội không đủ số người thuộc diện tham gia bảohiểm xã hội bắt buộc
Hành vi đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không đúng mức quy định; Hành
vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
Những hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội là hành vi cố ýcủa người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ của mình, thể hiện sựthiếu trách nhiệm, thiếu quan tâm đến người lao động và không tôn trọng luậtpháp
+ Thứ hai, đối với người lao động: Hành vi thỏa thuận với người sử dụng
lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tham gia bảo hiểm xã hội lànhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động nhưng trong thực tế vẫn còn một
Trang 31bộ phận người lao động vi phạm "thoả thuận với người sử dụng lao động khôngtham gia” Nguyên nhân của tình trạng này là do hiểu biết về chính sách bảohiểm xã hội còn hạn chế, áp lực về thu nhập, việc làm, phụ thuộc vào người sửdụng lao động nên không dám đấu tranh, không được công đoàn bảo vệ và còn
do lợi ích trước mắt (không tham gia để không bị trích trừ lương) Về số lượngcác hành vi vi phạm của người lao động được liệt kê ít hơn so với hành vi viphạm của người sử dụng lao động nhưng trên thực tế, tính chất nghiêm trọnggần như không thua kém
+ Thứ ba, đối với tổ chức bảo hiểm xã hội và các tổ chức khác:
Với chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, nên
cơ quan bảo hiểm xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện Luậtbảo hiểm xã hội Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể có các vi phạm viphạm mà Luật cần ngăn chặn: Hành vi không cung cấp và hoặc cung cấp khôngđầy đủ, kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thựchiện bảo hiểm xã hội khi người lao động, tổ chức công đoàn, người sử dụng laođộng yêu cầu
- Các trường hợp phải truy đóng BHXH bắt buộc:
+ Không đóng BHXH cho người lao động; đóng không đủ số người thuộc
diện tham gia BHXH bắt buộc; đóng không đúng thời hạn quy định; đóngkhông đúng mức quy định
+ Đơn vị đóng BHXH bắt buộc chậm quá thời hạn theo quy định từ 30 ngày
trở lên thì phải đóng số tiền lãi tính trên số tiền BHXH bắt buộc Lãi suất tínhbằng lãi suất đầu tư quỹ BHXH hằng năm do BHXH Việt Nam công bố
1.3.3 Quản lý thu BHXH bắt buộc
Phân cấp quản lý thu
Giám đốc BHXH cấp tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức việc thựchiện thu BHXH và chỉ đạo cơ quan BHXH quận, huyện thu BHXH của tất cảcác đơn vị sử dụng lao động có đăng ký tài khoản và đóng trụ sở trên địa bàntỉnh
Trang 32Trụ sở chính của đơn vị sử dụng lao động đóng ở địa bàn nào thì đơn vịđăng ký tham gia BHXH tại địa bàn đó Chi nhánh của đơn vị đóng BHXH tạiđịa bàn nơi cấp giấy phép hoạt động cho chi nhánh.
Người lao động thuộc đối tượng tự đóng BHXH thì thực hiện đóng BHXHtại cơ quan BHXH quận, huyện nơi cư trú
Lập và giao kế hoạch hàng năm:
- Bảo hiểm xã hội quận, huyện: căn cứ vào tình hình thực hiện của nămtrước, 6 tháng đầu của năm và dựa vào khả năng mở rộng, phát triển đối tượngtrên địa bàn, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN năm sau (MẫuK11-TS) gửi 01 bản đến BHXH thành phố trước ngày 10/6 hàng năm
- Bảo hiểm xã hội thành phố: Phòng Thu lập 02 bản kế hoạch thu BHXH,BHYT, BHTN; Phối hợp với các phòng có liên quan lập kế hoạch kinh phí hỗtrợ công tác thu đối với các đối tượng do thành phố trực tiếp thu; tổng hợp toànthành phố, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT (Mẫu K01-TS), gửi BHXH
VN 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm
BHXH thành phố căn cứ vào dự toán thu BHXH, BHYT, BHTN củaBHXH Việt Nam để phân bổ kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN cho từng cơquan BHXH quận, huyện trước ngày 20 tháng 1 hàng năm
Quản lý tiền thu BHXH theo phân cấp:
Đơn vị sử dụng lao động và người lao động có thể đóng BHXH theo haiphương thức là chuyển khoản hoặc tiền mặt, cụ thể là đơn vị sử dụng lao động
có thể chuyển khoản vào tài khoản thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hànghoặc Kho bạc Nhà nước hoặc nộp tiền trực tiếp tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhànước
BHXH quận, huyện, BHXH thành phố chuyển toàn bộ số tiền đã thuBHXH, BHYT, BHTN kịp thời về tài khoản chuyên thu của BHXH cấp trêntheo quy định Số tiền thực thu BHXH, BHYT, BHTN là số tiền đã chuyển vàotài khoản chuyên thu của BHXH các cấp theo chứng từ báo có của ngân hàng,Kho bạc Nhà nước