Mặt khác, tiếng Việt không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của sinh viên người Khmer vì vậy những rào cản về ngôn ngữ trong quá trình học tập của là một trong những trở lực lớn ảnh hưởng đến hiệu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội – Viện
Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Huỳnh Văn Sơn
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình
Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Mạnh Tôn
Phản biện 3: PGS.TS Lê Thị Minh Loan
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Học
viện chấm luận án tiến sĩ họp tại Học viện Khoa
học xã hội – Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, 477 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Thực trạng nhu cầu về tri thức của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Tâm lý học xã hội số
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu là một trong những thành tố tâm lý quan trọng thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động học của người học Nhu cầu là
“trạng thái của cá nhân, xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực cá nhân” [23, tr190] Các công trình nghiên cứu về
nhu cầu và nhu cầu học tập đã chỉ rõ nhu cầu là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động của cá nhân [30], [97] Trong quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp, nhu cầu học tập trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của người học Nhu cầu học tập mang tính bức thiết cao thể hiện cụ thể ở việc người học nhận thức được tình trạng thiếu thốn tri thức, kỹ năng và những phẩm chất; nhận thức rõ ý nghĩa của tri thức, kỹ năng và phẩm chất đối với bản thân, người học mong muốn thỏa mãn tri thức, kỹ năng và phẩm chất thông qua hoạt động học tập Nhu cầu học tập được thỏa mãn chủ yếu thông qua hoạt động học tập Tính bức thiết của nhu cầu học tập còn thể hiện
ở chỗ người học nhận thức rõ phương thức thỏa mãn nhu cầu về tri thức, nhu cầu về kỹ năng và nhu cầu về phẩm chất trong hoạt động học tập Mức độ bức thiết càng cao càng thúc đẩy người học nỗ lực ý chí
để giải quyết nhiệm vụ học tập Hiệu quả học tập được đánh giá thông qua việc những nhu cầu học tập của người học được thỏa mãn
Nghèo đói là một trong những vấn đề thách thức cho sự phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của người dân tộc thiểu số nói riêng trong đó có dân tộc Khmer Đảng và nhà nước luôn quan tâm đầu tư phát triển vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số Cụ thể là chính sách xóa đói giảm nghèo thể hiện ở chương trình
135 và quyết định số 29/2013/QĐ-TTg [16]; Nghị quyết
57/2017/NQ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2017 về chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ
Trang 5trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người; Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn
2016 – 2020, định hướng đến năm 2030 Trong mục tiêu phát triển trí
lực “phấn đấu đến năm 2020, số sinh viên người dân tộc thiểu số (đại học, cao đẳng) đạt 130 đến 150 sinh viên/vạn dân (người dân tộc thiểu số)” Cũng tại Nghị quyết này có đề ra “tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 đạt trên 30%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu 25%; phấn đấu năm 2030 tỷ lệ tương ứng là 50% và trên 45% nâng vao kiến thức xã hội, kỹ năng sống, kỹ năng lao động và thông tin thị trường” [76]
Theo số liệu điều tra của Trung tâm nghiên cứu Miền Nam tại thời điểm năm 2012, với 1.362.778 người dân tộc thuộc nhóm dân tộc thiểu số, với 8 nhóm người, trong đó nhóm đông nhất là đồng bào Khmer chiếm 86,843% (1.183.476 người) [45] Với khoảng 1,2 triệu người Khmer sinh sống tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỉ trọng người Khmer có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo còn thấp Theo điều tra của tổng cục thống kê (2015) số người Khmer biết đọc, biết viết tiếng phổ thông chiếm 73% Trong số đó số người lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo từ sơ cấp nghề đến trình độ đại học trở lên chiếm tỉ lệ 3,5% [133]
Để giải quyết bài toán nghèo đói nhà nước luôn quan tâm đến việc nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào dân tộc Khmer nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL [135], [8], [11] Giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và chất lượng lao động người Khmer đã qua đào tạo nói riêng Giáo dục còn là một trong những biện pháp hiện thực hóa chủ trương chính sách của Đảng và nhà nhà nước đối với người dân tộc thiểu số trong đó có sinh viên người Khmer Trường đại học là một trong những dịch vụ xã hội đáp ứng công bằng xã
Trang 6hội trong học tập giữa các dân tộc Nhà trường cần phải biết rõ nhu cầu học tập của người học để đáp ứng nhu cầu học tập cho họ Hiện nay, có rất nhiều sinh viên người Khmer đang học tại các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long Chỉ tính riêng tại trường Đại học Cần Thơ, theo số liệu thống kê năm 2017 có khoảng 1753SV người Khmer theo học Số liệu khảo sát ban đầu cho thấy kết quả học tập của sinh viên người Khmer còn thấp Trong số 341 SV được điều tra có khoảng 38/341 SV đạt kết quả học
tập“xuất sắc” và “giỏi” chỉ chiếm 10,9% Số SV còn lại (304/341 SV) đạt
kết quả học tập từ khá trở xuống Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một trong những nguyên nhân cơ bản là do nhu cầu học tập của sinh viên còn thấp Người học chưa nắm vững phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập đồng thời các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của SV người Khmer Nhu cầu học tập chỉ
có thể được thỏa mãn thông qua hoạt động học tập tích cực Việc thỏa mãn nhu cầu học tập của sinh viên chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan Mặt khác, tiếng Việt không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của sinh viên người Khmer vì vậy những rào cản về ngôn ngữ trong quá trình học tập của là một trong những trở lực lớn ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của sinh viên người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu “Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer
vùng Đồng bằng sông Cửu Long” để đề xuất những biện pháp hữu
hiệu nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên người Khmer là vấn đề có tính cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập này Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục góp phần nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 72.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Tổng quan nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer; – Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer; – Làm rõ thực trạng nhu cầu học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long;
– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý –sư phạm góp phần nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long – Tổ chức thực nghiệm khoa học các biện pháp tác động tâm lý –
sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về phạm vi nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu của luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Trong phần thực trạng nhu cầu học tập của SV người Khmer nghiên cứu của luận án chỉ quan tâm đến một số biểu hiện của nhu cầu học tập thể hiện ở mức độ bức thiết, mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập
- Trong phần các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của SV người Khmer chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số yếu tố: mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập, triển vọng xã hội, nhà trường, gia đình
- Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục nâng cao nhu cầu học tập
3.2.2 Giới hạn về phạm vi địa bàn nghiên cứu
Trang 8Luận án chỉ tập trung nghiên cứu khách thể là SV người Khmer của 04 trường bao gồm: ĐHCT, ĐHYDCT, ĐHAG, ĐHTV
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu nhu cầu học tập của SV người Khmer dựa vào các nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, nguyên tắc phát triển,
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu tài liệu -văn bản; quan sát; bảng hỏi; phỏng vấn sâu; chuyên gia; trường hợp điển hình; thực nghiệm tác động; thống kê
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
5.1 Về mặt lý luận
Đóng góp mới của luận án là làm sáng tỏ khái niệm nhu cầu học tập của sinh viên và những biểu hiện cụ thể của nó ở mức độ bức thiết và hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập
5.2 Về mặt thực tiễn
Đóng góp mới trong nghiên cứu thực tiễn của luận án là đã phân tích và nêu ra một số nhận xét về thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất và thực nghiệm được 4 biện pháp gợi lên khả năng rèn luyện nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer có thể góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên người Khmer và đóng góp vào sự phát triển môn Tâm lý học sư phạm
6 Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về mặt lý luận
Kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, từ góc độ tâm
lý học nghiên cứu này đã bổ sung, kiểm chứng và hoàn thiện về mặt lý luận nhu cầu học tập, làm sáng tỏ khái niệm nhu cầu học tập của sinh viên và biểu hiện cụ thể của nó ở các mặt tính bức thiết và hành vi thỏa
Trang 9mãn nhu cầu học tập Khẳng định lại các yếu tố mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng, triển vọng xã hội, nhà trường, gia đình có ảnh hưởng đến nhu cầu học tập nói chung và nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer nói riêng Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung thêm lý luận về tâm lý học sư phạm và tâm lý học dân tộc
6.2 Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu của luận án đã làm rõ thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long có những biểu hiện chung nhất là những đòi hỏi mang tính bức thiết và biểu hiện
cụ thể thông qua hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã chỉ ra một số biện pháp nâng cao nhu cầu học tập cho sinh viên người Khmer như: nâng cao nhận thức về sự thiếu hụt tri thức
và ý nghĩa của tri thức trong chương trình đào tạo đối với nghề nghiệp tương lai; khơi dậy niềm tin vào bản thân trong học tập cho sinh viên người Khmer; hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và tạo bầu không khí tâm lý tích cực trong lớp học
- Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer đạt mức độ trung bình Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập Kết quả nghiên cứu gợi lên những biện pháp cụ thể thúc đẩy mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập cho sinh viên người Khmer Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các giảng viên
và sinh viên trong giảng dạy và học tập ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – nơi có nhiều sinh viên người Khmer đang theo học
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương:
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU
VÀ NHU CẦU HỌC TẬP
Trang 101.1 Nghiên cứu về nhu cầu
1.1.1 Nghiên cứu nhu cầu được xem xét dưới góc độ bản năng
Đại diện cho xu hướng này có các tác giả như: W Koller (1887 – 1967), E.L.Thorndike (1874 – 1949), N.E Miller, Freud (1856 – 1939), Mc.Dougall (1871 - 1938), Clark Leonard Hull (1884 – 1952), Erich Fromm (1900 – 1980), Maslow (1908 – 1966), H.Murray (1893 – 1988)…[71], [30], [64], [7], [32], [97], [5], [121]
1.1.2 Nghiên cứu nhu cầu được xem xét dưới góc độ nhu cầu là nguồn gốc là động lực của tính tích cực cá nhân
Đại diện cho xu hướng giải thích nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân có các tác giả như: D N Uznatze, A.G Kovaliov, X.L Rubinstein, A.N Leonchive (1903 – 1979), A.N Dernhitrenko, N.V Gontrancov, P.V Ximonov, P A Ruđich, B.Ph.Lomov (1927 – 1989), V.G.Axeev, Phạm MinhHạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và một số tác giả khác [87], [32], [9], [4], [9], [64], [30], [80], [34], [44], [20], [29], [59], [68], [62], [48], [2] [103], [96], [56]
1.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập
1.2.1 Nghiên cứu nhu cầu học tập xuất phát từ bản thân người học
- Hướng nghiên cứu nội dung của nhu cầu học tập có các tác giả như Nicolaikuzan, Fourier, L.I.Bozovich, B.B.Davudov,
V.A.Krutetxki, Petrovxki, Diahann Gallard, Katherme M Cartmell, Bernie Trilling, Diahann, Nguyễn Văn Lũy, Hoàng Thị Thu Hà, Trần
Trang 11Fox, David Frost, Leslie Honour, John MacBeath, Robert McCormick, Bethan Marshall, David Pedder, Richard Procter, Sue Swaffield and Dylan Wiliam và nhiều tác giả khác [30, 12 -14], [72], [125], [119]
- Hướng nghiên cứu nhu cầu học tập thể hiện ở khía cạnh bản chất của hoạt động học có các tác giả Nguyễn Quang Huỳnh, Nguyễn
Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Đản, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị, Hoàng Oanh,
Đỗ Thị Châu, Hoàng Thanh Thúy, Phan Hồng Vinh và một số tác giả
1.3 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số
1.3.1 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu số
Nghiên cứu nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu
số có các tác giả Sin – A Lee, Lynne M Borden, Joyce Serido, Daniel
F Perkins (2009), Trần Thị Thị Huyền (2010), Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở II phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) đã viết tài liệu nghiên cứu về nhu cầu học tập của học sinh và trẻ em gái dân tộc, chương trình giáo dục của Unicef (2011) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo, Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế - môi trường (2011) và tác giả Tonic Maruatona
1.3.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số
Trang 12Nghiên cứu các khía cạnh nhu cầu học tập của SV người dân tộc thiểu số có thể kể ra một số tác giả như Nguyễn Thị Hoài [43], Keti Heitner và Kenneth C Sherman [124], Moise’s Prospero, Amy Catherine and Shetal Vohra – Gupta [127], Mã Ngọc Thể [92], Billy Wong [116]
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Tính đến thời điểm này, các nghiên cứu về nhu cầu học tập của
SV người Khmer vùng ĐBSCL chưa thật nhiều Nhằm góp phần hiện thực hóa nghị quyết 52 của Đảng về phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số và nâng cao chất lượng đào tạo SV vùng ĐBSCL nói chung và
SV người Khmer nói riêng Nghiên cứu của luận án tìm hiểu nhu cầu học tập của SV người Khmer biểu hiện qua mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập; tìm ra những yếu tố tác động đến nhu cầu học tập trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp tâm lý – giáo dục nâng cao nhu cầu học tập của sinh người Khmer là cần thiết
2.3 Nhu cầu học tập
Nhu cầu học tập là những đòi hỏi bức thiết về tri thức, về kỹ năng học tập, về phẩm chất của người học để đáp ứng yêu cầu học tập
2.4 Sinh viên người Khmer
Điểm đặc trưng của SV người Khmer là mang đậm nét tính cách dân tộc như: tính thật thà, chất phác, khiêm tốn, dễ tin, nhưng cũng có
Trang 13lòng tự trọng và ý thức dân tộc cao Có tính phóng khoáng nhưng cũng dễ
tự ty mặc cảm Có tinh thần đoàn kết, tính tập thể gắn bó với cộng đồng nhưng cũng dễ cách ly, biệt lập với cộng đồng Phật giáo Nam tông, sư sãi
có vai trò, vị trí hết sức đặc thù trong cộng đồng dân tộc Khmer [12]
2.5 Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
Nhu cầu học tập của SV người Khmer là những đòi hỏi bức thiết
về tri thức, về kỹ năng học tập và về phẩm chất của người học cần được thỏa mãn nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập
Nghiên cứu của luận án dựa trên những cơ sở khoa học sau đây
để nghiên cứu nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL: thứ nhất, căn cứ vào nội hàm của khái niệm nhu cầu thứ hai, căn cứ vào kết
quả khảo sát 341 SV người Khmer mang tính phát hiện ban đầu nhu cầu học tập của nhóm SV này
2.5.1 Tính bức thiết trong nhu cầu học tập
2.5.1.1 Tính bức thiết thể hiện ở nhu cầu về tri thức
Nghiên cứu mức độ bức thiết nhu cầu về tri thức nghiên cứu của luận án giới hạn ở những kiến thức sau: giáo dục quốc phòng; đại cương; cơ sở ngành; khoa học chuyên ngành; tâm lý học; giao tiếp; ngoại ngữ; công nghệ thông tin; pháp luật; tôn giáo; âm nhạc; thống kê toán học; lịch sử - địa lý; thẩm mỹ; phương pháp học; triết học; văn hóa các dân tộc; môi trường; y tế chăm sóc sức khỏe sinh sản
2.5.1.2 Tính bức thiết thể hiện ở nhu cầu về kỹ năng học tập
Nghiên cứu mức độ bức thiết nhu cầu về kỹ năng học tập của
SV người Khmer, chúng tôi giới hạn ở một số kỹ năng cụ thể liên quan đến kỹ năng học tập và những kỹ năng định hướng phát triển nghề nghiệp: chuyên môn liên quan đến nghề nghiệp; lập kế hoạch học tập; thu thập thông tin; xử lý thông tin; giải quyết nhiệm vụ học tập; nhận thức bản thân; quản lý thời gian; quản lý cảm xúc; sử dụng công nghệ thông tin; nghiên cứu khoa học; giao tiếp bằng ngoại ngữ; ra quyết