- Nguyên tắc phát triển: bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý là quá trình liên tục tạo ra những cấu tạo tâm lý mới vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những dữ liệu và kết quả trong luận án là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Phượng
Nguyễn Thị Hải
Trang 4tôi từ những ngày tôi bước chân vào Học viện Khoa học Xã hội Trong quá trình được tiếp xúc, tôi cảm nhận thầy cô đã hết lòng chỉ bảo cho học trò những điều ý nghĩa nhất và sâu sắc nhất Với luận án của tôi, thầy cô đã hết sức tận tâm chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu Thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án này
Các thầy cô là giảng viên, nhà khoa học tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Tâm lý học, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Y dược Cần Thơ, Đại học
An Giang, Đại học Trà Vinh, đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá
trình nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn, quan sát và thực nghiệm
Các sinh viên năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba của Trường Đại học Cần
Thơ, Đại học Y dược Cần Thơ, Đại học An Giang, Đại học Trà Vinh đã ủng
hộ, nhiệt tình tham gia vào quá trình nghiên cứu, trở thành nguồn động lực thúc đẩy tôi hoàn thành luận án này
Đặc biệt tôi xin dành lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học của tôi là Phó Giáo sư Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn trong thời gian qua đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình lựa chọn vấn đề nghiên cứu, tổ chức
nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2018
Nguyễn Thị Hải
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU HỌC TẬP 8
1.1 Nghiên cứu về nhu cầu 8
1.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập 13
1.3 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số 27
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER 35
2.1 Nhu cầu 35
2.2 Học tập 44
2.3 Nhu cầu học tập 49
2.4 Sinh viên người Khmer 60
2.5 Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer 62
2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập 75
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER 85
3.1 Tổ chức nghiên cứu 85
3.2 Phương pháp nghiên cứu 89
3.3 Thang đánh giá nhu cầu học tập 97
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 100
4.1 Thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long 100
4.2 Thực trạng tương quan các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long 120
4.3 Nghiên cứu trường hợp điển hình 130
4.4 Biện pháp tác động tâm lý nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long 134
KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐÉN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 62 ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
3 ĐHCT : Đại học Cần Thơ
4 ĐHYDCT : Đại học Y dược Cần Thơ
5 ĐHAG : Đại học An Giang
Trang 7Bảng 3.2 Các biện pháp tác động tâm lý nâng cao nhu cầu học tập cho sinh viên người
Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long 94
Bảng 3.3 Tiêu chí đánh giá nhu cầu học tập 97
Bảng 3.4 Thang điểm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập 98
Bảng 3.5 Độ tin cậy của thang đo 99
Bảng 4.1 Thực trạng chung nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long 100
Bảng 4.2 Mức độ bức thiết nhu cầu về tri thức của SV người Khmer 102
Bảng 4.3 Mức độ bức thiết nhu cầu về kỹ năng học tập của SV người Khmer 105
Bảng 4.4 Mức độ bức thiết nhu cầu về phẩm chất của SV người Khmer 109
Bảng 4.5 Mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập của SV người Khmer 112 Bảng 4.6 Tổng hợp nhu cầu học của SV người Khmer 116
Bảng 4.7 Tương quan mức độ bức thiết, mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL 117
Bảng 4.8 So sánh nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL theo các biến số 118
Bảng 4.9 Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer so với sinh viên người Kinh
119
Bảng 4.10 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với mục đích học tập 120
Bảng 4.11 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với hứng thú học tập 121
Bảng 4.12 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với niềm tin vào bản thân trong học tập 122
Bảng 4.13 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với cảm xúc hài lòng trong học tập 124
Bảng 4.14 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với triển vọng ngành học 126
Bảng 4.15 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với nhà trường 127 Bảng 4.16 Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với gia đình 129
Trang 8Bảng 4.19 ĐTB trước và sau tác động theo từng biện pháp 141
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỀU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phân bố chuẩn nhu cầu học tập của SV người Khmer 98 Biểu đồ 4.1 Tổng hợp nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer biểu hiện ở mức độ bức thiết 111 Biểu đồ 4.2 Nhu cầu học tập của SV người Khmer 116 Biểu đồ 4.3 ĐTB nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer trước và sau tác động 140 Biểu đồ 4.4 ĐTB nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer sau tác động các biện pháp liên tục 144
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu là một trong những thành tố tâm lý quan trọng thúc đẩy tính tích cực
trong hoạt động học tập của người học Nhu cầu là “trạng thái của cá nhân, xuất phát từ
chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó
là nguồn gốc tính tích cực cá nhân” [23, tr190] Các công trình nghiên cứu về nhu cầu
và nhu cầu học tập đã chỉ rõ nhu cầu là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động của cá nhân [30], [97] Trong quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp, nhu cầu học tập trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của người học Nhu cầu học tập mang tính bức thiết cao thể hiện cụ thể ở việc người học nhận thức được tình trạng thiếu thốn tri thức, kỹ năng và những phẩm chất; nhận thức rõ ý nghĩa của tri thức, kỹ năng và phẩm chất đối với bản thân người học mong muốn thỏa mãn tri thức, kỹ năng và phẩm chất thông qua hoạt động học tập Nhu cầu học tập được thỏa mãn chủ yếu thông qua hoạt động học tập Tính bức thiết của nhu cầu học tập còn thể hiện ở chỗ người học nhận thức rõ phương thức thỏa mãn nhu cầu về tri thức, nhu cầu
về kỹ năng và nhu cầu về phẩm chất trong hoạt động học tập Mức độ bức thiết càng cao càng thúc đẩy người học nỗ lực ý chí để giải quyết nhiệm vụ học tập Hiệu quả học tập được đánh giá thông qua việc những nhu cầu học tập của người học được thỏa mãn
Nghèo đói là một trong những vấn đề thách thức cho sự phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của người dân tộc thiểu số tại vùng này nói riêng trong đó có dân tộc Khmer Đảng và nhà nước luôn quan tâm đầu tư phát triển vùng đặc biệt khó khăn - vùng dân tộc thiểu số Cụ thể là chính sách xóa đói giảm nghèo thể hiện ở chương trình 135 và quyết định số 29/2013/QĐ-TTg [16]; Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030 Trong mục tiêu
phát triển trí lực có nội dung “phấn đấu đến năm 2020, số sinh viên người dân tộc
thiểu số (đại học, cao đẳng) đạt 130 đến 150 sinh viên/vạn dân (người dân tộc thiểu số)” Cũng tại Nghị quyết này có đề ra “tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 đạt
Trang 10trên 30%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu 25%; phấn đấu năm 2030 tỷ lệ tương ứng là 50% và trên 45% nâng vao kiến thức xã hội, kỹ năng sống, kỹ năng lao động và thông tin thị trường” [76] Theo số liệu điều tra của
Trung tâm nghiên cứu Miền Nam tại thời điểm năm 2012, với 1.362.778 người dân tộc thuộc nhóm dân tộc thiểu số thì nhóm đông nhất là đồng bào Khmer chiếm 86,843% (1.183.476 người) [45] Nghị quyết 57/2017/NQ-CP ngày 09 tháng 05 năm
2017 về chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người Với khoảng 1,2 triệu người Khmer sinh sống tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỉ trọng người Khmer có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo còn thấp Theo điều tra của tổng cục thống kê (2015) số người Khmer biết đọc, biết viết tiếng phổ thông chiếm 73% Trong số đó số người lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo từ sơ cấp nghề đến trình độ đại học trở lên chiếm tỉ lệ 3,5% [133] Giải quyết bài toán nghèo đói, nhà nước luôn quan tâm đến việc nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào dân tộc Khmer nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL [135], [8], [11]
Giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và chất lượng lao động người Khmer đã qua đào tạo nói riêng Giáo dục còn là một trong những biện pháp hiện thực hóa chủ trương chính sách của Đảng và nhà nhà nước đối với người dân tộc thiểu số trong đó có sinh viên người Khmer Trường đại học là một trong những dịch vụ xã hội đáp ứng công bằng xã hội trong học tập giữa các dân tộc Nhà trường cần phải biết rõ nhu cầu học tập của người học để đáp ứng nhu cầu học tập cho họ Hiện nay, có rất nhiều sinh viên người Khmer đang học tại các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long Chỉ tính riêng tại Trường Đại học Cần Thơ, theo số liệu thống kê năm 2017 có khoảng 1753SV người Khmer theo học Số liệu khảo sát ban đầu cho thấy kết quả học tập của sinh viên người Khmer còn thấp Trong số 341 SV được điều tra có khoảng
38/341 SV đạt kết quả học tập“xuất sắc” và “giỏi” chỉ chiếm 10,9% Số SV còn lại
(304/341 SV) đạt kết quả học tập từ khá trở xuống Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, một trong những nguyên nhân cơ bản là do sinh viên chưa tìm được lực thúc đẩy từ bên trong - nhu cầu học tập Rất khó để nâng cao hiệu quả học tập nếu người
Trang 11học chưa biết rõ sự thiếu hụt tri thức của bản thân, chưa nắm vững phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập đồng thời các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của SV người Khmer Nhu cầu học tập chỉ có thể được thỏa mãn thông qua hoạt động học tập tích cực Việc thỏa mãn nhu cầu học tập của sinh viên chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan Mặt khác, tiếng Việt không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của sinh viên người Khmer vì vậy những rào cản về ngôn ngữ trong quá trình học tập của là một trong những trở lực lớn ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của sinh viên người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu “Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” để đề xuất những biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả học tập của
sinh viên người Khmer là vấn đề có tính cấp thiết
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
– Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer; – Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer;
– Làm rõ thực trạng nhu cầu học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long;
– Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý –sư phạm góp phần nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
– Tổ chức thực nghiệm khoa học các biện pháp tác động tâm lý – sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Biểu hiện và mức độ nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Giới hạn về phạm vi nội dung nghiên cứu
Hoạt động học tập gắn với nhiều khía cạnh khác nhau vì vậy nhu cầu học tập cũng được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Trong phần thực trạng nhu cầu học tập của SV người Khmer nghiên cứu của luận án chỉ quan tâm đến một số biểu hiện của nhu cầu học tập thể hiện ở mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập
- Trong phần các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của SV người Khmer chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số yếu tố: mục đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập, triển vọng ngành học, nhà trường, gia đình
- Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục nâng cao nhu cầu học tập
3.2.2 Giới hạn về phạm vi địa bàn nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu khách thể là sinh viên người Khmer của 04 trường bao gồm: Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học An Giang, Đại học Trà Vinh Đây là các trường có sinh viên người Khmer theo học nhiều nhất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
- Nguyên tắc hoạt động: nhân cách của con người được hình thành trong hoạt
động Trong từng giai đoạn lứa tuổi, cá nhân tham gia rất nhiều hoạt động khác nhau trong đó hoạt động chủ đạo quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển trình độ nhân cách Hoạt động học tập mà đặc trưng là học nghề là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi sinh viên Vì vậy, nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer cần xem xét trong hoạt động học tập mới có thể phán đoán, lý giải nhu cầu học tập của họ
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan: nguyên tắc này đòi hỏi khi nghiên cứu
tâm lý phải xem xét những biểu hiện hành vi có thể quan sát được từ bên ngoài một cách
Trang 13khách quan Nguyên tắc này đảm bảo được tính trung thực khách quan và tránh được sai lầm trong quá trình nghiên cứu Để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong việc nghiên cứu nhu cầu học tập cần phải xây dựng, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sao cho phù hợp với đối tượng, địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Nguyên tắc phát triển: bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý là quá
trình liên tục tạo ra những cấu tạo tâm lý mới vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer phải nghiên cứu trong sự vận động, biến đổi, tương tác qua lại giữa các hiện tượng tâm lý với nhau Đồng thời phải đánh giá một hiện tượng tâm lý cụ thể trong một thời gian và không gian cụ thể
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
Phương pháp quan sát;
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
Phương pháp phỏng vấn sâu;
Phương pháp chuyên gia;
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình;
Phương pháp thực nghiệm tác động;
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
5.1 Về mặt lý luận
Đóng góp mới của luận án là làm sáng tỏ khái niệm nhu cầu học tập của sinh viên và những biểu hiện cụ thể của nó (tính bức thiết và hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập) có thể quan sát được
5.2 Về mặt thực tiễn
Đóng góp mới trong nghiên cứu thực tiễn của luận án là đã phân tích và nêu ra một số nhận xét về thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long; đề xuất và thực nghiệm được 4 biện pháp gợi lên khả năng rèn luyện nâng cao nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer có thể góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên người Khmer và đóng góp vào sự phát triển môn Tâm lý
Trang 146.2 Về mặt thực tiễn
Tuy sinh viên người Khmer có những đặc trưng riêng là người dân tộc thiểu số nhưng nghiên cứu đã làm rõ thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long có những biểu hiện chung nhất là những đòi hỏi bức thiết (về tri thức, về kỹ năng học tập, về phẩm chất của người học) và biểu hiện cụ thể thông qua hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã chỉ ra một
số biện pháp nâng cao nhu cầu học tập cho sinh viên người Khmer như: nâng cao nhận thức về sự thiếu hụt tri thức và ý nghĩa của tri thức trong chương trình đào tạo đối với nghề nghiệp tương lai; khơi dậy niềm tin vào bản thân trong học tập cho sinh viên người Khmer; hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và tạo bầu không khí tâm lý tích cực trong lớp học
- Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer đạt mức độ trung bình trong đó nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer chưa thực sự bức thiết vì vậy mà mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập chưa cao Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập Về mức độ bức thiết, sinh viên người Khmer hướng đến những kiến thức chuyên ngành, kiến thức về giao tiếp, kiến thức
về ngoại ngữ, kiến thức công nghệ thông tin, kỹ năng phỏng vấn, xin việc, kỹ năng
Trang 15thuyết trình, kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, muốn thể hiện sự tự tin trong học tập, mong muốn học phẩm chất thẩm mỹ trong học tập Về mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh viên người Khmer chấp hành tốt nội quy của trường,
ký túc xá, có chú ý học tập những phẩm chất từ bạn bè, tự giác giải quyết nhiệm vụ học tập Tuy nhiên, mức độ tích cực thực hiện những hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập liên quan đến nhu cầu về tri thức và nhu cầu về kỹ năng ở mức độ chưa cao như: nhu cầu tham gia nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn, nhu cầu nghiên cứu kỹ đề cương của từng học phần, nhu cầu phân tích, so sánh nhiều tài liệu
để rút ra hiểu biết cho bản thân ở mức thấp Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn
có thể cung cấp cho các trường đại học vùng đồng bằng sông Cửu Long xây dựng chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên nói chung và sinh viên người Khmer nói riêng đồng thời khối lượng tri thức, kỹ năng và phẩm chất thể hiện trong chương trình cần được xây dựng phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội Mặt khác, cần có những biện pháp cụ thể thúc đẩy mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập cho sinh viên người Khmer Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các giảng viên và sinh viên trong giảng dạy
và học tập ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – nơi có nhiều sinh viên người Khmer đang theo học
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU
VÀ NHU CẦU HỌC TẬP
1.1 Nghiên cứu về nhu cầu
1.1.1 Nghiên cứu nhu cầu được xem xét gắn với bản năng
Các nhà tâm lý học phương Tây xem xét nhu cầu gắn với bản năng đồng thời
có sự phân biệt nhu cầu bản năng của con người và nhu cầu bản năng của động vật Đại diện cho xu hướng này có các tác giả như: W Koller (1887 – 1967), E.L.Thorndike (1874 – 1949), N.E Miller, Freud (1856 – 1939), Mc.Dougall (1871 - 1938), Clark Leonard Hull (1884 – 1952), Erich Fromm (1900 – 1980), Maslow (1908 – 1966), H.Murray (1893 – 1988)…[71, tr41,199-120, 250-255], [30 , tr5-6], [64, tr26], [7, tr481- 500], [32], [97], [5], [121,]
V Koller, E Thorndike và N.E Miller dựa vào hành vi của động vật để lý giải nhu cầu và cho rằng nhu cầu quyết định hành vi Khi xem xét hành vi của động vật
Thorndike cho rằng “sự thỏa mãn”, “không thỏa mãn” và “sự khó chịu” đều liên
quan đến hành vi Trên cơ sở đó ông khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi Freud và Mc Dougall quan niệm bản năng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hoạt động Mọi nhu cầu của con người, đặc biệt là nhu cầu tình dục được thỏa mãn
bằng nhiều cách (hiện thực, giấc mơ) Hull chỉ ra rằng nền tảng của động cơ hành vi
là nhu cầu của cơ thể xuất hiện do sự lệch lạc điều kiện sinh học tối ưu Theo Erich
Fromm thì tất cả mọi người đều có 5 nhu cầu cơ bản: họ hàng (thiết lập mối quan hệ
tích cực và tiếp diễn với người khác), tính siêu nhiên (nhận thức về khả năng và tiềm năng của bản thân dẫn tới năng suất sáng tạo của cá nhân), cội nguồn (nhu cầu về
mối quan hệ liên tục và có ý nghĩa với cả môi trường xung quanh lẫn quá khứ), ý
thức về bản sắc (khao khát muốn biết mình là ai và có vai trò gì trong xã hội) và hệ
quy chiếu (nhu cầu tạo nên trật tự của nhận thức từ một thế giới của sự hỗn loạn khác) Maslow (1908 – 1966) đưa ra luận thuyết phân cấp nhu cầu, sắp xếp theo thứ
tự tăng dần từ thấp đến cao (nhu cầu sinh lý – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội –
nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự khẳng định) Maslow cho rằng trong quá trình
Trang 17phát triển của cá nhân, các nhu cầu này có quan hệ với nhau theo kiểu dạng tháp Mặc dù ông đã chỉ ra nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội nhưng những lý giải của ông về thứ bậc nhu cầu và đặt nhu cầu của cá nhân nằm ngoài mối liên hệ xã hội nên luận thuyết về nhu cầu của Maslow còn nhiều điểm cần bàn luận H Murray (1938) khẳng định nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về các cấp độ tùy vào từng giai đoạn phát triển của nhân cách Ông đã đưa ra bảng phân loại nhu cầu của con
người gồm 20 nhu cầu (1.nhu cầu chiếm ưu thế, 2 gây hấn, 3 tìm kiếm các mối quan
hệ bạn bè, 4 bỏ rơi người khác, 5 tự trị, 6 phục tùng thụ động, 7 về sự tôn trọng, ủng hộ, 8 thành đạt, 9 trở thành trung tâm của sự chú ý, 10 vui chơi, 11 ích kỷ,12 tính xã hội, 13 cần tìm người bảo trợ, 14 giúp người; 15 tránh bị trách phạt; 16 tự vệ; 17 vượt qua những thất bại; 18 an toàn; 19 ngăn nắp, trật tự; 20 phán đoán)
Trong đó Murray chia các nhu cầu thành hai loại là nhu cầu nguyên phát và nhu cầu thứ phát Nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định mang lại sự thỏa mãn cần tìm Bất kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thể sự căng thẳng nhất định, mà việc giải tỏa nó chỉ bằng cách thỏa mãn nhu cầu [129], [71], [114]
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu nhu cầu theo khuynh hướng xem nhu cầu gắn với bản năng đã thừa nhận vai trò của nhu cầu, phân biệt nhu cầu của con người và nhu cầu của con vật và đưa ra hệ thống nhu cầu cụ thể ở con người Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới mô tả và lý giải nhu cầu của con người liên quan đến bản năng Các tác giả chưa chỉ ra nhu cầu bản năng của con người khác biệt về chất so với nhu cầu bản năng của của động vật Nhu cầu của con người bao giờ cũng chịu sự quy định của điều kiện lịch sử xã hội Con người sống trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, vị thế xã hội khác nhau thì có những nhu cầu khác nhau
1.1.2 Nghiên cứu nhu cầu được xem xét dưới góc độ nhu cầu là nguồn gốc là động lực của tính tích cực cá nhân
Đại diện cho xu hướng giải thích nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân có các tác giả như: D N Uznatze, A.G Kovaliov, X.L Rubinstein, A.N Leonchive (1903 – 1979), A.N Dernhitrenko, N.V Gontrancov, P.V Ximonov, P A Ruđich, B.Ph.Lomov (1927 – 1989), V.G.Axeev, Phạm Minh
Trang 18Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và một số tác giả khác
D N Uznatze cho rằng nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và nhu cầu là yếu
tố quyết định tính tích cực của con người [87, tr143] A.G.Kovaliov thì cho rằng nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của cá nhân và các nhóm xã hội do họ nhận thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Theo ông, một nhu cầu khách quan nào đó trước khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con người ý thức [32, tr187 – 188], [9, tr110], [4, tr223-224] X.L.Rubinstein chỉ ra các mức độ
của nhu cầu (ý hướng tính tích cực thấp; ý muốn tính tích cực cao hơn; ý định tính
tích cực cao nhất) [32, 183 – 184] A.N Leonchive chỉ ra hai cấp độ của nhu cầu Ở
cấp độ thứ nhất nhu cầu là trạng thái tâm lý bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt động Nó thể hiện trạng thái thiếu thốn của cơ thể Nhưng do chưa có đối tượng thỏa mãn, nên cấp độ này nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng tâm lý và tạo ra sự kích thích chung Kết quả dẫn đến sự tìm tòi vô định hướng Ở
cấp độ thứ hai nhu cầu “gặp” đối tượng Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích
thích, hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng, hướng đến đối
tượng thỏa mãn nhu cầu Từ luận điểm trên cho thấy, nhu cầu theo đúng nghĩa phải
gắn liền với đối tượng của hoạt động Nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu
về một cái gì đó Cái gì đó có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan vì vậy nhu cầu của
cá nhân chỉ có thể gặp đối tượng khi tham gia hoạt động Ông mô tả nguồn gốc của nhu cầu cũng như mối quan hệ của nó với hoạt động bằng sơ đồ: hoạt động – nhu cầu – hoạt động Luận điểm này phù hợp với quan niệm của Mác về nhu cầu – nhu cầu của con người được sản xuất trong hoạt động [32, tr184-187], [9, tr111], [64 tr31] A.N.Dernhitrenko và N.V.Gontrancov xem nhu cầu là cốt lõi của nhân cách và khả năng thỏa mãn nó phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của chủ thể Chủ thể cần trang
bị thông tin có liên quan đến khả năng thỏa mãn nhu cầu, kết hợp với trạng thái tâm
lý của chủ thể để tạo thành tâm thế làm tăng năng lượng của nhu cầu [30, tr10] P.V.Ximonov thì cho rằng đặc điểm của nhân cách phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức thỏa mãn nhu cầu Nếu như trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thỏa mãn nó sẽ nảy sinh
Trang 19những rung cảm âm tính, phát triển năng lượng nhu cầu tuy nhiên kết quả hành vi lại không thuận lợi Ngược lại, những rung cảm dương tính làm giảm tập hợp hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu A.A Xmirnov cho rằng nhu cầu của con người được thể hiện dưới dạng các ước ao và ý hướng của chủ thể Các ước ao, ý hướng đó mang ý nghĩa báo hiệu sự xuất hiện của nhu cầu hay sự thỏa mãn của nhu cầu, nhờ vào nó
mà chủ thể điều chỉnh hoạt động của bản thân làm cho hoạt động ấy xuất hiện, tăng
cường hay làm yếu nó đi [9, tr111] P A Ruđich quan niệm “nhu cầu là trạng thái
tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhất định nào đó về một điều gì đó” [80, tr331] B.Ph.Lomov xem xét nhu cầu như là một thuộc tính căn bản của
nhân cách “nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương
tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình” [9, tr112] V.G.Axeev đưa ra quan điểm xúc cảm giá trị là lực thúc
đẩy hành động tích cực [32, 216 - 234]
Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức và các tác giả khác tuy có cách trình bày về nhu cầu khác nhau nhưng đều thống nhất vấn về nhu cầu ở một số khía cạnh như: khái niệm nhu cầu, phân loại nhu cầu, vai trò của nhu cầu Các tác giả chủ yếu dựa trên quan điểm của tâm lý học hoạt động khi xem xét nhu cầu với tư cách là thành tố trong xu hướng của nhân cách, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt
động của con người “nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Dần dần nó
được cá nhân nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự tồn tại
và phát triển của mình Lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động nhằm mục đích thỏa mãn chính nhu cầu này Nhờ vậy trong sự gắn bó với thế giới xung quanh, con người không phụ thuộc vào thế giới đó một cách thụ động, mà trái lại trong mối quan hệ này con người xuất hiện như một chủ thể hành động tích cực và sáng tạo” [22], [34, tr266], [102]
Ngoài ra các bài báo viết về nhu cầu được đăng trên các bài báo, tạp chí khoa học Nguyễn Sĩ Mạnh (2005) nghiên cứu nhu cầu trong nhân cách của người quân
nhân [69, tr57-58] Ngô Công Hoàn (2005) nghiên cứu nhu cầu đối với sự hình thành
Trang 20hành vi đạo đức ở trẻ em lứa tuổi mầm non [44, tr5-11] Hoàng Trần Doãn (2006)
nghiên cứu các cấp độ nhu cầu điện ảnh [20, tr59-63] Lưu Song Hà (2007) quan tâm nhu cầu của học sinh trung học cơ sở về quan hệ của cha mẹ đối với các em [29, tr14-16] Nguyễn Thị Liên (2007) đề cập đến nhu cầu được tư vấn sức khỏe sinh sản của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội [59, tr53-57] Nguyễn Thị Tuyết Mai (2008) chú ý đến nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý của cán bộ xã [68, tr37-41] Trần Hữu Luyến (2008) quan tâm đến nhu cầu học ngoại ngữ ở trường trung học phổ thông những năm đổi mới tại một số tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ [65, tr11-17] Nguyễn Phương Huyền (2008) tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ của sinh viên sư phạm trên
cơ sở đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho họ [48, tr23-26] Bùi Thị Vân Anh (2009) quan tâm đến nhu cầu giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội [2, 27-30] Nguyễn Xuân Thức và Lê Thị Thúy Bích (2009) quan tâm đến nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học [103, tr13-16] Nguyễn Văn Tuân (2009) nghiên cứu nhu cầu văn hóa tinh thần của bộ đội Ra đa ở các sư đoàn phòng không [105, tr20-28] Nguyễn Thị Lan và Bùi Thị Vân Anh (2010) chú ý nhu cầu văn hóa tinh thần của nông dân nghèo miền núi Tây Bắc [56, tr19]
Tóm lại, các bài viết về nhu cầu xoay quanh tìm hiểu biểu hiện của nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu Các tác giả quan tâm nhiều đến các nhu cầu tinh thần
là chủ yếu Nhu cầu là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân Nhu cầu là sự đòi hỏi về một điều gì đó mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu được hình thành trong hoạt động và biểu hiện cụ thể ở sự nhận thức rõ ràng về đối tượng cần được thỏa mãn và biểu hiện ở mức độ thực hiện hành vi tích cực trong hoạt động Nhu cầu tuy là nguyên nhân nảy sinh hành vi nhưng nhu cầu chỉ có thể được thỏa mãn trong hoạt động và ngay khi cá nhân tham gia hoạt động thì nhu cầu được động cơ hóa chính vì vậy mà sau khi nhu cầu xác định rõ đối tượng thì hàng loạt các nhu cầu khác nhau được nảy sinh Lúc bấy giờ hoạt động không chỉ là phương thức thỏa mãn nhu cầu mà còn là điều kiện nảy sinh nhu cầu: hoạt động – nhu cầu – hoạt động Những nghiên cứu này là cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng ĐBSCL
Trang 21Nhìn chung, các nghiên cứu về nhu cầu theo hướng xem nhu cầu gắn với bản năng và phân biệt nhu cầu của con người với nhu cầu của con vật đã có những đóng góp tích cực trong việc phát hiện nhu cầu của con người Tuy những lý giải về nhu cầu theo hướng này có nhiều vấn đề cần bàn luận nhưng nghiên cứu nhu cầu của Maslow
và Murray có sự đóng góp đáng kể làm cho nhu cầu của con người, nhu cầu được nhìn nhận phong phú đa dạng Các nghiên cứu có sự phân biệt nhu cầu vật chất với nhu cầu tinh thần tuy nhiên xem xét mức độ của nhu cầu theo thứ bậc từ thấp đến cao theo cách
lý giải của Maslow là chưa hợp lý bởi lẽ mỗi giai đoạn phát triển của cá nhân thì các nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần phát triển đan xen vào nhau Tùy vào phương thức thỏa mãn và giai đoạn phát triển tâm lý lứa tuổi mà mức độ của các nhu cầu ở mỗi cá nhân là khác nhau Mặc dù nhu cầu ban đầu của con người gắn với bản năng, là nguyên nhân nảy sinh hành vi thể hiện ở những nhu cầu sinh học nhưng nhu cầu của con người khác về chất so với nhu cầu của con vật Nhu cầu chính là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân Hoạt động không chỉ là phương thức thỏa mãn nhu cầu mà còn là điều kiện nảy sinh nhu cầu Nhu cầu của con người bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó, cái gì đó chính là đối tượng của nhu cầu; nhu cầu của con người khác về chất so với nhu cầu của con vật; nhu cầu ở mức độ cao biểu hiện ở ý thức rõ về sự thiếu hụt của đối tượng cần thỏa mãn nhờ đó mà thúc đẩy hành vi thỏa mãn nhu cầu trong hoạt động nói chung và hoạt động học tập nói riêng Tóm lại, những nghiên cứu trên đây về nhu cầu có những đóng góp quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu nhu cầu nói chung và nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer nói riêng Luận án này nghiên cứu nhu cầu học tập dựa theo hướng tiếp cận xem nhu cầu là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực trong hoạt động của cá nhân và nhu cầu được thỏa mãn trong hoạt động
1.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập
Học tập là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm cá thể nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm của lịch sử - xã hội nhất định vào trong kinh nghiệm cá nhân Học tập chỉ có thể đạt kết quả cao khi người học có nhu cầu học tập Nhu cầu học tập là nhu cầu tinh thần đặc trưng cho con người Nhu cầu học tập rất đa dạng và phong phú thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo giai đoạn lứa tuổi, nghề nghiệp, tính chất
Trang 22của hoạt động khác nhau Nhu cầu học tập có thể xuất phát từ bản thân người học do nhận thức rõ sự thiếu hụt về tri thức của bản thân, họ khao khát học tập để phát triển bản thân Nhu cầu học tập cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố tác động khác nhau trong đó có thể tổng quan nhu cầu học tập theo hai nhóm: nhu cầu học tập xuất phát từ bản thân người học và nhu cầu học tập bị chi phối bởi các yếu tố khách quan
1.2.1 Nghiên cứu nhu cầu học tập xuất phát từ bản thân người học
- Hướng nghiên cứu nội dung của nhu cầu học tập có các tác giả như Nicolaikuzan, Fourier, L.I.Bozovich, B.B.Davudov, V.A.Krutetxki, Petrovxki, Diahann Gallard, Katherme M Cartmell, Nguyễn Văn Lũy, Hoàng Thị Thu Hà, Trần Thị Minh Ngọc và một số tác giả khác [64], [30], [73], [115]
Nicolaikuzan đề cao vai trò của việc học và khích lệ nhu cầu học tập của người học Theo ông, việc khám phá chinh phục thiên nhiên cũng giống như con đường khám phá bản chất, quy luật của hiện thực khách quan bắt đầu từ lòng ham hiểu biết, từ nhu cầu học tập của con người Fourier quan tâm đến nhu cầu của người học và tùy vào nghề
nghiệp khác nhau mà hướng đến nhu cầu học tập của người học khác nhau“giáo dục
cần phải chú ý đến nhu cầu hiểu biết, xuất phát từ hoạt động công nghiệp cho nên bài học ở trường phải liên hệ trực tiếp liên hệ với những công việc trong xưởng thợ”
L.I.Bozovich cho rằng nhu cầu học tập hình thành sớm ở trẻ Nhu cầu này thể hiện ở mong muốn phản ánh hiện thực khách quan, hấp dẫn bởi những điều mới lạ Nhu cầu
ấy phát triển từ thấp đến cao Ở mức độ cao nhu cầu trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy trẻ chiếm lĩnh tri thức Mức độ nhu cầu càng ổn định thì trẻ càng tích cực khám phá tri thức B.B.Davudov phát hiện ra nhu cầu xuất hiện và hình thành từ sớm khi trẻ tham gia trò chơi đóng vai Nhu cầu học tập được hình thành và phát triển trong hoạt động học, khi trẻ lĩnh hội hệ thống kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập V.A.Krutetxki và A.V.Petrovxki xem xét nhu cầu học tập như là một trong những nhu cầu cơ bản (nhu cầu nhận thức thế giới xung quanh, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu trao đổi ý nghĩ) Nhu cầu này phát triển từ sớm khi trẻ bắt đầu nhận thức thế giới trong quá trình trẻ gặp mâu thuẫn khi khả năng thỏa mãn nhu cầu thấp so với mức độ nhu cầu học tập cao I.V.Dubrovina nghiên cứu về học sinh kém và
đã phát hiện ra rằng nhu cầu học tập và kết quả học tập có mối tương quan với nhau
Trang 23“việc chưa hình thành một hệ thống động cơ tích cực, bền vững đối với hoạt động học
có thể trở thành nguyên nhân chủ yếu của tình trạng học kém” [dẫn theo 30, 13]
Trong công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Văn Lũy (2001) đã chỉ ra rằng nguyên nhân học sinh học kém do chưa nhận thức rõ đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu, đồng thời nhu cầu nhận thức của học sinh học kém chưa ổn định do đó, nhu cầu
ấy chưa trở thành động lực thúc đẩy học sinh tích cực học tập vì vậy mà dẫn đến kết quả học tập kém Tác giả đã đề xuất một số biện pháp tác động sư phạm nhằm nâng cao mức
độ phát triển nhu cầu nhận thức của học sinh học kém bậc tiểu học, tăng cường và phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh Muốn nâng cao nhu cầu nhận thức ở học sinh đòi hỏi người giáo viên phải cố gắng, kiên trì, tin yêu và có trách nhiệm cao đối với học sinh [64] Hoàng Thị Thu Hà nghiên cứu mức độ nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm Trong công trình nghiên cứu của mình Hoàng Thị Thu Hà (2003) đã làm rõ thực trạng mức độ của nhu cầu nghề nghiệp của SV ngành sư phạm Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ nhu cầu học tập của SV sư phạm không đều ở ý hướng học tập, ý muốn học tập và ý định học tập Đa số SV có ý hướng học nghề sư phạm và mức
độ ý định học nghề sư phạm thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt nhu cầu học tập giữa SV khác nhau về giới tính nhưng có sự khác biệt nhu cầu học tập
ở SV các khối, ngành, khu vực và học lực Sự khác biệt nhu cầu học tập của SV các ngành tự nhiên, xã hội, ngoại ngữ phản ánh một thực tế nhu cầu nghề dạy học bị chi phối bởi tính chuyên môn và của nhu cầu xã hội về chuyên môn đó Tác giả cũng đã chỉ
ra nguyên nhân của mức độ nhu cầu học tập không đều chủ yếu do SV chưa ý thức rõ đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu về nghề dạy học Mặc khác, nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện học tập chưa kích thích sự phát triển nhu cầu học tập ở SV [30] Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trần Thị
Minh Ngọc (2009) nghiên cứu về “Nhu cầu thái độ học tập các môn lý luận chính trị”
[73] Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy SV chưa hứng thú học tập các môn lý luận chính trị dẫn đến kết quả học tập chưa cao
Bernie Trilling và Charles Fadel trong cuốn sách “Kỹ năng thế kỷ XXI: Học
tập vì cuộc sống trong thời đại của chúng ta” đã chỉ rõ người học cần học cách đổi
mới, học cách sống, học cách tư duy phê phán và giải quyết vấn đề, học kỹ năng công
Trang 24nghệ mới, học khả năng sáng tạo [115] Ngoài ra còn có tài liệu của Diahann Gallard, Katherme M Cartmell (2015) quan tâm đến động lực thúc đẩy nhu cầu học tập Các tác giả chỉ ra động lực chính là chìa khóa của học tập [122, 59-72]
Tùy theo đối tượng học tập khác nhau mà các tác giả xem xét nội dung của nhu cầu học tập ở góc độ khác nhau nhưng tựu trung lại nội dung của nhu cầu học tập luôn gắn với nội dung của hoạt động học tập Hoạt động nào sẽ có nội dung đó và nhu cầu gắn với hoạt động nào thì nội dung của nhu cầu sẽ gắn với nội dung của hoạt động đó Trên cơ sở nội dung của nhu cầu học tập luôn gắn với hoạt động học tập có thể định hướng cho việc nghiên cứu về nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL gắn với nội dung hoạt động học tập
- Hướng nghiên cứu phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập thể hiện ở tính tích cực trong hoạt động học tập có các tác giả như Skinner, Piaget, John Dewey, Albert
Bandura, trường phái Ghestalt,Vygotsky, A.N.Leonchiev, C.J Simister, Myron H Dembo, nhóm tác giả Mary James, Paul Black, Patrick Carmichael, Colin Conner, Peter Dudley, Alison Fox, David Frost, Leslie Honour, John MacBeath, Robert McCormick, Bethan Marshall, David Pedder, Richard Procter, Sue Swaffield and Dylan Wiliam và nhiều tác giả khác [30, 12 -14], [72], [125]
Nhu cầu học tập được biểu hiện cụ thể qua hành vi trong học tập Phát triển quan điểm của thuyết hành vi cổ điển, Skinner quan tâm mối quan hệ giữa hành vi và
hệ quả của chúng nên đã bổ sung công thức S – R bằng công thức S – R – C Những
hệ quả của hành vi được sử dụng để điều chỉnh hành vi học tập của người học Học tập theo quan điểm hành vi tạo tác đòi hỏi người học tự tạo ra hành động học nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Học tập nhằm đáp ứng nhu cầu của người học Đặc trưng thể hiện tính chủ động của việc học và học vì lợi ích của chính mình [72, tr42-44] Quan điểm nhận thức (J.Piaget) chỉ ra rằng người học có nhận thức được nhu cầu học tập của bản thân sẽ tự giác chủ động giải quyết nhiệm vụ học tập Người học có nhu cầu học tập luôn nhận thức rõ việc học của mình vì vậy mà bộ não luôn diễn ra quá trình
xử lý thông tin, khám phá ra tri thức mới nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc ảnh hưởng quyết định đến hành vi Con người tiếp thu thông tin bên ngoài, xử lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử
Trang 25Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: nhận biết, phân tích và
hệ thống hóa các dữ kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển hình thành các ý tưởng mới [72, tr29-32] John Dewey (1859 – 1952) với lý thuyết học tập thực dụng đã làm rõ ý nghĩa của học tập kiến tạo Việc học sẽ trở nên sai lầm nếu chỉ giới hạn vào việc học trừu tượng mà không chú ý đến hứng thú và động cơ học tập [54] Trên cơ sở lý thuyết nhận thức của Piaget, Bruner cho rằng người học phải là người tự lực, tích cực hành động tìm tòi khám phá đối tượng học tập để hình thành cho mình các nguyên tắc, các ý tưởng cơ bản từ các tình huống học tập cụ thể Bruner đề cập đến thái độ của người học trong lúc khám phá tri thức Người học cần có thái độ khám phá tri thức giống như các nhà khoa học khám phá ra tri thức mới Trong học tập khám phá, người học trải qua ba giai đoạn: đầu tiên
người học phải thao tác và hành động trên các tài liệu đã có (hành động phân tích), sau
đó hành động trên các hình ảnh về chúng (hành động mô hình hóa) và cuối cùng rút ra được các khái niệm, các quy tắc từ những mô hình đó (ký hiệu hóa) Vì thế trong học
tập khám phá người dạy cần cung cấp nhiều tình huống để người học có thể đặt câu hỏi khám phá và thực nghiệm cho đến khi tìm ra được các nguyên tắc, các ý tưởng, mối liên hệ cơ bản trong cấu trúc môn học Cần tổ chức cho người học tiến hành các
hành động học tập tương ứng với các hình thức biểu hiện của cấu trúc (hành động
phân tích, hành động mô hình hóa, hành động ký hiệu hóa), theo phương pháp chung
là suy luận quy nạp, nghĩa là từ các hành động trên các vật liệu cụ thể để rút ra các nguyên tắc chung [72, tr63] Đây là mô hình học tập được áp dụng rộng rãi trong tổ chức hoạt động học cho người học vì khi người học xác định rõ động cơ học tập và được khám phá phù hợp với trình độ nhận thức thì quá trình khá phá tri thức sẽ mang lại kết quả rất cao
Albert Bandura thì xuất phát từ luận điểm cho rằng không phải lúc nào hành
vi cũng được hình thành trực tiếp từ bên ngoài mà có thể hình thành từ quá trình quan sát, bắt chước hành vi mẫu Mô hình học tập nhận thức xã hội có hai điểm chú
ý: thứ nhất, hành vi của cá nhân không bị thúc đẩy bởi lực bên trong hay những kích
thích bên ngoài mà chịu sự tương tác bởi hành vi, các đặc điểm nhận thức, nhân
cách; thứ hai, học tập diễn ra hai quá trình là tiếp thu kiến thức (học tập qua hành
Trang 26động của bản thân) và thực hiện sự quan sát Từ quan điểm này hình thành nên hai
loại học tập: học tập qua hành động, qua trải nghiệm của bản thân và học tập bằng
quan sát hành động của người khác Các quá trình nhận thức đóng vai trò quan trọng
trong học tập quan sát xã hội [72, 46-52]
Trường phái Ghestalt chỉ ra cách thức học bằng kinh nghiệm “thử và sai”,
học tập bằng trực giác và học bằng cách tư duy hiệu quả Về cách thức học bằng kinh
nghiệm “thử và sai” các nhà tâm lý học Ghestalt tin rằng hoạt động của não có
khuynh hướng đi đến sự cân bằng Khuynh hướng cân bằng diễn ra một cách tự nhiên, liên tục trừ khi nó gặp vấn đề xảy ra gây nên một sự căng thẳng với các thuộc tính về động lực làm cho sinh vật tiếp tục hoạt động cho tới khi nó giải quyết được vấn đề Cách giải quyết vấn đề của sinh vật bằng cách thử giải pháp này cho đến giải pháp khác cho tới khi đạt được giải pháp thỏa đáng Điểm khác biệt của phương
pháp học tập bằng cách “thử và sai” của các nhà Ghestalt so với các nhà hành vi là ở
phương diện nhận thức thay vì xem xét nó dưới góc độ hành vi [7 tr 529 -532]
Lev Semyonovich Vygotsky xuất phát từ quan điểm hoạt động cho rằng“học
thực chất là quá trình trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm xã hội – lịch sử”; cơ chế học theo
hai con đường: con đường tự nhiên để lĩnh hội tri thức tiền khoa học và cơ chế lĩnh hội theo phương thức nhà trường để hình thành tri thức khoa học [72, 65-72] A.N.Leonchiev chỉ ra rằng học tập cũng là một hoạt động và hoạt động học tập là quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử Thực chất đó là quá trình tiến hành hoạt động Cuộc sống là một dòng các hoạt động và tại mỗi giai đoạn phát triển của cá nhân
có hoạt động giữ vai trò chủ đạo Một số quan điểm của A.N.Leonchiev có thể tóm
lược và vận dụng vào trong quá trình học tập như sau: thứ nhất, có hai dạng hành động
trong học tập: hành động tinh thần và hành động thực tiễn Hành động bên trong có
nguồn gốc từ hành động bên ngoài; thứ hai, cấu trúc của hoạt động có sáu thành tố là
đơn vị phân tử chứ không phải đơn vị hợp thành vì vậy các thành tố có thể chuyển hóa cho nhau, vì vậy xác định cấu trúc chức năng của hoạt động bao gồm sự chuyển hóa giữa các thành tố: hoạt động, hành động, thao tác tương ứng với sự chuyển hóa chức
năng của các đối tượng cần chiếm lĩnh: động cơ, mục đích, phương tiện; thứ ba, quá
trình phát triển của trẻ em là quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội - lịch sử do loài
Trang 27người tích lũy được qua các thế hệ Thực chất đó là quá trình tiến hành các hoạt động chủ đạo – là hoạt động quy định những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lí
và các đặc điểm tâm lí của nhân cách Vận dụng quan điểm này trong hoạt động học tập người học cần hình thành hành động học và thao tác học phù hợp trong Để hình thành hoạt động – hành động – thao tác học đòi hỏi phải hình thành trên cơ sở hình thành động cơ – mục đích – phương tiện học Để giải quyết vấn đề trên không chỉ dựa vào lý thuyết của A.N.Leonchiev về hoạt động mà còn dựa vào lý thuyết của P.Ia Galperin về các bước hình thành hành động trí óc và mô hình dạy học V.V Davudov [68, 72-88] Quan điểm hoạt động chỉ rõ nhu cầu học tập càng cao thì càng thúc đẩy cá nhân tích cực nỗ lực tham gia hoạt động để thỏa mãn nhu cầu học tập
Nghiên cứu dưới góc độ là phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập còn có tác giả Myron H Dembo và C.J.Simister Năm 2004 Myron H Dembo xuất bản cuốn
sách “Động cơ và chiến lược học tập thành công ở bậc đại học” trong đó tác giả
trình bày những chiến lược để thỏa mãn nhu cầu học tập trước hết người học cần hiểu rõ động lực thúc đẩy bản thân học tập, biết tự quản lý việc học của chính mình
Để đạt được những mục tiêu học tập như mong muốn người học cần biết quản lý thời gian đồng thời cần biết các phương thức học tập qua tài liệu, học từ giảng viên và biết cách chuẩn bị tốt cho kỳ thi [130] C.J.Simister (2007) thì quan tâm đến các kỹ năng để thỏa mãn nhu cầu học tập như: kỹ năng đặt câu hỏi (question); kỹ năng thông tin (information); tư duy phê phán (critical thinking); giao tiếp (communication); kỹ năng ghi nhớ (memory skills); ra quyết định (decision making)
và tư duy sáng tạo (creative thinking) Những nội dung nghiên cứu của tác giả được
trình bày trong tài liệu “Làm thế nào để dạy kỹ năng tư duy và kỹ năng học tập” [118] Nhóm tác giả trong cuốn sách “Học cách học: công cụ cho trường học” quan
tâm đến phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập thông qua đánh giá và lập kế hoạch
để học tập Bằng cách đánh giá chính mình, người học sẽ rút ra được những kinh nghiệm học tập nhất định Lập kế hoạch học tập không những là một trong các phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập mà đó còn là cách để kiểm soát quá trình học tập của bản thân theo đúng nhu cầu học tập [125, 14-24] Nhóm tác giả Chris Watkins, Eileen Carnell, Caroline Lodge, Patsy Wagner và Caroline Whalley đề cập
Trang 28đến cách thức để học tập hiệu quả được trình bày trong quyển sách “Học về học tập”
trong đó nhóm tác giả có chỉ ra những cách học ở trong trường và học ở ngoài trường [119]
Tóm lại, học tập với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu nhất định đòi hỏi người học cần biết rõ đối tượng cần thỏa mãn, nắm rõ các phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập và tích cực nỗ lực trong hoạt động học tập Nhu cầu học tập khó có thể thỏa mãn nếu người học chỉ biết đối tượng mình muốn học mà không biết phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập Nghiên cứu nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL, luận án này chú ý đến cả đối tượng của nhu cầu học tập đồng thời cũng quan tâm đến phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập biểu hiện cụ thể ở mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập
- Hướng nghiên cứu nhu cầu học tập thể hiện ở khía cạnh bản chất của hoạt động học có các tác giả Nguyễn Quang Huỳnh, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Đản, Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị, Hoàng Oanh, Đỗ Thị Châu, Hoàng Thanh Thúy, Phan Thị Hồng Vinh và một số tác giả khác [51, tr231-
234], [36, 57], [89], [1, tr42-47], [17, tr13-37; tr58 - 59], [96, tr 22]
Nguyễn Quang Huỳnh (2006) xem học thực chất là tự học Bản chất của học tập là quá trình chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người mình bằng cách tự nhận, xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình Thế giới xung quanh tác giả đề cập đến bao gồm cả quan niệm và phương pháp đặc trưng cho một môn học hoặc một nghề mà họ đang học Để có thể biến đổi bản thân mình đòi hỏi người học phải có năng lực hiểu Hiểu có nghĩa là cách mà người học nhận thức và phân biệt được những hiện tượng liên quan đến chủ thể Người học hiểu vấn đề, hiểu đúng, hiểu sâu, hiểu rộng vấn đề [51, tr231-234] Nguyễn Kế Hào – Nguyễn Quang Uẩn (2006) chỉ rõ học tập bản chất của hoạt động học là quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học nhằm thay đổi chính bản thân người học Quá trình học tập được thúc đẩy bởi nhiều động cơ khác nhau Tuy nhiên động
cơ đích thực là những động cơ xuất phát từ chính bản thân hoạt động [37, 57] Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (2007) chỉ rõ hoạt động học tập của SV có những đặc điểm là học tập có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động SV học
Trang 29tập là để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp phát triển những phẩm chất nhân cách của người chuyên gia tương lai; hoạt động học tập của SV diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn nào đó; phương tiện để tham gia hoạt động học tập là các thư viện, sách vở, phòng thực nghiệm với các thiết bị bộ môn; trạng thái tâm lý diễn ra trong học động học tập của SV với nhịp độ căng thẳng mạnh
mẽ về trí tuệ Họ phải chịu một sự quá tải và điều đó thể hiện rất rõ các kì kiểm tra, bảo vệ khóa luận, luận văn; hoạt động học tập của SV mang tính độc lập trí tuệ cao
Ở bậc đại học việc học tập được SV ý thức về mục đích học, ý thức rõ những nội dung tri thức, phẩm chất, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng cần thỏa mãn vì thế người học luôn chủ động tổ chức hoạt động học tập của bản thân Học tập là một quá trình nhận thức tích cực, chủ động trong việc tổ chức hoạt động học, thu thập thông tin, xử lý thông tin, vận dụng lý thuyết vào thực hành nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập để phát triển bản thân [89] Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu (2008) có nghiên cứu sâu về hoạt động học và tự học của SV Tác giả khẳng định học là hoạt động cơ bản của con người Hoạt động học là hoạt động có mục đích hướng trực tiếp vào nắm các tri thức và kỹ năng nhất định Để có thể học đạt hiệu quả đòi hỏi người học phải có những kỹ năng học tập cơ bản Tác giả còn chỉ ra rằng đối tượng của hoạt động học tập là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ Hoạt động học có chức năng là tái tạo những tri thức với mục đích là hướng vào thay đổi chính bản thân chủ thể hoạt động học
Để thực hiện hoạt động có kết quả đòi hỏi người học phải thực hiện những nhiệm vụ học tập cụ thể hay nói cách khác là thực hiện hành động học Người học không chỉ tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ mà còn tiếp thu chính tri thức của bản thân hoạt động học (cách học, phương pháp học) Điều kiện và phương tiện để đạt hiệu quả học tập không chỉ có những điều kiện bên ngoài (phương tiện vật chất) mà quan trọng hơn là những điều kiện bên trong (phương tiện tư duy) [1, tr42-47] Nguyễn Văn Đản (2012) nghiên cứu hoạt động học một cách hệ thống chỉ ra những đặc trưng, cấu trúc, hệ thống kỹ năng học cơ bản, phương pháp học tập và cách tổ chức hoạt động học hiệu quả Nhận thức là hoạt động cơ bản trong lao động nhận thức Hoạt động học với mục đích cuối cùng là nhằm phát triển các năng lực, phẩm chất cá
Trang 30nhân để người học có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, tự nuôi sống mình Học là một quá trình nhận thức có tính quy luật Học là một quá trình tự giác, tích cực nhận thức Người học có nhu cầu học tập thực sự mới có hứng thú, tích cực trong hoạt động học tập Giải quyết các mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng của cá nhân trong quá trình nhận thức là động lực của quá trình học tập Tác giả còn chỉ rõ nội dung học tập của người học không phải là những gì giáo viên dạy mà học sinh chỉ quan tâm đến mục đích học tập, nhu cầu học tập, hứng thú học tập đối với mình Người học nào cũng có nhu cầu học tập nhưng do hoàn cảnh khác nhau nên trong cùng một thời gian, các cá nhân có thể có nhu cầu bức xúc khác nhau Do điều kiện và sự nỗ lực vượt khó khác nhau dẫn đến có những nhu cầu học tập mà người học đạt được, có những nhu cầu học tập người học chưa đạt được Vấn đề là làm thế nào để khích lệ sự quan tâm của người học đối với các nhu cầu học tập ngày càng cao hơn [17, tr13-37; tr58-59] Hoàng Thanh Thúy và Phan Thị Hồng Vinh (2016) trong công trình nghiên cứu của
mình đã khẳng định bản chất của “học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc
lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện và dù trong tình huống nào thì trong bản thân sự học cũng đã chứa đựng sự tự học”[96, tr 22]
Có thể nhận thấy tuy mỗi quan điểm đều đề cập đến nhu cầu học tập ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng đều xuất phát từ yêu cầu của hoạt động học tập ở bậc đại học đòi hỏi SV không những học tri thức chuyên môn mà cần phải học tri thức của quá trình học hay nói cách khác là học cách học, học cách tư duy để có thể giải quyết nhiệm vụ hoc tập hiệu quả đồng thời đây cũng là nội dung học tập suốt đời Người học luôn là người chủ động trong việc tổ chức hoạt động học tập để có thể thỏa mãn nhu cầu học tập của bản thân Nhu cầu học tập chỉ có thể thỏa mãn thông qua hoạt động học tập Muốn tìm hiểu nhu cầu của học tập của SV người Khmer nhất thiết phải xem xét thông qua hoạt động học tập đồng thời thông qua hoạt động học tập nhu cầu học tập của họ cũng được nảy sinh
Tóm lại, nghiên cứu về nhu cầu học tập xuất phát từ bản thân người học đều chỉ rõ điểm xuất phát của tính tích cực trong hoạt động học tập của cá nhân là ở chỗ
Trang 31người học có nhu cầu học tập, xác định rõ đối tượng bản thân muốn học Nhu cầu học tập chỉ có thể được thỏa mãn trong hoạt động học tập và nhờ xác định rõ đối tượng muốn học mà nhu cầu có khả năng thúc đẩy tính tính tích cực trong hoạt dộng học tập của cá nhân Muốn học tập có kết quả đòi hỏi người học phải tích cực nỗ lực trong hoạt động học tập Muốn thúc đẩy tính tích cực trong học tập phải dựa trên nền tảng nhu cầu học tập mới phát huy tính tích cực cá nhân trong học tập và đạt kết quả học tập Đây là cơ sở lý luận góp phần định hướng nghiên cứu về nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL
1.2.2 Nghiên cứu nhu cầu học tập dưới góc độ là những yếu tố khách quan tạo điều kiện để thỏa mãn nhu cầu học tập
Nghiên cứu nhu cầu học tập theo hướng những điều kiện khách quan thỏa mãn nhu cầu học tập có các tác giả như: J.A.Komemenxki (1592 – 1670); J.J.Rousseau (1712 – 1778); Adolf Diesterweg; K.D.Usinxki (1824 – 1871), Carl Roger, Hồ Chí Minh, Võ Trung Hiếu, Nguyễn Thành Thống, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Trung Thanh, Hồ Ngọc Đại, Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn và nhiều tác giả khác [10, tr97], [58], [70], [41], [93], [107], [18]
J.A.Komemenxki yêu cầu người thầy phải tìm mọi cách để lôi cuốn, tạo hứng thú
để phát triển nhu cầu học tập ở người học “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi
tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”[19, 56] Đề cao tính tích cực của người học vì vậy J.A.Komemenxki đòi hỏi
người dạy phải tạo hứng thú cho người học [58, tr51] J.J.Rousseau đề nghị người thầy cần tôn trọng tính tự nhiên của trẻ em Muốn trẻ em phát huy tính sáng tạo việc dạy học
phải gắn với bản tính tự nhiên của trẻ “nhi đồng phải là nhi đồng, không nên biến nó
thành người lớn thu nhỏ” Adolf Diesterweg đề cao tính tự giác, độc lập của người
học và ông cho rằng, vai trò chủ yếu của người thầy là kích thích nhu cầu học tập
của người học từ đó lôi cuốn họ vào việc chiếm lĩnh đối tượng học tập K.D.Usinxki xem nhu cầu học tập là cơ sở duy nhất vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả Xuất phát từ quan điểm này, ông yêu cầu người thầy phải dạy cho người học biết cách định hướng trong hoạt động học của bản thân Mặt khác, ông quan niệm rằng học tập là quá trình lao động gian khổ vì vậy cần cho học sinh biết rằng phải nỗ lực
Trang 32bản thân Người học phải chú trọng việc ôn luyện “Học nhiều quên ít thì được nhưng
nếu vào và ra bằng nhau thì trong đầu óc chỉ còn lại con số không” [58, tr111] Carl
Rogers nhấn mạnh đến ý nghĩa của giáo dục không phải là dạy cho người học những
kiến thức khô khan mà phải đáp ứng nhu cầu và lòng mong muốn của con người “sự
học phải tác động vào đời sống thực tế, đáp ứng đúng nhu cầu và lòng mong muốn của con người” [10, tr97]
Hồ Chí Minh (1977) đề cao vai trò của học tập đối với việc phát huy tính tích
cực tự giác của người học, lấy tự học làm cốt “muốn học tập có kết quả tốt thì phải có
thái độ đúng và phương pháp đúng”[70, 88] Võ Trung Hiếu (1994) quan tâm đến
cách làm thế nào để học ít hiểu nhiều nên đã biên dịch tài liệu của L.J.Nason về những phương pháp sư phạm mới mẻ dành cho SV Trong tài liệu có trình bày những nội dung để học tốt như: học nghe, học đọc, học viết, cách làm bài kiểm tra [41]
Nguyễn Thành Thống (1996) trong cuốn sách “Làm việc có phương pháp – bí quyết
thành công của sinh viên học sinh” chỉ ra học là một quá trình ghi nhớ và trình bày các
điều kiện của việc ghi nhớ; những động tác để ghi nhớ và kỹ thuật để ghi nhớ những trường hợp cụ thể [93, tr111-139] Nguyễn Ngọc Quang (1998) quan niệm học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Nội dung học là toàn bộ khái niệm khoa học được cụ thể hóa
thành từng môn học Mỗi môn học bao gồm khối kiến thức nền tảng (hệ thống những
kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc về những cơ sở của khoa học tạo nên môn học) và
khối kiến thức hỗ trợ (những kiến thức, kỹ năng, thái độ của khoa học khác được huy
động vào để hỗ trợ cho lĩnh hội nội dung của khoa học nền tảng) [107, 57-68] Phạm
Trung Thanh (1999) quan tâm đến phương pháp học tập, nghiên cứu của SV đại học
Hồ Ngọc Đại (2000) đề cập đến cái và cách trong quá trình học [18] Trần Bá Hoành (2001) đã chỉ ra rằng cốt lõi của học là cách học và chức năng của dạy là dạy cách học, cốt lõi của phương pháp học là phương pháp tự học [46] Đỗ Thị Coỏng (2004) nghiên cứu những biểu hiện của tính tích cực và xem xét tính tích cực là một phẩm chất của nhân cách Dựa trên kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất biện pháp nâng cao tính tích cực trong học tập của SV là cần phải làm thay đổi nhận thức, nâng cao hứng thú nhận thức và thay đổi cách thức học tập [14] Nguyễn Cảnh Toàn đã bàn rất nhiều về vấn đề
Trang 33giáo dục và nhấn mạnh vai trò của tự học và khắc phục những trở lực trong tự học Những bài viết của tác giả đã được in bởi nhà xuất bản Lao động [112] Vũ Quốc Chung và Lê Hải Yến (2003) khẳng định việc học tập bao giờ cũng bao hàm yếu tố tự học Tác giả quan tâm đến những yếu tố nội lực và yếu tố ngoại lực để đạt hiệu quả tự học Trong đó tác giả có đề cập đến nhu cầu học tập và mục đích học tập rõ ràng, chính đáng sẽ là động lực mạnh mẽ giúp người học tăng thêm nghị lực và ý chí, kiên trì theo đuổi việc học thành công [15] Trần Thị Minh Hằng (2011) quan tâm đến các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến học tập [38, 105-117] Nguyễn Kim Quý (2004) đã có những tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về nhu cầu và chỉ ra nhu cầu trong công cuộc xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực lành nghề, đội ngũ trí thức Con người Việt Nam trong thời kỳ mới có nhu cầu cao hơn so với giai đoạn trước, trong đó có nhu cầu học tập Học tập suốt đời là một trong những nhu cầu giúp con người thỏa mãn nhu cầu thu nhận thông tin, tiếp thu tri thức, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng thành thạo những tri thức tiếp thu được vào công việc của mình, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp Đây cũng là cơ hội cho con người phát triển khả năng, khẳng định vị trí của mình trong xã hội [32, tr169 – 206] Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012) thì làm rõ mức độ thực hiện kỹ năng hợp tác học tập của SV Cao đẳng sư phạm [35] Nguyễn Thị Kim Liên (2012) nghiên cứu thực trạng rèn luyện những kỹ năng trong học tập như: nhóm kỹ năng tiếp cận các nguồn thông tin; nhóm kỹ năng xử lý thông tin; nhóm kỹ năng vận dụng thông tin; nhóm kỹ năng; nhóm kỹ năng quản lí hoạt động học tập [60]
Ngoài ra trong các bài báo khoa học bàn về học tập có các tác giả như: Trần
Văn Hiếu (1998) đề xuất quy trình làm việc độc lập với sách của SV có thực nghiệm kiểm chứng cho thấy tri thức và kỹ năng làm việc với sách của SV có sự nâng cao rõ rệt [40, tr25 – 26] Vũ Văn Tảo (2003) nghiên cứu những đặc điểm về học tập của người lớn như: tính mục đích đậm nét, tính thực tế cao, tính xây dựng, tính chủ động tích cực, học qua làm, học qua giải quyết vấn đề, có tính tự ti và tự tôn cao Bài viết cũng trình bày những điều kiện cần thiết cho việc học: tổ chức học; điều kiện vật chất và kĩ thuật; chính sách khuyến khích đối với việc học; đội ngũ giảng viên [88, tr12-13] Dương Đức Sáu (2007) khẳng định tự học, học thường xuyên, học suốt đời là trở thành nhu cầu tất
Trang 34yếu và học đại học là học cách tự học [81, 54-55] Ngô Công Hoàn (2005) đề cập đến nhu cầu đối với sự hình thành hành vi đạo đức ở trẻ em lứa tuổi mầm non Trong bài viết của mình, tác giả chỉ rõ chính nhu cầu tạo ra hành vi Nhu cầu được thỏa mãn bằng cách phương tiện, công cụ do xã hội lao động sáng tạo sẽ hình thành nên các hành vi xã hội Trần Hữu Luyến (2008) nghiên cứu nhu cầu học ngoại ngữ ở trường trung học phổ thông của một số tỉnh thành Bắc Bộ là rất cao đặc biệt là nhu cầu học tiếng Anh [65, tr 11 – 17] Đào Tam và Nguyễn Thị Dung (2013) đề xuất các biện pháp tạo nhu cầu học toán cho học sinh như: tạo ra những tình huống chứa đựng mâu thuẫn và khó khăn trên cơ sở khai thác tiềm năng của sách giáo khoa; tạo cơ hội để học sinh được khảo sát các trường hợp riêng, được luyện tập các hoạt động dự đoán, đặc biệt hóa, tương tự hóa, hoạt động biến đổi đối tượng nhằm làm bộc lộ những tri thức ẩn chứa trong các đối tượng; làm cho học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của toán học [86, tr3 – 10] Tóm lại các bài bào đề cập đến nhu cầu học tập của học sinh, SV và chỉ ra một số biện pháp tạo nhu cầu cũng như thúc đẩy nhu cầu học tập của người học
Nhìn chung, tổng quan nghiên cứu về nhu cầu học tập theo hướng những yếu tố khách quan như là điều kiện để thỏa mãn nhu cầu học tập của người học cho thấy các tác giả tuy khai thác nhu cầu học tập theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng tựu trung lại đều nhấn mạnh đến tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình học tập Muốn thỏa mãn nhu cầu học tập của bản thân tuy những điều kiện bên ngoài là quan trọng, là những điều kiện thuận lợi để nhu cầu học tập được thỏa mãn nhưng yếu tố chủ quan - điều kiện bên trong của nhu cầu học tập mới là yếu tố quyết định trực tiếp tính tích cực cá nhân trong học tập và kết quả học tập Người học khó đạt kết quả học tập tốt nếu thiếu những điều kiện bên trong như nhu cầu học tập, mục đích học tập Như vậy để có thể thỏa mãn nhu cầu học tập trước hết người học cần xác định rõ đối tượng cần thỏa mãn, nghĩa là những tri thức, kỹ năng, phẩm chất nào bản thân muốn học và để thỏa mãn những nhu cầu ấy phải thực hiện bằng phương thức nào? Hay nói khác hơn người học cần xác định rõ nhu cầu học tập của bản thân Đây là cơ sở là nguồn gốc của tính tích cực trong quá trình tham gia hoạt động học tập
Trang 35Tóm lại, nghiên cứu về nhu cầu học tập được nghiên cứu theo hướng là yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân người học và những điều kiện để thỏa mãn nhu cầu học tập như tính tích cực của cá nhân, điều kiện khách quan từ trường học đã góp phần làm
cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL Nhu cầu học tập là những mong muốn ham hiểu biết của người học, nhu cầu là những đòi hỏi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của người học vì vậy muốn học tập có kết quả người học phải nhận thức rõ nhu cầu học tập của bản thân
1.3 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số
Nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số là một trong những nhu cầu tinh thần Tuy nhiên, đa số người dân tộc thiểu số có mức sống thấp đồng thời họ phải tiếp cận ngôn ngữ phổ thông là tiếng Việt trong học tập không phải là tiếng mẹ đẻ Chính điều này là một trong những nguyên nhân SV người Khmer gặp khó khăn trong việc tiếp thu tri thức làm ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của họ Có thể tổng quan nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số ở hai nhóm lứa tuổi: nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu số và nhu cầu học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số trong đó có sinh viên người Khmer vùng ĐBSCL
1.3.1 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu số
Nghiên cứu nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu số có các tác giả Sin – A Lee, Lynne M Borden, Joyce Serido, Daniel F Perkins (2009), Trần Thị Thị Huyền (2010), Dự án phát triển giáo dục trung học cơ sở II phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) đã viết tài liệu nghiên cứu về nhu cầu học tập của học sinh và trẻ em gái dân tộc, chương trình giáo dục của Unicef (2011) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo, Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế - môi trường (2011) và tác giả Tonic Maruatona
Sin – A Lee, Lynne M Borden, Joyce Serido, Daniel F Perkins (2009) nghiên cứu khía cạnh của nhu cầu học tập trong chương trình học tập cộng đồng Với
490 khách thể tham gia nghiên cứu trong đó có 272 người da trắng, 100 người Châu
Á, 61 người Mỹ gốc Phi, 57 người Tây Ban Nha Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối tương quan của cảm giác an toàn, mối quan hệ và nhận thức về các kỹ năng xã hội của thanh niên dân tộc thiểu số có mối tương quan với chương trình thanh niên
Trang 36trong cộng đồng Trong đó người Mỹ gốc Phi có cảm giác an toàn, có mối quan hệ
và khả năng nhận thức kỹ năng xã hội trong chương trình thanh niên cộng đồng tốt hơn so với các dân tộc khác [132, tr235 – 255]
Trần Thị Huyền (2010) nghiên cứu khía cạnh của nhu cầu học tập ở góc độ là nhu cầu học đọc và viết tiếng Việt của học sinh lớp 1 người Khmer Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng học sinh lớp 1 người Khmer chậm biết đọc, viết tiếng Việt
do học sinh chưa được chuẩn bị tốt ở giai đoạn mẫu giáo, học sinh là con em của gia đình dân tộc thiểu số nên ít có nhu cầu quan tâm rèn luyện cho học sinh đọc và viết tiếng Việt vì đây không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ Mặt khác, nghiên cứu này cũng chỉ
rõ giáo viên cần biết cách hình thành kỹ năng đọc, viết tiếng Việt cho học sinh lớp 1
là người Khmer nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình học [50] Kết quả nghiên cứu này chỉ ra một thực tế học sinh người dân tộc thiểu số khi tham gia chương trình giáo dục phổ thông luôn gặp những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận ngôn ngữ
từ phía người dạy Tính đặc thù trong công tác dạy học ở những lớp học có học sinh
là người dân tộc thiểu số đòi hỏi giáo viên phải chú ý đến nét văn hóa riêng của từng học sinh
Chương trình nghiên cứu của của UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo (2011) nghiên cứu khía cạnh của nhu cầu học tập dưới góc độc là biện pháp thỏa mãn nhu cầu của người học Chương trình này đã thực hành giáo dục song ngữ trên
cơ sở tiếng mẹ đẻ nhằm hướng tới chương trình giáo dục có chất lượng và bình đẳng Kết quả học tập của học sinh tăng lên sau khi tham gia chương trình học tập theo hướng này [101]
Nghiên cứu của Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế và môi trường (iSEE) phối hợp với Care (2011) nghiên cứu trải nghiệm học tập của thanh thiếu niên dân tộc thiểu
số - nghiên cứu trường hợp tại Yên Bái (người Dao), Hà Giang (PàThén), Điện Biên Kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân người dân tộc thiểu số bỏ học sớm và tảo hôn là do có nguyện vọng làm việc xa nhà Đây là một trong những rào cản lớn nhất cản trở nhu cầu học tập của họ Mặt khác, người dân tộc ít tiếp cận với cơ hội học tập xuất phát từ sự định kiến về khác biệt tộc người Nghiên cứu này đã chỉ ra cần phải củng cố niềm tin về cơ hội học tập và nghề nghiệp cho người dân tộc thiểu số trên cơ
Trang 37sở đó tạo động cơ thúc đẩy cả phụ huynh và học sinh phấn đấu theo học Ngoài ra nhà nước cần hỗ trợ phương tiện để tạo điều kiện cho trẻ em dân tộc thiểu số đến trường học tập, có chính sách hỗ trợ ngay trong bản thân cộng đồng, họ tộc [104]
Dự án Phát triển giáo dục THCS II - Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2012) biên
soạn tài liệu “Nhu cầu học tập của học sinh và trẻ em gái dân tộc” Tài liệu đã chỉ ra
những nhu cầu đến trường của trẻ em gái dân tộc trong đó có trẻ em giá dân tộc Khmer, phân tích những khó khăn cản trở việc học tập của trẻ em gái từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo công bằng giới trong giáo dục THCS: tăng cường vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái; giáo viên cần hiểu tâm lí học sinh để có những tác động tích cực khuyến khích các em học tập; giáo viên, cha mẹ, bạn bè cần giúp đỡ các em học sinh dân tộc tự ý thức về khả năng học tập của bản thân và mức độ khó của việc học tập; tạo
cơ hội để học sinh chủ động trong việc học tập; tạo cho học sinh gắn bó với tập thể trong quá trình học tập; cần bộc lộ sự quan tâm và kỳ vọng cao đối với học sinh [49]
Tonic Maruatona (2015) nghiên cứu về việc tạo cơ hội cho trẻ em dân tộc thiểu số ở Botswana cơ hội học tập suốt đời Công trình nghiên cứu đã chỉ rõ học tập
là quyền lợi của mỗi người vì vậy mọi đối tượng trẻ em, thanh niên, người lớn cần học các kỹ năng sống để giải quyết những nhiệm vụ cá nhân và xã hội Đây cũng là cách cung cấp cho người dân tộc thiểu số các kỹ năng để cải thiện điều kiện sống, giảm tỉ lệ nghèo đói và tử vong trong cộng đồng dân tộc thiểu số hướng đến sự bình đẳng, hòa bình và dân chủ [133, tr 37 – 54]
Nhìn chung, các nghiên cứu về nhu cầu học tập của học sinh người dân tộc thiểu số đề cập nhiều đến tình trạng học sinh bỏ học và những khó khăn trong việc tiếp cận chương trình học tập của người dân tộc thiểu số xuất phát từ nhu cầu kiếm sống Mặt khác, rào cản về ngôn ngữ và tự định kiến về khác biệt các tộc người cũng
là nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với hoạt động học tập ở bậc đại học Nghiên cứu nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL cần chú ý đến yếu tố tạo cơ hội học tập, củng cố niềm tin vào bản thân trong học tập và cởi bỏ những rào cản tâm lý về tự định kiến xã hội các tộc người dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện cho người dân tộc thiểu số trong đó có SV người Khmer tiếp cận nhiều với
Trang 38cơ hội học tập nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam đồng thời tạo cơ hội bình đẳng và đảm bảo quyền được học tập của tất cả các dân tộc trong một cộng đồng các dân tộc Việt Nam
1.3.2 Nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số
Người Khmer là dân tộc thiểu số vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer cần lưu ý đến khía cạnh dân tộc trong việc thỏa mãn nhu cầu học tập Nghiên cứu các khía cạnh nhu cầu học tập của SV người dân tộc thiểu số có thể kể ra một số công trình nghiên cứu sau:
Nguyễn Thị Hoài (2007), nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của
SV năm thứ nhất người dân tộc thiểu số Kết quả nghiên cứu cho thấy SV người dân tộc thiểu số ở Đại học Tây Nguyên thích ứng chưa cao với hoạt động học tập Tốc độ thích ứng với hoạt động học tập của SV người dân tộc thiểu số còn chậm xuất phát từ
sự thiếu tự tin, chưa vượt qua rào cản về mặt tâm lý [43, tr33-37]
Keti Heitner và Kenneth C Sherman (2011) đã đưa ra những gợi ý về vai trò
của trường nghề trong việc phục vụ SV người dân tộc thiểu số cần chú ý: thứ nhất,
xây dựng chiến lược hòa nhập các dân tộc cùng nhau thực hiện các sáng kiến trong
nhóm SV bằng cách phân chia công việc cho nhóm SV dân tộc thiểu số; thứ hai, các
trường nghề cần làm cho SV các dân tộc hiểu rõ mức độ khả năng bản thân có thể
đem lại thành công trong nghề nghiệp cho chính họ; thứ ba, cần mở rộng mô hình
viện trợ tài chính để hỗ trợ việc thu nhận người học ở các nhóm dân tộc, sắc tộc khác nhau bằng cách tranh thủ các khoản trợ cấp của chính phủ liên bang, tiểu bang, địa phương và từ thiện tư nhân [124, 44 – 69]
Moise’s Prospero, Amy Catherine and Shetal Vohra – Gupta (2012), nghiên cứu ảnh hưởng của động cơ đối với thành tựu giáo dục: phát triển dân tộc khác nhau giữa các sinh viên thế hệ thứ nhất Mục đích của nghiên cứu này là để trả lời câu hỏi:
1 Tuổi có liên quan gì đến khía cạnh động lực?, 2 Liệu yếu tố động lực có giúp dự đoán điểm trung bình của SV năm thứ nhất và khía cạnh động lực có khác nhau giữa sinh viên ở các trường trung học, cao đẳng gốc Tây Ban Nha và không phải gốc Tân Ban Nha hay không? Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tuổi, dân tộc, động lực có
ảnh hưởng quan trọng đến thành tích học tập trong đó, giáo viên giữ vai trò quan
Trang 39trọng trong vấn đề giao thoa văn hóa giữa các SV dân tộc với tư cách là những người ủng hộ họ trong vai trò là một tham vấn viên Giáo viên giúp cho SV khám phá ra chi phí và lợi ích của việc theo đuổi đại học chẳng hạn như nhu cầu về tinh thần, các rào cản xã hội, hệ thống hỗ trợ [127, 100 – 119, 2012]
Mã Ngọc Thể (2016) nghiên cứu “thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với
hoạt động học tập” Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ phần lớn khả năng thích ứng của SV
dân tộc thiểu số trong hoạt động học tập ở mức độ khá trong đó khả năng thích ứng của họ biểu hiện qua hành vi chỉ đạt mức độ trung bình Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng SV người dân tộc thiểu số là những người có nhận thức và thái độ tốt nhưng do một số hạn chế về tâm lý dân tộc, các điều kiện sống và tính tích cực hoạt động giao tiếp đã tạo ra sự thích ứng trong hoạt động học tập thấp về mặt hành vi [92]
Billy Wong (2016) xuất bản cuốn sách về giáo dục “Khát vọng nghề
nghiệp và sinh viên các dân tộc thiểu số” trong đó tác giả trình bày sự khác
biệt của rào cản ở các nhóm dân tộc thiểu số và những mong muốn của thanh thiếu niên dân tộc thiểu số Các thanh thiếu niên và phụ huynh người dân tộc thiểu
số thường có thái độ tích cực về giáo dục Những thanh thiếu niên này có khát vọng hướng về một phạm vi nghề nghiệp nhất định Ngoại trừ SV người Anh và Ấn Độ, thì SV người dân tộc thiểu số có khuynh hướng thu hút bởi khuôn mẫu giáo viên tiêu cực Tài liệu cũng chỉ ra những quan điểm khác nhau liên quan đến giao thoa và những bất bình đẳng xã hội, bản sắc dẫn đến hậu quả là có những mô hình khác nhau trên các trục xã hội của chủng tộc/dân tộc, giới tính và tầng lớp Tác giả còn trình bày những nhu cầu về giáo dục, nghề nghiệp của thanh niên người Anh da đen, Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc Trong đó, SV người Anh và Ấn Độ Pakistan trong nghiên cứu này mong muốn theo học các ngành Y; thanh thiếu niên Bangladesh (chủ yếu là nam) có xu hướng say mê với lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật; những thanh thiếu niên người da đen vùng Caribê Anh (chủ yếu là các em trai) đang hướng tới lĩnh vực thể thao và thanh thiếu niên Trung Quốc ở Anh có xu hướng quan tâm về lĩnh vực kinh doanh và tài chính [116, 40-82]
Nhìn chung nghiên cứu các khía cạnh nhu cầu học tập của SV người dân tộc thiểu số đề cập nhiều đến những khó khăn trong thích ứng hoạt động học tập mà một
Trang 40trong những nguyên nhân là do SV chưa biết cách thực hiện những hành vi học tập phù hợp Sự khác biệt về dân tộc và cản trở về ngôn ngữ cũng là nguyên nhân khiến
SV người dân tộc thiểu số khó thích ứng được với các dịch vụ giáo dục cộng đồng
Có thể thấy, công trình nghiên cứu về các khía cạnh của học tập đã chỉ ra những khó khăn trong học tập của SV người dân tộc thiểu số trong đó có SV người Khmer Mục đích học tập cuối cùng là để nâng cao chất lượng cuộc sống Nhưng trước hết họ cần phải học tập có kết quả Một trong những điều kiện cơ bản để đạt kết quả cao trong học tập là người học cần phải có nhu cầu học tập, xác định rõ đối tượng học tập Nghĩa là cần xác định rõ những nội dung tri thức, kỹ năng học tập, phẩm chất muốn học Đây là cơ sở của tính tích cực trong hoạt động học tập của cá nhân Một kế hoạch hành động hoàn chỉnh từ trong suy nghĩ là một bản kế hoạch khả thi Học tập chỉ có thể đạt kết quả cao khi ngay từ khi bắt đầu tham gia hoạt động học tập người học cần phải xác định rõ ràng những gì bản thân muốn học
Tóm lại, tổng quan nghiên cứu nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số cho thấy các nghiên cứu tập trung nghiên cứu về tình trạng bỏ học, kết quả học tập chưa cao và khả năng thích ứng với hoạt động học tập của người dân tộc thiểu số Các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ rõ nguyên nhân người dân tộc thiểu số nghèo đói
là do trình độ dân trí còn thấp mà nguyên nhân sâu xa là do ít tiếp cận với các dịch
vụ giáo dục, khó thích nghi với hoạt động học tập và dẫn đến tình trạng bỏ học Nhu cầu học tập là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực cá nhân và là một trong những điều kiện để nâng cao chất lượng học tập Đã có công trình nghiên cứu khía cạnh học tập của SV người dân tộc thiểu số trong đó có SV người Khmer Các nghiên cứu chỉ ra những khó khăn trong học đọc, viết tiếng Việt của học sinh người dân tộc thiểu số và những khó khăn trong việc thích ứng với hoạt động học tập ở bậc đại học Tuy nhiên nghiên cứu về nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL vẫn chưa thấy công trình nào quan tâm nghiên cứu Đặc biệt là nghiên cứu
về khía cạnh mức độ bức thiết và mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Trong khi đó, người Khmer tuy là người dân tộc thiểu số trong 53 dân tộc thiểu số Việt Nam nhưng lại là dân tộc chiếm
đa số ở vùng ĐBSCL sau người Kinh Để góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 52/ CP