1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn thanh hoá

41 417 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 563,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tài liệu điều tra của ngành mía đường Việt Nam năm 2000, thiệt hạilàm giảm sản lượng do sâu: 17,1%, do bệnh: 11,5%, do cỏ dại: 11,8%.[Báo cáotổng kết 5 năm thực hiện chương trình mí

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Cây mía (Saccharum officinarum L.) là cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới,

cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho các ngành công nghệ chế biến đường ở nhiều nướctrên thế giới Ở Việt Nam cây mía đang chiếm một vị trí quan trọng trong việc chuyểnđổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho công cuộcCông nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Việt Nam thuộc khu vực Bắc bán cầu nằm trải dài từ 8030’ - 23020’ vĩ độbắc, có tọa độ tương ứng với các nước trong khu vực trồng mía có năng suất caonhư Đài Loan là 456,1 tấn/ha, Ấn Độ 440,8 tấn/ha Về vị trí địa lý của nước tathuộc khu vực có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển và khai tháctiềm năng năng suất cao về cây mía, song năng suất mía bình quân chung cả nướcmới chỉ đạt 49,7 tấn/ha Trong nhiều nguyên nhân làm năng suất mía thấp, thìnhóm sâu đục thân mía làm giảm đáng kể về năng suất và chất lượng mía nguyênliệu (Đỗ Ngọc Diệp, 2002)

Từ sau năm 1975 đến nay, đặc biệt trong 10 năm gần đây ngành mía đườngđang có bước tiến đáng kể về diện tích, năng suất, sản lượng Các nhà khoa học đãkhẳng định, để nâng cao năng suất mía cần phải sử dụng các giống mới, kết hợpvới đầu tư thâm canh cao, bón phân hợp lý Tuy nhiên kinh nghiệm thực tiễn sảnsuất và kết quả nghiên cứu cho thấy: Sâu, bệnh cỏ dại và chuột là những nhân tốgây nên tổn thất rất lớn cho năng suất, chất lượng mía, ảnh hưởng đến hiệu quả chếbiến đường của các nhà máy chế biến đường

Theo tài liệu điều tra của ngành mía đường Việt Nam năm 2000, thiệt hạilàm giảm sản lượng do sâu: 17,1%, do bệnh: 11,5%, do cỏ dại: 11,8%.[Báo cáotổng kết 5 năm thực hiện chương trình mía đường của Bộ NN&PTNT [2]

Hiện nay việc phòng trừ sâu đục thân hại mía đang gặp rất nhiều khó khăn,

vì cây mía là cây lưu gốc nhiều năm, bộ giống mía phong phú, địa hình trồng mía

đa dạng và sâu đục thân mía ẩn nấp ở nhiều bộ phận khác nhau trên cây mía và cáccây trồng khác nên công tác phòng trừ không đạt hiệu quả cao

Trang 2

Công tác phòng trừ sâu hại cây trồng nói chung và sâu đục thân mía nóiriêng là tìm ra các biện pháp phòng trừ có hiệu quả không gây ô nhiễm môi trườngđạt mục tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường Thời gian qua, chương trình phòng trừdịch hại tổng hợp (IPM) đã được tiến hành trên nhiều loại cây trồng, với nhiều sâuhại khác nhau, đã mang lại hiệu quả kinh tế, đảm bảo không gây ô nhiễm môitrường Việc tiến hành phòng trừ sâu đục thân hại mía theo hướng IPM cần nắmvững hệ sinh thái đồng mía, mối quan hệ của cây mía với dịch hại và thiên địchcủa chúng Nguyên tắc chung của biện pháp này là bảo vệ và sử dụng các loàithiên địch của sâu hại nhằm khống chế quần thể sâu hại phát triển dưới ngưỡng gâyhại kinh tế, bảo vệ cây trồng.

Cho đến nay, các nghiên cứu về sâu đục thân mía và sử dụng bọ đuôi kìmtrong phòng trừ sâu đục thân mía tại Bắc Trung Bộ hầu như chưa được quan tâm

Có một số kết quả nghiên cứu đã công bố, nhưng vừa rất tản mạn về không gian vàthời gian, vừa quá lạc hậu với điều kiện sản xuất mới Với những kết quả đã cókhông thể xây dựng được quy trình hay mô hình phòng trừ sâu đục thân mía nàophù hợp mang lại hiệu quả cao cho người trồng mía Hiện nay, phần lớn ngườitrồng mía tại Thanh Hoá chưa chú trọng phòng trừ sâu đục thân, nếu có thì cácbiện pháp phòng mang tính tự phát, riêng rẽ nên hiệu quả không cao, mà còn ảnhhưởng đến môi trường, không bảo vệ và sử dụng được thiên địch trong tự nhiên, ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm theo hướng GAP

Vì lẽ đó, để góp phần vào công tác nghiên cứu, giải quyết đòi hỏi cấp báchcủa người trồng mía trong việc phòng trừ sâu đục thân và sử dụng bọ đuôi kìm

phòng trừ chúng tại Thanh Hoá Chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng

sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá”

1.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩ thực tiễn

1 2.1 Ý nghĩa khoa học:

Đề tài được tiến hành sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần loài,phân bố tác hại của sâu hại mía nói chung, sâu đục thân hại mía nói riêng Cũngnhư thành phần thiên địch của chúng tại ở vùng mía Thanh Hoá

Trang 3

1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm cơ sở để xây dựng quytrình quản lý tổng hợp sâu đục thân mía đáp ứng 3 yêu cầu kinh tế, xã hội, môitrường tại vùng nghiên cứu

1.3 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.3.1 Mục đích

Đề tài tiến hành nhằm mục đích sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ sâu đục thânhại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá Từ đó, đề xuất giảipháp sử dụng bọ đuôi kìm thay thế thuốc hoá học trong việc phòng trừ sâu đục thânmía hại mía

1.4 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

- Những nghiên cứu về thành phần và tình hình gây hại của sâu đục thân mía

Theo Hiệp hội Kỹ thuật Mía Đường Quốc tế (International Socienty of SugarCane Technology - ISSCT), đến năm 1999 trên mía đã ghi nhận có 324 loài sâu gây hại.Trong đó ngành chân khớp chiếm số lượng nhiều nhất (84,5%), tuyến trùng (4,9%),gặm nhấm (5,9%), các loài khác (4,7%) [36]

Như vậy, trên phạm vi toàn thế giới, trong số các nhóm sâu hại mía, nhóm côn trùnghại thân chiếm số đông nhất (49,7% tổng số loài đã phát hiện) trong đó nhóm sâu đục thânmía luôn được đánh giá là sâu hại nguy hiểm nhất

Trang 4

Thành phần sâu hại mía nói chung và sâu đục thân nói riêng không chỉ biến độngtrên phạm vi toàn thế giới mà ngay trong một quốc gia cũng có sự biến động giữa vùngnày với vùng khác, giữa trước đây và sau này.

Ở Malaysia, kết quả điều tra thành phần của Lim và Pan từ 1970 - 1978(1980) [40] cho thấy có khoảng 360 loài sâu hại mía thuộc 98 họ côn trùng Trong

đó có 32 loài được đánh giá là quan trọng với cây mía Trong 360 loài sâu hại mía

có 25 loài sâu đục thân mía, trong số này có 11 loài sâu đục thân mía đã được xácđịnh là sâu hại quan trọng đối với cây mía

Ở Ấn Độ, theo Isaac (1937) [38] thành phần sâu hại mía có 79 loài, còn theoBox (1953) [26] thì có 125 loài, theo Gupta (1957) [34] thì có 18 loài sâu chủ yếu

và 21 loài sâu thứ yếu Theo David (1977) [30] riêng sâu đục thân mía có tới 9 loàithường xuyên gây hại

Ở Ấn Độ, theo Isaac (1937) [38] người ta đã sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừsâu đục thân mía kết quả cho thấy, khi thả bọ đuôi kìm vào lúc mía 2 tháng sau trồng,với lượng 400 con/ha, 600 con/ha và 800 con/ha thì năng suất mía tăng lần lượt so vớiđối chứng là 11,26%, 16,44% và 18,89% và lượng đường tăng lần lượt là 5,06%,7,15% và 8,88%

Ở Đài Loan, theo Cheng (1994) [29] nhóm sâu đục thân hại mía có 5 loài thường

xuyên gây hại là sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker

Đánh giá về tình hình thiệt hại do sâu đục thân mía, theo Solomon et al (2000)[41] cho thấy các loài sâu đục mầm làm giảm 26,65% mầm cấp 1; 6,4% mầm cấp 2;27,1% mầm cấp 3 và 75,0% mầm cấp 4, làm giảm 22 - 30% năng suất mía và 12,5%hàm lượng đường Theo Avasthy và Tiwari (1986) [20] ở Ấn Độ sâu đục thân 5 vạch

là loài gây hại chính yếu, loài này có thể làm giảm tỷ lệ mầm từ 30 - 75% ở các vùngmía khác nhau Theo Waterhouse (1993) [43] đã tổng kết rằng sâu đục thân mía gâyhại nặng ở Philippines, Cam-pu-chia và thường gây hại nặng cục bộ tại Lào và

Indonesia Theo Solomon et al (2000), các loài sâu đục ngọn là nguyên nhân làm

Trang 5

chết khoảng 10% số mầm và 3-4% số cây ở giai đoạn vươn lóng, làm giảm năng suất

từ 18,5-44,8% và 0,2-4,1 chữ đường (CCS)

Phương thức gây hại và thời kỳ cây mía bị sâu đục thân tấn công của cácloài sâu đục rất khác nhau Các loài sâu đục lóng chủ yếu gây hại phần thân lóng,nhưng cũng có thể gây hại phần đốt lóng Triệu chứng gây hại của chúng khácnhau, ví dụ: Sâu đục thân 4 vạch chủ yếu gây hại ở các lóng mềm còn bẹ lá(d/Emmerez de Charmoy, 1917) [32]

Trọng lượng cây mía giảm khi bị sâu đục thân hại nặng và có thể bị chết dothân bị thối và khô Các lóng bị đục thường dễ gãy và các mầm nách phát triểnmạnh làm giảm độ đường trong cây mía (Gupta và Avasthy, 1960) [35]

Khi cây mía bị sâu đục thân gây hại thì hàm lượng đường saccaro, độ Brix,Pol, Ap giảm đáng kể Ngược lại, hàm lượng N, chất tro và chất nhựa tăng lên(Box, 1929) [25]

- Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh, pháttriển của sâu đục thân hại mía

Theo kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục thân 4 vạch của cáctác giả Harris (1990) [37], Betbeder-Matibet (1990) [24], David (1980) [31] ở cácnước khu vực Ấn Độ Dương cho thấy: ngài thường vũ hoá tập trung trong thời giankhoảng 4 giờ sau khi mặt trời lặn và hoạt động chủ yếu vào đêm, ngài cái thường chỉgiao phối 1 lần duy nhất trong đời Sau khi giao phối khoảng 1 đêm thì ngài cái đẻtrứng với số trứng khoảng 850 quả Chúng đẻ trứng thành ổ ở mặt trên hoặc dưới của

lá, đôi khi trứng còn đẻ cả trên bẹ lá, mỗi ổ trứng có từ 20-40 quả

Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của sâu đục thân 5 vạch cho thấy: Trưởngthành thường vũ hóa vào ban đêm, ban ngày ít hoạt động thường ẩn nấp bên dưới bẹ lá.Ngài cái tiết pheromone dẫn dụ giới tính để thu hút ngài đực đến ghép đôi giao phối.Ngài thường để trứng vào giữa đêm Trứng đẻ thành ổ ở mặt dưới các lá còn xanh Mỗi

ổ từ 2 - 4 hàng trứng, với trung bình 25 quả/ổ Trong một đêm ngài cái thường đẻkhoảng 400 quả trứng Trứng sau khi đẻ 4 - 6 ngày thì nở, sâu non tuổi 1 phân tán bằngcách nhả tơ đu sang cây khác để gây hại Chúng rất thích ăn các đỉnh sinh trưởng và các

mô mềm gây nên hiện tượng nõn héo Thời gian phát dục của pha sâu non (5-6 tuổi) từ

Trang 6

16 - 30 ngày, sau đó hóa nhộng ngay bên trong đường đục của thân cây (Harris, 1990[37]; Butani, 1977 [27]; Avasthy và Tiwari, 1986 [20]; Kumar, K., S C Gupta, U K.Mishra, G P Dwivedi and N N Sharma (1987) [39]

- Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ

Theo Suhartawan và Wirioatmodjo (1996) [42] có thể áp dụng các biện phápphòng trừ như vệ sinh đồng ruộng và xử lý hom giống trong nước nóng 500C trong

2 giờ, sử dụng các giống mía chống chịu cao với sâu đục thân hoặc sử dụng cácloài ong mắt đỏ kí sinh pha sâu non và pha trứng Ngoài ra cũng có thể dùng thuốchoá học như Carbaryl, Dicrotophos, Monocrotophos và Acephate để phun phòngtrừ sâu non

Theo CABI (2000) [28] có thể dùng biện pháp cắt bỏ cây bị ngọn héo và giết chếtsâu non, biện pháp này tốn nhiều công lao động Ngoài ra người ta còn có thể sử dụng ong

mắt đỏ Trichogramma chilonis để trừ trứng của sâu đục thân.

Theo (David, 1980) [31], sử dụng các hom giống sạch sâu để trồng, kết hợp vớiviệc bóc lá vào các thời điểm 5, 7 và 9 tháng sau khi trồng, hạn chế sử dụng quá nhiềuphân đạm, đồng thời tiêu úng với vùng ngập úng cũng hạn chế sự xuất hiện và gây hạicủa sâu đục thân 4 vạch Tăng cường sử dụng các giống mía chống chịu cao đối với sâuđục thân 4 vạch như Co285, Co453, Co513, Co6860, Co915 để hạn chế thiệt hại do sâuđục thân 4 vạch

Đối với sâu đục thận mình hồng, các biện pháp phòng trừ như: Cắt bỏ cây bịsâu, rút bỏ ngọn héo và giết chết sâu non bên trong, vun luống sớm ở giai đoạn câycon và bạt gốc ngay sau khi thu hoạch đối với mía để lưu gốc Đây là các biện pháptương đối đơn giản mà hiệu quả lại cao trong việc phòng trừ sâu đục thân mình hồng.Biện pháp sinh học, có thể sử dụng loài ruồi kí sinh để trừ sâu ở giai đoạn sâu non.Kết quả thử nghiệm trong phòng cho thấy, loài ruồi này có thể kí sinh với tỷ lệ khácao (84,4%) (David, 1980) [31]

Đối với sâu đục thân mía thì đã có nhiều nghiên cứu và sử dụng khá thành công

bọ đuôi kìm trong việc phòng trừ sâu đục thân hại mía Kết quả nghiên cứu cho thấykhi thả bọ đuôi kìm với lượng 400 con/ha thì tỷ lệ lóng bị hại giảm 64,58% so với đốichứng và năng suất mía tăng 26,48% (David, 1980) [31]

Trang 7

* Những nghiên cứu về bọ đuôi kìm

Theo Easki Teiso et al (1952) [69] Bọ đuôi kìm Dermaptera còn có tên khoa học là Euplexoptera, Euplecoptera, Dermoptera, Labiduroida hay Forficulida; tên tiếng anh là Earwigs

Cơ thể kéo dài, kiểu đầu nhô về phía trước, hàm kiểu miệng nhai với râu đầunhiều đốt, mắt kép phát triển Hầu hết trong bộ Dermaptera cánh ngắn, cánh ngoàibiến thái, gân cánh mịn, cánh trong dạng màng hình bàn nguyệt, gân cánh xếp hình

dẻ quạt Các chân gân bằng nhau với 3 đốt bàn Bụng 10 đốt, đốt bụng cuối cùngkéo dài như cái kìm, theo Richard leung (2004) [109], bụng BĐK có 10 đốt ở conđực (kể cả đuôi kìm), con cái có 8 đốt bụng Máng đẻ trứng của con cái ngắn hoặctiêu biến tùy theo loài

Bọ đuôi kìm được phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới trừ những vùngbăng giá, rất phổ biến ở những vùng có khí hậu nóng ẩm Có khoảng hơn chục loàisống trong hang dơi vùng Châu á

Có khoảng 1.200 loài đã được miêu tả, hầu hết chúng đều sống tự do, ăn tạp(các côn trùng nhỏ), một số loài ăn chồi non thực vật nhưng khi xuất hiện con mồithì chúng lại chuyển sang ăn con mồi ngay Bọ đuôi kìm thường sống ẩn nấp, chạynhanh, mặc dù có cánh nhưng không thấy chúng bay [69], chỉ tìm kiếm thức ăntrên cây, ăn côn trùng nhỏ vào ban đêm [109]

Trưởng thành cái đẻ trứng vào trong ổ làm dưới đất, chúng có tập tính làchăm sóc và bảo vệ trứng, thậm chí còn có hành động bảo vệ con 1 – 2 tuần sau

nở Trong điều kiện ấm áp chúng đẻ nhiều, mùa hè chúng ít khi đẻ trứng, mùa đônglạnh chúng đình dục hoàn toàn cho đến mùa xuân lại tiếp tục hoạt động, mỗi nămBĐk thường có 7 lứa

Pobham (1965) phân loại BĐK bộ Dermaptera theo kiểu hình giải phẫu bên

trong, theo cơ quan sinh dục ngoài và phân bố theo địa lý đã chia các loài BĐK

bắt mồi tập trung ở bộ phụ Porficulina gồm:

- Tổng họ Pygidicranoidea, tổng họ này sinh sống chủ yếu trog các kho

chứa ở các nước Asian, Australia, Nam Phi và Nam Mĩ

Trang 8

- Tổng họ Karschilloidea rất lớn tập trung ở Nam Phi, tổng họ này chủ yếu

Theo Gullan, P.J và P.S Crranston (2000) có khoảng 1.800 loài bọ đuôikìm với 10 họ phân bố trên thế giới [73]

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

- Những nghiên cứu về thành phần và tình hình gây hại của sâu đục thân mía

Nhìn chung trước những năm 1990 công tác nghiên cứu về sâu đục thân hại mía ởnước ta còn rất ít Tuy nhiên, sau những năm 1990 đến nay, đặc biệt khi chương trình míađường được Nhà nước chú trọng, quan tâm là cây xoá đói giảm nghèo cho người dânnông thôn miền núi thì các vùng nguyên liệu mới chú ý đưa các giống mới có năng suấtcao, đầu tư thâm canh công nghệ cao để theo kịp các nước trên Thế giới và khu vực, theo

đó công tác BVTV cũng được quan tâm

Ở miền Bắc, theo Lương Minh Khôi (1963) [10] và Hồ Khắc Tín & CTV (1962)

[15] có 5 loài sâu đục thân hại mía thường xuyên là sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker Trong đó sâu đục thân mình vàng, sâu đục

thân 4 vạch và sâu đục thân mình trắng là những loài phát sinh gây hại phổ biến nhất tạiThanh Hóa và các tỉnh Bắc Trung Bộ

Theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995) [1], ở miền Bắc có 2 loài sâu đục

thân mía phổ biến nhất là sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius

và sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker Kết quả điều tra cho thấy số

lượng sâu non của sâu đục thân mình trắng cao hơn số lượng sâu non của sâu đụcthân 4 vạch (tương ứng là 70,0 - 77,2% và 22,3 - 30,0%) Tuy nhiên theo kết quảđiều tra trong 3 năm 2005, 2006 và 2007 của Nông trường Thống Nhất huyện Yên

Trang 9

Định Thanh Hoá là trong 5 loại sâu đục thân thì số lượng xuất hiện và gây hạinhiều nhất là sâu đục thân 4 vạch tiếp đến là sâu đục thân mình vàng với tỷ lệtương ứng là 70,16 và 42,44% Kết quả này cũng trùng với kết quả điều tra củaNông trường Vân Du huyện Thạch Thành và Nông trường Sao Vàng huyện ThọXuân tỉnh Thanh Hoá.

Theo kết quả điều tra của Lương Minh Khôi và Lê Thanh Hải (1997) [7] tạiNông trường Hà Trung tỉnh Thanh Hoá và Nông trường Đồng Giao tỉnh Ninh Bìnhcho thấy trên các giống mới của Đài Loan ROC1, ROC9, ROC10 và ROC16 trongniên vụ 1995-1996 cho thấy đã xác định được 19 loài sâu hại mía, trong đó có 5 loàisâu đục thân mía, loài gây hại nặng nhất là sâu đục thân mình vàng và sâu đục thân 4vạch

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn văn Hoan trong 3 năm từ 1998-2000tại Vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá gồm 7 huyện 4 Nôngtrường, cho thấy thành phần sâu hại mía gồm 26 loài thuộc 7 bộ 12 họ Trong đó,

nhóm sâu đục thân mía có 5 loài là sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius và sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker.

Kết quả điều tra của Đỗ Ngọc Diệp tại khu vực miền Đông Nam bộ năm

1987 cho thấy có 20 loài sâu hại mía Trong đó, sâu đục thân có 5 loài chiếm 25%

tổng số loài đã xác định Chúng bao gồm sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana, sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen, sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker, sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius

và sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker Tại Viện Nghiên cứu Mía

đường Bến Cát, các kết quả điều tra của Nguyễn Đức Quang năm 1997 [13], VũHữu Hạnh năm 1995 [6] và Cao Anh Đương 1998 đều cho thấy trong thành phầnsâu hại mía có 5 loài sâu đục thân tương tự như kết quả điều tra của các tác giảkhác

Trang 10

Kết quả điều tra trong phạm vi toàn quốc của Lương Minh Khôi từ 1992

-1997 [8] cho thấy thành phần sâu hại mía có 27 loài trong đó nhóm sâu đục thân có

9 loài chiếm 33,33% tổng số loài đã xác định

Trên các giống mía mới nhập về từ đài Loan và Trung Quốc hiện nay đangđược trồng phổ biến tại Thanh Hoá thì hầu hết đều bị sâu đục thân phá hại nhưng tỷ lệhại từ 2,52-5,88% nhỏ hơn giống F134 (giống cũ của Trung Quốc) là 11,5% và giốngMY55-14 của Cu Ba là 12,85% Theo nghiên cứu của Lương Minh Khôi và Lê ThanhHải (1997) [7] cho thấy giống F134 bị sâu đục thân hại nặng hơn các giống ROC1,ROC9, ROC10 và ROC16 từ 1,4 - 2,3 lần Tuy nhiên theo báo cáo của Nông trườngVân Du huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá cho thấy trong 4 năm từ 2004 - 2007 khiđầu tư thâm canh cao thì các giống ROC, Việt đường, Quế đường có tỷ lệ sâu đụcthân từ 13,21- 17,68%

Theo đánh giá của Nguyễn Huy Ước (1994) [19] thiệt hại do sâu đục thânmía gây ra tại miền Đông Nam Bộ lên đến 20% năng suất mía So sánh tỷ lệ bị sâuđục thân gây hại giữa mía tơ và mía gốc cho thấy trên mía gốc bị gây hại năng hơntrên mía tơ Tương tự như vậy, kết quả thí nghiệm tại nông trường Hà Trung ThanhHóa và Đồng Giao Ninh Bình cho thấy tỷ lệ bị sâu đục thân phá hại trên mía gốc là14% trong khi đó trên mía tơ là 8% (Lương Minh Khôi và Lê Thanh Hải, 1997) [7]

Theo Lê Song Dự và Nguyễn Thị Quý Mùi (1997) [5] sâu đục thân mìnhvàng và sâu đục thân 4 vạch là những loài nguy hiểm nhất ở miền Bắc, có nơi cácloài sâu này làm thiệt hại năng suất từ 25 - 30% Xét về các giống mía thì giốngF134 bị sâu đục thân phá hại năng hơn các giống việt đường, quế đường và cácgiống ROC (Lương Minh Khôi và Lê Thanh hải, 1997) [7]

- Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh phát triển củasâu đục thân hại mía

Theo nghiên cứu của Lương Minh Khôi (1997) [9] cho thấy:

- Loài sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana phát sinh nhiều vào 20/4 và

20/5 còn từ tháng 6 trở đi ít gặp Vòng đời: Trứng từ 4-6 ngày, sâu non 20-22 ngày,nhộng từ 9-10 ngày, trưởng thàng từ 8-13 ngày Bướm cái đẻ trung bình 173 quả

Trang 11

trứng/con Sâu non bắt đầu gây hại chủ yếu từ khi mía mọc mầm và chiếm tỷ lệ 8,5%các loài sâu đục thân.

- Loài sâu đục thân 4 vạch Proceras venosatus Walker phát sinh 6 đợt trong năm kéo

dài suốt quá trình sinh trưởng của cây mía Vòng đời: Trứng từ 5-7 ngày, sâu non 20-26ngày, nhộng từ 7-12 ngày, trưởng thành từ 3-7 ngày Bướm cái đẻ trung bình từ 8-11 ổtrứng, mỗi ổ khoảng 200 quả trứng Sâu non bắt đầu gây hại khi mía mọc mầm nhưnghại mạnh nhất khi mía vươn lóng Tỷ lệ hại chiếm 71,8% các loài sâu đục thân

- Sâu đục thân mình trắng Scirpophaga nivella Fabricius mỗi năm phát sinh 4-5

lứa Vòng đời: Trứng từ 7-15 ngày, sâu non 31-61 ngày, nhộng từ 12-18 ngày,trưởng thành từ 3-13 ngày Sâu non phá hại mía cây, đặc biệt ở đốt ngọn, sâu nonđục từ ngọn mía xuống dưới, ăn điểm sinh trưởng, gây nên hiện tượng cây bị cụtngọn Sâu hại khi cây mía được 220 ngày với tỷ lệ hại chiếm 61,0% các loài sâuđục thân

- Sâu đục thân mình hồng Sesamia inferens Walker trong năm phát sinh 5-6 lứa.

Vòng đời trong điều kiện mùa hè: Trứng từ 5-6 ngày, sâu non 20-30 ngày, nhộng từ8-10 ngày, trưởng thành từ 5-6 ngày Mùa đông vòng đời dài hơn Mỗi bướm cái

đẻ khoảng 300 trứng Sâu non phá hại ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây mía

Ở miền Nam sâu mình hồng nhiều nhất chiêm tỷ lệ 51,85% - 69,35% các loài sâuđục thân mía

- Sâu đục thân 5 vạch Chilo infuscatellus Snellen trong năm phát sinh 5-6 lứa.

Vòng đời trong điều kiện mùa hè: Trứng từ 3-5 ngày, sâu non 18-35 ngày, nhộng từ7-8 ngày, trưởng thành từ 4-6 ngày Mùa đông vòng đời dài hơn Bướm cái đẻthành ổ, mỗi ổ có từ 250 - 300 trứng Sâu non nở là phân tán, thường nhả tơ đu đưanhờ gió, di chuyển từ cây này sang cây khác để phá hại Chúng phá hại mạnh trênmía trồng vụ đông

Theo Cục Bảo vệ Thực vật (1999) [4], loài sâu đục thân mình vàng thườngphát sinh 7 lứa trong năm, nhưng gây hại nặng nhất ở lứa 1 và lứa 2 (khoảng cuốitháng 3, 4 và 5), gây mía mầm và mía bắt đầu vươn lóng, phát sinh gây hại nhiềutrên mía trồng đất ruộng và đất bãi Sâu đục thân 4 vạch thường phát sinh 4-5 lứatrong năm, sâu phá hại mía quanh năm từ khi mía mọc mầm cho đến khi thu hoạch

Trang 12

Sâu đục thân mía 5 vạch thường phát sinh gây hại 5 đợt, nhưng có 2 đợt cao điểm,cao điểm 1 từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 và cao điểm 2 từ cuối tháng 5 đến đầutháng 6 Sâu thường phát sinh gây hại nhiều trên đất đồi khô hạn Sâu đục thânmình trắng thường phát sinh 4-5 lứa trong năm, nhưng tập trung hại nhiều nhất ởlứa 1 (tháng 5) và lứa 2 (tháng 6-7), lứa thứ 3 (tháng 8-9) Loài sâu đục thân mìnhhồng là loài phát sinh gây hại sớm nhất trong ruộng mía và gây hại quanh năm, cả vụ míaĐông, nhưng hàng năm phát sinh gây hại nhiều vào tháng 3-4, hại lúa mía đẻ nhánh Ngoàicây mía, sâu còn hại lúa, ngô và các cây trồng thuộc họ hoà thảo khác

Tóm lại: Những kết quả nghiên cứu trong nước về đặc điểm sinh học và quyluật phát sinh phát triển của các loài sâu đục thân mía chủ yếu ở miền Bắc tậptrung vào các loài sâu đục thân phổ biến, dễ nuôi như sâu đục thân mình hồng vàsâu đục thân mình vàng Trong khi các loài sâu đục thân khác như sâu đục thânmình tím và sâu đục thân 4 vạch lại chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều.Nguyên nhân có thể là do các loài sâu này tương đối khó nuôi bằng thức ăn tựnhiên, trong khi thức ăn nhân tạo lại chưa có

Theo Lương Minh Khôi (1997b) [9], ở Việt Nam có 4 loài thiên địch chủ yếu

của nhóm sâu đục thân mía, chúng bao gồm: Ong mắt đỏ Trichogramma spp Ký

sinh trứng sâu đục thân mía mình vàng, 4 vạch, 5 vạch và sâu đục thân mình trắng;

ong đen Telenomus sp Ký sinh trứng các loài sâu đục thân mía mình vàng, 4 vạch,

5 vạch và mình trắng, nhưng ký sinh trứng sâu đục thân mình trắng nhiều hơn, ongđen kiến trắng chân vàng Apanteles flavipes Cameron ký sinh pha sâu non các loạisâu đục thân 5 vạch, 4 vạch và sâu đục thân mình hồng và bọ đuôi kìm ăn các loạisâu non của sâu đục thân Theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995) [1] ở miền Bắcchỉ có 2 loài thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân mía là ong mắt đỏTrichogramma chilonis và ong đen Telenomus sp ký sinh pha trứng các loài sâuđục thân mình trắng và sâu đục thân 4 vạch

- Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân hại mía

* Biện pháp kỹ thuật canh tác:

Đây là biện pháp được nông dân trồng mía ở nhiều vùng áp dụng phổ biến

từ khá lâu Theo các tác giả Hồ Khắc Tín và CTV (1982) [15], Lương Minh Khôi

Trang 13

(1997a [8] và 1997b [9]), Nguyễn Huy Ước (1994) [19], Phạm Văn Lầm (1999)[11] Các biện pháp này bao gồm:

+ Trước khi trồng mía, đất phải được cày bừa kỹ nhằm tiêu diệt mầm mống của sâu ẩnnáu trong đất, vùng đất thấp có thể cho nước ngập để diệt sâu

+ Chọn hom, giống mía trồng: chọn các hom giống không có sâu hại vàchọn các giống mía có tính chống chịu sâu như các giống ROC, Việt đường CP34-

79, HN56-12, QĐ11 và F156

+ Bón phân đầy đủ và cân đối cho mía mọc tốt Chăm sóc làm cỏ kịp thời kể

cả trên các đường lô và bụi rậm xung quanh, nhằm loại trừ nơi ẩn náu của sâu Nơi

có điều kiện lao động nên bóc là già, cắt chồi vô hiệu, loại bỏ mầm mống trứng ở

đó Kết quả thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Mía Đường (1996) [18] cho thấyruộng mía bóc lá kịp thời giảm tác hại của sâu đục thân từ 16,77 - 41,73% và tăngnăng suất mía lên 13,75% so với ruộng đối chứng

+ Ruộng mía để gốc sau thu hoạch phải được cày lật đất kịp thời và cày sâu,giết chết các loại sâu ẩn nấp trong gốc mía và dưới đất

+ Bố trí thời vụ hợp lý: ở miền Bắc vụ xuân tốt nhất nên trồng mía trongtháng 2, vụ đông tốt nhất là tháng 10-11 vì lúc trồng mía sẽ dễ dàng hơn, mía pháttriển trùng với các tháng có đủ lượng mưa, nhiệt độ và ánh sáng, đồng thời tránhđược các cao điểm phát sinh của sâu (Lương Minh Khôi, 1997a) [8]

* Biện pháp hoá học:

Sâu đục thân tuy phá hại nhiều và phổ biến, nhưng người trồng mía nóichung ít chú trọng công tác phòng trừ Đặc biệt, trong những năm gần đây khi cácvùng nguyên liệu mía đưa nhiều giống mới có năng suất, phẩm chất đồng thời chế

độ thâm canh cao thì sự phá hại của sâu đục thân là rất nặng nề và nghiêm trọng.Hiện nay tại các vùng nguyên liệu mía khu vực Thanh Hoá, người trồng mía đãtích cực phòng trừ các loài sâu đục thân Theo Cục Bảo vệ thực vật [4] các loạithuốc sử dụng chủ yếu là Diazinon 10H (rắc vào gốc khi vun với lượng 10-20Kg/ha), padan 95SP (phun với lượng 0,8 - 1,0 lit/ha), supracide 40EC (phun vớilượng 0,8 - 1,0 lit/ha), sumithion (phun với lượng 1,0 - 1,5 lit/ha) Theo LươngMinh Khôi (1997b) [9] có thể dùng các loại thuốc diazinon 10G lượng 20kg/ha

Trang 14

hoặc padan 4G lượng 20 - 30kg/ha rải vào luống khi trồng, cũng có thể rải vào gốckhi vun, hiệu quả phòng trừ đạt tỷ lệ 64,1% so với đối chứng Ngoài ra, có thểdùng padan 95SP phun khi mía mọc mầm, đạt tỷ lệ trừ sâu 78,7%.

* Biện pháp sinh học:

Chủ yếu sử dụng ong kí sinh và bọ đuôi kìm Nhìn chung biện pháp sinh học cònchưa được chú trọng nhiều

Trang 15

PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Sâu đục thân hại mía

- Bọ đuôi kìm (thiên địch của sâu đục thân mía)

- Khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để trừ sâu đục thân hại mía tại vùng nguyênliệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu hại trên một số giống mía tại vùng nguyên liệu míađường Lam Sơn Thanh Hoá

- Điều tra thành phần sâu đục thân, mức độ gây hại của chúng đối với một sốgiống mía được trồng chủ yếu tại vùng nguyên liệu Mía đường Lam Sơn Thanh Hóa

- Điều tra biến động mật độ bọ đuôi kìm qua các tháng trong thời gian thựchiện đề tài

- Nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi Kìm để phòng trừ sâu đục thân hại mía

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thời gian địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015

Địa điểm: vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá

2.3.2 Phương pháp điều tra

Phương pháp điều tra nghiên cứu biến động mật độ bọ đuôi kìm được tiến hànhđiều tra định kỳ 1 tuần/lần, để xác định biến động mật độ bọ đuôi kìm tại vùngnguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá

Phương pháp điều tra: chúng tôi điều tra cố định 5 hộ trồng mía tại nôngtrường Sao Vàng Ở mỗi hộ trồng mía, chọn 1 điểm đại diện, mỗi điểm chọn mộthàng dài 5m (theo hàng mía) tại đó điều tra các giống MY55-14, ROC10, ROC22

và viên lâm 6, trên cả mía tơ và mía gốc Tại điểm điều tra tiến hành quan sát toàn

bộ cây để phát hiện những dấu vết hoặc triệu chứng bị hại (héo ngọn, khô đọt, lá cóvết bị hại, thân có lỗ đục, cây sinh trưởng còi cọc, đổ gãy ) Dùng dao chẻ dọcnhững cây bị hại hoặc nghi bị hại, thu thập tất cả các loài côn trùng bắt gặp, kể cảnhững cá thể đục trong thân cây Ghi chép các thông tin về loài sâu gây hại

Trang 16

Mức độ phổ biến của sâu đục thân và bọ đuôi kìm được đánh giá như sau:

- : Rất ít (<10% tần suất bắt gặp)

+: ít (10- 20% tần suất bắt gặp) ++: Trung bình (21- 50% tần suất bắt gặp) +++: Nhiều (>50% tần suất bắt gặp)

2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm trên diện tích hẹp thả bọ đuôi kìm, đánh giá khả năng khống chế sâu đục thân hại mía của bọ đuôi kìm

Chọn ruộng ở cách xa ruộng trồng mía khác, có diện tích 1000m2 , để thả bọđuôi kìm Bọ đuôi kìm được mua từ Chi cục BVTV Nghệ An và chúng được thảtheo khuyến cáo của nhà sản xuất Ruộng đối chứng không thả bọ đuôi kìm, khôngdùng thuốc BVTV, có cùng giống mía, tuổi mía, cùng chế độ canh tác như ruộngthả bọ đuôi kìm Sau khi thả bọ đuôi kìm, chúng tôi điều tra liên tục 7 ngày/lần, đểđánh giá và so sánh sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu đục thân hại míagiữa hai ruộng

Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sử dụng bọ đuôi kìm để trừ sâu đục thânhại mía được tiến hành với 6 công thức sau:

- Công thức 1: Đối chứng không phun thuốc, không dùng bọ đuôi kìm

- Công thức 2: Thả bọ đuôi kìm với mức 400 con/ha Bọ đuôi kìm được thả vào lúcmía mới mọc mầm

- Công thức 3: Thả bọ đuôi kìm với mức 600 con/ha Bọ đuôi kìm được thả vào lúcmía mới mọc mầm

- Công thức 4: Thả bọ đuôi kìm với mức 800 con/ha Bọ đuôi kìm được thả vào lúcmía mới mọc mầm

2.5 Công thức tính toán.

- Xác định mức độ ảnh hưởng của thuốc hóa học:

+ Hiệu lực của thuốc hóa học ngoài đồng ruộng được tính theo công thứccủa Henderson – Tilton:

Trang 17

Trong đó: E (%) Hiệu lực của thuốc

Ta : Số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc

Cb : Số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi phun thuốc

Ca : Số sâu sống ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc

Tb : Số sâu sống ở công thức đối chứng trước khi phun thuốc

- Tỷ lệ mầm (cây) bị hại (%) = x 100

- Tỷ lệ lóng bị hại (%) = x 100

PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trang 18

Bảng 1: Diễn biến khí hậu thời tiết

Lượng mưa: Từ tháng 1 đến tháng 4 biến đổi không đều, lượng mưa thấpnhất vào tháng 4 là 24,3 mm và cao nhất vào tháng 3 là 71,8 mm

Ẩm độ: từ tháng 1 đến tháng tư biến đổi không nhiều, ẩm độ cao nhất vàotháng 3 là 92%

Nhìn chung nhiệt độ và độ ẩm khá cao chính vì vậy đã tạo điều kiện thuậnlợi cho dịch hại phát sinh phát triển và gây hại mạnh

3.1 Thành phần sâu hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá

Thực tiễn sản xuất trong những năm gần đây cho thấy, mía bị rất nhiều sâuhại tấn công, đặc biệt khi nâng cao trình độ canh tác, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào thâm canh mía công nghệ cao (năng suất: 100 - 150 tấn/ha với 10 - 13 độCCS), thì tình hình sâu bệnh càng phức tạp Mía là cây trồng thích hợp cho nhiềuloại sâu bệnh tồn tại và phát triển

Cho đến nay, các nghiên cứu về sâu đục thân mía và sử dụng bọ đuôi kìmtrong phòng trừ sâu đục thân mía tại Bắc Trung Bộ hầu như chưa được quan tâm

Có một số kết quả nghiên cứu đã công bố, nhưng vừa rất tản mạn về không gian vàthời gian, vừa quá lạc hậu với điều kiện sản xuất mới Với những kết quả đã cókhông thể xây dựng được quy trình hay mô hình phòng trừ sâu đục thân mía nàophù hợp mang lại hiệu quả cao cho người trồng mía Hiện nay, phần lớn ngườitrồng mía tại Thanh Hoá chưa chú trọng phòng trừ sâu đục thân, nếu có thì cácbiện pháp phòng tránh chỉ mang tính tự phát, riêng rẽ nên hiệu quả không cao, mà

Trang 19

còn ảnh hưởng đến môi trường, không bảo vệ và sử dụng được thiên địch trong tựnhiên, để lại tồn dư thuốc BVTV trong sản phẩm quá ngưỡng cho phép, ảnh hưởngđến sức khoẻ người tiêu dùng.

Tại vùng trồng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hóa chúng tôi đãthu thập được 18 loài sâu thuộc 7 bộ và 13 họ côn trùng khác nhau, được trình bày

Trang 20

11 Cào cào xanh

4 loài, bộ cánh thẳng, bộ cánh cứng, bộ cánh nửa và bộ cánh đều 3 loài, bộ cánhbằng và cánh tơ mỗi bộ có 1 loài Trong số đó thì nhóm sâu hay bắt gặp nhất là rệp

xơ trắng, sâu đục thân, bọ hung đen đục gốc…

3.2 Thành phần loài sâu đục thân hại mía và tỷ lệ cây bị hại

Cũng trong thời gian này chúng tôi đi sâu nghiên cứu thành phần và tìnhhình gây hại của sâu đục thân trên mía tơ giống MY55-14 Kết quả điều tra đượctrình bày ở bảng 3

Bảng 3: Thành phần sâu đục thân hại mía tại vùng nguyên liệu mía đường

Lam Sơn Thanh Hóa.

Tỷ lệ thành phần loài (%)

Ngày đăng: 07/05/2018, 17:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Vũ Hữu Hạnh. Lưu Thị Duyên và Dương Công Thống (1995) “Một số kết quả nghiên cứu sâu đục thân hại mía ở miền Đông Nam bộ”. Tạp chí Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. số 11/1995 (401). tr.411-412 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quảnghiên cứu sâu đục thân hại mía ở miền Đông Nam bộ
10. Lương Minh Khôi (1963). “Sâu đục thân mía và phương pháp phòng trừ”. Tạp chí KHKT Nông nghiệp. số 10/1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu đục thân mía và phương pháp phòng trừ
Tác giả: Lương Minh Khôi
Năm: 1963
13. Nguyễn Đức Quang (1997). “Nhận xét bước đầu về sâu đục thân mía vùng miền đông nam bộ”. Tạp chí bảo vệ thực vvật. số 2/1997. tr. 11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét bước đầu về sâu đục thân mía vùngmiền đông nam bộ
Tác giả: Nguyễn Đức Quang
Năm: 1997
20. Avasthy. P. N. and N. K. Tiwari (1986). “The shoot borer Chilo infuscatellus Snellen”. Sugarcane entomology in India (David. H.. S. Easwaramoorthy and R.jayanthi. eds.). Sugarcane Breeding Institute. Coimbatore.pp. 69-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The shoot borer Chilo infuscatellusSnellen
Tác giả: Avasthy. P. N. and N. K. Tiwari
Năm: 1986
21. Bae.S. H.. J. O. Lee and B. H. Lee (1969). “ Stadies on ecology and control of the purplish stem borer (Sesamia inferens Walker) in Korea”. Korean Journal of plant protection 7.pp. 27-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stadies on ecology and control ofthe purplish stem borer (Sesamia inferens Walker) in Korea
Tác giả: Bae.S. H.. J. O. Lee and B. H. Lee
Năm: 1969
22. Banerjee. S. N. and L. M. Pramanik (1967). “The lepidopterous stalkborer of rice and their life cycles in the tropics”. Major Insect Pests of The Rice Plant.Johns Hopkins Press. Baltimore. Marylan. USA. pp. 103-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The lepidopterous stalkborer ofrice and their life cycles in the tropics
Tác giả: Banerjee. S. N. and L. M. Pramanik
Năm: 1967
23. Barber. T. C (1911). "Damage to sugarcane in Lousiana by the sugarcane borer (Diatraea saccharalis Fab)". Ent. Circ. U. S. Dep. Agric. 139. p.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Damage to sugarcane in Lousiana by the sugarcane borer(Diatraea saccharalis Fab)
Tác giả: Barber. T. C
Năm: 1911
25. Box. H. E. (1929). "The effect on the individual composition of canes in a plot of sugarcane of infestation with the borer diatraea saccharalis. [In Spanish]".Revta ind. Agric. Tucuman 19. pp. 291-315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect on the individual composition of canes in a plotof sugarcane of infestation with the borer diatraea saccharalis. [In Spanish]
Tác giả: Box. H. E
Năm: 1929
27. Butani. D. K. (1977). " Chilo infuscatellus Snell". Diseases. pests and weeds in tropical crops (Kranz. J.. H. Schmutterer and W. Koch. eds.). Paul Parey. Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chilo infuscatellus Snell
Tác giả: Butani. D. K
Năm: 1977
29. Cheng. W. Y. (1994) “Sugarcane stem borers of Taiwwan”. Proc. Int. Soc. Sug.Can technol. 21. pp. 97 – 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sugarcane stem borers of Taiwwan
30. David. H. (1977).“Pest of sugarcane and their control”.Pestol.1. pp. 15-io0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pest of sugarcane and their control
Tác giả: David. H
Năm: 1977
32. d / Emmerez de charmoy. D. (1917). "Moth borers affecting sugarcane in Mauritius".Bull. Dep. Agric. Maurit.. Sci. Ser. 5. 27 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Moth borers affecting sugarcane in Mauritius
Tác giả: d / Emmerez de charmoy. D
Năm: 1917
33. Ellis. T. O.. P. E. Rohrig and G. Arcenaux (1960). " Stalk borer damage as affecting available sucrose in mill cane". Ibid. 10. pp. 924-938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stalk borer damage as affectingavailable sucrose in mill cane
Tác giả: Ellis. T. O.. P. E. Rohrig and G. Arcenaux
Năm: 1960
34. Gupta. B. D. (1957). “ A note on the scientific and common names of sugarcane pests in India” Indian J. Sug. Res. Dev. 2. pp. 9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A note on the scientific and common names ofsugarcane pests in India
Tác giả: Gupta. B. D
Năm: 1957
35. Gupta. B. D. and P. N. Avasthy (1960). " Biology and control of the stemborer Chilo tumidicostalis Hmpsn.". Proc. Int. Soc. Sug. Cane technol.. 10. pp. 886-901 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology and control of the stemborerChilo tumidicostalis Hmpsn
Tác giả: Gupta. B. D. and P. N. Avasthy
Năm: 1960
37. Harris. K. M. (1990). " Bioecology of Chilo species". Insect Science and its Application. 11(4-5). pp. 467-477 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bioecology of Chilo species
Tác giả: Harris. K. M
Năm: 1990
38. Isaac. P. V. (1937). “ Information on pests of sugarcane in India from published report and statements received from provinces and Govt.”. India publications. 186 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information on pests of sugarcane in India from publishedreport and statements received from provinces and Govt
Tác giả: Isaac. P. V
Năm: 1937
39. Kumar. K.. S. C. Gupta. U. K. Mishra. G. P. Dwivedi and N. N. Sharma (1987)." Sugarcane pests in Bihar: retrospect and prospect - a review". Agricultural Reviews. 8(2). pp. 59-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sugarcane pests in Bihar: retrospect and prospect - a review
Tác giả: Kumar. K.. S. C. Gupta. U. K. Mishra. G. P. Dwivedi and N. N. Sharma
Năm: 1987
40. Lim. G.T.. Y. C. Pan (1980) “ Entonofauna of sugarcane in Malaysia”. Proc.Int. Soc. Sug. Cane Technol. 17. pp. 1658-1679 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Entonofauna of sugarcane in Malaysia
42. Suhartawan and B. Wiroatmodjo (1996) “Penggerek batang rasasa pada tanaman tebu di Sumatera dan upaya pengendaliannya” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penggerek batang rasasa padatanaman tebu di Sumatera dan upaya pengendaliannya

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w