Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân khẳng định vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dưng nông thôn mới, cùng với nhân dân cả nước tiế
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà nội, ngày 6 tháng 5 năm 2017
Người cam đoan
Trần Hoàng Long
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là quá trình nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình Trước hết tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đối với lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên viên của huyện và các xã trực thuộc của huyện Yên Thủy đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đối với Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, lãnh đạo Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp
Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm luận văn là PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn – Giảng viên trường Đại học Lâm nghiệp
Luận văn này được hoàn thành không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của các cán
bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Yên Thủy, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê… đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập
số liệu, nghiên cứu địa bàn
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày 6 tháng 5 năm 2017
Trần Hoàng Long
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ 4
1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ gia đình nông dân 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập và thu nhập hộ nông dân 6
1.1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ 16
1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao thu nhập của người nông dân trong bối cảnh CNH, HĐH 19
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao thu nhập của nông dân 21
1.2.1 Thực tiễn nâng cao thu nhập cho nông dân của một số nước trên thế giới 21
Trang 41.2.2 Các công trình nghiên cứu mới đây về thu nhập và nâng cao thu nhập
cho người dân miền núi ở Việt Nam 23
1.2.3 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông dân một số địa phương của Việt Nam 24
1.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Huyện Yên Thủy 26
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy - Hòa Bình 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 36
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Những chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Yên Thủy 43
3.2 Thực trạng thu nhập của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên thủy 44 3.2.1 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra 44
3.2.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh của các hộ điều tra 46
3.2.3 Thực trạng thu nhập của các hộ 53
3.2.4 Những khó khăn trong SXKD của các hộ điều tra 66
3.3 Giải pháp nâng cao thu nhập của nông dân Huyện Yên Thủy những năm tới 73
3.3.1 Cải thiện cơ cấu nguồn thu theo hướng tăng tỷ trọng nguồn thu từ phi nông nghiệp và phục vụ các khu công nghiệp và tỷ trọng thu từ nuôi trồng thủy sản, từ sản xuất lâm nghiệp trong tổng nguồn thu của hộ nông dân 74
Trang 53.3.2 Tăng cường chính sách trợ giúp tạo cơ hội cho hộ có thu nhập thấp nâng cao thu nhập, đồng thời chú ý đảm bảo tính công bằng trong thực hiện chính sách hỗ trợ cho nông dân 75 3.3.3.Tạo nhiều việc làm, tạo nhiều sinh kế mới cho nông dân 75 3.3.4 Tăng cường cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm làm giàu các yếu
tố sản xuất của nông dân 79 3.3.5 Hoàn thiện môi trường chính sách, tăng cường vai trò nhà nước trong tổ chức quản lý và phối hợp thực hiện các chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn trên địa bàn huyện Yên Thủy 80 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai huyện Yên Thủy theo mục đích sử dụng 30
Bảng 2.2 Thống kê tình hình lao động huyện Yên Thủy năm 2016 32
Bảng 2.3 Tổng hợp một số chỉ tiêu giá trị sản xuất huyện Yên Thủy 2014-2016 33
Bảng 3.1 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra 45
Bảng 3.2 Tình hình hoạt động trồng trọt của các hộ điều tra 47
Bảng 3.3 Thực trạng chăn nuôi tại các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu 48
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng các nguồn lực cho SXKD của các hộ 50
Bảng 3.5 Chi và cơ cấu chi sản xuất kinh doanh 54
Bảng 3.6 Giá trị sản xuất đạt đƣợc bình quân hộ gia đình năm 2016 57
Bảng 3.7 Quy mô và cơ cấu thu nhập bình quân của hộ năm 2016 59
Bảng 3.8 Các nguồn thu nhập theo tiêu chí hộ có liên quan học vấn chủ hộ 62
Bảng 3.9 Thu nhập bình quân nông hộ theo tiêu chí có và không tham gia các khóa bồi dƣỡng, đào tạo nghiệp vụ sản xuất 64
Bảng 3.10 Tác động của việc di chuyển lao động đến biến đổi thu nhập theo loại hình nông hộ năm 2016 65
Bảng 3.11 Thống kê khó khăn của hộ trong quá trình sản xuất 67
Bảng 3.12 Đánh giá của đối tƣợng điều tra về những khó khăn tác động đến nâng cao thu nhập của nông hộ (Cho điểm từ một đến 5, trong đó 5 là khó khăn nhất) 68 Bảng 3.13 Đánh giá về các chính sách tác động đến thu nhập 71
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Thủy 29
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nông dân nước ta hiện nay chiếm gần 70% dân số và khoảng 50% lực lượng lao động xã hội Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân khẳng định vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dưng nông thôn mới, cùng với nhân dân cả nước tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tự lực, tự cường, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo đã tạo nên những thành tựu khá toàn diện trên mặt trận sản xuất nông nghiệp Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu thì kinh tế nông nghiệp luôn là trụ đỡ, là nhân tố tạo
sự ổn định cho phát triển đất nước, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng ổn định, bền vững, đến năm 2014 đã chặn được đà tụt giảm tăng trưởng nông nghiệp; bảo đảm an sinh xã hội, tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục qua các năm; đời sống của nhân dân, trong đó đại bộ phận là nông dân được cải thiện
Mặc dù thu nhập được cải thiện đáng kể, nhưng người dân nông thôn vẫn chiếm
đa số trong cộng đồng người nghèo tại Việt Nam Sự chênh lệch về tỷ lệ nghèo giữa thành thị và nông thôn là lớn mặc dù tỷ lệ nghèo nông thôn đã giảm nhanh chóng kể từ năm 1998 Năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a bình quân khoảng 45%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn 16 % (giảm từ mức tỷ lệ cao 66% năm 1993), tương đương với 14,2 triệu người dân trong tổng số 60 triệu dân nông thôn vẫn sống trong cảnh nghèo khó với mức sống thấp Điều này tương phản với tỷ lệ dân nghèo thành thị giảm từ mức 25% năm 1993 xuống chỉ còn khoảng 3% năm 2012, do vậy nâng cao thu nhập cho hộ nghèo chủ yếu chỉ còn là vấn đề lớn ở khu vực nông thôn
Là một huyện miền núi nằm ở phía cuối tỉnh Hòa Bình có nhiều tài nguyên song điều kiện địa hình trắc chở, vùng đất bằng phẳng bị chia cắt nên khó tập trung phát triển trồng cây lương thực, phần đông dân số là anh em dân tộc ít người: Mường, Hoa… với điều kiện dân trí còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, lạc hậu
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, huyện Yên Thủy đã có những cố gắng hết mình để xây dựng cuộc sống ấm no cho đồng bào dân
Trang 10tộc nơi đây, đặc biệt là quan tâm phát triển nông-lâm-nghiệp giúp bà con cải thiện thu nhập và đời sống nông dân, song những thành tựu mang lại còn rất chậm Nông dân vẫn còn trong tình trạng khó khăn do tình trạng thiếu vốn sản xuất, do tiến bộ kỹ thuật chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi, việc đa dạng hóa sinh kế, đa dạng hóa phát triển ngành nghề trong thôn thôn còn chƣa mạnh, các chính sách khuyến nông phát huy chƣa mạnh, công tác tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp, phối hợp thực hiện của các ban ngành còn nhiều hạn chế, chƣa hỗ trợ tốt cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của nông dân Về phía nông dân, tình trạng tiếp cận giáo dục, đào tạo thấp, nguồn vật lực, tài lực còn nhiều khó khăn Tất cả những điều đó hạn chế đến tốc độ tăng thu nhập cũng nhƣ đa dạng hóa nguồn thu của nông dân Chính vì thế việc nghiên cứu giải pháp nâng cao thu nhập hộ nông dân tại địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình hiện nay là
có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu, Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Thu nhập, các nguồn lực và cách thức sử dụng nguồn lực của nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: Phân tích, đánh giá thu nhập nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016
+ Phạm vi về không gian: huyện Yên Thủy, Hòa Bình
+ Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu là giai đoạn từ năm 2014 đến năm
2016
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu nhập và nâng cao thu nhập hộ nông dân
- Thực trạng thu nhập nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
- Các yếu tố tác động đến thu nhập nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
- Giải pháp nâng cao thu nhập nông hộ tại huyện Yên Thủy, Hòa Bình
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu nhập
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ 1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ gia đình nông dân
1.1.1.1 Lý luận về hộ nông dân
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, ra đời rất sớm trong lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xã hội Sự bền vững, đặc điểm và vai trò của kinh tế hộ nông dân đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Hộ nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình
Như vậy kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế đặc biệt, nó có thể thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất xã hội, sự khác biệt với các hình thức tổ chức sản xuất khác đó là sử dụng sức lao động gia đình là chính, chính đặc điểm này khiến cho kinh tế hộ nông dân tồn tại ngay khi khủng hoảng kinh tế, các nhà tư sản
và các doanh nghiệp có thể bị phá sản trong khi đó kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại
Từ những nghiên cứu trên chúng tôi thống nhất kinh tế hộ nông dân được khái quát trên các nội dung sau: Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội có chung một cơ sở kinh tế Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động được góp thành vốn chung, có chung một ngân quỹ Cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của thành viên trong gia đình và quyết định thuộc quyền của chủ hộ
1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt Nam
Thứ nhất, kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản
Trang 13lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình, các hình thức của kinh tế hộ bao gồm:
+ Trang trại gia đình nông, lâm nghiệp: lao động chủ yếu là lao động gia đình, một phần sử dụng lao động của họ hàng, ít sử dụng lao động làm thuê, ngành nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, được quản lý bởi chủ hộ
+ Liên doanh: các hộ nông dân liên kết với trang trại hoặc đơn vị kinh doanh khác thành một đơn vị thống nhất với tư cách pháp nhân thuộc hộ gia đình Hộ nông dân gần nhà máy sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu cho công ty Theo mô hình này, hộ nông dân trong vùng là những vệ tinh cung cấp nguyên liệu cho các công ty Đây là những hình thức liên kết tốt trong sản xuất, tận dụng nguồn đất đai, nhân lực của hộ nông dân trong vùng
+ Công ty cổ phần: Hình thức tổ chức sản xuất này nhằm tiến hành sản xuất, chế biến, tiêu thụ với quy mô lớn
+ Hình thức ủy thác: chủ hộ có ruộng, có rừng, họ uỷ thác cho anh em, bà con tiếp tục duy trì thay họ để sản xuất Có nhiều mô hình kiểu này hiện nay đang xuất hiện
ở vùng trung du và miền núi như trang trại cây ăn quả, trang trại nuôi cá, trang trại vườn rừng ở vùng núi
+ Các hộ nông, lâm nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau trong sản xuất dịch vụ
để sản xuất kinh doanh: Các công ty Nông, Lâm nghiệp trực tiếp lo phần dịch vụ lâu dài (Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác) và bao tiêu sản phẩm
+ Hộ nông dân nông, lâm nghiệp sản xuất độc lập tự chủ: Các hộ này sử dụng sức lao động gia đình tiến hành sản xuất và từ tích luỹ nhằm duy trì cuộc sống của hộ
ở vùng núi nước ta loại này hiện nay là phổ biến
Thứ hai, do sản xuất nông lâm nghiệp chịu rủi ro nhiều, để chống lại rủi ro đó, phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp Trong từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, rải thời vụ, thời tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế Trong hệ thống nông nghiệp
Trang 14của hộ ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành mô hình kinh tế bền vững
Thứ ba, hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn
vị xã hội với những đặc trưng riêng của nó Cụ thể:
+ Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của hộ nông lâm nghiệp Hộ nông dân được sử dụng lâu dài ruộng, đất và chỉ như vậy hộ mới phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, cùng với các quyền cho thuê sử dụng Do có nhiều tư liệu vừa phục vụ sản xuất vừa phục vụ đời sống nên hộ không thể tiến hành tính khấu hao một cách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất khác
+ Quan hệ quản lý: do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình
+ Quan hệ phân phối: hộ nông dân sẽ tự mình định đoạt những sản phẩm do gia đình làm ra sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Hộ dùng một phần thu nhập của mình để trang trải chi phí sản xuất, còn một phần hộ dùng để tiêu dùng đảm bảo đời sống cho gia đình, và phần còn lại đề tích luỹ
Thứ tư, hộ nông dân không những là một đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị
xã hội: Tính chất này là đặc trưng trong kinh tế hộ, bố mẹ có trách nhiệm với con cái đến lúc con cái trưởng thành, con cái có trách nhiệm với bố mẹ đến lúc tuổi già, đau
ốm, quá cố Quan hệ hàng xóm láng giềng, làng bản thông qua các thể chế, già làng, trưởng bản Có thể nói hộ nông, lâm nghiệp bị chi phối rất lớn bởi quan hệ này
1.1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập và thu nhập hộ nông dân
1.1.2.1 Khái quát các lý thuyết về thu nhập của người lao động
1.1.2.1.1 Lý thuyết thu nhập của người lao động của Adam Smith và David Ricardo
Adam Smith là một nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở nước Anh và trên thế giới Ông là một trong những bậc tiền bối lớn của C.Mác Trong những tác phẩm của mình, A.Smith đã trình bày một cách khá hệ thống các lý thuyết kinh tế, trong đó
có lý thuyết về tiền lương và thu nhập của người lao động đã làm cho ông nổi tiếng
Theo ông trong xã hội "nguyên thuỷ" trước chủ nghĩa tư bản, thì toàn bộ sản
Trang 15phẩm thuộc về người lao động Điều đó có nghĩa là A.Smith đã khẳng định rằng một khi người lao động làm việc bằng chính những tư liệu sản xuất và ruộng đất của mình, thì lẽ công bằng là người sản xuất đó phải nhận được sản phẩm toàn vẹn của lao động của họ
Ông khẳng định trong điều kiện của xã hội tư bản, tức là khi sở hữu tư bản chủ nghĩa xuất hiện, người lao động bây giờ mất hết tư liệu sản xuất buộc phải trở thành người làm thuê cho chủ tư bản Trong điều kiện như vậy, người làm thuê chỉ nhận được một số tiền từ phía chủ sau khi đã làm việc cho chủ với một thời gian nhất định Số tiền đó được gọi là tiền lương Vậy lúc này tiền lương của những người công nhân làm thuê không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ, thực ra nó chỉ là một bộ phận giá trị đó
Adam Smith xác định cơ sở của lượng tiền lương là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân làm thuê và giáo dục, nuôi dưỡng con cái anh ta để có thể đưa ra thay thế trên thị trường lao động
Ông chỉ ra mức bình thường của tiền lương và cho rằng tiền lương phải đạt được ở mức (giới hạn) tối thiểu Theo A.Smith, tiền lương không được hạ thấp quá giới hạn đó, vì người ta bao giờ cũng có khả năng sống bằng lao động của mình và nếu như thấp hơn giới hạn tối thiểu này sẽ là thảm hoạ cho sự tồn tại của các dân tộc
Adam Smith đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương và khẳng định trước hết là mức tiền lương phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước Bằng những cứ liệu khoa học ông chỉ ra rằng mức lương thấp hơn giới hạn tối thiểu chỉ có ở những nước đang diễn ra sự thoái hoá về kinh tế Chẳng hạn,
ở Ân Độ đang bị các công ty Đông Ấn của Anh thống trị và ở Trung Quốc thì tiền lương chỉ cao hơn mức tối thiểu không đáng kể vì ở đây nền kinh tế đang bị trì trệ
Còn ở những nước đang có nền kinh tế phát triển mạnh, trong tiền lương, ngoài mức tối thiểu ra thì còn có một phần khác cao hơn Phần này do định mức tiêu dùng truyền thống, mức sống văn hoá quyết định Ví dụ tiền lương ở Mỹ cao hơn tiền lương ở Anh vì ở Mỹ trình độ phát triển kinh tế cao hơn (tăng trưởng và phát
Trang 16triển nhanh hơn) Thứ đến, A.Smith còn chỉ ra những nhân tố khác ảnh hưởng đến tiền lương như: điều kiện sản xuất khác nhau trả công khác nhau, những công việc mang tính chất thời vụ được trả công khác với các công việc khác, tiền lương cao khi sử dụng những đối tượng lao động đắt tiền, quy mô tiền lương phải gắn với trình độ tay nghề, với việc học tập và đào tạo [14]
Đối lập với quan điểm của các nhà kinh tế học đương thời ủng hộ trả lương theo mức tối thiểu, A.Smith ủng hộ mức tiền lương cao (dễ chịu), vì ông cho rằng tiền lương cao sẽ tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế Cụ thể là tiền lương cao, người lao động phấn khởi tìm mọi cách tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân nói chung Đến lượt mình tăng thu nhập quốc dân dẫn đến khả năng tích luỹ tư bản
và do đó tăng cầu về lao động và suy đến cùng thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh
Từ đó ông khẳng định rằng Nhà nước tư sản cũng như các chủ tư bản không
sợ khi trả lương cao cho những người lao động vì cơ chế tự phát thị trường lao động
sẽ tự điều tiết chi phí tiền lương Mặc dù có những tư tưởng hợp lý, khá thiên tài như trên, nhưng A.Smith không thể tránh khỏi hạn chế khi lẫn lộn lao động với sức lao động và coi tiền lương là giá cả của lao động [14]
Tiếp tục sự nghiệp của A.Smith về vấn đề tiền lương, D.Ricardo cho rằng giá trị được tạo ra gồm hai phần: tiền lương và lợi nhuận Và ông đã khẳng định về sự đối kháng giữa tiền lương và lợi nhuận Ông nhận thấy quy luật của tư bản là: năng suất lao động tăng lên, tiền lương giảm và lợi nhuận tăng Ông có ý đồ giải quyết việc xác định tiền lương theo quy luật giá trị nhưng không thành công vì giống như A.Smith, ông vẫn chưa phân biệt được lao động và sức lao động Tuy nhiên, D.Ricardo vẫn xác định đúng tiền công của công nhân phải ngang với giá trị những
tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho công nhân và gia đình anh ta
Một trong những công lao to lớn của D.Ricardo là phân tích tiền công thực tế
và xác định nó như là một phạm trù kinh tế Ông nhấn mạnh lượng hàng hoá mà người công nhân mua được bằng tiền công chưa quyết định địa vị xã hội của người
đó Sự quyết định tình cảm của công nhân phụ thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợi nhuận
Trang 17Do ảnh hưởng của quy luật nhân khẩu của Thomas Robert Malthus D.Ricardo đã cho rằng tiền lương cao sẽ làm cho nhân khẩu tăng nhanh, dẫn đến cung về lao động lớn hơn cầu về lao động, và do đó lại làm cho tiền lương hạ xuống, đời sống của công nhân xấu đi là kết quả tất yếu của việc tăng dân số Điều tiến bộ khác trong lý luận tiền lương của ông là ông đã xem xét những người lao động làm thuê và tiền lương của họ trong mối quan hệ với giai cấp tư sản [14]
Từ việc nghiên cứu khái quát lý luận tiền lương của A.Smith và D.Ricardo cho phép ta rút ra các nhận xét: i) Thành tựu lớn nhất là họ đã đứng vững trên lý luận giá trị lao động để giải thích vấn đề tiền lương; ii) Họ đã đưa ra mức tối thiểu của tiền lương và xác định các nhân tố ảnh hưởng tiền lương làm cơ sở cho việc tính toán, xác định tiền lương trong thực tế; iii) Họ xem xét vấn đề tiền lương trong mối quan hệ giữa các giai cấp cơ bản trong xã hội đó Từ đó đã gián tiếp chỉ ra đâu
là khoản thu nhập không lao động, đâu là phần lao động không được trả công sòng phẳng; iv) Cả A.Smith và D.Ricardo đều coi tiền lương là giá cả của lao động, tức
là người lao động đã được trả công một cách sòng phẳng ngang với lao động mà mình đã bỏ ra Đây là điều phi lý dưới chủ nghĩa tư bản
1.1.2.1.2 Lý luận về thu nhập của S Sismondi
Là một nhà kinh tế học cổ điển có xu hướng bảo vệ sản xuất nhỏ, S Sismondi coi công nhân là người sáng tạo ra của cải vật chất Ông chỉ rõ sự khác nhau giữa thu nhập có lao động của công nhân với thu nhập không lao động của nhà tư bản Theo ông, tiền lương phải ngang bằng toàn bộ giá trị sản phẩm của công nhân [14]
1.1.2.1.3 Lý luận của C.Mác về tiền lương
Các nhà kinh tế học cổ điển trước C.Mác đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc giải quyết các vấn đề lý luận về tiền lương, lợi nhuận, địa tô Bên cạnh đó họ không thể tránh khỏi những hạn chế, nhầm lẫn quanh co trong việc giải quyết các vấn đề này C.Mác trên cơ sở tiếp thu có phê phán, chọn lọc đã trình bày một cách có hệ thống và khá hoàn chỉnh các vấn đề lý luận nói trên
C.Mác chỉ rõ, công nhân làm việc cho các nhà tư bản trong một thời gian nào
Trang 18đó, sản xuất ra một lượng hàng hoá nào đó, thì nhận được một số tiền trả công nhất định Tiền công đó chính là tiền lương Tiền lương không phải là giá trị hay
là giá cả của lao động Vì lao động không phải là hàng hoá và không phải là đối tượng mua bán Cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động Do
đó tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động Từ việc giải thích đó C.Mác khẳng định bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá trị hay giá cả lao động
Mác đã chỉ rõ giá trị sức lao động là giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta Nó bao gồm cả những yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần lịch sử Vì vậy khi xác định tiền lương phải xác định các yếu tố sau: giá trị
tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta; nhu cầu về tinh thần, lịch sử, dân tộc; chi phí học tập, nâng cao trình độ; chi phí nuôi sống người công nhân khi về hưu
C.Mác chỉ ra hai hình thức cơ bản của tiền lương: tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm
Tiền lương tính theo thời gian là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ thuộc vào thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tuần lễ, tháng) Việc nghiên cứu cặn kẽ hình thức trả lương theo thời gian đã giúp chúng ta hiểu rõ những mánh khoé tăng cường bóc lột giá trị thặng dư dưới CNTB
Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra, hoặc tuỳ theo khối lượng công việc đã hoàn thành C.Mác chỉ rõ chế độ trả lương theo sản phẩm dưới CNTB làm cho cường độ lao động tăng lên không ngừng Người lao động làm thuê buộc phải lao động khẩn trương hơn để sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn nhằm hy vọng nhận được số tiền đủ mua những tư liệu sinh hoạt cần thiết Nhưng bằng cách điều chỉnh đơn giá sản phẩm, nhà tư bản cũng sẽ thu được nhiều giá trị thặng dư hơn
C.Mác cũng chỉ ra sự khác nhau giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương
Trang 19thực tế và khẳng định nếu khoảng cách giữa chúng càng lớn thì đó là nguy cơ đối với cuộc sống của người làm công ăn lương Sự biến đổi của tiền lương phụ thuộc nhiều nhân tố: năng suất lao động, trình độ thành thạo của người lao động [14]
1.1.2.1.4 Nhận xét chung về lý thuyết thu nhập của các nhà kinh tế học cổ điển và của C.Mác
Nét chung trong lý thuyết phân phối thu nhập của các nhà kinh tế học tư sản
cổ điển và C.Mác là các lý thuyết này đều được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị- lao động, thu nhập là bộ phận giá trị mới do lao động của người sản xuất tạo ra trong quá trình sản xuất (V+M) sau khi đã trừ đi những chi phí vật chất (C) Phần giá trị mới đó bao gồm: V là phần trả công cho người sản xuất, gọi là tiền lương Như vậy bản chất của tiền lương là thu nhập của người công nhân, thu nhập có lao động Người lao động làm việc cho chủ, sẽ tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân mình
1.1.2.2 Các lý thuyết hiện đại về thu nhập
Thừa kế các quan niệm về thu nhập của các nhà kinh tế học cổ điển và C Mác các nhà kinh tế học hiện đại quan tâm đến thu nhập như là một chính sách, một công cụ chủ yếu của kinh tế vĩ mô, nhằm để giải quyết vấn đề công bằng, một trong những mục tiêu mà bất cứ một nền kinh tế hiện đại nào cũng phải tính tới Chính vì thế, nội dung cốt lõi của chính sách thu nhập là vấn đề phân phối thu nhập Các vấn
đề xung quanh việc phân phối thu nhập thuộc loại gây nhiều tranh cãi nhất trong tất
cả các loại hình kinh tế học Một số người cho rằng thu nhập cao là kết quả của sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp lớn Một số khác cho rằng tiền công và lợi nhuận chỉ là kết quả hoạt động của thị trường có tính cạnh tranh Nhiều ý kiến lại cho rằng, dù thế nào đi chăng nữa, chính phủ nên sử dụng quyền lực của mình để phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo bằng công cụ thuế và chuyển khoản
Có hai phương thức phân phối thu nhập thường được nhắc đến trong các lý thuyết kinh tế hiện đại là: phân phối thu nhập theo chức năng và phân phối thu nhập theo mức độ
Phân phối thu nhập theo chức năng cho ta biết tổng thu nhập của một nền
Trang 20kinh tế được phân chia giữa các yếu tố sản xuất khác nhau như thế nào Phương thức phân phối này có liên quan đến sự phân chia giữa các yếu tố sản xuất theo truyền thống là đất đai, tư bản và lao động
Phân phối theo mức độ cho ta biết thu nhập quốc dân được phân chia cho các
cá nhân, và các hộ gia đình khác nhau như thế nào, không phân biệt các dịch vụ về các yếu tố sản xuất đem lại thu nhập cho họ Kiểu phân phối theo mức độ thường hay được dùng như là thước đo trực tiếp của phúc lợi
Phân phối thu nhập theo nhiều lý thuyết, được xác định chủ yếu theo quyền
sở hữu về các yếu tố sản xuất và vai trò của từng yếu tố trong quá trình sản xuất Sự phân phối thu nhập theo chức năng quan trọng như nó là nguyên nhân của mức độ phúc lợi
Trong lịch sử phát triển các tư tưởng kinh tế, đã có nhiều nhà kinh tế học ủng
hộ lý thuyết phân phối thu nhập dựa trên cơ sở vai trò các yếu tố sản xuất Có thể thấy rõ quan điểm này qua lý thuyết phân phối của John Bates Clark, đại biểu cho trường phái "giới hạn" ở Mỹ Ông đã phối hợp các lý thuyết về ’’lợi ích”, lý thuyết
"năng suất giới hạn" và lý thuyết "năng lực chịu trách nhiệm" của các yếu tố sản xuất để phân tích phân phối thu nhập Theo đó, thu nhập là "năng lực chịu trách nhiệm" của các yếu tố sản xuất Ở đây công nhân có lao động, địa chủ là người có đất đai, nhà tư bản là người có vốn, họ đều nhận được sản phẩm "giới hạn" tương ứng là tiền lương, địa tô và lãi suất Phần còn lại là thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất hay lợi nhuận của nhà kinh doanh[14]
Đồng thời với quan điểm phân phối thu nhập của Clark, Alfred Monshall, người sáng lập ra trường phái Cambridge (Anh) đưa ra lý thuyết giá trị, phân phối
và trao đổi Trong lý thuyết của mình A.Monshall cho rằng "lợi tức cổ phần" (tức thu nhập quốc dân) của mỗi một quốc gia vừa là sản phẩm ròng của các yếu tố sản xuất, vừa là nguồn duy nhất của những khoản thanh toán của các yếu tố đó[13]
Tiếp thu quan điểm của Alfred Marshall, Pigou người sáng lập của "Kinh tế học phúc lợi" cho rằng phúc lợi kinh tế phụ thuộc vào lượng thu nhập quốc dân, tình hình phân phối thu nhập quốc dân và tình hình dao động của thu nhập quốc
Trang 21dân Ông cho rằng quá trình tăng phúc lợi kinh tế là quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất, từ đó làm tăng thu nhập quốc dân và có thể đó cũng sẽ là điều kiện để thực hiện sự phân phối đồng đều thu nhập Theo ông, điều quan trọng để tăng thu nhập quốc dân là phải sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên[15]
Như ta đã biết, các nhà kinh tế học cổ điển và C.Mác cũng đã nhìn thấy nguyên nhân và hậu quả của những bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo trong xã hội
tư bản Song các nhà kinh tế học cổ điển không đưa ra được con đường giải quyết
mà đi theo hướng bào chữa cho sự bóc lột, phân hoá nghèo khổ đó C.Mác đưa ra giải pháp là phải thông qua cách mạng bạo lực lật đổ CNTB, xây dựng CNXH, CNCS một xã hội bình đẳng, không có người bóc lột người Các nhà kinh tế học
tư sản hiện đại như P.A.Samuelson lại chủ trương là bằng giải pháp can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ kinh tế vĩ mô như thuế và các chính sách chống đói nghèo để giải quyết nó [14]
1.1.2.3 Thu nhập của hộ nông dân
1.1.2.3.1 Khái niệm thu nhập của hộ nông dân
Trước sức ép từ sự biến đổi xã hội, sự phát triển của kinh tế thị trường, của CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế thu nhập của nông hộ có sự biến đổi cả về quy
mô lẫn cơ cấu Để có thu nhập, trước hết nông dân phải là người sản xuất sản phẩm để
họ tiêu dùng và bán trên thị trường Vì thế, thu nhập của nông dân trước hết là từ sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa là cả nông, lâm và thủy sản)
Tuy nhiên, dưới tác động của CNH, HĐH, của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nông dân trong điều kiện mới không chỉ thực hiện các hoạt động nông nghiệp mà còn tiến hành các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp Thực tế chứng minh các hoạt động phi nông nghiệp đóng góp từ 20-70% thu nhập của nông
hộ đối với các gia đình nông dân ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi Nói cách khác, để có được thu nhập đảm bảo chi tiêu cho đời sống thì nông dân ngoài thời gian làm nông nghiệp, còn tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, và dịch
vụ khác Không những thế, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc di chuyển lao động quốc tế cũng mang về cho hộ gia đình nông dân những khoản thu nhập nhất định
Trang 22Ngoài những khoản tiền có được từ sự tham gia vào thị trường lao động thì nông hộ còn nhận được thu nhập từ các khoản cho thuê tài sản, các khoản chuyển khoản (trợ giúp) của hỗ trợ từ gia đình, người thân, từ chính phủ và các tổ chức xã hôi khác Nguồn gốc bản chất của các khoản này cũng có sự khác nhau
Đối với khoản thu nhập cho thuê tài sản, về bản chất là sự sinh lời của lao động quá khứ của hộ gia đình, nó do tích lũy của các hộ gia đình mang lại Đối với các khoản hỗ trợ từ gia đình, từ người thân cũng là thu nhập có lao động của các thành viên trong gia đình di chuyển ra huyện làm việc hoặc lao động xuất khẩu mang lại Như thế, các khoản thu nhập này cũng là thu nhập có lao động của gia đình hộ nông dân Riêng khoản trợ giúp từ chính phủ, từ các tổ chức xã hội là các khoản không trực tiếp do lao động của hộ gia đình
Từ đó, thu nhập của nông dân được hình thành trên hai nguồn cơ bản: (i) nguồn
do người dân sử dụng sức lao động kiếm được thu nhập từ thị trường lao động và (ii) nguồn có được nhưng không phải thông qua trao đổi từ sức lao động của họ trên thị
trường Vậy thu nhập của nông dân có thể được hiểu là tổng các khoản tiền mà họ thu
được trong một khoảng thời gian nhất định bao gồm các khoản tiền nhận được từ các hoạt động nông nghiệp của gia đình, các khoản tiền từ các hoạt động phi nông nghiệp
và các khoản tiền khác như trợ cấp, hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội khác[12]
Nói cách khác, thu nhập của nông dân được hình thành từ hai nguồn Thứ nhất từ việc làm của họ trên thị trường lao động; và thứ hai, là từ sự trợ giúp từ chính phủ và các tổ chức xã hội Trong đó, nguồn thứ nhất là chủ yếu, nó đảm bảo
để nuôi sống người nông dân và gia đình họ Nguồn thứ hai, hỗ trợ cho người dân khi gặp phải những biến đổi không lường trước như thiên tai, địch họa,
1.1.2.3.2.Các bộ phận cấu thành thu nhập của nông hộ hiện nay
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, lao động phải làm nhiều nghề một lúc để duy trì cuộc sống, quan điểm về việc làm của nông dân hiện nay, do đó, cũng có nhiều thay đổi để phù hợp với điều kiện hiện tại Trong những lúc nông nhàn, nông dân tham gia vào một số hoạt động kinh tế khác để tìm kiếm thu nhập duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình Đồng thời thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước
Trang 23cũng đã sử dụng nguồn ngân sách để trợ giúp nông dân khi gặp thiên tai, mất mùa,…Vì thế thu nhập của nông dân được hình thành từ các nguồn sau đây:
Thứ nhất, thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ Thu nhập từ
nông nghiệp của hộ được hiểu là những khoản thu nhập có được khi nông dân thực hiện những công việc tạo ra nông, thủy hải sản Trong nghiên cứu này, thu nhập từ nông nghiệp được tính trên cơ sở giá trị nông, hải sản được tạo ra trừ đi chi phí sản xuất để có được sản phẩm đó
Thứ hai, thu nhập từ hoạt động sản xuất lâm nghiệp của hộ bao gồm những
khoản thu bằng tiền từ hoạt động sản xuất lâm nghiệp (trồng rừng, khai thác sản phẩm từ rừng…)
Thứ ba, thu nhập phi nông nghiệp bao gồm những khoản thu bằng tiền mà
người nông dân có được thông qua việc tham gia vào các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp của nông dân liên quan đến các công việc như gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống (đối với những vùng nông thôn có làng nghề); lao động làm thuê trong nông thôn như chuyên chở vật liệu xây dựng, nhổ cỏ thuê, cày thuê, gặt thuê, phun thuốc trừ sâu …
Thứ tư, thu nhập từ phục vụ các khu công nghiệp và lao động di làm ở nơi khác
Trong thực chất, đây là loại thu nhập phi sản xuất nông nghiệp của nông hộ Tuy nhiên, trong điều kiện CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ, tác giả muốn tách các hoạt động mang lại thu nhập này để xem mức độ tác động của công nghiệp đối với thu nhập của nông hộ
thể hiện như thế nào Bao gồm nguồn thu nhập từ người lao động di chuyển từ nông
thôn ra thành thị kiếm việc làm trong khu vực phi chính thức như giúp việc gia đình, hoặc là làm việc trong các doanh nghiệp, các khu công nghiệp trong nước và xuất khẩu lao động cũng đóng góp một phần thu nhập cho hộ gia đình nông dân
Thứ năm, thu nhập từ các hoạt đông thương mại, dịch vụ của hộ bao gồm
thu nhập có được từ hoạt động này thông qua hoạt động buôn bán nhỏ, tham gia lưu thông hàng hoá từ nông thôn ra thành thị (bán buôn, bán lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực, thực phẩm); hoặc chạy xe ôm, vận chuyển phục vụ khu công nghiệp,…
tại các huyện, đô thị, khu công nghiệp
Trang 24Thứ sáu, các khoản thu nhập từ trợ giúp của chính phủ và cộng đồng Các
chương trình trợ giúp thường xuyên và trợ giúp đột xuất là biểu hiện rõ rệt nhất từ
sự hỗ trợ của nhà nước đến nguồn thu nhập ngoại sinh của nông dân Nguồn thu nhập này có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật tính ra tiền
Các tổ chức như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh… thực hiện vận động nhân dân, các cá nhân, doanh nghiệp… trong một vùng nhất định để hình thành các quỹ hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, hộ nông dân gặp khó khăn, từ đó giúp cho một số đối tượng yếu thế có thêm thu nhập
Sự đùm bọc lẫn nhau của những người láng giềng ở các vùng nông thôn thường chặt chẽ hơn so với ở thành thị Do đó, khi những nông dân gặp khó khăn trở ngại như ốm đau, bệnh tật thì nguồn hỗ trợ từ anh em, bạn bè láng giềng là rất quan trọng Nguồn này hỗ trợ phần nào những chi phí mà nông dân phải chịu trong hoàn cảnh khó khăn cấp bách Vì vậy mà nó có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu nhập của nông dân
Thứ bảy, các khoản thu nhập khác Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, sự
trợ giúp trực tiếp về tài chính từ các tổ chức quốc tế ngày càng diễn ra phổ biến và trên quy mô ngày càng sâu rộng Sự hỗ trợ này được thể hiện thông qua các chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ và thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động
hỗ trợ bằng tiền mặt có điều kiện hoặc không có điều kiện cho các đối tượng nông dân yếu thế ở những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, thiên tai, bệnh dịch, các vùng rất khó khăn…
1.1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ
1.1.3.1 Tác động của sự phát triển công nghiệp và thị trường lao động
Các nghiên cứu của Việt Nam cho rằng CNH, HĐH là quá trình chuyển biến
từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp Đó là quá trình chuyển biến
kỹ thuật sản xuất từ thủ công sang hiện đại; đồng thời cũng là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang lao động công nghiệp dịch vụ Thực tế cho thấy, CNH, HĐH dẫn đến ba tác động về việc làm và thu nhập đối với nông nghiệp như sau:
Trang 25Thứ nhất, trong bối cảnh CNH, HĐH và sự phát triển mạnh mẽ của thị
trường, kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp được đổi mới Nếu như trước đây, trong nông nghiệp, kỹ thuật sản xuất là thủ công thì trong bối cảnh mới, việc ứng dụng kỹ thuật sản xuất hiện đại trong nông nghiệp ngày càng phổ biến CNH, HĐH và sự phát triển của thị trường đã mở rộng ứng dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, phát triển những sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao hơn từ đó tăng thu nhập của nông dân
Thứ hai, sự phát triển của CNH, HĐH và sự phát triển thị trường lao động
dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp và sự phát triển thị trường dẫn đến xuất hiện những ngành nghề mới trong nông nghiệp nông thôn Chính điều này dẫn đến biến đổi cơ cấu kinh tế trong nông thôn tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên, tỷ trong ngành nông nghiệp giảm xuống trong cơ cấu kinh tế
Thứ ba, kết quả của việc chuyển đổi kỹ thuật sản xuất, chuyển dịch cơ cấu
ngành nghề trong bối cảnh CNH, HĐH và phát triển thị trường lao động dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu lao động Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới dẫn đến tiết kiệm thời gian lao động của nông dân, thời gian nông nhàn tăng lên Trong điều kiện đó, việc phát triển các ngành nghề mới lại có nhu cầu thu hút lao động, vì thế, lao động nông nghiệp có điều kiện cần và điều kiện đủ để chuyển dịch sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Phần thì lao động nông nghiệp tận dụng thời gian nhàn rỗi để phát triển sản xuất các ngành nghề phi nông nghiệp hoặc làm thuê trong khu vực nông thôn Phần thì lao động nông nghiệp chuyển tới các KCN, các doanh nghiệp công nghiệp, chuyển ra các huyện làm việc trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ Việc chuyển dịch cơ cấu lao động tạo ra việc làm mới, giúp cho lao động nói chung, nông dân nói riêng có thêm các nguồn thu nhập ngoài thu nhập từ nông nghiệp
Ở nước ta, với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP, nhiều tỉnh thuần nông trước đây thực hiện khuyến khích phát triển KCN Bộ mặt nông thôn
Trang 26đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại Nhiều nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại, công nghệ cao được xây dựng và phát triển thu hút hàng chục tỉ USD và hàng nghìn tỉ đồng của các nhà đầu tư trong nước
Sự phát triển công nghiệp sẽ thu hút hàng triệu lao động nông thôn, tạo ra thị trường sức lao động mới để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong vùng; mặt khác, sự phát triển các KCN làm cho nhu cầu cung ứng các dịch vụ cho KCN cũng tăng lên Tất cả điều đó tạo cơ hội cho các hộ nông dân có thêm việc làm mới, tăng thu nhập của nông hộ
1.1.3.2 Mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất
Mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất được xem xét trên các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, điều kiện tự nhiên và đất đai cho sản xuất
Thứ hai, lao động và trình độ kỹ năng của người lao động
Thứ ba, vốn và khả năng tiếp cận vốn của nông hộ
Thứ tư, trình độ công nghệ trong hoạt động nông nghiệp
1.1.3.3 Môi trường luật pháp, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý của nhà nước nhằm hỗ trợ phát triển và tăng thu nhập nông hộ
Trong thời đại kinh tế hội nhập và dưới tác động của biến đổi khí hậu, nông dân
là đối tượng dễ bị tổn thương Các chính sách của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, dù là đối với hoạt động nông nghiệp hay hoạt động phi nông nghiệp đều ít nhiều ảnh hưởng tới việc làm của nông dân
Chính sách hỗ trợ phát triển và tăng thu nhập nông hộ là những giải pháp
để thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo ngành nghề mà chính sách tác động, có thể chia thành: (1) chính sách phát triển ngành nghề nông nghiệp; (2) chính sách phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
Theo quá trình sản xuất, các chính sách của nhà nước có thể tác động tới
Trang 27những yếu tố từ đầu vào cho quá trình sản xuất, tác động tới quá trình sản xuất và tác động tới đầu ra, tiêu thụ sản phẩm Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn của nhà nước vì vậy có thể chia thành: chính sách đảm bảo cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn; chính sách đào tạo, dạy nghề; chính sách hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ; chính sách hỗ trợ đất đai; chính sách hỗ trợ vốn; chính sách hỗ trợ nguyên liệu đầu vào (con giống, cây giống, phân bón, thức ăn gia súc); chính sách ưu đãi thuế; chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm như chính sách thu mua, chính sách phát triển chế biến, chính sách khuyến khích liên kết giữa nông dân, người cung cứng và tiêu thụ
Hiện nay ở nước ta có thể phân thành hai nhóm chính sách: nhóm chính sách của chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án tạo điều kiện cho nông hộ phát triển sản xuất, tăng thu nhập và nhóm chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia, các dự
án tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
- Thứ nhất, nhóm chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng cho nông hộ
+ Chính sách hỗ trợ vốn
+ Chính sách thuế, phí và lệ phí đối với sản xuất nông nghiệp
- Thứ hai, chính sách hỗ trợ đất đai đối với sản xuất nông nghiệp
- Thứ ba, chính sách khuyến nông
- Thứ tư, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận dịch vụ xã hội
- Thứ năm, công tác tổ chức quản lý của nhà nước và phối hợp thực hiện phát triển nông nghiệp nông thôn
1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao thu nhập của người nông dân trong bối cảnh CNH, HĐH
1.1.4.1.Về kinh tế
Thu nhập của người nông dân là một hợp phần để hình thành nên tổng thu nhập quốc gia Trong kinh tế học hiện đại, GDP được đo lường từ thu chi tiêu Chính phủ, đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình Nói cách khác, nếu chi tiêu Chính phủ tăng, đầu tư của doanh nghiệp tăng và tiêu dùng của hộ gia đình tăng thì tổng sản phẩm quốc dân tăng Đối với người dân, việc tăng chi
Trang 28tiêu chỉ có thể thực hiện một cách bền vững khi thu nhập của họ tăng Thêm vào
đó, khi người dân gia tăng tiêu dùng thì doanh nghiệp sẽ bán được nhiều hàng hóa hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp vì thế tăng theo Điều này làm cho các doanh nghiệp hứng thú đầu tư mở rộng sản xuất, có thêm lợi nhuận Khoản thuế
mà doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng lên Với nguồn ngân sách nhiều hơn, chính phủ sẽ thực hiện nhiều hơn các hoạt động chi tiêu Như vậy, thu nhập của người dân tăng có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia
1.1.4.2 Về chính trị
Nguyên nhân của cuộc khủng khoảng chính trị thường bắt nguồn từ tình trạng khó khăn trong đời sống kinh tế của những nhóm người trong xã hội Đối với các quốc gia đang phát triển, dân số sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp, với thu nhập thấp và không có sự chuyển biến cùng với sự thay đổi của xã hội, thì những đối tượng này sẽ mất lòng tin với Chính phủ cầm quyền Biểu tình, chống đối nhà nước cầm quyền tất yếu sẽ xảy ra Nói cách khác, khi thu nhập thấp, người nông dân mất niềm tin vào Chính phủ cầm quyền, và thường bị lôi kéo vào các hoạt động chống đối, biểu tình, làm ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị Ngược lại, khi thu nhập cao, đời sống được đảm bảo, họ tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính phủ cầm quyền, chăm chỉ làm ăn và ít khi thực hiện các hoạt động chống đối nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến hệ thống chính trị quốc gia
1.1.4.3 Về xã hội
Thu nhập tăng tạo điều kiện cho người dân tăng tiêu dùng và tiếp cận tốt hơn đối với các dịch vụ xã hội được cung ứng Những cá nhân, gia đình có thu nhập cao nhìn chung có chất lượng cuộc sống tốt hơn so với những cá nhân, gia đình có thu nhập thấp, bởi thu nhập cao tạo điều kiện cho những người này có thể sở hữu những hàng hóa, tài sản phục vụ sinh hoạt hàng ngày có giá trị và chất lượng tốt hơn so với những người ở trong tình trạng khó khăn hơn về thu nhập Thu nhập cao tạo điều kiện cho những đối tượng này có điều kiện tích lũy tốt hơn, nên các khoản đầu tư cho học hành, chăm sóc y tế của bản thân và
Trang 29gia đình của họ cũng tốt hơn so với nhóm mà thu nhập chỉ đủ tiêu dùng và hầu như không có khả năng tích lũy
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao thu nhập của nông dân
1.2.1 Thực tiễn nâng cao thu nhập cho nông dân của một số nước trên thế giới
Ở châu Âu, sự phát triển của khoa học - công nghệ, cơ giới hóa được tiến
hành với việc sử dụng máy móc do súc vật kéo bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX và các máy động lực sử dụng động cơ đốt trong vào đầu thế kỷ XX Hóa học hóa được phát triển với việc sử dụng kết hợp phân hữu cơ và phân hóa học từ giữa thế kỷ XIX và sử dụng rộng rãi phân hóa học tạo nên bước chuyển biến đáng kể về sản lượng nông sản vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Không chỉ gia tăng về sản lượng, giá trị gia tăng có được từ cơ khí hóa và hóa học hóa, ứng dụng khoa học công nghệ đã đem lại việc làm và thu nhập cao hơn cho nông dân Những năm 70 của thế kỷ XIX, Anh, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan và Bỉ được coi là “cốt lõi của ngành nông nghiệp thâm canh và năng suất cao” của châu Âu[14]
Hà Lan được coi là đại diện cho đầu tư nghiên cứu và áp dụng khoa học-
công nghệ để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp ở châu Âu Hà Lan chiếm đến 25% tổng diện tích nhà kính thế giới với nghề trồng rau – hoa- cây cảnh Diện tích đất sản xuất ngoài trời chỉ chiếm 6% tổng diện tích đất trồng trọt nông nghiệp của nước này Với các thiết bị điều hành hiện đại áp dụng công nghệ tin học, sản xuất được cơ giới hóa, tự động hóa (làm ấm, làm mát, thông gió, tưới nước, bón phân, phun thuốc, thanh trùng…) và chuyên môn hóa cao độ (mỗi công ty hoặc một trang trại với vài hecta nhà kính sản xuất vài giống cây), sản xuất trong nhà kính cho hiệu quả tăng 5-6 lần sản xuất ngoài trời Thu nhập nhiều hơn có được từ việc gia tăng năng suất trong nông nghiệp là một yếu tố quan trọng giảm đói nghèo của nông dân Hà Lan[14]
Ở nước Anh, đất đai chăn thả gia súc tự do trước đây được rào lại thành trang
trại quy mô lớn, đầu tư thâm canh sử dụng phân bón, cây trồng mới, luân canh đem lại nhiều lợi nhuận hơn cho các chủ trang trại, đồng thời cũng làm cải thiện đời sống của các nông trang viên Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, năng suất lao động của
Trang 30các trang trại chăn nuôi lấy thịt và sữa tăng nhanh, diện tích trồng ngũ cốc truyền thống giảm mạnh Những nông dân miền Đông nước Anh trước kia phụ thuộc vào lúa mì và lúa mạch đã thay đổi cơ cấu sản xuất, ngũ cốc chỉ còn chiếm 1/3 trong khi chăn nuôi tăng lên hơn 50% sản lượng[14]
Chính phủ Úc gần đây đã xây dựng một Chương trình Hòa nhập xã hội do
Cơ quan hòa nhập xã hội phụ trách trực thuộc Văn phòng Thủ tướng và Nội các Mặc dù chương trình này mới đang trong giai đoạn đầu nhưng hai nguyên tắc cơ bản đã được đưa ra rõ ràng: Phải giải quyết được tách biệt xã hội của các cá nhân và cộng đồng và đầu tư vào vốn con người, chất xám Ở nước Úc, Chính phủ nước này nhận thấy rằng thu nhập thấp của các hộ nông dân là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tách biệt xã hội về mặt kinh tế Vì vậy, để giải quyết vấn đề này, Chính phủ chủ trương tạo ra những thay đổi cải thiện đáng kể về khả năng sinh lợi nhuận trong lĩnh vực nông nghiệp để gia tăng thu nhập cho nông dân trên cơ sở trợ cấp/ hỗ trợ phát triển công nghệ cao ứng dụng cho nông nghiệp[14]
Thái Lan, là một nước láng giềng trong khu vực Đông Nam á, Chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành một nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách liên quan đến việc phát triển kinh tế nói chung và miền núi nói riêng ban hành từ những năm 1980 mà hiện nay vẫn phát huy tác dụng: xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn đặc biệt khu vực miền núi Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập
ở các vùng ở xa, đầu tư xây dựng nhiều đập nước ở các vùng sâu, xa Chính sách
mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng đông bắc Đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông sản, Thái Lan đã xuất khẩu ngô sang Nhật Bản, sắn sang cộng đồng châu
âu, và đặc biệt xuất khẩu gạo sang các nước trên thế giới Tạo các điều khoản đầu tư thuận lợi đối với người nước ngoài, nhằm thu hút vốn đầu tư của các công ty nước ngoài vào Thái Lan Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng tiền trước cho nông dân cam kết mua hoặc bán sản phẩm với giá ấn định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy
Trang 31kinh tế vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề tồn tại đó là: việc mất cân bằng sinh thái, đó là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt quệ hoá đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ theo mùa vụ[14]
Phillipines là nước có điển hình về các mô hình sử dụng đất dốc bền vững
Từ năm 1970 – 1982, trung tâm đời sống nông thôn Philipines đã tổng kết thực tế xây dựng và hoàn thiện 4 loại hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác đất nông nghiệp trên đất dốc bền vững gọi tắt là SALT[14]
Indonesia thực hiện kế hoạch 5 năm 1969 – 1974, mỗi hộ di cư đều được trợ
cấp của Chính phủ như tiền cước vận chuyển đi quê mới, một căn nhà 2 buồng, 0,5
ha đất thổ cư và 2 ha đất canh tác (1ha cây lâu năm và 1 ha cây hàng năm), một năm lương thực khi đến khu định cư mới Được chăm sóc y tế, giáo dục, được vay vốn với lãi suất ưu đã, vay đầu tư cho cây nông nghiệp, đến kỳ thu hoạch mới trả nợ Có trường hợp Nhà nước đầu tư trồng sẵn cây dài ngày, nông dân đến nhận vườn cây, chăm sóc, thu hoạch xong mới phải thanh toán cho nhà nước Hiện nay, Inđônêxia
có trên 80.000 – 100.000 hộ đến các vùng kinh tế mới chi phí bình quân trên mỗi hộ
từ 5000 – 7000USD[14]
Malaysia đã có kinh nghiệm tổ chức thực hiện các chương trình di dân gắn
với phát triển nông thôn Chương trình do cục quy hoạch gọi tắt là FELDA thực hiện và thu được thành công đáng kể, trong 18 năm FELDA đã mở ra 210 chương trình khai hoang với diện tích 40.000 ha, định cư cho 41.000 hộ, góp phần tạo ra nông sản có giá trị xuất khẩu cao cho đất nước Thành công này là do sự chỉ đạo đồng bộ một số vùng trọng điểm – ổn định kế hoạch di dân gắn với chương trình xuất khẩu, đặt dưới sự chỉ đạo của một số chuyên trách gọn mà hiệu quả[14]
1.2.2 Các công trình nghiên cứu mới đây về thu nhập và nâng cao thu nhập cho ng ư ời dân miền núi ở Việt Nam
Ở nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, kinh tế hộ nông dân được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Đã có một số công trình khoa
Trang 32học về kinh tế hộ nông dân được công bố Một số công trình nghiên cứu về kinh tế
hộ nông dân có thể kể đến như:
Tác phẩm của Trần Đức về “Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới”
đã đi sâu nghiên cứu về lịch sử trang trại trên thế giới và Việt Nam
Tác phẩm của Đào Thế Tuấn “Kinh tế hộ nông dân” đi sâu nghiên cứu cơ sở
lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ nông dân
Tác phẩm của tập thể tác giả nhà Khoa học xã hội “Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam” đã làm rõ cơ sở lý luận, hiện trạng về phát triển kinh tế hộ giữa các vùng trong nước
Một số luận án Tiến sỹ Khoa học Kinh tế đã bảo vệ thành công như Nguyễn Thị Nghệ, Mai Văn Xuân, Đỗ Thanh Phương đã đi sâu giải quyết từng khía cạnh của kinh tế hộ như: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, vai trò của kinh tế hộ trong xã hội nông thôn, kinh tế hộ với vấn đề sản xuất hàng hoá, kinh tế
hộ trong cơ chế thị trường Trong mỗi công trình nghiên cứu về kinh tế hộ, từng tác giả đã đi sâu khai thác làm sáng tỏ và phong phú thêm kiến thức về kinh tế hộ nông dân
1.2.3 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông dân một số địa phương của Việt Nam
Huyện Củ Chi là huyện đầu tiên của cả nước thực hiện thành công xây
dựng nông thôn mới Có thể nói, xây dựng nông thôn mới không chỉ là xây dựng điện, đường, trường, trạm, là xây dựng cơ sở hạ tầng mà mục tiêu chính là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Cơ sở hạ tầng hiện đại chính là nền tảng vững chắc để quá trình chuyển đổi sản xuất đi sâu và hiệu quả Thông qua việc tập trung thực hiện chuyển đổi ngành nghề, phương thức sản xuất và cây trồng – vật nuôi đã góp phần nâng cao đời sống người dân, từ đó từng bước hoàn thành tiêu chí khó thực hiện nhất – tiêu chí thu nhập Chìa khóa để giải quyết tiêu chí thu nhập mà huyện đã tập trung thực hiện trong thời gian qua chính là đưa doanh nghiệp về với nông thôn Doanh nghiệp chính là cầu nối rất tốt cho nông dân Doanh nghiệp đưa khoa học kỹ thuật công nghệ về cho nông dân Doanh nghiệp chính là nơi giúp chuyển dịch cơ cấu lao động và doanh nghiệp cũng chính là nơi tiêu thụ sản phẩm
mà người nông dân làm ra[17]
Trang 33Năm 2013, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt và triển khai đề án “Tỉnh
Quảng Ninh - mỗi xã, phường một sản phẩm” trong xây dựng NTM gắn với tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai thực hiện chương trình này một cách có bài bản, có hệ thống, từ việc hình thành bộ máy chỉ đạo tổ chức thực hiện, ban hành cơ chế chính sách đến hướng dẫn quy trình triển khai Chia sẻ kinh nghiệm của Quảng Ninh trong quá trình thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”, ông Nguyễn Đức Long - Chủ tịch UBND tỉnh nêu ra 3 mục tiêu quan trọng mà Quảng Ninh đã và đang thực hiện Thứ nhất, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế ở các xã, phường, thị trấn gắn với xây dựng NTM Thứ hai, thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM Thứ ba, thông qua việc phát triển sản xuất tại các địa bàn nông thôn, góp phần tạo việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho nhân dân, hạn chế việc di cư ra thành phố, bảo vệ môi trường và gìn giữ ổn định xã hội nông thôn[17]
Tại Đắk Lắk, thực hiện chương trình phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, qua 5 năm triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới từ 2011 đến 2016, toàn tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện 17 đề án lớn về phát triển sản xuất với
350 mô hình trồng trọt và chăn nuôi có hiệu quả Bên cạnh việc phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình, ngành nông nghiệp của tỉnh đã có sự đổi mới mạnh mẽ về hình thức sản xuất với nhiều mô hình hiệu quả đã được xây dựng và phát triển gắn với xây dựng nông thôn mới như: mô hình trang trại, mô hình hợp tác xã và tổ hợp tác,
mô hình liên minh sản xuất nông nghiệp cạnh tranh Theo đánh giá của Văn phòng Điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh, một trong những địa phương thực hiện tốt việc xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân là huyện Krông Pắk Huyện đã
hỗ trợ nhân dân sản xuất theo hướng hàng hóa, liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm như công ty TNHH MTV Cà phê
719 hợp đồng liên kết với nhân dân sản xuất, thu mua lúa giống; các công ty thu mua sầu riêng cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn nhân dân chăm sóc sầu riêng và ký hợp
Trang 34đồng bao tiêu sản phẩm cho người dân Qua 5 năm, huyện đã triển khai 66 mô hình phát triển sản xuất, 102 mô hình trình diễn các giống lúa, ngô mới; tổ chức 277 lớp tập huấn kiến thức chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho nhân dân Các hoạt động trên đã góp phần tăng thu nhập cho người dân, thu nhập bình quân đạt 23 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3%/năm
Tại xã Êa Ô, huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, xã đã triển khai nhiều mô hình về trồng trọt, chăn nuôi, chuyển đổi một số diện tích cây điều kém hiệu quả sang trồng ca cao, cao su tiểu điền Các mô hình sản xuất, chương trình hỗ trợ sản xuất như: lúa giống, máy sản xuất, giống cây trồng từ các dự án với kinh phí trên 2,9 tỷ đồng, ngoài ra nhân dân trên địa bàn xã còn huy động vốn tín dụng để sản xuất nông nghiệp hơn 55 tỷ đồng
đã góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo diện mạo mới cho bộ mặt nông thôn xã và góp phần xóa đói giảm nghèo Nhờ đẩy mạnh phát triển sản xuất, số hộ nghèo của xã ngày càng giảm mạnh, từ 10,97% năm 2011 xuống còn 4,7% năm 2015[17]
1.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Huyện Yên Thủy
Bài học thành công từ các quốc gia cho thấy, việc nâng cao thu nhập của nông dân phụ thuộc vào: (i) Cơ chế chính sách trong việc hỗ trợ nông dân tiếp cận tới các phương tiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; (ii) Khả năng tiếp nhận các chuyển giao công nghệ trong phát đa dạng hóa việc làm của người nông dân Để nâng cao tình trạng thu nhập cho người nông dân, từ kinh nghiệm của các nước và các tỉnh, có thể đưa ra một số gợi ý đối với Yên Thủy như sau:
- Thứ nhất, đầu tư cho giáo dục đào tạo là cách thoát nghèo hiệu quả nhất
Thông qua giáo dục đào tạo, nông dân có cơ hội có được công việc với mức thu nhập thỏa đáng để có thể thoát khỏi ngưỡng nghèo tuyệt đối Phổ cập giáo dục, dạy nghề, hướng nghiệp được coi là những vấn đề thiết yếu nhất mà chính phủ các quốc gia như Anh, Pháp thực hiện đối với người dân để qua đó giúp cho công dân nước
họ có điều kiện tốt hơn khi tiếp xúc tới thị trường lao động
Thứ hai, chú ý chăm sóc sức khỏe cho nông dân Vấn đề không được khám
chữa bệnh thỏa đáng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sức khỏe, do vậy ảnh
Trang 35hưởng đến việc làm và thu nhập của nông dân Làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, vị trí địa lý, cũng như các công nghệ sinh học được sử dụng, nên những thay đổi về khí hậu cũng như tác động của các hoá chất đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người lao động Để đảm bảo khả năng tham gia lao động, người lao động phải được chữa trị kịp thời khi bị ốm đau, bệnh tật
Thứ ba, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với hệ thống chính sách cụ thể như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung
cấp các dịch vụ khoa học công nghệ không phải trả tiền, …
Thứ tư, tăng cường trợ giúp của chính phủ để nông dân có điều kiện tăng thu nhập Điều này diễn ra ở nhiều nước châu Âu, thuộc hệ thống EU Trong bối cảnh
thương mại toàn cầu, các hình thức hỗ trợ thu nhập này cũng rất da dạng, như bồi thường cho nông dân bị ô nhiễm môi trường do tác động của sự phát triển công nghiệp…
Thứ năm, tạo điều kiện cho các thành viên tham gia vào những quá trình hoạch định chính sách giải quyết tình trạng đói nghèo, thu nhập thấp thông qua việc
khuyến khích họ tham gia vào các hành động của cộng đồng, địa phương và các tổ chức giải quyết vấn đề này Xây dựng mạng lưới xã hội và giúp nông dân nhập tốt vào mạng lưới này Thông qua mạng lưới, nông dân có thể được hưởng trợ giúp về thu nhập hoặc có thể tìm việc làm thông qua các mối quan hệ Chính phủ khuyến khích người nghèo tham gia và góp ý kiến cho việc xây dựng những chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm từ đó giải quyết được tình trạng tách biệt xã hội về khía cạnh kinh tế
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy - Hòa Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Yên Thuỷ tỉnh Hoà Bình ở vùng Trung du phía Bắc Việt Nam, ở cực Đông nam của tỉnh Hoà Bình, cách huyện Hoà Bình khoảng 85 km, huyện Ninh Bình đường quốc lộ 1A khoảng 50km, cách thủ đô Hà Nội, sân bay quốc tế nội bài khoảng 100 km, cách huyện Sơn la tỉnh Sơn La khoảng 250 km…phía Đông giáp huyện Lạc Thuỷ (Hoà Bình) phía tây giáp huyện Lạc Sơn (Hoà Bình), phía Nam giáp huyện Nho Quan (Ninh Bình), huyện Thạch Thành (Thanh Hoá), phía Bắc giáp huyện Kim Bôi (Hoà Bình) Huyện Yên Thủy có tổng diện tích đất tự nhiên là 28.861,42 ha,là huyện tiếp giáp với 3 vùng lãnh thổ: Tây Bắc bộ - Đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ, nằm ở cửa ngõ kiểm soát tuyến giao thông huyết mạch - quốc lộ 12B nối vùng Tây Bắc với quốc lộ 1A, tiếp giáp với 2 vùng kinh tế lớn có dân số đông (vùng Đồng bằng sông Hồng và bắc Trung bộ)
Yên Thuỷ có sông Lạng bắt nguồn từ xã Bảo Hiệu, Hữu Lợi chảy về sông Nho Quan, có đường quốc lộ chạy cắt giữa huyện hướng tâm tại thị trấn huyện ly tạo thành hai trục giao thông liên kết giữa huyện với các huyện trong tỉnh và với các tỉnh bạn Huyện Yên thuỷ nằm ở vị trí cửa ngõ huyết mạch với quốc lộ 12B đi qua địa bàn huyện dài 22,0km dọc 5 xã, thị trấn (Lạc Thịnh, Yên Lạc, Phú Lai, Yên Trị, Ngọc Lương, thị trấn Hàng Trạm) nối vùng Tây bắc với quốc lộ 1A là nơi tiếp giáp với 2 vùng kinh tế lớn, và đường Hồ Chí Minh con đường chiến lược Bắc - Nam đi qua 4 xã, thị trấn dài 22,5 km bao gồm (Lạc Thịnh, Yên Lạc, Bảo Hiệu, Lạc Hưng, Thị trấn Hàng Trạm) đã nâng vị trí của Yên Thuỷ lên tầm chiến lược quan trọng về kinh tế cũng như quốc phòng tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và vận chuyển hàng hoá
Trang 372.1.1.2 Địa hình
Yên Thuỷ là huyện duy nhất của tỉnh Hoà Bình tiếp giáp với vùng lãnh thổ: Tây Bắc - Đồng bằng sông Hồng và bắc Trung bộ Tựa lưng và dãy Trường sơn hùng vĩ Yên Thuỷ có vị trí quốc phòng rất quan trọng trong khu vực Độ cao trung bình 24m so vơi mặt nước nước biển Chiều dài trung bình là 26.0km, chiều rộng trung bình là 12,0 km Huyện Yên Thủy có 12 xã và 1 thị trấn với 158 xóm, khu phố; có 6/13 xã thuộc khu vực III; phân thành 3 vùng sản xuất chuyên canh:
Vùng 1: Gồm các xã Lạc Thịnh, Yên Lạc, Thị trấn là vùng trung tâm kinh tế, chính trị, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch
vụ của huyện
Vùng 2: Gồm các xã Đa phúc, Hữu Lợi, Đoàn Kết, Yên Trị, Phú Lai, Ngọc Lương đây là vùng có diện tích rừng và vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng rừng, là vùng có sản lượng lạc, ngô, mía cao nhất huyện
Vùng 3: Gồm các xã: Lạc Hưng, Bảo Hiệu, Lạc Lương, Lạc sỹ cách trung tâm huyện trên 10 km, địa hình cao, dốc, kinh tế chủ yếu là sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng và cây ăn quả Hiện giờ đường Hồ Chí Minh đi qua hai xã Bảo Hiệu, và Lạc Hưng đã tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hoá
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Yên Thủy)
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Thủy
Trang 382.1.1.3 Đất đai
Yên Thuỷ có tổng diện tích tự nhiên là 28.861,42 ha, bằng 6% diện tích của tỉnh Trong đó đất nông nghiệp là 7.294.79 ha chiếm 25,27% tổng diện tích, đất lâm nghiệp có rừng là 14.079,46 ha chiếm Đất chuyên dùng là 1.347,15 ha, đất ở là 2.704,66 ha còn lại là đất chưa sử dụng (đồi núi đất và sông suối)
Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai huyện Yên Thủy theo mục đích sử dụng
1.2 Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản 549,67 1,91
2.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Yên Thuỷ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4
mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông) nhiệt độ, độ ẩm phù hợp với nhiều loại cây trồng công nghiệp như: Đậu tương, mía, cam, chanh, lạc và các loại cây ăn quả, cây công nghiệp khác nhau, các khu vực núi cao khí hậu mát mẻ vào mùa hè đều có khả năng thành lập khu nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái Tuy nhiên những lợi thế này còn nằm ở dạng tiềm năng
Trang 39Với diện tích đất nông nghiệp 7.294.79 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 14.079.46ha Yên Thuỷ là một trong hai huyện duy nhất của tỉnh Hoà Bình có diện tích rừng nằm trong vườn quốc gia Cúc Phương, rừng có ý nghĩa kinh tế lại có ý nghĩa bảo vệ rừng, văn hoá, du lịch Việc bảo vệ vườn Quốc gia Cúc phương và vùng đệm trên diện tích của huyện rất quan trọng, có thể dựa vào lợi thế này để lập
dự án đầu tư, phát triển kinh tế, du lịch
Tài nguyên khoáng sản: Huyện có một số tài nguyên khoáng sản như: Than
đá chất lượng cao ở các xã (Lạc Sỹ, Lạc Lương, Bảo Hiệu, Đoàn Kết, Ngọc Lương, Hữu Lợi) và dạng sa khoáng, mỏ đất sét ở vùng 2, các mỏ đá vôi dùng trong sản xuất xi măng, đá xây dựng, nước khoáng Ngọc Lương…nhưng chưa được khai thác đầu tư nhiều so với tiềm năng sẵn có
Yên Thuỷ nằm trong vùng gianh giới tiếp giáp giữa vùng Tây Bắc, đồng bằng Sông Hồng, Bắc trung bộ nên ảnh hưởng sự giao thoa của nhiều nền văn hoá đậm
đà bản sắc văn hoá dân tộc, nhiều phong tục tập quán, truyền thống lễ hội của các dân tộc của các vùng lãnh thổ khác…Nằm trong không gian của một vùng bán sơn địa nên Yên Thuỷ có nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình, hấp dẫn Dãy trường sơn hùng vĩ với những núi đá xen kẽ tạo ra nhiều thung lũng hang động kỳ thú như: núi thờ, núi cấp (Yên Lạc) với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích, hang động được xếp hạng: Chùa Hang (Yên Trị), động thiên tôn gồm 2 hang: Hang cạn, hang nước (Ngọc Lương), hình thành làng du dịch sinh thái dân tộc Mường (Xóm Thấu - Lạc Sỹ), chùa Tác Đức (Lạc Thịnh), động thiên long (Lạc Lương) Mỗi danh lam thắng cảnh đều chứa đựng trong đó những giá trị vật chất và tâm linh đặc sắc,
là điểm là thu hút khách trong và ngoài nước đến với Yên Thuỷ
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số và lao động
Tính đến năm 2016 trên toàn huyện Yên Thủy có 17.842 hộ với tổng nhân khẩu là 66.040 người Trong số người ở độ tuổi lao động là 39.590 người, lao động qua đào tạo là 12.699 người, chiếm 32,08% lực lượng lao động huyện
Trang 40Số hộ làm nông nghiệp chiếm đa phầnvà do đó nhân khẩu đặc điểm nông hộ
là gia đình đông người và số nhân khẩu nông nghiệp cũng chiếm tỷ trọng lớn Trung bình 1 hộ có khoảng 2 lao động chính
Bảng 2.2 Thống kê tình hình lao động huyện Yên Thủy năm 2016
Về phát triển kinh tế: Cơ cấu ngành kinh tế theo giá hiện hành trong năm
2016 chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Nông, lâm, thủy sản giảm còn 35,81%; Công nghiệp xây dựng chiếm 36,87%; ngành Dịch vụ có xu hướng tăng lên chiếm 27,32% Giá trị tăng thêm bình quân/người/năm đạt 26,74 triệu đồng, tăng 10,03% so với cùng kỳ; Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ, dịch vụ tiêu dùng đạt 334 tỷ đồng Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 234 tỷ đồng
Xét về tổng giá trị sản xuất, tổng giá trị sản xuất có tốc độ phát triển bình quân đạt 109,88%, giá trị tăng qua ba năm Trong đó, nông nghiệp là bộ phận có dự chuyển dịch giảm về giá trị qua ba năm với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn từ
2014 đến 2016 là 105,39% Công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ gia tăng hàng năm cả về giá trị, mức độ đóng góp và đạt tốc độ phát triển bình quân lần lượt
là 112,91% và 114,09% Đặc biệt, năm 2016 công nghiệp-xây dựng đã trở thành bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu sản xuất