1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT ngô gia tự vĩnh phúc

69 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 803,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta điền kinh được coi là một môn thể thao mũi nhọn bởi nó phù hợp với sự phát triển của con người, với phương tiện và điều kiện của đất nước, cũng như môn thể thao khác tập luyện

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

VŨ THỊ THANH MAI

ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO THÀNH TÍCH CHẠY 200M CHO NỮ ĐỘI TUYỂN ĐIỀN KINH TRƯỜNG THPT

Trang 2

Tên tôi là : VŨ THỊ THANH MAI

Lớp : K36 GDTC - GDQP

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả trong đề tài là trung thực và chưa công bố trong bất kì công trình nào Đề tài phản ánh thực tế thực trạng của đội tuyển chạy 200m nữ VĐV Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Vũ Thị Thanh Mai

Trang 4

Bảng biểu Nội dung Trang

Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát

triển SMTĐ trong cự ly chạy 200m nữ (n = 10) 34

Bảng 3.6 Nội dung bài tập phát triển SMTĐ 36

Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra 2 nhóm trước thực nghiệm

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ diễn tả kết quả kiểm tra test Chạy 30m TĐC 43

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ diễn tả kết quả kiểm tra test Bật cóc 30m 44

Biểu đồ 3.3 Biểu đồ diễn tả kết quả kiểm tra test Bật xa tại chỗ 45

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.Những quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC trong trường học 5

1.2 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi THPT 6

1.3 Cơ sở lý luận của các tố chất sức mạnh tốc độ 10

1.4 Cơ sở lý luận để lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ 17

CHƯƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 22

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3 Tổ chức nghiên cứu 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập và đánh giá năng lực SMTĐ trong chạy 200m của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc 27

3.2 Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số bài tập phát triển SMTĐ cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc 32

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thể dục thể thao là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn hóa của dân tộc cũng như nền văn minh của nhân loại Trong đời sống, TDTT đóng vai trò hết sức to lớn, nó là phương tiện có hiệu quả để nâng cao sức khỏe và

là phương tiện để mở rộng quan hệ quốc tế

Ngày nay được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, TDTT Việt Nam

đã có bước khởi sắc mới và đang trên đà phát triển nhanh chóng từng bước hội nhập với nền thể thao khu vực, châu lục cũng như các nước trên thế giới, nước ta đã có những VĐV tham gia Olympic, Asiad thế giới, đặc biệt trong vài thập niên trở lại đây Việt Nam đã liên tục tham gia các kỳ đại hội thể thao Đông Nam Á (Seagames) và luôn có thứ hạng cao, tuy nhiên để so sánh với các quốc gia có nền thể thao phát triển thì TDTT nước ta cần nỗ lực hơn nữa

Giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng là quốc sách hàng đầu trong công tác đào tạo thế hệ trẻ Thấm nhuần lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” [11] cho thấy Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến công tác giáo dục, sự quan tâm đó được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng, văn bản của nhà nước, đặc biệt quan trọng nhất là ở hội nghị trung ương IV khóa VI “Cùng với khoa học giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu đó là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản, đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ đất nước” [14] Vì vậy công tác GDTC trong trường học

là một bộ phận không thể tách rời mục tiêu giáo dục và đào tạo từ bậc tiểu học đến bậc đại học Với mục đích nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, nhằm trang bị cho các em những kiến thức hiểu biết để bồi dưỡng kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết phục vụ học tập, lao động, xây dựng bảo vệ Tổ quốc Từ đó Đảng và Nhà nước cùng với các cấp các ngành

Trang 7

đã quan tâm đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị giảng dạy phục vụ công tác giáo dục thể chất trong các trường phổ thông

Điền kinh là môn thể thao rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt động tự nhiên của con người: Đi bộ, chạy nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp, ở nước ta môn Điền kinh đã có lịch sử phát triển từ lâu đời, với các hình thức tập luyện đa dạng đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng quần chúng tham ra tập luyện và thi đấu Khi chạy tất cả các nhóm cơ cùng tham gia hoạt động nhưng chủ yếu là cơ quan nội tạng Việc gắng sức luân phiên với thả lỏng tích cực tạo điều kiện cho việc phát triển các tố chất sức nhanh, mạnh, bền, sự mềm dẻo, khéo léo và khả năng phối hợp của con người Môn chạy nói chung và chạy nhanh nói riêng là biện pháp tốt nhất để rèn luyện nâng cao sức khoẻ, ngoài ra còn trang bị cho người tập những phẩm chất đạo đức ý chí cũng như tăng cường vốn kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong cuộc sống

Điền kinh giữ vai trò quan trọng trong nền giáo dục thể chất trong trường học nói chung và trong các trường phổ thông trung học nói riêng, đặc biệt là trường THPT Ngày nay phong trào TDTT nói chung và Điền kinh nói riêng trong chạy cự ly 200m đang được phát triển mạnh mẽ ở các trường cơ

cự li ngắn cho học sinh trong nhiều năm qua đã được chú trọng song vẫn còn phải khắc phục khá nhiều khó khăn

Trang 8

Từ thời cổ xưa con người đã biết sử dụng chạy để đuổi bắt con vật hay chạy trốn khi bị chúng tấn công Qua nhiều năm tháng, chạy trở thành môn thể thao hấp dẫn chinh phục thời gian trên những đoạn đường quy định, thể hiện khả năng về sức nhanh, sức bền của con người Chạy được tổ chức thi đấu theo nhiều nội dung khác nhau từ 60m, 80m, 100m cho đến 10.000m, 42195m(chạy ma ra tông) Dựa theo đặc thù chuyên môn chạy được chia thành 3 nhóm cự ly: Ngắn, trung bình, dài Chạy cự ly ngắn gồn có 60m, 80m, 100m, 200m và 400m Cự ly 60m, 80m, 100m chạy trên đường thẳng, 200m, 400m vừa chạy trên đường thẳng, vừa chạy trên đường vòng Đặc điểm cự ly ngắn là cơ thể phải làm việc với cường độ cực đại (tốc độ tối đa) trong thời gian ngắn, trong tình trạng nợ ôxi Chạy còn có loại hình khác nữa như chạy tiếp sức, chạy vượt rào, chạy việt dã v.v với nhiều cự ly khác nhau

Hoạt động TDTT vô cùng phong phú và đa dạng mỗi môn thể thao đều mang sắc thái thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính thẩm mỹ thu hút được sự đam mê của con người theo cách thức riêng của từng môn Điền kinh là một trong những môn thể thao được nhiều người ưa thích, nó đã

và đang phát triển rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Ở nước ta điền kinh được coi là một môn thể thao mũi nhọn bởi nó phù hợp với

sự phát triển của con người, với phương tiện và điều kiện của đất nước, cũng như môn thể thao khác tập luyện Điền kinh có khả năng tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực…

Như chúng ta biết muốn đạt được thành tích cao trong chạy cự ly 200m đòi hỏi VĐV phải phát triển đầy đủ các tố chất thể lực như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền… Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là tố chất sức mạnh tốc độ Bởi nét đặc trưng của chạy 200m là khả năng vượt qua cự ly trong thời gian ngắn nhất Chính vì vậy trong quá trình huấn luyện thì việc nghiên cứu các bài tập sức mạnh tốc độ không thể thiếu được

Trang 9

Như vậy trong quá trình huấn luyện chạy cự ly 200m thì sức mạnh tốc

độ là yếu tố quan trọng của VĐV Điền kinh Xuất phát từ những vấn đề trên, nhận thức được tầm quan trọng của việc huấn luyện tốc độ cho VĐV chạy cự

ly ngắn (200m) trong tập luyện và thi đấu Vì vậy chúng tôi mạnh dạn chọn

đề tài: “Ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao

thành tích chạy 200m cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia

Tự - Vĩnh Phúc”

* Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát triển SMTĐ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học

Ngay từ ngày đầu thành lập nước Bác Hồ đã phát động lời kêu gọi toàn dân tập thể dục Bác luôn cho rằng việc rèn luyện TDTT là rất cần thiết đối với mọi người dân và đặc biệt là những lực lượng vũ trang Bác Hồ nói: Mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt, mỗi người dân khỏe mạnh là góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh Vậy nên tập thể dục bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của những người dân yêu nước [6] Lời kêu gọi của Bác đã được toàn Đảng, toàn dân toàn quân hưởng ứng và thực hiện Các hoạt động TDTT được phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng Thấy rõ được lợi ích to lớn mà việc rèn luyện TDTT mang lại nên trong hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức TDTT tự nguyện của nhân dân tạo điều kiện để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT chuyên môn, bồi dưỡng các tài năng TT” [7]

Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/ 03/ 1994 của Ban bí thư trung ương Đảng khóa VII đã giao trách nhiệm của Bộ giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làn cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng TT cho quốc gia [1]

Trang 11

Luật giáo dục được quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được ủy ban thường

vụ quốc hội thông qua tháng 9/2000 quyết định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc

và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho người học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện cho học sinh tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa [10]

1.2 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi THPT

1.2.1 Đặc điểm tâm lý

Về mặt tâm lý các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn người khác tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích, tổ hợp, muốn hiểu biết, nhiều hoài bão, nhưng vẫn còn nhiều nhược điểm thiếu kinh nghiệm cuộc sống

Các em đã có thái độ tích cực trong học tập Tình cảm của các em được hiểu biết rõ ràng hơn, tình cảm yêu quý và gắn bó với mái trường mà các em sắp giã từ, đặc biệt đối với giáo viên chủ nhiệm của các em Điều này giúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy Nó thúc đẩy các em tự giác, tích cực trong học tập

Độ tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan, tự ý thức hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, độc đáo và

Trang 12

mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn Đó là tuổi nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt mà đó là sự say mê ước vọng nhiệt tình Các em có thái độ tự giác tích cực trong học tập, xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề nghiệp sau này Do đó quá trình hưng phấn cao hơn quá trình ức chế nên các

em tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng chán Khi đạt được một số kết quả sẽ dẫn đến tự mãn, điều đó có tác động không tốt đến tập luyện cũng như thi đấu thể thao Vì vậy khi tiến hành tập luyện, huấn luyện cho các em ở lứa tuổi này cần phải uốn nắn nhắc nhở chỉ bảo tận tình định hướng và động viên các em hoàn thành tốt nhiệm vụ, có hình thức khen thưởng động viên đúng lúc kịp thời Trong quá trình huấn luyện dần dần từng bước động viên các em tiếp thu chậm Từ đó làm các em không cảm thấy chán có định hướng phấn đấu và hiệu quả bài tập được nâng cao

* Đặc điểm tâm lý của học sinh nữ khi tập luyện chạy 200m

Do đặc điểm của nữ giới khác nam giới nên lượng vận động cũng khác Đặc điểm sinh lý của nữ yêu cầu phải xây dựng lượng vận động một cách thận trọng, hợp lý Đặc biệt là các bài tập sức mạnh, bài tập bật nhảy, chạy tốc

độ cao, chức năng của cơ quan nội tạng và cơ bắp phụ nữ kém hơn ở nam và khác nhau, khi đặt kế hoạch phải chú ý đến đặc điểm của khung chậu, các cơ bụng, cơ vùng hông rất yếu, ngay từ khi bắt đầu tập phải thường xuyên củng

cố hệ thống này Chính vì các đặc điểm trên làm hạn chế tốc độ chạy, tốc độ bật nhảy của phụ nữ Sức mạnh là tính đàn hồi của cơ tăng lên làm cho các cơ quan nội tạng hoạt động bình thường khi chạy và chạy với tốc độ cao Đặc biệt chú ý đến việc tập luyện của học sinh nữ trong thời gian xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt, cả thời gian này lượng vận động phải giảm, nhất là chạy với tốc

độ cao Nếu không theo chế độ, tính chất nguyên tắc trên sẽ làm giảm hoạt động bình thường của học sinh nữ bị rối loạn thần kinh

Trang 13

1.2.2 Đặc điểm sinh lý

Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên là thời điểm đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn, có nghĩa ở lứa tuổi này cơ thể các em đang phát triển mạnh, khả năng hoạt động của các cơ quan và các bộ phận cơ thể được nâng cao cụ thể:

* Hệ thần kinh: Sự phát triển thể hình đã hoàn thiện xong, kích thước

não và hành tủy đã đạt đến mức của người trưởng thành hoạt động phân tích

và tổng hợp của vỏ não tăng lên Trên vỏ não có các chi giác hoạt động có định hướng sâu sắc hơn, khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính xác khả năng vận động được nâng cao, ngoài ra do việc hoạt động của các tuyến giáp trong tuyến sinh dục cũng ảnh hưởng đến hoạt động thể dục thể thao, các bài tập đơn điệu làm cho học sinh nhàm chán mệt mỏi Vì vậy cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện [7]

* Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để đi

đến hoàn thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệ xương Cơ

to phát triển nhanh hơn cơ nhỏ, cơ chi phát triển nhanh hơn cơ dưới, khối lượng cơ tăng lên rất nhanh, đàn tính cơ tăng không đều, chủ yếu là nhỏ và dài Do vậy khi cơ hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảng dạy cần chú ý phát triển cơ bắp cho các em [7]

* Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển

để kịp thời phát triển toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát triển mạnh, do đó nâng cao khá rõ lưu lượng máu/phút Mạch lúc bình thường chậm hơn (tiết kiệm hơn), nhưng khi vận động căng thì tần số nhanh hơn Phản ứng của tim đối với các lượng vận động thể lực đã khá chính xác, tim trở nên hoạt động dẻo dai hơn [7]

Trang 14

* Hệ xương: Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở xương có độ dài

nhưng chuyển thành sương ụ Cột sống đã ổn định về hình dáng nhưng chưa được củng cố dễ bị cong vẹo [7]

* Hệ máu: Ở lứa tuổi này các em hoạt động cơ bắp cho nên hệ máu có

những thay đổi nhất định Hàm lượng hêmôglôbin cũng như hàm lượng trong máu đều tăng làm cho dung dịch ôxy trong máu cũng tăng lên, sau các hoạt động kéo dài thì hồng cầu sẽ giảm đi và quá trình hoạt động xảy ra nhanh [7]

* Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này, phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa

đều, khung ngực còn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và lâu không có sự ổn định của dung tích sống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần số

hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếu ôxi, dẫn đến mệt mỏi [7]

* Trao đổi năng lượng: Ở giai đoạn này đòi hỏi về các chất đường,

đạm, mỡ và muối khoáng rất lớn, quá trình chuyển hóa xảy ra rất nhanh lượng

tế bào tăng một mặt chuyển hóa cho quá trình trưởng thành cơ thể, mặt khác

để cung cấp cho quá trình vận động thể lực [7]

Như vậy tất cả các bộ phận cơ quan trong cơ thể ở lứa tuổi này vẫn đang phát triển và dần đi đến hoàn thiện Do đó việc huấn luyện, giảng dạy phải hết sức lưu ý để làm sao tạo điều kiện tốt nhất để các em tiếp tục phát triển cân đối và hoàn thiện

Tóm lại: Từ những đặc điểm tâm sinh lý chúng tôi đưa ra phương pháp

và khối lượng bài tập một cách hợp lý với lứa tuổi này là cơ thể của các em phát triển và dần đi đến hoàn thiện về các cơ quan trong hệ thống trong cơ thể Do vậy việc sử dụng các bài tập phát triển tố chất thể lực nói chung và phát triển sức mạnh tốc độ nói riêng, đặc biệt là vận dụng các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm góp phần nâng cao thành tích chạy 200m Qua

Trang 15

phân tích tài liệu chuyên môn và khảo sát thực tiễn thì ở thời điểm lứa tuổi này phát triển tố chất sức mạnh tốc độ là hợp lý và có hiệu quả cao

1.3 Cơ sở lý luận của các tố chất sức mạnh tốc độ

1.3.1 Khái niệm và các quan điểm về SMTĐ

Sức mạnh tốc độ được thực hiện ở những hoạt động nhanh và khắc phục trọng tải Trong đó lực và tốc độ có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau

Sức mạnh của con người trong hoạt động thể dục, thể thao phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

+ Cấu trúc của cơ (thiết diện sinh lý của sợi cơ)

+ Nguồn năng lượng yếm khí

+ Quá trình điều hoà thần kinh cơ

Sức mạnh là khả năng của con người sinh ra lực cơ học bằng sự nỗ lực của cơ bắp, hay nói cách khác sức mạnh là khả năng của con người khắc phục lực đối kháng bên ngoài hay đối kháng nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp, khi phân chia theo cấu trúc vận động sức mạnh bao gồm:

* Sức mạnh mang tính nhanh: Là giá trị tốc độ và độ lớn của lực sinh ra khi co cơ

* Sức mạnh đơn thuần: Khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh

Trang 16

* Sức mạnh tốc độ: Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh trong khi xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh tốc độ

* Sức mạnh tuyệt đối: Là khả năng khắc phục lực cản lớn nhất trong cơ thể

* Sức mạnh sức bền: Là khả năng duy trì sức mạnh trong thời gian dài

* Sức mạnh bột phát: Là khả năng công phát huy lớn nhất trong thời gian ngắn nhất

Để hiểu rõ hơn về SMTĐ chúng tôi đã tham khảo các quan điểm của các nhà khoa học TDTT trong và ngoài nước

Theo quan điểm của các nhà tâm lý thì: Sức mạnh tốc độ là khả năng VĐV vượt qua lực cản bên ngoài với tốc độ co cơ lớn (các môn ném đẩy, nhảy cao, chạy ngắn) song các môn thể thao khác đặt ra, sức mạnh luôn luôn

có quan hệ với tố chất thể lực cụ thể với sức mạnh và sức bền

Năng lực sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục các lực cản với tốc độ

co cơ cao của VĐV, việc vận dụng hệ thống các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho những môn thể thao liên quan trước hết là sức mạnh tương đối cần phải tiến hành sao cho sức mạnh tốc độ được nâng cao mà không có

sự phì đại cơ to quá mức Đó là trường hợp khi mà người ta hay sử dụng lực cản trở và trung bình, những lực cản phải được khắc phục bằng tốc độ co cơ cao Trong đó sự căng thẳng cơ cần thiết để tăng sức mạnh được tạo nên bằng

sự co cơ nhanh “bột phát”

- Theo quan điểm của các nhà sinh lý học: Cơ chế sinh lý điều hòa sức mạnh có cơ sở khoa học Lực tối đa mà con người ta sản sinh ra một mặt phụ thuộc đặc tính sinh cơ của động tác, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn tham gia hoạt động, mặt khác phụ thuộc vào mức độ của từng nhóm riêng biệt và

sự phối hợp giữa chúng Mức độ hoạt động của cơ được quy định bởi hai nhân tố xung quanh từ các nơron thần kinh vận động trong tủy sống đến cơ

Trang 17

Phản ứng của cơ tức là do nó sinh ra để đáp ứng xung động thần kinh, nếu lực

cơ phát huy chỉ khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của nó thì cơ thể điều hòa số lượng sợi cơ có ý thức cơ bản, điều hòa đó có ý nghĩa nội lực, kích thích nhỏ thì chỉ có ít sợi cơ hoạt động tích cực, trong trường hợp lực co cơ phát huy giá trị tối đa có thể xảy ra một cách điều hòa thứ ba đồng bộ hoạt động bình thường không quá 20% xung quanh là đồng bộ với nhau Với sự phát triển trình độ tập luyện khả năng điều hòa đồng bộ tăng lên rất nhiều

- Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Toán cho rằng: Sức mạnh tốc

độ là khả năng sinh lực và khắc phục một trọng lượng nào đó với tốc độ nhanh nhất hay sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong động tác nhanh và với thời gian ngắn

Như vậy để rèn luyện sức mạnh người ta sử dụng một số bài tập sức mạnh là các động tác với lực đối kháng, căn cứ vào tính chất lực đối kháng của một số bài tập sức mạnh được chia thành các bài tập với lực đối kháng bên ngoài

 Các bài tập với dụng cụ nặng

 Các bài tập với lực đàn hồi

 Các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể Chạy 200m là một hoạt động diễn ra trong thời gian tương đối ngắn với công suất cực đại Chạy 200m tốt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song lý luận và phương pháp chỉ tập trung vào những yếu tố điều khiển bằng phương pháp sư phạm Trong đó điều kiện phát triển và hoàn thiện yếu tố thiết diện cơ, yếu tố điều hòa trong cơ và điều hòa giữa các nhóm cơ có ý nghĩa chủ đạo

Như vậy, qua tất cả những điều đã nêu ở trên việc phát triển sức mạnh tốc độ là hết sức quan trọng và cần thiết trong quá trình huấn luyện cho các VĐV và nhất là với VĐV chạy 200m thì một số bài tập phát triển sức mạnh tốc độ có ý nghĩa rất lớn và liên quan trực tiếp đến thành tích Để tìm hiểu sâu

Trang 18

hơn về bài tập sức mạnh tốc độ chúng tôi đi nghiên cứu cơ chế sinh lý của sức mạnh tốc độ

Như ta đã biết lực tối đa mà con người có thể sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn nhất hoạt động Mặt khác nó còn phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng biệt và sự phức tạp giữa chúng, mức độ hoạt động của các cơ được quy định bởi hai nhân tố sau:

- Xung động từ nơron thần kinh vận động trong sừng trước tủy sống đến cơ

- Phản ứng của cơ tức là lực do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh Phản ứng của cơ phụ thuộc vào tiết diện sinh lý đặc điểm cấu trúc của

nó ảnh hưởng dinh dưỡng của hệ thần kinh trung ương thông qua dự phòng Adrgnalin giao cảm

Nếu lực do cơ huy động chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của

nó thì có thể điều hòa số lượng sợi cơ ý nghĩa cơ bản điều đó có ý nghĩa nếu lực kích thích nhỏ (trọng lượng nhỏ thì có ít sợi cơ hoạt động tích cực trong trường hợp đó phát huy đạt trị số tối đa có thể xảy ra các điều hòa thứ ba đồng

bộ các sợi cơ), ở những người không tập luyện thông thường không vượt qua 20% xung động đồng bộ với nhau Cùng với sự phát triển cả trình độ tập luyện khả năng điều hòa toàn bộ tăng lên rất nhiều

Để phát huy sức mạnh, một số vấn đề quan trọng là phải lựa chọn lực đối kháng bên ngoài là mặt kích thích sinh lý có cường độ nhất định, qua nghiên cứu về các đặc điểm sinh lý của bài tập với lực đối kháng khác nhau cho thấy: Muốn phát triển được sức mạnh thì trước hết phải tạo ra được sự căng cơ tối đa nếu không tạo ra được sự căng cơ tương đối thì sức mạnh không phát triển được, tập luyện với mức độ căng cơ qua nhỏ sẽ giảm sút sức mạnh Trên thực tế ta thấy có ba cách tạo ra sự căng cơ tối đa đó là:

Trang 19

* Lặp lại cực đại đối kháng chưa đến mức tối đa

* Sử dụng lực đối kháng tối đa

* Sử dụng trọng lực chưa tối đa độ cực hạn

Để tìm hiểu sâu hơn về cơ sở khoa học về bài tập sức mạnh tốc độ ta nghiên cứu cơ sở lý luận của bài tập sức mạnh tốc độ

Sức mạnh tốc độ là khả năng con người thể hiện sự nỗ lực lớn nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất Ngoài ra để hiểu rõ mối quan giữa sức mạnh và tốc độ ta cần hiểu rõ tố chất này Sức mạnh là khả năng con người sinh lực cơ học bằng sự nỗ lực cơ bắp Nói cách khác sức mạnh của con người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại bằng

sự nỗ lực của cơ bắp, sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào sự căng cơ, chế độ của đơn vị vận động của sợi cơ đó

là chiều dài của sợi cơ trước đó

Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất yếu tố quyết định đến tốc độ là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn với ức chế trong các trung tâm thần kinh

Tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó

cơ Trong hoạt động TDTT sức mạnh và tốc độ có liên quan mật thiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ trong nhiều môn thể thao Kết quả hoạt động còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa hai tố chất, các hoạt động như vậy gọi là sức mạnh tốc độ (các bài tập chạy ngắn, ném đẩy, nhảy)

Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh

Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường

Trang 20

Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh

Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh

1.3.2 Mối quan hệ giữa tố chất SMTĐ với thành tích chạy 200m

Trong huấn luyện để đạt được thành tích ở cự ly ngắn 200m thì phải phát triển sức mạnh tốc độ không ngừng nâng cao tốc độ co cơ mà còn phải làm tăng sức mạnh tốc độ rất có ý nghĩa nhưng nó lại phụ thuộc vào từng môn Trong những môn mà sức mạnh tối đa là cơ sở quyết định tốc độ trong dẫn chứng bằng phương trình (phương pháp này được suy ra từ sự cân bằng năng lực của giai đoạn cơ sở)

(P +a)(V+b) = không đổi

P: Ngoại lực V: Tốc độ tối đa của động tác

Cơ là đặc trưng cho mức độ tác động của từng loại cơ Nếu trong phương trình giữa P và V là không đổi thì hệ thần kinh co cơ có thể luôn luôn tạo nên thành tích như nhau mà không phụ thuộc vào độ lớn các ngoại lực

Điều này có ý nghĩa là ngoại lực nhỏ tạo nên sự co cơ nhanh, trong khi

đó co cơ chậm hơn khi ngoại lực lớn Từ đó suy ra được kết luận về mặt phương pháp cho huấn luyện sức mạnh tốc độ là phải nâng cao sức mạnh hoặc phần sức mạnh một cách có trọng tâm Nhưng cũng tùy theo nhu cầu ở đây cần huấn luyện sức mạnh với các lực cản bên ngoài rất lớn thì phù hợp với điều kiện đặc trưng này, tuy nhiên việc huấn luyện này không có tác dụng nâng cao tốc độ co cơ nhưng khi nó đặc trưng cho những động tác có lực cản bên ngoài nhỏ thì sẽ nâng cao được tốc độ co cơ trong điều kiện như nhau Song không nâng cao tốc độ co cơ khó phải khắc phục những lực cản bên ngoài lớn, từ đó

Trang 21

suy ra phải phát triển sức mạnh trong huấn luyện VĐV trẻ Bên cạnh đó tốc độ tối đa cũng cần khắc phục nhanh chóng các lực cản bên ngoài tương đối lớn được nâng lên trước hết là các hình thức của lượng vận động

Trong huấn luyện VĐV trẻ sức mạnh tối đa cần thiết để khắc phục nhanh các lực cản bên ngoài tương đối lớn được nâng cao trước hết thông qua các hình thức của lượng vận động huấn luyện sức mạnh tốc độ Trong quá trình tiếp tục phát triển thành tích, nên phải áp dụng hình thức của lượng vận động huấn luyện sức mạnh tối đa để tiếp tục nâng cao sức mạnh thì cũng phải đạt được sự phát triển song song của sức mạnh tối đa và sự co cơ Huấn luyện sức mạnh tốc độ yêu cầu sắp sếp chính xác tất cả yếu tố của lượng vận động

Do đó Gundlach yêu cầu cách có căn cứ tất cả sức mạnh thể chất và tâm lý phải được sử dụng hoàn toàn từ đầu đến cuối đoạn đường tăng tốc với

ý nghĩa của sự co cơ bột phát Vì tác dụng của sức mạnh tốc độ phụ thuộc vào hưng phấn tối ưu cả hệ thần kinh trung ương Do đó người ta không nên tiến hành nó trong điều kiện mệt mỏi (cần phải hạn chế một cách thích hợp toàn

bộ khối lượng vận động sức mạnh nhanh phải tương đối dài từ 3 - 5 phút để toàn bộ năng lực thành tích có thể hồi phục) Nếu phát triển năng lực sức mạnh tốc độ cho các động tác thì chu kỳ cũng phải hướng tới một tần số động tác tối đa, quá trình sức mạnh tốc độ cho VĐV của cơ bắp đồng thời hoàn thiện cơ thể cung cấp năng lượng cho các hoạt động trong điều kiện không có ôxy, về phương pháp tổ chức huấn luyện thì tập luyện các bài tập làm sao cho phù hợp

Như vậy từ những điều kiện trên ta có thể thấy các bài tập sức mạnh tốc

độ và sự hoàn thiện nó giúp cho thành tích chạy 200m tăng Nhưng bên cạnh việc phát sinh cơ học nhằm hoàn thiện các chuyển động của động tác trong kỹ thuật chạy 200m cho VĐV vô cùng cần thiết Bởi lẽ muốn thực hiện động tác nhanh mạnh chuẩn xác về tư thế của giai đoạn kỹ thuật chạy, cần phải sử

Trang 22

dụng lực đúng thời điểm và hợp lý mới có hiệu quả cao và chỉ khi nâng cao mức độ hoàn thiện kỹ thuật mới đảm bảo cho quá trình phát triển thành tích chạy 200m Muốn vậy trong quá trình huấn luyện VĐV đạt thành tích cao cần vận dụng những bài tập phát triển sức mạnh tốc độ, kết hợp với hoàn thiện kỹ thuật mặc dù đặc trưng là giai đoạn xuất phát thấp và chạy lao xuất phát

Đánh giá mức độ hoàn thiện kỹ thuật ở các giai đoạn trong chạy 200m chúng ta có thể thông qua quan sát thực tế thực hiện kỹ thuật động tác Với cách này thì người quan sát phải có trình độ chuyên môn tốt và phải có kinh nghiệm Mặt khác chúng ta dùng phương tiện máy móc như video kết hợp với máy móc xác định sinh cơ học để phân tích các giai đoạn kỹ thuật sẽ chuẩn xác

Qua nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của sức mạnh tốc độ đối với các môn chạy cự ly càng ngắn càng có ý nghĩa cao

1.4 Cơ sở lý luận để lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ

1.4.1 Khuynh hướng giáo dục sức mạnh tốc độ

Từ thực tế trong tập luyện và thi đấu trong các môn TT nói chung và chạy 200m nói riêng đều chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố như: cơ sở vật chất trang thiết bị tập luyện, điều kiện thi đấu, trạng thái tâm lý… Trong đó các tố chất thể lực đóng vai trò quan trọng đến thành tích, song yếu tố quan trọng để nâng cao thành tích chạy 200m là nâng cao độ dài bước chạy Vì khi

có độ dài bước tốt thì mức độ đạp sau cần phải ổn định và phát huy được khả năng dùng lực, mà trong đó yếu tố SMTĐ luôn đóng vai trò quyết định Hơn nữa, chạy 200m cơ thể VĐV hoạt động ở trạng thái yếm khí và cơ thể chưa hoạt động đến mức độ tối đa với các chức phận của cơ thể, cho nên ở giai đoạn chạy giữa quãng và về đích cũng có sự phân giải và cung cấp ATP một cách nhanh chóng Chính vì lẽ đó mà phải giáo dục sức mạnh tốc độ tốt để nâng cao yếm khí và sự thích nghi trong cơ thể, một mặt khi có độ dài tốt sẽ

Trang 23

giúp cho quá trình thả lỏng cơ bắp dài, tạo điều kiện tái tạo năng lượng ATP khi cơ bắp hoạt động Mặt khác, không tạo ra được sự thích nghi đó thì VĐV chạy về đích xảy ra hiện tượng đau đầu chóng mặt, hoa mắt và có thể bị ngã

do cung cấp và phân giải ATP nhanh chóng mà thành tích của VĐV cũng tốt hơn rất

Như vậy, sức mạnh tốc độ không thể thiếu được trong quá trình đào tạo VĐV chạy cự ly ngắn Hay nói một cách khác là tố chất sức mạnh tốc độ có liên quan, quan hệ chặt chẽ mật thiết đối với thành tích chạy 200m

Xác định được tầm quan trọng trên nhằm mục đích

+ Phân tích mối quan hệ các chỉ tiêu tố chất SMTĐ với thành tích chạy 200m

+ Đánh giá phân tích các chỉ tiêu SMTĐ và xây dựng hệ thống các bài tập phát triển SMTĐ phù hợp với VĐV chạy 200m

1.4.2 Đặc điểm cơ bản trong huấn luyện sức mạnh tốc độ

Như chúng ta đã biết sức mạnh là khả năng sinh lực của cơ thể trong các động tác nhanh với thời gian ngắn, có rất nhiều bài tập được sử dụng nhằm phát triển sức mạnh tốc độ tuy nhiên không phải bài tập nào cũng mang lại hiệu quả trong quá trình huấn luyện Vì vậy khi lựa chọn các bài tập thì người huấn luyện viên phải nắm cơ chế động tác của bài tập đó lên cơ thể VĐV, đồng thời việc sử dụng mỗi loại bài tập cần nghiên cứu và thử nghiệm nhiều lần trong thực tiễn

Để xác định hướng tác động qua quá trình huấn luyện tố chất sức mạnh tốc độ cho nữ VĐV chạy 200m Song phải hiểu biết phân biệt rõ ràng tác động của sức mạnh tốc độ ảnh hưởng đến chạy 200m ta cần nghiên cứu kỹ nhiều lần và áp dụng vào thực tiễn cho có hiệu quả cao

Trong chạy 200m VĐV phải chạy với tốc độ cao nhất của cơ thể hoạt động ở mức tối đa trong thời gian tối thiểu Năng lượng sử dụng chủ yếu là

Trang 24

ATP CP dự trữ trong cơ Trong quá trình nợ ôxy lên đến 95% song do thời gian hoạt động ngắn nên tổng nợ ôxy không lớn lắm Với tín hiệu xuất phát VĐV nhanh chóng bước vào hoạt động với cường độ các nhóm cơ nhanh với chức năng vận động càng nhiều ôxy Nhưng trong chạy 200m quá trình năng lượng cơ bản không có sự tham gia của ôxy nên được coi là yếm khí Nếu quan sát tập luyện VĐV chạy 200m mà không quan sát đến năng lượng thì nó

sẽ dẫn đến năng lượng cơ bản sau:

* Tăng khối lượng và bảo đảm yếm khí phot pho cho hoạt động cụ thể

* Từ từ tăng năng suất hoạt động trên đoạn đường suất phát và tăng tốc

độ tối đa

Phương pháp cơ bản nhằm phát triển khả năng yếm khí cho VĐV là bài tập chạy 30 - 50m với tốc độ tối đa không quá 5 - 6 lần Nhưng chúng ta đã biết sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh Lực tối

đa mà con người có thể sinh sản ra một mặt phụ thuộc đặc tính sinh cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng Do đó, để phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải tạo ra sự căng cơ tối đa và phương pháp tập luyện sức mạnh tốc độ rất phong phú các bài tập vật nặng các loại, những bài tập mang vật chất nặng như: Bật xa tại chỗ, Đạp sau tại chỗ cũng có tác dụng tốt đối với việc phát triển SMTĐ

Nhiệm vụ cụ thể để rèn luyện sức mạnh là:

* Tiếp tục hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ bản như: Sức bền, sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần nhưng điều quan trọng nhất là SMTĐ

* Phát triển cân đối sức mạnh của tất cả nhóm cơ của hệ vận động

* Phát triển năng lực sức mạnh khác nhau trong các điều kiện cụ thể mà nhiệm vụ giảng dạy chuyên môn đề ra, các bài tập cơ thể tác động tới hầu hết

Trang 25

các nhóm cơ tham gia hoạt động do sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương

Sức mạnh của con người trong hoạt động thể dục, thể thao phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

+ Cấu trúc của cơ (thiết diện sinh lý của sợi cơ)

+ Nguồn năng lượng yếm khí

+ Quá trình điều hoà thần kinh cơ

Về quá trình điều hoà thần kinh: có hai trường hợp tuỳ vào cường độ kích thích, khi cường độ kích thích nhỏ của sợi cơ làm việc theo chế độ luân phiên, tức là số lần lặp lại tăng lên thì số lần hoạt động luân phiên của các sợi

cơ tham gia hoạt động

Dựa vào cơ sở khoa học vừa nêu ra mà chúng ta định hướng cho việc hình thành nội dung các bài tập sức mạnh tốc độ như sau:

Sử dụng các bài tập có trọng lượng nhỏ yêu cầu tốc độ nhanh liên tục Đối với độ tuổi học sinh trung học phổ thông đặc điểm giới tính càng rõ nét nên cường độ và khối lượng tập luyện phải được phân biệt rõ ràng giữa nam

Để phát triển sức nhanh tốc độ (tần số động tác) người ta sử dụng các bài tập phát huy được tốc độ tối đa các bài tập có chu kỳ Phương pháp sử dụng ngắn chủ yếu vẫn là phương pháp lặp lại, tăng và biến đổi cự ly Cần lựa chọn sao cho tốc độ không giảm đi vào giai đoạn cuối của bài tập

Trang 26

Ở lứa tuổi THPT việc phát triển tốc độ và sức mạnh tốc độ đã phổ biến, bên cạnh đó còn sử dụng đến sức bền, mềm dẻo và sự khéo léo, chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều đến môn chạy nói chung và chạy cự li ngắn nói riêng Vì vậy sự kết hợp hài hoà giữa các tố chất kể trên với kỹ thuật tác động là một vấn đề cơ bản để nâng cao thành tích

Nhưng nhìn chung xét một cách tổng quát khi huấn luyện sức mạnh tốc

độ cho VĐV muốn phát triển sức mạnh tốc độ đòi hỏi VĐV phải thực hiện động tác với tốc độ tối đa (nâng cao sự co cơ và nâng cao sức mạnh tốc độ tối đa) - (sức mạnh tuyệt đối) Như vậy vấn đề này là muốn phát triển sức mạnh tuyệt đối nên sử dụng các bài tập có lượng đối kháng tối đa và gần tối đa Nhưng khi tập luyện các bài tập như vậy tốc độ co cơ lại chậm Ngược lại khi

sử dụng các bài tập với lượng nhỏ thì tốc độ co cơ lại nhanh, nhưng không phát triển tuyệt đối Nên trong thực tế để huấn luyện sức mạnh tốc độ cần phải nâng cao sức mạnh tốc độ một cách có trọng tâm tùy thuộc môn thể thao Huấn luyện sức mạnh tốc độ yêu cầu phải sắp xếp chính xác yếu tố của lượng vận động và không nên tiến hành tập luyện khi cơ thể mệt mỏi cần hạn chế khối lượng vận động trong buổi tập sức mạnh tốc độ Những lần nghỉ giữa các đợt phải tương đối dài 3 -5 phút để kịp thời phục hồi

Trang 27

CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài chúng tôi giải quyết hai nhiệm vụ sau:

- Nhiệm vụ 1: Thực trạng việc sử dụng bài tập và năng lực SMTĐ cho

nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập

phát triển SMTĐ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m cho nữ đội tuyển Điền

kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Ngoài nguồn tài liệu ghi chép được trong quá trình học tập cũng như giảng dạy và thu thập được những tư liệu có liên quan các tạp chí chuyên đề… Tôi đã nghiên cứu một số sách chuyên môn như: Lý luận và phương pháp GDTC, sách kỹ thuật và huấn luyện Điền kinh, sách sinh lý, sách tâm lý lứa tuổi và sách giáo khoa Qua đó tìm hiểu những vấn đề liên quan để giải quyết các nhiệm cụ của đề tài được thuận lợi và đảm bảo tính khoa học

Trang 28

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các học sinh, giáo viên, huấn luyện viên Điền kinh, nhằm tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các bài tập và lựa chọn các bài tập huấn luyện phù hợp nhất để pháp triển sức mạnh tốc độ cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc một cách hiệu quả và thông dụng nhất

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quá trình đó

Để tiến hành nghiên cứu đề tài tôi đã quan sát việc tập luyện kỹ thuật cũng như thể lực các em nữ VĐV Điền kinh môn chạy cự ly ngắn 200m trường THPT Ngô Gia Tự Nhằm thu thập các số liệu và phương pháp huấn luyện tại trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi có sử dụng các test kiểm tra năng lực sức mạnh tốc độ của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc trước và sau khi sử dụng bài tập của chúng tôi đưa

ra

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Để giải quyết nhiệm vụ trên chúng tôi tiến hành phân nhóm thực nghiệm với 12 VĐV nữ của đội tuyển chia làm hai nhóm, mỗi nhóm 6 người Chương trình được thực nghiệm trong 6 tuần

* Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm gồm 6 VĐV tập theo các bài tập mà

chúng tôi đưa ra

* Nhóm 2: Nhóm đối chứng gồm 6 VĐV tập theo các bài tập do giáo

viên nhà trường đưa ra

Trang 29

2.2.6 Phương pháp toán học thống kê

Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lý số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài Để có cơ sở đánh giá hiệu quả việc áp dụng các biện pháp bài tập đã lựa chọn Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê để sử lý số liệu bằng các công thức sau

- Thành tích trung bình theo công thức:

x =

n

xin

n n

x x t

.

 (n 30; n  30)

Trong đó: n ,nlà số người của 2 nhóm

i: Giá trị khảo sát của i

y y x x r

Trang 30

2.3 Tổ chức nghiên cứu

2.3.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2013 đến tháng 5/2014 và được chia làm 3 giai đoạn như sau:

- Điều tra thực trạng công tác chuẩn bị thể lực cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

- Lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh tốc

độ

- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả của các bài tập lựa chọn

- Hoàn thành tổng quan của đề tài

- Nắm bắt được thực trạng thể lực của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

- Tìm ra được các bài tập và thu được

số liệu đánh giá các bài tập

3 Từ tháng 4 đến

tháng 5 năn 2014

- Hoàn thành đề tài in ấn, đánh máy

Bảo vệ khóa luận

Trang 31

2.3.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Chủ thể: Các bài tập phát triển SMTĐ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m cho 12 VĐV nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh phúc

Khách thể: 12 VĐV nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự

- Vĩnh phúc

2.3.3 Địa điểm nghiên cứu

- Trường THPT Ngô Gia Tự -Vĩnh Phúc

- Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập và đánh giá năng lực SMTĐ trong chạy 200m của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

3.1.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển SMTĐ trong chạy 200m của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

Qua điều tra về thực trạng huấn luyện SMTĐ cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự, chúng tôi xác định được nhóm những bài tập

mà các HLV thường sử dụng để phát triển SMTĐ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m là những bài tập sau:

BẢNG 3.1 CÁC BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SMTĐ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG HUẤN LUYỆN ĐỘI TUYỂN ĐIỀN KINH TRƯỜNG THPT

Trang 33

Mật độ buổi tập là 2 buổi/ 1 tuần, số lượng bài tập được sử dụng trong mỗi buổi tập là 2 - 4 bài Thời gian giành cho các bài tập phát triển SMTĐ từ

10 - 15 phút

Qua bảng 3.1 chúng tôi nhật xét sau:

- Số lượng bài tập còn chưa phong phú, toàn diện, mật độ buổi tập là 2 buổi/ 1 tuần là chưa đủ thành tích Các bài tập khắc phục trọng lượng phụ sử dụng phương tiện còn ít, chưa chú trọng đến các nhóm cơ bụng

- Giai đoạn này các em bước vào chuyên môn hóa ban đầu nên thời gian huấn luyện SMTĐ từ 10 - 15 phút là chưa đủ

3.1.2 Đánh giá thực trạng năng lực SMTĐ trong chạy 200m của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc

3.1.2.1 Lựa chọn test đánh giá năng lực SMTĐ trong chạy 200m nữ

Để giúp chúng tôi đánh giá được hiệu quả của bài tập, ứng dụng nhằm nâng cao thành tích chạy 200m cho nữ VĐV, trước hết cần xác định test để làm cơ sở đánh giá

Như chúng ta đã biết: Huấn luyện thể lực nâng cao thành tích chạy 200m cần phải huấn luyện toàn diện các tố chất thể lực phù hợp và hợp lý trong mỗi giai đoạn huấn luyện Để đạt thành tích cao cần phải trang bị đạt đủ thể lực chuyên môn, trong đó sức mạnh chuyên môn đóng vai trò quyết định Xong muốn phát triển SMTĐ thì yếu tố cấu thành đó là tốc độ và sức mạnh

Do vậy mà tố chất SMTĐ có mối quan hệ mật thiết với tố chất tốc độ

Từ vấn đề trên thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đặc biệt là các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực huấn luyện cự ly chạy 200m Mặt khác kết hợp với sự quan sát, sư phạm, tham khảo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả và phỏng vấn trực tiếp các nhà sư phạm, các nhà nghiên cứu các huấn luyện viên, cán bộ trực tiếp quản lý vấn đề huấn luyện VĐV cự ly chạy 200m nữ lứa tuổi THPT

Trang 34

Đó là các test kiểm tra phần lớn các HLV, giáo viên giảng dạy sử dụng trong huấn luyện, tuy nhiên không phải bất kỳ bài tập và test kiểm tra nào cũng mang vào sử dụng trong thực tiễn mà chỉ sử dụng những bài tập test tỏ

ra tin cậy và khách quan, nghĩa là các test phù hợp với đặc điểm về lứa tuổi giới tính trình độ của đối tượng nghiên cứu

Để lựa chọn những test đánh giá có trình độ SMTĐ ảnh hưởng đến thành tích chạy 200m, chúng tôi tiến hành phỏng vấn 10 giáo viên, huấn luyện viên đã có kinh nghiệm trong giảng dạy và huấn luyện môn Điền kinh Số phiếu phát ra 10, số phiếu thu về 10

BẢNG 3.2 KẾT QUẢ PHỎNG VẤN LỰA CHỌN CÁC TEST ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SMTĐ TRONG CHẠY 200M NỮ (n = 10)

8 Gánh tạ 30kg đứng lên ngồi xuống (lần) 6 60

- Các test lựa chọn đánh giá năng lực SMTĐ phải đảm bảo định hướng phát triển cho các nhóm cơ chính tham gia vào hoạt động kĩ thuật, chiến thuật Đảm bảo độ tin cậy và mang tính thông báo cần thiết đối với các em Vì vậy

Ngày đăng: 07/05/2018, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dương Nghiệp Chí - Nguyễn Đại Dương (1996 - 2000), Sách giáo khoa điền kinh, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa điền kinh
Nhà XB: NXB TDTT
3. Dương Nghiệp Chí - Võ Đức Phùng (1975), Sách điền kinh, NXB TDTT 4. Nguyễn Đại Dương - Nguyễn Quang Hưng - Lưu Quang Hiệp (2002),Chạy cự ly ngắn, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách điền kinh", NXB TDTT 4. Nguyễn Đại Dương - Nguyễn Quang Hưng - Lưu Quang Hiệp (2002), "Chạy cự ly ngắn
Tác giả: Dương Nghiệp Chí - Võ Đức Phùng (1975), Sách điền kinh, NXB TDTT 4. Nguyễn Đại Dương - Nguyễn Quang Hưng - Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: NXB TDTT 4. Nguyễn Đại Dương - Nguyễn Quang Hưng - Lưu Quang Hiệp (2002)
Năm: 2002
5. Nguyễn Văn Đức (2000), Phương pháp thống kê trong TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong TDTT
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2000
7. Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên (1995), Sinh lý TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp - Phạm Thị Uyên
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1995
8. Trịnh Trung Hiếu - Nguyễn Sỹ Hà (1994), Huấn luyện thể thao, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện thể thao
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu - Nguyễn Sỹ Hà
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1994
9. Bùi Tử Liêm - Phạm Xuân Tâm (1970), Các tố chất thể lực VĐV, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực VĐV
Tác giả: Bùi Tử Liêm - Phạm Xuân Tâm
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 1970
11. Hồ Chí Minh - tuyển tập (1980), tập II NXB sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh - tuyển tập
Tác giả: Hồ Chí Minh - tuyển tập
Nhà XB: NXB sự thật
Năm: 1980
12. Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn (2000), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2000
13. Tuyển tập nghiên cứu khoa hoc (2000), Chạy cự ly ngắn, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chạy cự ly ngắn
Tác giả: Tuyển tập nghiên cứu khoa hoc
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
Năm: 2000
15. Phạm Ngọc Viễn (1990), Tâm lý TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý TDTT
Tác giả: Phạm Ngọc Viễn
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1990
1. Ban chấp hành trung ương Đảng – Ban bí thư Đảng (1991), chỉ thị 36 CT / TW về công tác giáo dục trong thời kì đổi mới Khác
6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Điều 41 Khác
10. Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tháng 12/ 1998 Khác
14. Văn kiện đảng toàn tập (2006), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w