MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VÀ GIẢM THIỂU NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CAO BẰNG 50 3.1.. Những biểu hiện đượcghi nhận q
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG
Chủ nhiệm Đề tài: ĐỖ THỊ KIM ANH
Cơ quan quản lý: Viện Nghiên cứu phát triển bền vững Vùng
Hà Nội, năm 2015
1
Trang 24 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 15
6 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 17
7 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu 17
PHẦN II NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BĐKH CỦA NHÓM DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở CAO BẰNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
24
1 THỰC TRẠNG BĐKH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH TỚI SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CAO BẰNG
24
1.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Cao Bằng 24
1.2 Khái quát thực trạng vấn đề BĐKH tại Cao Bằng 26
1.3 Ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp của nhóm dân tộc thiểu
số ở Cao Bằng
34
2 NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BĐKH CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở CAO BẰNGTRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
41
3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VÀ GIẢM
THIỂU NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CAO BẰNG
50
3.1 Nhóm giải pháp về xây dựng cơ chế, chính sách 50
3.2 Nhóm giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ 52
truyền thông, phổ biến kiến thức cho cộng
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là hiện tượng với các biểu hiện chính về sự gia tăngnhiệt độ toàn cầu và mực nước biển dâng được coi là một trong những thách thức lớnnhất của nhân loại thế kỷ XXI Với nhiều tác động tiêu cực được ghi nhận trong lĩnhvực phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và con người, công cuộc ứng phó với BĐKHtrở thành vấn đề trọng tâm của các chính sách phát triển mới mang tính toàn cầu.Không một quốc gia nào tránh được những ảnh hưởng của BĐKH và cũng không mộtquốc gia nào có thể một mình đương đầu, giải quyết triệt để những tác động ngoài ýmuốn của hiện tượng BĐKH Cuộc chiến chống BĐKH toàn cầu đòi hỏi những hànhđộng cần thực hiện ngay trên phạm vi toàn cầu, cả trên phương diện lý luận và thựctiễn hướng tới quá trình vừa thích ứng với BĐKH vừa giảm thiểu những tác hại củaBĐKH gây ra
Ở Việt Nam, theo các số liệu được ghi nhận trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độtrung bình năm đã tăng khoảng 0,7oC và mực nước biển đã dâng cao hơn so với thời
kỳ trước khoảng 20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽđến Việt Nam Bên cạnh đó, BĐKH là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giatăng các hiện tượng thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và hạn hán tại nhiều vùng miền trong
cả nước Theo tính toán của các nhà khoa học, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thểtăng lên 3oC và mực nước biển có thể dâng lên 1m vào năm 2100 Nếu mực nước biểndâng 1m, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ ngập hàng năm,trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cưu Long bị ngập hầu như toàn
bộ (Bộ TNMT, 2003)
Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007) khẳng định Việt Nam là một trong nămnước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùngđồng bằng sông Hồng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biểndâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDPkhoảng 10% Nếu nước biển dâng 3 m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trựctiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25%
Thực tế cho thấy, cùng với BĐKH cuộc sống lao động và sinh kế của hàng triệungười dân Việt Nam đang bị đe dọa Lượng mưa thất thường, luôn biến đổi, nhiệt độ
Trang 5bão lũ, triều cường, thiên tai, hạn hán tăng đột biến kể cả ở khu vực nông thôn lẫn đôthị, khu vực đồng bằng lẫn miền núi Đối với khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam,BĐKH làm gia tăng lũ và sạt lở đất, tăng các thời tiết cực đoan như nắng nóng, cháyrừng, hạn hán, rét đậm, rét hại, mưa đá Các lĩnh vực có thể chịu ảnh hưởng củaBĐKH bao gồm: an ninh lương thực, đất đai, nguồn nước, giao thông, thủy lợi, sứckhỏe cộng đồng, y tế, giáo dục Bên cạnh đó là vấn đề di dân, chuyển đổi việc làm,mất đất canh tác, nghèo đói, tái nghèo, tai nạn thương tích và hàng loạt các vấn đềkhác
Nhiều nghiên cứu thời gian qua cho thấy mức độ ảnh hưởng BĐKH đến cácnhóm xã hội và khả năng ứng phó của họ là khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy cuộcsống và sinh kế của các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm người nghèo, nhóm dân tộcthiểu số đang bị đe dọa trực tiếp và nghiêm trọng do những nguyên nhân chủ quan vàkhách quan tác động Theo kết quả điều tra toàn quốc năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo chiếm9,6%, trong đó phân theo vùng thì các tỉnh miền núi phía bắc (Đông Bắc và Tây Bắc)chiếm tỷ lệ cao nhất (46% tỷ lệ hộ nghèo cả nước) Mặt khác, tỷ lệ các dân tộc thiểu số
cư trú ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiều nhất Do đó, khi nghiên cứu ảnh hưởng củaBĐKH ở vùng núi phía Bắc, đối tượng quan tâm đầu tiên sẽ là nhóm dân tộc thiểu số,nhóm người nghèo, nhóm dễ bị tổn thương cùng với khả năng nhận thức, tiếp cậnthông tin và ứng phó của họ với hiện tượng BĐKH
Là một tỉnh nằm trong khu vực miền núi vùng Đông Bắc, Cao Bằng có vị trí vàvai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái đầu nguồn Tuy nhiên, Cao Bằng là mộttrong những tỉnh nghèo của cả nước, với nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống (28 dântộc chủ yếu là Tày và Nùng), đồng thời do địa hình đồi núi có độ dốc lớn, bị chia cắtmạnh mẽ nên có thể xem tỉnh Cao Bằng là điểm khá nhạy cảm với những hệ quả gây
ra bởi BĐKH như lũ lụt, lũ quét, khô hạn, cháy rừng, sạt lở, xói mòn, suy thoái sinh
kế, dịch bệnh, mất đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái Những biểu hiện đượcghi nhận qua hiện tượng BĐKH tại Cao Bằng thời gian qua đã ít nhiều gây nên nhiềuảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống người dân, từ vấn đề lao động, sản xuất cho tới tàisản, nhà cửa, việc làm, thu nhập, chuyển đổi sinh kế, giáo dục, sức khỏe, y tế, di cư…Với những vấn đề cấp bách được đặt ra từ phương diện lý luân và thực tiễn, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Nâng cao năng lực thích ứng của nhóm dân tộc thiểu số trong bối cảnh BĐKH: nghiên cứu trường hợp ở Cao Bằng”, nhằm
5
Trang 6gợi ý một số giải pháp giảm thiểu và thích ứng với những ảnh hưởng của BĐKH vớinhóm dân tộc thiểu số ở Cao Bằng nói riêng và các tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc ViệtNam nói chung.
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tại nước ngoài
Một số nghiên cứu trong thời gian 10 năm qua đã phân tích tác động của BĐKHhậu đến nghèo đói ở hai cấp độ là cấp quốc gia và cá nhân cụ thể là:
- Ở cấp độ quốc gia, tập trung vào việc phân tích các tác động của BĐKH đến
kinh tế tổng thể, đặc biệt làm nổi bật các khu vực nông nghiệp, thiên tai và tác độngcủa mực nước biển dâng ảnh huởng đến vấn đề sức khỏe con người Phân tích cácnguy cơ thời tiết cực đoan mỗi năm, bờ biển dễ bị tổn thương đo mực nước biển dâng,
lũ lụt và bão; tài sản, của cải, cây trồng và cơ sở hạ tầng tại nguy cơ lũ lụt hoặc mấthoàn toàn hệ thống cảnh báo sớm hiện tại và ứng phó với thiên tai, khuôn khổ thể chếhiện hành cho phòng chống thiên tai và lập kế hoạch, quản lý cơ sở hạ tầng hiện cócho lũ lụt, chi phí để trang trải cho các cộng đồng dễ bị tổn thương
Phân tích các tổng thể tác động kinh tế: Khí hậu lĩnh vực nhạy cảm và tầm quantrọng của chúng đối với nền kinh tế quốc gia (nông nghiệp, thủy sản,…) Đánh giá tiếpxúc đôi (BĐKH và thương mại quốc tế tương tác), tỷ lệ % dân số làm việc trong cáclĩnh vục khí hậu nhạy cảm; các thành phần khí hậu nhạy cảm; tỷ lệ % chất đất về mặtđịa lý; yêu cầu nước cho các ngành công nghiệp (dự đoán tác động) nông nghiệp dễ bịtổn thương; dự báo những thay đổi trong sản lượng cây trồng chính; dự báo thay đổinăng suất cây trồng và giá cả cây trồng - kết quả tình trạng như một mạng lưới nhập
khẩu/xuất khẩu; % sản lượng lương thực khu bán khô hạn; % gia tăng trong nhu cầu
nước tưới; % dân số làm việc trong nông nghiệp; chất lượng đánh giá đáp ứng củangành nông nghiệp để thích ứng (khả năng công nghệ, tiếp cận thị truờng tín dụng,cơ
sở hạ tầng) Trong lĩnh vực y tế: phân tích tỷ lệ mắc các bệnh chủ yếu lây nhiễm hiệnnay và dự báo lan truyền; dự báo tăng an ninh lương thực; nước và vệ sinh môi trườngbảo hiểm hiện tại và dự đoán suy giảm nguồn tài nguyên nuớc
- Ở cấp độ cá nhân, số liệu thống kê cho thấy mối tương quan chung giữa
nghèo đói, dễ bị tổn thương và bị gạt ra ngoài lề: tỷ lệ % sống dưới mức nghèo khổ; số
hộ gia đình nghèo dễ bị tổn thương lũ lụt; đất đai có sẵn để phục vụ tái định cư, cũngnhư chỗ ở, dịch vụ và sinh kế thay thế; chi phí tái định cư; số hộ nghèo, số hộ gia đình
Trang 7thuộc diện nghèo không có tiền tiết kiệm hoặc tiếp cận vào lương hưu và các chương
trình tín dụng; tỷ lệ % không được tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường; tỷ lệ %
cư dân sống ở các vùng biển
Các phân tích ở cấp độ này cũng tập trung dự báo sản xuất, tình trạng ngườitiêu dùng cho các hộ nghèo nhất; tỷ lệ % nông dân nghèo; tỷ lệ % thu nhập của ngườinghèo phụ thuộc vào quyền tiếp cận với tài nguyên môi trường; phân loại các nguồnthu nhập của nguời nghèo và liên quan đến khí hậu nhạy cảm với các lĩnh vực; tỷ lệ %người nghèo không được tiếp cận tín dụng chính thức và các cơ chế bảo hiểm (ODI,2002)
Một nhóm do các nhà nghiên cứu Trường ĐH Purdue (Hoa Kỳ) dẫn đầu đã tìmhiểu tác động to lớn của sự thay đổi khí hậu: tăng nhiệt độ trung bình, hạn hán, mưađến nền kinh tế của 16 nước đang phát triển Nhóm nghiên cứu đã nhận thấy diễn biến
và cường độ về những giá trị cực trị về ẩm, khô và nóng trong 30 năm qua đã tác độngnặng nề nhất đến khu vực các nước nghèo và xác định sự liên quan giữa BĐKH vàtình trạng nghèo đói trên thế giới thông qua những mô hình cụ thể để đưa ra những dựbáo trong tương lai Nghiên cứu đã chỉ ra rằng BĐKH tác động đến sản lượng nôngnghiệp của nông dân nên người nghèo đô thị cũng là những người phải gánh chịu hậuquả đó do việc tăng giá cả nông sản, hiện nay nhóm nghiên cứu vẫn đang tiếp tụcnghiên cứu cải tiến mô hình và hệ thống phân tích để có những nhận định chính xáchơn vê sự liên quan giữa BĐKH và tình trạng đói nghèo trên thế giới
Trong một báo cáo của IUCN về “Người bản địa và biến đối khí hậu” vào tháng
6/2012 xác định rằng: Các yếu tổ dễ bị tổn thương của cộng đồng bản địa đối vớiBĐKH được chia làm 2 nhóm: các yếu tố dễ bị tổn thương thuộc về xã hội và các yếu
tố dễ bị tổn thương về mặt sinh lý
Sự thiếu nguồn thu nhập, tài sản và tiền bạc là một trong những nhân tố quyếtđịnh tính dễ bị tổn thương về kinh tế xã hội của người bản địa Những tác động củaBĐKH sẽ làm trầm trọng thêm sự nghèo đói của cộng đồng dân cư sống chủ yếu dựavào nền nông nghiệp tự cung tự cấp Mặt khác, BĐKH dự kiến sẽ có tác động tiêu cựcđến nỗ lực xóa đói giảm nghèo và tạo nhiều thách thức cho việc thực hiện để đạt đuợccác Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) Một nghiên cứu gần đây của Ngânhàng Thế giới (Hall&Patrinos, 2004) đã chỉ ra rằng người dân bản địa ở châu MỹLatinh vẫn là những người nghèo nhất trong khu vực với tỷ lệ nghèo giảm rất ít trong
7
Trang 8thập kỳ vừa qua, trong đó một số nơi thậm chí còn tồi tệ hơn.
Các cộng đồng có điều kiện y tế kém và thiếu dinh dưỡng sẽ dễ bị tổn thươnghơn bởi tác động của BĐKH và có khả năng thích ứng thấp hơn so với các cộng đồng
có điều kiện tốt hơn Mặt khác, do sự nghèo đói và bị cô lập, các cộng đồng nàythường ít được tiếp cận với các dịch vụ y tế, phòng bệnh và các chương trình thúc đẩyhoặc nếu có thì các dịch vụ đó không phù hợp với văn hóa của họ (Montenegro,Stephens, 2006) Tác động của BĐKH làm cho năng suất cây trồng giảm ở các nước
có vĩ độ thấp, mất an ninh lương thực và thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tình trạngsức khỏe cùa hàng triệu người, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sở sinh và trẻ em Các nhóm dễ
bi tổn thương nhất bao gồm cả những người dân nông thôn đặc biệt sinh ở các vùng bị
thiệt thòi, nông dân chăn nuôi gia súc, người nghèo ở đô thị, tị nạn và người di cư
(DFID, 2004)
Người bản địa phụ thuộc nhiều vào các mạng lưới liên kết xã hội Họ thường duytrì các mối quan hệ kinh tế và xã hội giữa các nhóm người khác nhau và ở nhiều nơi họvẫn còn các hỗ trợ cho nhau về thực phẩm và lao động, bao gồm trao đổi qua lại, hànghóa hoặc thị trường địa phương Trong tương lai, những hoạt động này có thể mang lạimột ý nghĩa quan trọng khi các cộng đồng này chịu tác động xấu của BĐKH vả khôngcòn phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương
Ngoài ra, người dân bản địa có thể trở nên phụ thuộc vào viện trợ được cung cấpbởi Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế, đặc biệt là trongthời gian khủng hoảng Hơn nữa, phần mở rộng của mối liên kết xã hội của người bảnđịa ra khắp đất nước họ sinh sống và các khu vực khác trong tương lai có thể xem như
là một chiến lược thích ứng bổ sung để giảm tổn thương kinh tế xã hội
Người dân bản địa thường sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh nên thường rất hạnchế trong tiếp cận với giáo dục, thông tin y tế, công nghệ, năng lượng, tài nguyên, việntrợ quốc tế Do vậy, họ thường sử dụng các phương thức truyền thống, những kiếnthức và kinh nghiệm của họ trong quan sát thời tiết, chữa bệnh Trong xu hướngBĐKH ngày càng nghiêm trọng như hiện nay thì những dự báo truyền thông củangười dân bản địa dã không còn đúng nữa, do đó tính tổn thương của người dân bảnđịa càng cao hơn Việc cải thiện và tăng cường sự tiếp cận thông tin, khoa học côngnghệ, các hệ thống cảnh báo sớm, chiến lược di dân đến nơi an toàn có thể làm giảmtính tổn thương của các cộng đồng nảy với các hiểm họa do BĐKH gây ra
Trang 9Một yếu tố quan trọng nhằm giảm tính tổn thương về kinh tế xã hội của ngườidân bản địa là duy trì sự đa dạng của nguồn tài nguyên cơ bản Đây là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết nhằm giúp người dân thích ứng với BĐKH Những dân tộc này cócách quản lý và định hình môi trường xung quanh họ qua nhiều thế kỷ, thích nghi vớicác hình thức sinh kế đặc thù với điệu kiện tự nhiên, địa lý và khí hậu của địa phương.Dân tộc bản địa được kết nối chặt chẽ với vùng đất của họ, không chỉ thể hiện qua sinh
kế mà còn trong đời sống tinh thần
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quyền tiếp cận và sử dụng đất của các cộngđồng bản địa không được thừa nhận hợp pháp (IFAD, 2003) Như một hệ quả, đất đai
vả tài nguyên của họ thường bị khai thác, lấn chiếm bởi các thế lực bên ngoài Vớiviệc thực hiện các dự án liên quan đên Cơ chế phát triển sạch (CDM) hoặc giảm phátthải từ nạn phá rừng ờ các nước đang phát triển (REDD), và kết quả của sự gia tăngnhu cầu về nhiên liệu sinh học, nguời ta lo ngại rằng các quyền đất đai của các dân tộcbản địa sẽ ngày càng tranh chấp hoặc bị xâm phạm Nêu không có những can thiệpthích đáng thì tính tổn thương của các cộng đồng này ngày càng nghiêm trọng và ảnhhưởng đến khả năng thích ứng của họ
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH tại các vùng miền, cụ thể nhưnghiên cứu về BĐKH ở Quảng Nam (Nguyễn Trọng Xuân & Trần Hoàng Sa, 2010),Quảng Trị, Bến Tre (Oxfam, 2008) Nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Viện Khoahọc Khí tượng, thủy văn và môi truờng đã phân tích tác động của BĐKH đến ViệtNam trong đó có nêu rõ tác động của BĐKH đến các vùng trên cả nước trong đó vùngBắc Bộ được chia làm 3 vùng là Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng sông Hồng Báocáo nêu rõ các tác động của BĐKH đến vùng Bắc bộ bao gồm: Lượng mưa gia tăng, lũlụt, nhất là lũ quét trên các triền núi đe dọa thường xuyên hơn trong mùa mưa, tần sốhạn gia tăng vào mùa khô Tăng mạnh mẽ nguy cơ cháy rừng, làm tăng nguy cơ pháttriển sâu bệnh Sản xuất nông nghiệp phải có nhiều thay đổi để thích ứng với tình trạngnhiệt độ cao hơn, mùa lạnh ngắn đi và mùa nóng dài thêm, mùa mưa thất thường, hạnhán và lũ lụt đều gia tăng Ranh giới của các cây trồng nhiệt đới tiến về phía núi caohơn, phạm vi phát triển cây công nghiệp nhiệt đới điển hình mở rộng hơn, phạm vithích nghi của cây trồng nhiệt đới càng ngày càng thu hẹp lại Thu hẹp diện tích rừngngập mặn, diện tích ruộng nước và ảnh hưởng đến sinh kế, thậm chí cả an sinh của
9
Trang 10ngư dân vùng ven biển và hải đảo Dòng chảy lũ tăng, dòng chảy kiệt thấp hơn, lũ lụtnhất là lũ quét nguy hiểm hơn và hạn hán trở nên thường xuyên hơn Tác động tiêu cựcđến thế mạnh khai thác chế biến khoáng sản và thủy điện
Nghiên cứu của UNDP và Bộ TN&MT (2008) về BĐKH đã chỉ ra rằng, BĐKH
có những tác động tiềm tàng đến các lĩnh vực, khu vực và các cộng đồng khác nhau.Gây ảnh hưởng đên 3 lĩnh vực (i) kinh tế (bao gồm các ngành nông nghiệp, lâmnghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng và du lịch)(ii) xã hội (sức khỏe con nguời) và (iii) môi trường (bao gồm tài nguyên nước, tàinguyên rừng, tài nguyên biển, hệ sinh thái và da dạng sinh học, chất lượng không khí).Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động cua BĐKH là các đảo nhỏ, các vùng
châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển vùng núi, ảnh hưởng của BĐKH tới tất cả mọi đối tượng nhưng người nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất (UNDP,
2008; Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Gần với quan điểm nghiên cứu trên, một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới chỉ
ra rằng: các nước đang phát triển dễ bị tổn thương nhiều nhất, các nước có thu nhập
cao cũng không né tránh được sự ảnh hưởng khi trái đất ấm lên, trong đó nông nghiệp
sẽ là ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đồi khí hậu (khu vực tập trung lớn người nghèo) (WB, 2010) Sự suy giảm năng suất nông nghiệp sẽ đe dọa vấn
đề an ninh lương thực toàn cầu Ước tính, mỗi năm có thể có hơn 3 triệu người bị chết
vì suy dinh dưỡng, khoảng 100 đến 400 triệu người có nguy cơ bị đói và khoảng 1 đến
2 tỷ người sẽ không có đủ nước dùng cho nhu cầu sinh hoạt Tăng trưởng kinh tế làđiều kiện để xóa đói giảm nghèo và đây là vấn đề trọng tâm đối với việc tăng khả năngchống chịu với BĐKH đối với nghèo đói Nhưng trên thực tế, một chính sách chủđộng và phù hợp về khí hậu là những chính sách có thể tăng cường sự phát triển, giảmkhả năng bị tổn thương và có khả năng cung cấp tài chính để chuyển sang các conđường tăng trưởng ít các bon (WB, 2010)
Đối với nhóm nghèo, tác động của BĐKH là khác nhau, vì khả năng dễ bị tồnthương khác nhau Nguời nghèo, phụ nữ và trẻ em là những người dễ bị tổn thươngnhất trước những ảnh hưởng của BĐKH và trên thực tế BĐKH có thể làm tồi tệ thêmnhững bất bình đẳng giới, tạo thêm gánh nặng công việc cho phụ nữ cũng như tăng
tính dễ bị tổn thương của phụ nữ ở các hộ nghèo (Oxfam, 2009) “BĐKH sẽ là mối đe dọa tới toàn thể nhân loại Nhưng những người nghèo, một bộ phận không hề chịu
Trang 11trách nhiệm về món nợ sinh thái mà chúng ta đang mắc phải lại là những người đang phải đối mặt với những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người” (Kernal Dervis, Giám đốc UNDP trong báo cáo phát triển con người 2008 ởViệt Nam).
Trình bày Báo cáo phát triển con người khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm
2012, Phó Giám đốc quốc gia UNDP tại Việt Nam Bakhodir Burkhanov nhấn mạnhngười dân ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là người nghèo phải đối mặtvới nhiều tác dộng phức tạp của BĐKH như thay đổi lượng mưa, các sự kiện khí hậucực đoan, hạn hán, lũ lụt và mực nước biển dâng Báo cáo của UN, 2009 chi ra rằng:chắc chắn người nghèo sẽ cảm nhận được các căng thẳng khí hậu trong đó nhiều ngườithuộc dân tộc ít người trên các vùng cao, nơi đã và đang cảm nhận được hạn hán, sạt lởđất có liên quan đến các trận mưa to cũng như những thay đổi về nhiệt độ
Các dân tộc ít người thường sống ở các vùng sâu, vùng xa, trong khi đó mức đóinghèo tuơng đối và hạn chế cơ hội hưởng dụng thị trường và các dịch vụ của họ làmtăng tính dễ bị tổn thương của họ Các căng thẳng vể an ninh lương thực và thu nhậpđối với những người có khả năng chống chịu và phục hồi tương đối thấp, có nghĩa là
có thêm những thách thức trong việc thực hiện các chỉ tiêu phát triển con người đãđược Chính phủ và các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ được nhất trí toàn cầu đề ra.Các dân tộc ít người dù có dễ bị tổn thương thế nào đi nữa cũng không nên nhìn nhậnchỉ là các nạn nhân, mà trí thức, các thông lệ và những nét tiêu biểu truyền thông vềmôi trường thiên nhiên của họ có thể mang trong nó các giá trị quan trọng dối với việcphát triển các biện pháp ứng phó thỏa đáng đối với BĐKH Tuy nhiên các ưu tiên đượcphụ nữ và nam giới các dân tộc ít người bày tỏ trong bối cảnh biến dổi khi hậu, chủyếu quan tâm giải quyết khoảng cách phát triển tức là các nhu cầu cơ bản đã có từtrước khi nhận thức được tầm quan trọng của BĐKH nhưng cần phải được quan tâmgiải quyết, thậm chí cấp bách hơn vì chính BĐKH
Tính dễ bị tổn thương và sự nghèo đói có liên quan mật thiết với nhau mặc dùchúng thường được sử dụng với các nghĩa khác nhau (Thorkil Casse, 2010) Mộtnghiên cứu về tình trạng dễ bị tổn thương của các dân tộc bản địa với BĐKH (IUCN,2008) cũng phân tích về những tác động của BĐKH đến nghèo đói, bất bình đẳngcũng như sức khỏe, dinh dưỡng…Tình trạng dễ bị tổn thương là một loạt các điều kiệntác động bất lợi ảnh hưởng đến khả năng của một cá nhân, hộ gia đình hoặc một cộng
11
Trang 12đồng trong việc phòng ngừa và ứng phó với một hiểm họa và những ảnh huởng củaBĐKH dẫn đến những tổn thất và thiệt hại mà họ có thể gặp phải.
Sản xuất nông nghiệp vùng nông thôn, nơi được coi là khu vực tập trung cácnhóm nghèo, là hoạt động quan trọng hiện nay với hơn 70% dân số tham gia và sẽ cònrất quan trọng ngày mai, vì cho dù lao động nông nghiệp có ít đi thi nhu cầu lươngthực, an ninh xã hội ngày càng đòi hỏi và rõ ràng dân số Việt Nam sẽ tăng lên (dự kiến
ổn định ở mức 120 trịêu) nhiều so với hiện nay (90 triệu) Trong tổng số 329.242 km2
đất tự nhiên, đất nông nghiệp chiếm 28,49%, bằng khoảng 9,382 triệu ha và được chiathành 8 vùng sinh thái khác nhau (GSO, 2008) Những năm gần đây, nông nghiệp ViệtNam tăng trưởng trung bình mỗi năm 4,3%, đóng góp 22,99% cho GDP trong giaiđoạn 2000-2008 Năm 2010, Việt Nam sản xuất hơn 44,6 triệu tấn luơng thực có hạt,trong đó lúa gạo đạt 40 triệu tấn và Việt Nam đã xuất khẩu hơn 6,7 triệu tấn gạo Sảnxuất các loại cây trồng chính như lúa (7 triệu ha gieo trồng (2-3 vụ)), ngô (1.067.000ha), sắn (508 000 hạ), mía đường (290.000 ha), đậu tương (190.000 ha), cà phê(500.000 ha) là những cây trồng có diện tích lớn.Tổng kim ngạch xuất khẩu toànngành nông nghiệp năm 2010 đạt 19,2 tỷ USA (chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩutoàn quốc) trong đó chiếm tới 52% giá trị là các mặt hàng nông sản xuất khẩu như gạo,
cà phê, cao su, tiêu Ngay cả sản lượng sắn cũng có trên 50% dành cho xuât khẩu Vớibất kỳ kịch bản nào, kể cà kịch bản BDKH lạc quan nhất (theo con đường dưới 2°C)thì bài toán cho ngành nông nghiệp để bảo đản an ninh lương thực quốc gia, bảo đảmgiá trị nông sản kể cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu là một bài toán khó, đầy thách thức.Điều này đang đe dọa đến an ninh lượng thực ờ Việt Nam trong tuơng lai khi nhiềuvùng đất trờ nên khô hạn hoặc bị nước mặn xấm lấn do BĐKH gây ra
Liên quan đến vùng nông nghiệp nông thôn, nghèo đói, dân tộc và BĐKH, tác
giả Bob Baulch và cộng sự, trong báo cáo “Ethnic Minority Poverty in Vietnam" năm
2009, đã phân tích tình hình nghèo đói và khoảng cách về mức sống giữa các nhómdân tộc trên cơ sở điều tra hộ gia đình Báo cáo chỉ ra rằng, ở các dân tộc như Tày,Thái, Mường và Nùng tỷ lệ đói nghèo thấp hơn nhiều so với các dân tộc còn lại Trong
báo cáo đệ trình Hội đồng nhân quyền “Report of the independent expert on minority
is sues”, tác giả Gay McDougall, đã bổ sung thêm nhưng vấn đề liên quan đến nhân
khẩu học và sức ép dân số với khu vực miền núi và dân tộc thiểu số nhóm người dễ bịtổn thuơng và có tỉ lệ hộ nghèo đói khá cao
Trang 13Bắc Bộ là một trong 3 khu vực chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậucực đoan, đặc biệt Vùng núi phía Bắc thường xảy ra hiện tượng lũ quét, sạt lở đất vàđộng đất Nơi tập trung đông đúc đồng bào các dân tộc thiểu số - khu vực của tỷ lệnghèo đói cao - có thể được xem là nơi nghèo nhất nước, đang cần phải tập trungnhiều chính sách phát triển kinh tế xã hội cho khu vực này và nghiên cứu mọi vấn đềcho khu vực này là hết sức cấp thiết Nghiên cứu “BĐKH: tác động khả năng ứng phó
và một số vấn đề về chính sách”, 2011, (Nghiên cứu trường hợp đồng bào các dân tộcthiểu số vùng phía Bắc), của các tác giả Mai Thanh Sơn, Lê Đức Thịnh, Lê ĐìnhPhùng cùng nhóm công tác BĐKH (CCWG) và nhóm công tác dân tộc thiểu số(EMWG) phối hợp chủ trì và CARE Nghiên cứu đã phân tích các hiện tượng, diễnbiến cực đoan, những tổn thất gây ra từ BĐKH của một số địa bàn trong vùng, chỉ rađược những bất cập của chính sách hỗ trợ người dân trong việc thích ứng và giảmthiểu tác động tiêu cực của BĐKH, đã tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất một sốkhuyến nghị giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này Tuy nhiên phần phân tích cụ thểnhững tác động của BĐKH đến người dân các dân tộc thiểu số và các nhóm xã hội dễ
bị tổn thương khác như các nhóm người nghèo, phụ nữ, trẻ em mới chỉ là đề cập đến
mà chưa đem lại được kết quả phân tích chi tiết nào cũng như các giải pháp chínhsách
Các mô hình canh tác mới, phù hợp với điều kiện BĐKH được thiết kế nhằm vừahạn chế những tác động bất lợi, đồng thời tận dụng những ảnh hưởng có lợi do BĐKHlàm cho các hệ thống sản xuất nông ngư nghiệp linh hoạt hơn, góp phần làm tăng tínhbền vững của sản xuất và đảm bảo thu nhập ổn định cho cư dân nông thôn Các côngtrình đã và đang được nghiên cứu, triển khai úng dụng thực nghiệm ở Việt Nam chủyếu theo hai hướng: áp dụng các giống cây, con thích ứng với BĐKH, ứng dụng các
mô hình sinh kế mới và cải tạo cơ sở vật chất theo hướng thích ứng với BĐKH
Các giải pháp đã đuợc thực hiện nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH và giảmnghèo bao gồm việc ứng dụng các mô hình sinh kế mới như: Hai giống ngô LVN 8960
và LVN 61 đã được Viện Nghiên cứu Ngô tạo ra nhằm thích ứng với xu thế diễn biếnkhó lường của thời tiết, được gieo trồng thí điểm tại hai tinh Lạng Sơn và Hà Giang,với những đặc điểm nổi trội về năng suất và khả năng thích nghi với những biến đổicủa môi trường Mô hình trên đã gợi mở cho địa phuơng một hướng sản xuất mới ở
13
Trang 14những diện tích đất không chủ động được nước bằng thay đổi cơ cấu cây trồng đểnâng cao hệ số sử dụng đất, giảm nghèo cho cộng đồng dân cư nơi đây.
Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộngđồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập củangười dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân Nghiên cứu cho thấy người nghèo vàngười dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấyrằng các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tớisản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng(Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE International)
Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CSRD) (Lâm Thị Thu Sửu vànnk, 2010) nghiên cứu thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương,tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào:
Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều tổ chức
đã thực hiện;
Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước; Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ trực tiếp và làmđầu vào cho các kế hoạch địa phương
Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên cứu và thực hiệnliên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH” tập chung vàocác vấn đề như: BĐKH và Nông nghiệp bền vững, Biển và Ven biển với
BĐKH, Sức khỏe cộng đồng và BĐKH, Tài nguyên môi trường và BĐKH,Nghiên cứu và vận động chính sách với BĐKH Tuy nhiên nghiên cứu các hiện tượngthời tiết cực đoan và sinh kế dựa vào nông nghiệp của các hộ nghèo khu vực miền núiđược đề cập rất ít chính vì vậy nghiên cứu sẽ bổ sung thêm các nghiên cứu nói trên
“Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH của cộngđồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình” của tác giả Trần Hữu Hảo chỉ rarằng: Nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu là trồng trọt chiếm80% tập trung vào 2 loại cây trồng chính là lúa và mía Tỷ lệ chăn nuôi là rất nhỏ trongsinh kế của hộ gia đình đặc biệt là hộ nghèo chỉ chiếm 10% trong tổng thu nhập Hộnghèo cũng là hộ bị tổn thương nhiều nhất bởi tác động của hiện tượng khí hậu cựcđoan Do đó năng lực thích ứng của cộng đồng xã Tây Phong trong đó có hộ nghèocòn nhiều khó khăn mặc dù đã được cải thiện trong khoảng 5 năm trở lại đây với sự hỗ
Trang 15trợ của các cấp chính quyền địa phương như: tài chính, kỹ thuật khi xảy ra sự cố Hầuhết các hộ được hỏi đều không biết hoặc biết rất ít về BĐKH, họ chưa nhận thức đượcrằng BĐKH có các biểu hiện như các hiện tượng khí hậu cực đoan: hạn hán, mưa lũ,rét đậm rét hại… các hoạt động thích ứng chỉ mang tính thời vụ chưa có kế hoạch cụthể
Ở địa bàn nghiên cứu, từ năm 2010 tỉnh Cao Bằng đã xây dựng chi tiết “Kếhoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìntới 2020” nhằm đánh giá tác động của BĐKH đến tỉnh Cao Bằng và đề xuất các giảipháp nhằm thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ tác động xấu do BĐKH gây ra
Hiện nay vấn đề phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường vẫn là vẫn làvấn đề trọng tâm trên thế giới và Việt Nam Để phát triển bền vững tại mỗi vùng, mỗiquốc gia, giảm nghèo bền vững và giảm thiểu tác động của BĐKH đến các nhóm dân
cư, đặc biệt là nhóm nghèo và nhóm dân tộc thiểu số là vấn đề hết sức quan trọng.Nhìn chung, những nghiên cứu đã có trên thế giới và Việt Nam được đề cập trên đây
đã cho thấy sự tác động, ảnh hưởng của biển đổi khí hậu đên nhiều lĩnh vực, nhiềunhóm dân cư tại nhiều khu vực Với những lý thuyết và phương pháp tiếp cận khácnhau, các nhà nghiên cứu đã phân tích một cách đa chiều về BĐKH Những nghiêncứu này là nguồn tư liệu giá tri mang tính khoa học cao, giúp đề tài hệ thống lại vấn dề
lý thuyết, lý luận và các quan điểm về biến bổi khí hậu và giảm nghèo bền vững Đặcbiệt trong mối tương quan với các hoạt động sản xuất nông nghiệp của đồng bào dântộc thiểu số tại Cao Bằng
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung:
Nghiên cứu và đánh giá năng lực thích ứng của nhóm dân tộc thiểu số ở CaoBằng trong sản xuất nông nghiệp với bối cảnh BĐKH hiện nay, từ đó đề xuất một sốgiải pháp cho vấn đề nghiên cứu
3.2 Mục tiêu cụ thể:
- Khái quát một số vấn đề lý luận chung của đề tài: Một số khái niệm liênquan: năng lực thích ứng, BĐKH, dân tộc thiểu số, sản xuất nông nghiệp; Một số chủchương trính sách, kế hoạch của Nhà nước về vấn đề nghiên cứu
- Khái quát thực trạng vấn đề BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đối với sảnxuất nông nghiệp của nhóm dân tộc thiểu số tại Cao Bằng
15
Trang 16- Nghiên cứu, đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH của nhóm dân tộc thiểu số
ở Cao Bằng trong sản xuất nông nghiệp
- Gợi ý, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng và giảm
thiểu những ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp của nhóm dân tộc thiểu
số ở Cao Bằng
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực thích ứng của nhóm dân tộc thiểu số ở Cao Bằng trong bối cảnh BĐKH
4.2 Khách thể nghiên cứu
Nhóm dân tộc thiểu số ở Cao Bằng
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Cao Bằng
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Năng lực thích ứng của nhóm dân tộc thiểu số
trong bối cảnh BĐKH: Đề tài chỉ tập chung nghiên cứu đánh giá năng lực thích ứng
với BĐKH của nhóm dân tộc thiểu số trong sản xuất nông nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Đề tài triển khai nghiên cứu thực địa năm 2014
Trang 175 Khung phân tích
17
NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BĐKH CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG SXNN Ở CB
Chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề ứng phó với BĐKH
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - văn hóa – xã hội của Cao Bằng
Các kênh truyền thông:
Báo chí: báo viết, báo
điện tử
Truyền hình/ đài phát
thanh địa phương
Các đoàn thể xã hội của
địa phương
Các cuộc họp, hội thảo
tại địa phương
Trang 186 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu
6.1 Cách tiếp cận:
Đề tài sử dụng cách tiếp cận liên ngành, tiếp cận hệ thống, tiếp cận vùng, tiếp cậncộng đồng, nhóm xã hội để tìm hiểu, phân tích và đánh giá năng lực thích ứng vớiBĐKH trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhóm dân tộc thiểu số ở Cao Bằng
6.2 Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu trong nước
và ngoài nước, của chính phủ và của địa phương gồm: các chương trình, chính sách,
kế hoạch hành động của trung ương cũng như địa phương, các nghiên cứu, báo cáo,tạp chí,… có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp định tính và định lượng: Đề tài dựa trên nguồn số liệu điều tra
thu thập trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước thuộc chương trình: BĐKH/11-15, đề tài: “Đánh giá tác động của BĐKH đến nhóm người nghèo ở Bắc BộViệt Nam và đề xuất các giải pháp giảm thiểu”, do TS Lương Thu Hằng chủ trì năm2011-2015
KHCN-Do tiếp cận từ nguồn số liệu có sẵn, tác giả sẽ tiến hành sàng lọc, xử lý lại bộ sốliệu nói trên phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
Cụ thể quá trình xử lý lại số liệu sẽ đượcthực hiện theo các bước sau đây:
- Chỉ chọn đưa vào khung mẫu phân tích các đối tượng được điều tra trên địabàn tỉnh Cao Bằng
- Chỉ chọn đưa vào khung mẫu phân tích những chỉ báo có liên quan đến nănglực thích ứng của nhóm dân tộc thiểu số trong hoat động sản xuất nông nghiệp
- Tổng số mẫu điều tra phân tích là 488 người thuộc tỉnh Cao Bằng
- Phương pháp xử lý số liệu: Đề tài sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu
định lượng và NVIVO để xử lý dữ liệu định tính
7 Một số vấn đề lý luận về vấn đề nghiên cứu
7.1 Các khái niệm có liên quan
7.1.1 BĐKH
“BĐKH là “những ảnh hưởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong môitrường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần,khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc
Trang 19đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con
người” (Theo công ước chung của LHQ về BĐKH).
Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động củakhí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc
do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác
sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Theo Nguyễn Đức Ngữ (chủ biên), 2008, các biểu hiện của BĐKH là
+ Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thời tiết vàkhí hậu tăng;
+ Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao;
+ Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũlụt,hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn
7.1.2 Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai đểtrồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu laođộng chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chănnuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.[1]
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước,đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệpthuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính giađình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinhnhai
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên mônhóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móctrong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nôngnghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả
1 Bách khoa toàn thư Việt Nam - Nông Nghiệp
19
Trang 20việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiêncứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùngvào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu.Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìmmọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩmđược chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sảnxuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho cáccon vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩmtruyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len,lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vậtcảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chấtgây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine )
Thế kỷ XX đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp Các sảnphẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu,diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm
7.1.3 Thích ứng với BĐKH
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối vớihoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương dodao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó
mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
Thích ứng là một khái niệm rất rộng, và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nóđược dùng trong rất nhiều trường hợp
Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người làm giảm những tácđộng bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi
mà môi trường khí hậu mang lại
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tíchcực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện nhữnghậu quả có hại của BĐKH
Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý,cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và
Trang 21đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước, và cóthể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau.
Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làmgiảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụngnhững cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH Trong việc đánh giá những tác độngcủa BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật, và con người khôngthể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thểthay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật, và các hệ sinh thái có thể di cư sangmột khu vực mới Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điềukiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư Để giải thích đầy đủ
về tính dễ bị tổn thương do BĐKH, sự đánh giá tác động cần phải tính đến quá trình tấtyếu sẽ xảy ra: sự thích ứng của các đối tượng tác động Không có đánh giá về nhữngquá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủnhững ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúpcho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH
Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ
và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằngcách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứngvới BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụngnhững tác động tích cực
7.1.4 Dân tộc thiểu số
Thiểu số là một trong những vấn đề phức tạp được đặt ra từ rất lâu trong đời sống
xã hội Khái niệm nhóm người thiểu số được dùng để chỉ các nhóm người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.v và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ.
Nói đến nhóm người thiểu số cũng có nghĩa là đã khẳng định về sự tồn tại trênmột khía cạnh khác của nhóm những người đa số được thừa nhận và thường được ứng
xử khác biệt hơn Do vậy, trong thực tế lịch sử, nhóm người được coi là thiểu số baogiờ cũng phải chịu những quy chế về pháp lý hay đạo đức riêng biệt, không được thamgia đầy đủ vào những hoạt động của đời sống công cộng Họ bị đối xử như là những
21
Trang 22“người riêng biệt” và trong trường hợp đó, để tồn tại được bên những người đa số, họcũng buộc phải tự coi mình là những “người riêng biệt”.
Trên thực tế, người thiểu số là những người làm cho người ta dễ nhận thấy sựkhác biệt so với cộng đồng, nghĩa là họ mang những nét mà có thể khi nhìn vào cũngnhư giao tiếp với họ, người ta có thể nhận thấy ngay sự phân biệt so với những thànhviên khác trong cộng đồng
Nhà xã hội học Mỹ Louis Wirth năm 1945 đã đưa ra một định nghĩa khá thôngdụng về nhóm người thiểu số như sau: “Có thể gọi là thiểu số mọi nhóm người, do một
số nét đặc thù về ngoại hình hay văn hoá, bị đối xử khác biệt và không bằng nhữngthành viên khác của xã hội mà họ sinh sống và do đó tự coi mình là đối tượng của một
sự phân biệt tập thể [2]
Trong các cộng đồng làng xã ngày xưa, nhóm những người ngụ cư, tức là nhữngngười từ các cộng đồng khác đến sinh sống trong làng cũng có thể được nhận diện nhưnhững người thiểu số Họ bị phân biệt đối xử và trên thực tế đã không dễ được chấpnhận để hội nhập vào cộng đồng chung Người ta cũng nói nhiều tới những nhóm thiểu
số khác trong xã hội, chẳng hạn như nhóm những người bị tàn tật, nhóm bị nhiễm cáccăn bệnh hiểm nghèo bị cộng đồng xa lánh v.v
Ngày nay, tình hình cũng không khác đi bao nhiêu Ở nhiều nước trên thế giới,khái niệm thiểu số cũng hoàn toàn có thể được áp dụng để nhận định về trường hợpcủa những người nhập cư từ những nước khác đến khi họ bị đối xử một cách phân biệt.Những người này là thiểu số vì họ đã có những quan niệm, thái độ, hành vi, giá trị,phong tục tập quán, lối sống xa lạ khiến họ về cơ bản khác hẳn với những người bảnđịa, và tất nhiên là vì vậy mà bị coi là thấp kém hơn so với những người thuộc nền vănhoá của đa số
7.2 Các chủ trương,chương trình, chính sách và kế hoạch của Nhà nước trong vấn đề ứng phó với BĐKH ở Cao Bằng
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH đã được chính phủ Việt Namphê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994;
Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002;
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 Kỳ họp thứ 8 được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành
Trang 23II năm 2008”.
Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc tổchức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc vềBĐKH tại Việt Nam
Quyết định số 256/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020
Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việcban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị
sự 21 của Việt Nam)
Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việcban hành chương trình hành động của Chính phủ nhằm tổ chức thực hiện triển khaiNghị quyết số 41 - NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị
Quyết định số 1819/QĐ-BTNMT ngày 16/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường “Thực hiện các hoạt động liên quan đến thích ứng với BĐKH”
Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
Quyết định số 447/2010/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành quy chế hoạt động của ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc giaứng phó với BĐKH
Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 24/9/2010 Về việc bổ xung kinh phí năm
2010 để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH
Thông tư liên tịch 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT hướng dẫn quản lý, sửdụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phóvới BĐKH giai đoạn 2009 - 2015 do Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính -
23
Trang 24Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành;
Công văn số 1754/VPCP-NN ngày 03/4/2007 của Văn phòng chính phủ thôngbáo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng giao Bộ Tàinguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, cập nhật
và xử lý các thông tin về BĐKH, nước biển dâng; đồng thời tăng cường hợp tác vớicác tổ chức thế giới về BĐKH để nghiên cứu xây dựng chương trình hành động thíchứng với BĐKH và nước biển dâng tại Việt Nam
Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH
Thông báo số 192/TB-BTC ngày 29/6/2009 của Bộ Tài chính về việc đề xuất nhucầu kinh phí thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH năm 2010
và xây dựng phương án phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình cho các Bộ, cơ quantrung ương và các địa phương
Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môitrường ban hành vào tháng 9 năm 2009
Quyết định số 189/QĐ-UBND ngày 28 tháng 01 năm 2011 của UBND tỉnh Cao Bằng về Phê duyệt đề cương “Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Cao Bằnggiai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020”
Trang 25PHẦN II NĂNG LỰC THÍCH ỨNG VỚI BĐKH CỦA NHÓM DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở CAO BẰNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1 THỰC TRẠNG BĐKH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH TỚI SẢN XUẤTNÔNG NGHIỆP CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CAO BẰNG
1.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Cao Bằng
1.1.1 Địa lý
Cao Bằng là tỉnh biên giới ở phía Bắc Việt Nam, nằm trong vùng miền núi vàtrung du Bắc Bộ, tổng diện tích của tỉnh là 670.785,56 ha, được giới hạn trong tọa độđịa lý từ 22021 21 đến 23007 12 vĩ độ Bắc và từ 105016 15 đến 106050 25 kinh độĐông
- Phía Bắc và phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây của nước Cộng hòa Nhân dânTrung Hoa với đường biên giới trải dài 333,025km
- Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn
- Phía Tây giáp tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang
Thành phố Cao Bằng, cách thủ đô Hà Nội 286 km theo đường quốc lộ 3, cáchthành phố Lạng Sơn 120 km theo đường quốc lộ 4A qua Đông Khê và từ đây có thểnối liền với tỉnh Quảng Ninh theo đường quốc lộ 4B
100 - 200m
Vùng núi đất: Địa hình núi đất ở Cao Bằng chạy từ phía Tây Bắc huyện Bảo Lạc,qua Nguyên Bình tới phía Tây Nam huyện Thạch An Là vùng có địa hình chia cắtmạnh, độ dốc lớn, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 300 - 600m
Vùng núi đá vôi: Vùng núi đá vôi chạy từ phía Bắc dọc theo biên giới Việt Trung, vòng xuống phía Đông Nam của tỉnh Tập trung chủ yếu ở các huyện Hà
-25
Trang 26Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Thông Nông, Quảng Uyên, Phục Hòa Địa hình núi đácao, chia cắt phức tạp.
Cao Bằng là tỉnh có độ dốc cao, đặc biệt là ở những nơi có nhiều núi đá, có tới75% diện tích đất đai có độ dốc trên 250
Nhìn chung Cao Bằng có địa hình khá đa dạng, bị chia cắt phức tạp bởi hệ thốngsông suối khá dày, núi đồi trùng điệp, thung lũng sâu, sự phức tạp của địa hình tạo ranhiều vùng sinh thái đặc thù cho phép Cao Bằng phát triển đa dạng cây trồng, vậtnuôi Tuy nhiên, địa hình chia cắt gây ra nhiều ảnh hưởng đến giao lưu kinh tế, xã hội
và đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sơ đặc biệt là giao thông, đồng thời tạo ra sựmanh mún trong sản xuất nông nghiệp và dễ gây ra rửa trôi, xói mòn đất Đây là mộtkhó khăn lớn trong tổ chức sản xuất
1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc, trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậuCao Bằng thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa và do chi phối của địa hình, nên khí hậucủa tỉnh có những nét đặc trưng riêng so với các tỉnh khác thuộc vùng Đông Bắc.Trong năm có hai mùa rõ rệt:
+ Mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10
+ Mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 19,80C - 21,60C.Mùa hè có nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 25 - 280C, mùa đông có nhiệt
độ trung bình dao động trong khoảng 14 - 180C
Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm khoảng 1.300 - 1.400 giờ, phân bố khôngđều giữa các tháng trong năm, số giờ nắng mùa hè nhiều hơn mùa đông
Tổng lượng mưa trung bình năm 1600 mm
Lượng nước bốc hơi: Lượng nước bốc hơi hàng năm biến động từ 950 1.000mm
-1.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo Tổng cục Thống kê thì dân số tỉnh Cao Bằng tính đến năm 2011 là 515nghìn người, mật độ dân số 77 người/km2 Dân số trên địa bàn tỉnh chủ yếu là dân tộcthiểu số (trên 95%), có 28 dân tộc, đông nhất là dân tộc Tày chiếm 42,54%; dân tộcNùng chiếm 32,86%; dân tộc Dao chiếm 9,63%; dân tộc Mông chiếm 8,45%; dân tộcKinh chiếm 4,68%; dân tộc Sán Chay chiếm 1,23%; dân tộc Lô Lô chiếm 0,39%; dân
Trang 27tộc Hoa chiếm 0,033%; dân tộc Ngái chiếm 0,013%; các dân tộc khác chiếm 0,18%.Toàn tỉnh có 13 đơn vị hành chính: gồm 1 thành phố và 12 huyện với 199 xã,phường, thị trấn; trong đó có 5 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày
28 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bềnvững
Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tính đến thời điểm 31/12/2012 còn 33.545 hộnghèo, chiếm tỷ lệ 28,22%; 7.022 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 5,91% Số hộ thuộc diệnđối tượng đặc biệt khó khăn (đối tượng bảo trợ xã hội) trên 13.000 hộ, chiếm khoảng10% trên tổng số hộ toàn tỉnh
Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh cao, trong đó: nhóm hộ nghèo có thu nhập từ200.000đ/tháng trở xuống còn 16.104 hộ, chiếm 36,41%, mức sống của các hộ nghèothấp; Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo là thiếu vốn, thiếu đất sản xuất và thiếukinh nghiệm làm ăn
1.2 Khái quát thực trạng vấn đề BĐKH tại Cao Bằng
Do chịu tác động của BĐKH toàn cầu nên tình hình diễn biến của các yếu tốthời tiết và thiên tai ở Việt Nam nói chung và Cao Bằng nói riêng trong những nămgần đây có nhiều biến đổi
Để đánh giá xu thế BĐKH ở Cao Bằng, báo cáo đã sử dụng chuỗi số liệu 20năm (1991 - 2010) của Trung tâm khí tượng, thủy văn Cao Bằng Kết quả về thựctrạng BĐKH ở tỉnh Cao Bằng trong 20 năm qua như sau:
nắng
Độ ẩm TB
Trang 28(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Cao Bằng, năm 2011 )
* Nhận xét chuỗi nhiệt độ trung bình (Ttb) từ năm 1991 đến năm 2010:
Từ chuỗi số liệu quan trắc nhiệt độ trung bình tại tỉnh Cao Bằng trong 20 năm từnăm 1991 đến năm 2010 ta nhận thấy một số đặc điểm như sau:
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 1995 là: 21.7oC
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1996 đến năm 2000 là: 21.9oC tăng 0.2oC so vớigiai đoạn năm 1991 đến năm 1995
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2001 đến năm 2005 là: 22.1oC tăng 0.2oC so vớigiai đoạn năm 1996 đến năm 2000
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2006 đến năm 2010 là: 22.36oC tăng 0.28oC so vớigiai đoạn năm 2001 đến năm 2005
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 21.8oC
+ Nhiệt độ trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 22.22oC, tăng 0.42oC so vớigiai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000
Từ phân tích chuỗi số liệu nhiệt độ trung bình từ năm 1991 đến năm 2010 có thểthấy nền nhiệt độ tại tỉnh Cao Bằng có xu hướng tăng, cứ 5 năm nhiệt độ tại tỉnh CaoBằng tăng từ 0.2oC đến 0.28oC, và trong 10 năm thì tăng 0.42oC
* Nhận xét chuỗi số liệu nhiệt độ tối cao tuyệt đối (Tx) từ năm 1991 đến năm 2010:
+ Nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 37.3 oC.+ Nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 38.7oC,
Trang 29Từ phân tích chuỗi số liệu nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình trong 10 nămtăng 1.4oC Từ đó ta có thể nhận thấy những ngày nắng nóng cực điểm tăng rõ rệt,thậm chí xuất hiệt những ngày có nhiệt độ lên đến 39.5oC (năm 2006, 2010) đặc biệt
có ngày nhiệt độ lến đến 39.8oC (năm 2003) và trong năm 2010 có đợt năm nóng kéodài lịch sử gây hạn hán ở diện rộng, thiệt hại về cây trồng và vật nuôi
* Nhận xét về chuỗi số liệu nhiệt độ tối thấp tuyệt đối (Tm) từ năm 1991 đến năm 2010:
+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình từ năm 1991 đến năm 2000 là 3.31oC.+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là 2.8oC,giảm 0.51oC so với nhiệt độ giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000 Từ phân tích cácchuỗi số liệu trên ta có thể nhận thấy tuy nên nhiệt độ trung bình năm tăng lên nhưngnhững ngày nhiệt độ xuống thấp gây rét đậm rét hại lại kéo dài gây thiệt hại lớn vềmùa màng và vật nuôi, đặc biệt suất hiện hai đợt rét đậm rét hại lịch sử kéo dài 38ngày (năm 2008) và 36 ngày (năm 2011) gây thiệt hại rất lớn về mùa màng, cây lâmnghiệp, đặc biệt là cho đàn gia súc theo thống kê qua 2 đợt rét đậm, rét hại này làmchết hơn 30.000 con trâu, bò
Trang 30(Nguồn số liệu: Do TT Khí tượng thủy văn tỉnh Cao Bằng, năm 2011 )
Kết quả quan trắc số giờ nắng trong 20 năm qua tại 4 trạm khí tượng thủy văntỉnh Cao Bằng cho thấy:
- Tại trạm khí tượng Cao Bằng: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến
năm 2000 là 1472.8 giờ Số giời nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là1472.5, giảm 0.3 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Trùng Khánh: số giờ nắng trung bình từ năm 1991
đến năm 2000 là 1292.7 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm
2010 là 1414.2 giờ, tăng 121.5 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Nguyên Bình: số giờ nắng trung bình từ năm 1991
đến năm 2000 là 1455.6 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm
2010 là 1381.5 giờ giảm 74.1 giờ so với 10 năm trước
- Tại trạm khí tượng Bảo Lạc: số giờ nắng trung bình từ năm 1991 đến
năm 2000 là 1377.1 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001 đến năm 2010 là1456.2 giờ, tăng 79.1 giờ so với 10 năm trước
- Số liệu giờ nắng trung bình cả 4 trạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng từ
năm 1991 đến năm 2000 là 1410.8 giờ Số giờ nắng trung bình từ năm 2001đến 2010 là 1445.2, tăng 34.4 giờ so với 10 năm trước
- Từ số liệu giờ nắng riêng từ 4 trạm và tính trung bình cho cả toàn tỉnh
Cao Bằng ta thấy, ở riêng mỗi trạm có số giờ nắng trong năm rất khác nhau, và
so sánh số liệu giờ nắng trung bình 10 năm sau (2001 - 2010) so với 10 nămtrước (1991 - 2000) ở mỗi trạm cũng biến đổi rất khác nhau tại trạm Nguyên