Để giải quyết những khó khăn, thử thách mà nền y tế nước nhà đangphải đối mặt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạch định chủ trương huy động sự tham gia và đóng góp của các thành phần kinh tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐÀO VĂN PHƯƠNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÃ HỘI HÓA Y TẾ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri
Giới thiệu 1 :
Giới thiệu 2 :
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ cấp cơ sở họp tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
vào hồi: giờ phút, ngày tháng năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin Thư viện - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Đào Văn Phương (2014), “Xã hội hóa y tế ở nước ta sau gần 30
năm nhìn lại”, Tạp chí lý luận chính trị - Học viện Báo chí và Tuyên truyền (5), tr.50-53.
2 Đào Văn Phương (2015), “Đảng lãnh đạo thực hiện xã hội hoá y
tế thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Giáo dục Lý luận (235), tr.56-58.
3 Đào Văn Phương (2018), “Xã hội hóa y tế ở Việt Nam (1993
-2015), những kết quả đạt được và giải pháp thúc đẩy”, Tạp chí Lịch sử Đảng (1), tr.70-73.
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là vấn đề luôn được Đảng Cộng sảnViệt Nam coi trọng trong suốt quá trình phát triển của đất nước Kể từ khitiến hành đường lối đổi mới, cùng với việc đề ra các chủ trương, chính sáchphát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân,phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, vănminh, thì lĩnh vực y tế cũng được Đảng quan tâm đặc biệt
Tuy nhiên, do điều kiện điểm xuất phát quá độ lên chủ nghĩa xã hội
của đất nước thấp, kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn Nhiều hậu quả
nặng nề do chiến tranh để lại đã tác động xấu đến sức khỏe nhân dân Mặttrái của cơ chế thị trường tạo nên sức ép lớn đối với ngành y tế Sự phân hoágiàu nghèo, các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày một nhiều và mang tính đadạng, phức tạp, gây khó khăn cho việc thực hiện công bằng trong chăm sócsức khoẻ Bên cạnh đó, dân số Việt Nam gia tăng nhanh chóng dẫn đếnnhững đòi hỏi khách quan về chăm sóc y tế Sự phát triển của khoa họccông nghệ trong lĩnh vực y học, cơ cấu bệnh tật có nhiều thay đổi dẫn đếnchi phí khám, chữa bệnh ngày càng cao trong khi đất nước chưa ra khỏikhủng hoảng Ngân sách Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực y tế thấp, khu vực y
tế nhà nước ngày càng tỏ rõ những bất cập trong việc đáp ứng nhu cầukhám, chữa bệnh của nhân dân cả về số lượng, lẫn chất lượng Điều đó đặtngành y tế nước nhà đứng trước những thử thách lớn, đòi hỏi phải có mộtgiải pháp tổng thể nhằm tháo gỡ những khó khăn, xây nền y tế Việt Nam đủsức phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân,góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Để giải quyết những khó khăn, thử thách mà nền y tế nước nhà đangphải đối mặt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoạch định chủ trương huy động
sự tham gia và đóng góp của các thành phần kinh tế, ngành nghề, cá nhân, tổchức xã hội vào công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.Hay nói cách khác, đó là xã hội hóa nền y tế
Chủ trương xã hội hóa y tế lần đầu tiên được đề ra trong Nghị quyết số
04-NQ/HNTW về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ
Trang 5sức khỏe nhân dân ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Với quan điểm “Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách nhiệm của cộng đồng
và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng và chính quyền, cácđoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòngcốt”, thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" [120, tr.522],Nghị quyết số 04-NQ/HNTW đã đặt nền móng để Đảng tiếp tục bổ sung,phát triển chủ trương xã hội hóa y tế trong thời gian tiếp theo nhằm xây dựngnền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng - hiệu quả - phát triển
Sự nghiệp phát triển hệ thống y tế nói chung, sự nghiệp xã hội hoá y tếnói riêng luôn dành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản
lý Vì thế, từ năm 1993 đến nay, đề tài xã hội hoá y tế đã được đề cập ở rấtnhiều khía cạnh Tuy nhiên, các nghiên cứu còn tương đối nhỏ lẻ, rời rạc.Trong các nghiên cứu này, nhiều nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở nhữngphương thức cụ thể của xã hội hoá y tế, chưa có đề tài nào nghiên cứu về sựlãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về xã hội hoá y tế từ khi có chủ trương đến nay
Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo xã hội hoá y tế từ năm 1993 đến năm 2015” làm đề tài luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vấn đề xã hội hóa y tế và sự tổ chức thực hiện từ năm 1993 đến năm 2015;qua đó nêu lên nhận xét, đánh giá và rút ra những kinh nghiệm góp phần đẩymạnh thực hiện xã hội hóa y tế trong thời kỳ mới ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Sưu tập, hệ thống hóa nguồn tài liệu, làm rõ tình hình nghiên cứu liênquan đến đề tài
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về xã hội hóa y tế ở Việt Nam, cácquan điểm, chủ trương thực hiện xã hội hóa y tế và quá trình chỉ đạo thựchiện các chủ trương đó của Đảng trong thời kỳ 1993 - 2015
- Đưa ra một số nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và đúc rútnhững kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn trong quá trình thực hiện chủ trương,chính sách xã hội hóa y tế của Đảng từ năm 1993 đến năm 2015 để phục vụhiện tại
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảngđối với công tác xã hội hóa y tế từ năm 1993 đến năm 2015
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Trong phạm vi khoa học, luận án tập trung nghiên cứu
những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác xã hội hóa y tế từnăm 1993 đến năm 2015
Về không gian: Hoạt động lãnh đạo xã hội hoá y tế ở Việt Nam của
Đảng
Về thời gian: Sự lãnh đạo xã hội hoá y tế của Đảng từ năm 1993 đến năm
2015
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về y tế là cơ sở lý luận vàphương pháp luận để giải quyết đề tài luận án
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử, phương pháplogíc Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, đốichiếu, thống kê, so sánh Các phương pháp được sử dụng kết hợp ở cácchương để xử lý các sự kiện, con số nhằm làm rõ quá trình lãnh đạo xã hộihóa y tế của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử ; những ưu điểm, hạn chế, yếukém cần khắc phục, nguyên nhân hạn chế, luận giải rút ra những kinh nghiệmlịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn trong quá trình Đảng lãnh đạo xã hội hóa
y tế từ năm 1993 đến năm 2015
4.2 Nguồn tư liệu
- Nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng là các văn kiện của Đảng Cộng sảnViệt Nam về y tế và liên quan đến xã hội hóa y tế
- Nguồn tài liệu quan trọng tiếp theo trong quá trình nghiên cứu là cácNghị định, Quyết định, Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư của Quốc hội, Chínhphủ, Bộ Y tế về xã hội hóa hoạt động y tế Các báo cáo tổng kết hàng nămcủa Bộ Y tế về công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân
Trang 7- Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đềcập hoặc liên quan đến đề tài được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí Kếtquả nghiên cứu, tổng hợp của các đề tài khoa học có liên quan đã được xã hộihóa.
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về khoa học
- Khái quát, hệ thống hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xã hội hóa y tế qua hai giai đoạn 1993 - 2005; 2006 - 2015
- Phục dựng lại một cách khách quan thực tiễn công tác xã hội hóa y tếdưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong những năm 1993 - 2015với ưu điểm, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm lịch sử
5.2 Về thực tiễn
- Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử liên quan đến đề tài Đảnglãnh đạo xã hội hóa y tế, góp phần làm phong phú hệ thống tư liệu về xã hộihóa y tế ở Việt Nam
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy, góp phần bổ sung căn cứ lý luận và thực tiễn cho công cuộc đẩy mạnh xãhội hóa y tế trong giai đoạn hiện nay
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về xã hội hóa y tế nói chung
* Các công trình của các tác giả nước ngoài:
Khi nghiên cứu về xã hội hóa y tế, các tác giả chủ yếu nghiên cứu vềmột mặt, một phương thức nào đó của xã hội hóa y tế Cụ thể:
Về phương thức phát triển hệ thống y tế tư nhân, tác giả S.Bennett chorằng ở các nước đang phát triển do ngân sách nhà nước hạn chế, mức đónggóp và nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế của nhân dân tăng, y tế nhà nướckhông đáp ứng đủ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, vì vậy phải pháttriển hệ thống y tế tư nhân
Tác giả Alexander S.Preker và April Harding đã phân tích chi tiết những
căn cứ khoa học để lý giải sự có mặt của nhà nước trong nhiều lĩnh vực của y
tế, đồng thời cũng chỉ ra những hợp lý của khu vực y tế tư nhân trong các hoạtđộng khám, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ phụ trợ hay các hoạt động chăm sócsức khỏe gián tiếp
Về phương thức thu một phần viện phí, theo tác giả Fei, Zhouhui vàYuanli Liu, hiện nay, bệnh viện Nhà nước của Trung Quốc nhận kinh phí từ
ba nguồn chính là từ ngân sách Nhà nước, thu một phần viện phí và lợinhuận bán thuốc Kinh phí hoạt động của các bệnh viện Trung Quốc chủ yếudựa vào các nguồn bệnh viện tự tạo như vốn vay, lợi nhuận trong hoạt động(có được từ viện phí) và vốn góp từ nhân viên
Tác giả Shanlian Hu chỉ ra rằng phương thức thu một phần viện phí tácđộng mạnh tới tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe Viện phí thực sự tạo
ra gánh nặng tài chính cho người dân Trung Quốc, đặc biệt là người nghèo,hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ, làtrầm trọng thêm sự chênh lệch về bệnh tật và đói nghèo giữa các nhóm thunhập dân cư Đồng thời viện phí còn tác động mạnh tới tiêu chí hiệu quả của
hệ thống y tế Trung Quốc
* Các công trình của các tác giả trong nước:
Tác giả Nguyễn Minh Phương cho rằng “Xã hội hóa y tế là quá trìnhhuy động sự tham gia dưới các hình thức khác nhau của các chủ thể và cộngđồng xã hội, đồng thời tăng cường cai trò của Nhà nước đối với y tế nhằm
Trang 9nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối tượng thụ hưởng
và bảo đảm công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng các dịch vụ y tế”
Tác giả Cao Thị Hà cho rằng “Từ góc độ khoa học kinh tế - chính trị,
xã hội hóa y tế là quá trình liên kết các dịch vụ y tế của nhiều chủ thể, thuộcnhiều thành phần khác nhau thành một chương trình có tính xã hội Đáp ứngnhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đối với mọi tầng lớp nhân dân”
Tác giả Đặng Thị Lệ Xuân cho rằng dưới góc độ đánh giá chính sáchđang thực hiện ở Việt Nam thì “Xã hội hóa y tế là hoạt động có sự tham giabằng các hoạt động và sự đóng góp theo khả năng của mọi thành phần kinh
tế, mọi ngành nghề, cá nhân và tổ chức xã hội vào công tác chăm sóc sứckhỏe nhân dân nhằm đạt kết quả cao nhất, công bằng và hiệu quả” Sự đónggóp ở đây là đóng góp sức lực và tài chính, còn sự tham gia là tham gia cungứng đầu vào và đầu ra
Tác giả Đào Văn Dũng cho rằng công tác xã hội hóa y tế là sự phối hợpliên ngành trong đó ngành y tế giữ vai trò chủ đạo; là sự tham gia của cácđoàn thể quần chúng; sự tham gia và đóng góp nguồn lực của nhân dân dưới
sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp
Tác giả Cao Thu Hằng với công trình Chính sách xã hội hóa giáo dục
và y tế ở Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trên cơ sở
phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiệnchính sách xã hội hóa giáo dục và y tế, các tác giả đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế
ở Việt Nam hiện nay Trong lĩnh vực y tế, đó là đẩy nhanh tiến độ thực hiện
lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân, phát triển hệ thống y tế tư nhân…Các giảipháp có sự thống nhất và tác động lẫn nhau, không thể thực hiện thành côngnếu các giải pháp tách rời riêng rẽ Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ là
cơ sở cho việc thực hiện thành công chính sách xã hội hóa y tế ở Việt Namhiện nay
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội hóa y tế
Tác giả Nguyễn Minh Phương với công trình Nhận thức về xã hội hóa giáo dục, y tế ở nước ta hiện nay khẳng định: chủ trương xã hội hoá y tế của
Đảng được thể hiện trong Nghị quyết 04-NQ/HN-TW của Ban chấp hànhTrung ương khoá VII năm 1993 Đảng ta coi “sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ
là trách nhiệm của cộng đồng” với phương châm “nhà nước và nhân dân
Trang 10cùng làm”, đa dạng hoá các hình thức chăm sóc sức khoẻ, trong đó, y tế nhànước là chủ đạo
Tác giả Phạm Mạnh Hùng với công trình Thành tựu chăm lo phát triển nguồn lực con người cho rằng Đảng ta nêu rõ quan điểm xã hội hoá y tế như sau: “Xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ gắn với tăng cường đầu tư của Nhà nước; thực hiện tốt việc trợ giúp chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng, là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y
tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sức khoẻ”
1.2 Những kết quả có thể kế thừa và những vấn đề luận án tập trung giải quyết.
1.2.1 Những kết quả có thể kế thừa
Tổng quan những cuốn sách, bài báo, luận án, các công trình nghiêncứu về xã hội hóa y tế trên thế giới và ở Việt Nam có thể khẳng định:
Một là, những ấn phẩm của các học giả trên thế giới và Việt Nam
nghiên cứu về xã hội hóa y tế đã đưa ra nhiều phân tích để làm rõ nội hàmkhái niệm xã hội hóa y tế từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Những phân tíchnày giúp nghiên cứu sinh có cách nhìn khách quan, đa chiều về xã hội hóa y
tế cũng như tầm quan trọng của việc thực hiện xã hội hóa y tế qua lăng kínhcủa các học giả
Hai là, những công trình nghiên cứu có liên quan đến xã hội hóa y tế
ở Việt Nam đã tập trung phân tích thực trạng xã hội hóa y tế của nước ta từkhi bắt đầu có chủ trương xã hội hóa y tế đến nay thông qua các phươngthức xã hội hóa y tế: thu một phần viện phí, phương thức liên doanh liên kết
và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu, phương thức bảo hiểm y tế, phương thức
y tế tư nhân
Ba là, các công trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới cung ứng dịch vụ y
tế, về vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của xã hội trong việc cung ứngdịch vụ y tế đã làm rõ vai trò của Nhà nước với tư cách là đầu tàu đứng ra tổchức cung ứng các dịch vụ y tế nhằm xây dựng nền y tế theo hướng côngbằng - hiệu quả, bên cạnh đó các công trình cũng đã khẳng định trách nhiệmchăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là của Nhà nước mà còn là tráchnhiệm của cộng đồng xã hội trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kết quả
Trang 11của các công trình này là cơ sở để tác giả nghiên cứu quá trình Đảng đề rachủ trương xã hội hóa y tế.
Bốn là, các công trình nghiên cứu về xã hội hóa y tế ở Việt Nam đã
khái quát một vài thành tựu đạt được trong việc thực hiện xã hội hóa y tế thờigian qua góp phần từng bước làm thay đổi bộ mặt nền y tế nước nhà Từ đó,các tác giả đã nêu ra những đề xuất các giải pháp khắc phục những yếu tố cònhạn chế của xã hội hóa y tế, định hướng mục tiêu phát triển đáp ứng yêu cầutình hình mới Qua cách tiếp cận của các tác giả giúp nghiên cứu sinh cónhận thức đúng về hoạt động xã hội hóa y tế trên từng phương thức cụ thể kể
từ khi chủ trương này được đề ra
1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Kế thừa những thành tựu của các nghiên cứu đi trước, trên cơ sở khaithác nguồn tư liệu mới, luận án tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ hoàn cảnh lịch sử việc đề ra chủ trương xã
hội hóa y tế của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay sau khi tiến hành đường lốiđổi mới toàn diện đất nước
Thứ hai, hệ thống hóa chủ trương lãnh đạo xã hội hóa y tế của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2015
Thứ ba, làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo thực
hiện xã hội hóa y tế từ năm 1993 đến năm 2015
Thứ tư, nhận xét những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra một số
kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn quá trình lãnh đạo thực hiện xã hội hóa y tếcủa Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2015 để từ đó có thể đề
ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm nâng cao năng lực, hiệu quảcủa sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong nhữngnăm tiếp theo
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ XÃ HỘI HÓA Y TẾ
TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2005 2.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng về xã hội hóa y tế
Trang 12Cuộc cách mạng khoa học ngày càng tác động sâu hơn vào đời sốngkinh tế xã hội, nhất là trong sản xuất.
Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến năm
1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ
Xu thế toàn cầu hóa ngày càng tác động sâu sắc đến đời sống các quốcgia dân tộc
2.1.2 Chủ trương của Đảng
Đại hội VII của Đảng năm 1991, trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” đã nêu lên tư tưởng: “khai thác mọi tiềm năng của toàn xã hội tham gia phát triển đất nước” Năm 1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đề xuất chủ trương: “Sự
nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, làtrách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân vàcác tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt” “Huy động lựclượng của toàn xã hội tham gia công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, đồngthời xây dựng bộ máy chuyên trách đủ mạnh cho công tác dân số và kế hoạchhóa gia đình”
Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định: “Tiếp tục thực hiện các chươngtrình mục tiêu về y tế quốc gia Khuyến khích các thành phần kinh tế thamgia phát triển các cơ sở khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhucầu đa dạng của xã hội Đổi mới cơ chế, chính sách viện phí; mở rộng y tế
tự nguyện, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Có chính sách hỗ trợ cho ngườinghèo được khám, chữa bệnh”
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng
2.2.1 Về phương thức phát triển hệ thống y tế tư nhân
Hệ thống y tế tư nhân ra đời sau khi Đảng đề xuất chủ trương xã hội
hóa y tế Ngày 30/9/1993, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về hành nghề y, dược tư nhân Trong đó quy định cụ thể về tiêu chuẩn,
điều kiện, hình thức tổ chức hành nghề y, dược tư nhân tại Việt Nam Đây là
cơ sở pháp lý cao nhất cho việc hoạt động của hệ thống y tế tư nhân và côngtác quản lý nhà nước đối với khu vực này
Đến giữa thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, sau hơn một thập kỷ rađời, hệ thống y tế tư nhân đã có bước phát triển nhanh chóng về quy môcũng như chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càngphong phú và đa dạng của nhân dân Theo Báo cáo hoạt động bệnh viện tư
Trang 13nhân năm 2009 của Bộ Y tế, đến năm 2003, số lượng cơ sở hành nghề y tưnhân ở Việt Nam là gần 30.000 cơ sở.
2.2.2 Về phương thức phát triển hệ thống bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, nó mang tính nhânvăn sâu sắc Chính sách BHYT là nhằm chia sẻ của cả cộng đồng với mỗithành viên trong xã hội khi họ không may bị ốm đau, bệnh tật, kể cả trongnhững trường hợp hiểm nghèo BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội,nâng cao chất lượng, hiệu quả trong CSSK BHYT giúp người dân được tiếpcận với các dịch vụ CSSK có chất lượng tốt, dựa trên nhu cầu CSSK, có chínhsách trợ giúp người nghèo được KCB khi ốm đau Bên cạnh đó, thực hiệnBHYT giúp thúc đẩy sự phát triển cơ chế quản lý trong hoạt động CSSK
Cho đến những năm giữa thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, thực hiệnchủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, các cơ quan Nhà nước đã đề ra một loạtcác giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển BHYT trong cả nước Nhờ vậy,chính sách BHYT đã có nhiều đổi mới, thể hiện rõ nét sự công bằng xã hộitrong lĩnh vực y tế
2.2.3 Về phương thức thu một phần viện phí, thực hiện liên doanh liên kết và cung ứng dịch vụ theo nhu cầu ở các cơ sở y tế công lập
* Về phương thức thu một phần viện phí
Viện phí là hình thức chi trả trực tiếp các chi phí khám chữa bệnh tạithời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói cách khác là khoản phí màngười bệnh phải trả từ tiền túi của mình khi sử dụng dịch vụ y tế Phí phải trả
có thể là chi phí khám bệnh, chi phí sử dụng thuốc, vật tư y tế hay các dịch
vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh Viện phí thường áp dụng đối vớicác dịch vụ khám chữa bệnh vì người dân thường chấp nhận chi trả cho việc
sử dụng thuốc hay các biện pháp chẩn đoán, điều trị trực tiếp đối với họ hơn
là đối với các dịch vụ có tính dự phòng, giáo dục sức khỏe
Nguồn thu từ viện phí (và BHYT) ngày càng tăng đã hỗ trợ một phầnquan trọng đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của các bệnh viện ở tất cảcác tuyến và hỗ trợ một phần đời sống nhân viên bệnh viện
* Về phương thức liên doanh liên kết và cung ứng dịch vụ theo nhu cầu
ở các cơ sở y tế công lập
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, khi mà sự nghiệp đổi mới toàndiện đất nước mới bắt đầu được một thời gian ngắn Nền y tế đối mặt vớinhiều thử thách, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị số 04-NQ/HNTW về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức