Như vậy, chương trình giáo dục vừa là công cụ để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho thời đại, vừa là thước đo trình độ phát triển của giáo dục trong thời đại mà nó phục vụ.. Chúng có thể
Trang 1Phân tích nhu cầu (Need Analysis) khâu quyết định chất lượng
của một chương trình giáo dục (curriculum)
GS Nguyễn Đức Chính Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN
1 Đặt vấn đề
“Chương trình giáo dục (curriculum) là sản phẩm của thời đại” (P.F.Oliva, 1988) Như vậy, chương trình giáo dục vừa là công cụ để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho thời đại, vừa là thước đo trình
độ phát triển của giáo dục trong thời đại mà nó phục vụ
Có một nghịch lí là chúng ta đang chứng kiến những thay đổi to lớn chưa từng thấy trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: sự toàn cầu hoá của nền kinh tế, sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, sự ra đời của nền kinh tế tri thức v.v Chúng ta đang sống trong thời đại mà Kenneth Clark cho rằng không có gì là không có thể, sự tiên đoán có thể trở thành những thông tin chính xác nhất về tương lai
Trong khi đó, giáo dục dường như chỉ có những phản ứng hết sức chậm chạp, và dè dặt Bằng chứng là, chương trình giáo dục ở tất cả các bậc học, nhất là bậc đại học hầu như chưa có những thay đổi mang tính đột biến, và hậu quả của nó là chúng ta đang và sẽ đối mặt với những thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Theo thống kê, trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, nguồn nhân lực được đào tạo từ trung cấp trở lên chỉ chiếm 20%, riêng ngành du lịch có 15%
Một con số thống kê khác - hiện nay chúng ta đã có một hệ thống giáo dục đại học mạnh với 101 trường công lập, 45 trường
Trang 2ngoài công lập, với 1212778 sinh viên, số giảng viên là 41007 (trong
đó 37016 giảng viên các trường công lập và 3991 ngoài công lập), (196 sinh viên/vạn dân) (chưa kể 223 trường cao đẳng với 476721 sinh viên) Hàng năm, số sinh viên tốt nghiệp ước tính 200000 người với tỉ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp ước tính 40% Thí dụ năm 2004-2005, toàn quốc có 195633 sinh viên tốt nghiệp, trong đó
139508 tốt nghiệp đại học và 61125 tốt nghiệp cao đẳng) - Nguồn Website: Bộ Giáo dục & Đào tạo - mạng giáo dục – Education Network)
Vậy, một vấn đề đặt ra là: “Chương trình giáo dục (bậc đại học)
đã thực hiện được chức năng là công cụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá chưa? Và nếu chưa thì tại sao? Phải chăng chúng ta chưa có sự gắn kết giữa đào tạo và sử dụng? Phải chăng chưa ai chịu trách nhiệm về sản phẩm đào tạo của mình?”
Đến đây cần làm rõ hơn và thống nhất trong cách hiểu khái niệm chương trình giáo dục
Rõ ràng có nhiều định nghĩa khác nhau về chương trình giáo dục Nhưng liệu có ai trong chúng ta nhìn thấy và mô tả một thực thể được gọi là chương trình giáo dục không? Đó là văn bản chương trình khung do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành? Hay đó là chương trình chi tiết do các trường biên soạn? Đó là đề cương (syllabus) các môn học? Hay đó là toàn bộ các hoạt động dạy - học diễn ra hàng ngày trong trường? Hay đó còn là những năng lực, phẩm chất mà người sinh viên tốt nghiệp thể hiện khi tham gia vào thị trường lao động?
Kho có thể thuyết phục mọi người gộp cả 3 nội dung này vào khái niệm curriculum
- Những văn bản pháp qui về chương trình giáo dục
Trang 3- Hoạt động dạy học
- Năng lực, phẩm chất của người sinh viên sau đào tạo thể hiện khi tham gia thị trường lao động
Song đây là 3 vấn đề có mối quan hệ đan xen, phụ thuộc, qui định lẫn nhau Chúng có thể được trừu tượng hoá thành những thực thể để nghiên cứu, song không thể tồn tại và hoạt động tách rời nhau, trong đó vấn đề 3 – năng lực và phẩm chất của người sinh viên sau đào tạo thể hiện trong quá trình tham gia thị trường lao động được xem là yếu tố quyết định, vừa định hướng cho việc thiết kế 1 chương trình giáo dục, vừa là thước đo chất lượng, hiệu quả của chương trình đó Và đây chính là minh chứng cho việc chương trình giáo dục thực hiện được chức năng là công cụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xã hội
Làm thế nào để có thể biết được xã hội cần gì ở giáo dục đại học? Những năng lực, phẩm chất nào cần được rèn luyện trong nhà trường đại học? Hay nói cách khác, mục tiêu của chương trình giáo dục bậc đại học cần được xác định như thé nào để có thể đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của xã hội?
2 Một số mô hình phát triển chương trình giáo dục
“Thay đổi là điều tất yếu” – P.F.Oliva (1988) đã khẳng định như vậy khi nói về chương trình giáo dục Là sản phẩm của thời đại, khi thời đại thay đổi, chương trình giáo dục tất phải thay đổi theo Lịch
sử khoa học giáo dục đã chứng kiến những bước phát triển nhanh chóng của ngành “Phát triển chương trình giáo dục” qua các mô hình phát triển chương trình giáo dục
2.1 Mô hình đơn giản nhất là mô hình mục tiêu (The Aim Model)
Mô hình bắt đầu từ mục tiêu và di chuyển theo một đường thẳng, bao gồm cả hoạt động của trò và của thầy Mô hình không đề cập tới các yếu tố như triết lí, hay các có sở khác
Trang 42.2 Mô hình Đảo ngược của Taba (Taba’s Inverted Model) (Bắt đầu từ lớp học)
2.3 Mô hình Ends – Means của Tyler
Các nhà nghiên cứu xem mô hình Ends – Means của Tyler là
mô hình mang tính đột phá vào thời điểm của ông Theo Tyler,
chương trình giáo dục phải bắt đầu từ hệ mục tiêu (bao gồm triết lí,
định hướng, mục đích, mục tiêu)
Hoạt động của thầy
Hoạt động
Chẩn đoán nhu cầu
Xác định mục tiêu Lựa chọn nội dung
Tổ chức nội dung
Lựa chọn hoạt động
Tổ chức hoạt động
Đánh giá
Triết lí, Định
hướng, Mục đích,
Mục tiêu
Chương trình giáo dục, Nội dung và các hoạt động
Trang 5Theo Tyler, để xác định được mục tiêu, cần phân tích các nguồn sau:
- Xã hội
- Triết học (triết lí của giáo dục – còn gọi là bức màn triết học)
- Tâm lí (Còn gọi là bức màn tâm lí)
2.4 Mô hình Oliva
Mô hình Oliva (1976)
Mô hình Oliva (1992)
Triết lí Mục đích Mục tiêu Thiết kế Thực thi Đánh giá
Trang 6Xác định
các nhu
cầu của
học sinh
nói chung
Xác định các nhu cầu của
xã hội
Tuyên bố
mục đích
và triết
lí giáo
dục bao
gồm các
niềm tin
về học
tập
Xác định các nhu cầu của học sinh
cụ thể nào đó
Xác định các nhu cầu của một cộng đồng cụ thể
Xác định các nhu cầu môn học
Xác định các mục đích chương trình
Xác định các mục tiêu chương trình
Sắp xếp
và thực hiện chương trình
Xác định các mục đích giảng dạy
Xác định các mục tiêu giảng dạy
Sự lựa
chọn các
chiến
lược
Lựa chọn
sơ bộ các kĩ thuật đánh giá
Thực hiện các chiến lược
Sự lựa chọn cuối cùng các
kĩ thuật đánh giá
Đánh giá việc giảng dạy
Đánh giá chương trình giảng dạy
I – IV và VI-IX
V X-XII
Các giai đoạn hoạch định Giai đoạn hoạch định và hoạt động Các giai đoạn hoạt động
VII
Trang 7Một trong những đặc điểm của mô hình Oliva (1992) là thể hiện
sự hoà quyện giữa khâu thiết kế (I-IV, VI-IX, V), khâu thực thi (X-XI)
và khâu đánh giá (XII) tạo thành 1 chu trình được vận hành liên tục trong quá trình thực thi 1 chương trình giáo dục cho 1 khoá học, hay
1 môn học
2.5 Mô hình Saylor và Alexander (1960)
2.6 Mô hình Macdonald
Các yếu tố quyết định của chương trình giáo dục (Hệ giá
trị, lí tưởng, năng lực, nhu cầu cần rèn luyện
Cơ sở triết học, tâm lí học
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thiết kế (luật, qui chế)
Kế hoạch chương trình (Curriculum Plan) Các chiến lược dạy học
Chương trình
I
Chương trình học
IX X
IV VIII
II VI
VII III
Giảng bài
Học Dạy
V
Trang 8V - Học đồng thời
VI - Sự thay đổi hành vi thông qua thông tin phản hồi của giáo viên
VII – Kinh nghiệm làm việc
VIII – Kinh nghiệm hướng dẫn
IX - Những hoạt động của thầy – trò đã được kế hoạch hoá
X - Những hoạt động của thầy – trò đã được kế hoạch hoá
Mô hình Macdonald chỉ rõ mối liên hệ giữa các yếu tố của mô hình Mối liên hệ này là rất quan trọng vì chương trình giáo dục ở đây
là hướng tới chuỗi những kết quả đầu ra mong đợi
2.7 Mô hình CDIO
Mô hình CDIO bắt đầu từ việc các công ty không hài lòng với việc sinh viên tốt nghiệp các ngành kĩ thuật, công nghệ không đáp ứng yêu cầu sản xuất trong bối cảnh khoa học kĩ thuật có những bước tiến nhảy vọt Các công ty này đã liệt kê những năng lực mà kĩ
sư của họ phải thực hiện (Boeing’s Desired Attributes of an Engineer) Trên cơ sở này Acrreditation Board of Engineering and Technology (ABET) xây dựng thành tiêu chuẩn nghề nghiệp của các
kĩ sư và rõ ràng là giữa bộ chuẩn này với mục tiêu của chương trình giáo dục của các trường là có 1 khoảng cách Để khắc phục khoảng cách giữa bộ tiêu chuẩn và chương trình đào tạo kĩ sư hiện hành, các nhà phát triển chương trình giáo dục đại học Massachussett (MIT) đã xây dựng mô hình phát triển chương trình giáo dục CDIO như ta biết ngày nay
Trang 9Mô hình CDIO có thể biểu diễn như sau:
4.1 Bối cảnh xã hội
4.3 4.4 4.5 4.6 4.2 Bối cảnh xí nghiệp
4 CDIO
1 Kiến thức kĩ thuật và lập luận
2 Các kĩ năng
cá nhân và nghề nghiệp
3 Các kĩ năng liên nhân cách
1.3 Kiến thức kĩ thuật
cơ bản nâng cao 1.2 Kiến thức kĩ thuật
cơ bản cốt lõi 1.1 Kiến thức khoa học đại cương
2.4 Các kĩ năng cá nhân
2.5 Các kĩ năng nghề nghiệp 3.1 Làm
việc theo đội
3.2 Giao tiếp
2.1 Giải quyết vấn đề 2.2 Phát minh kiến thức 2.3 Tư duy hệ thống
Trang 103 Vị trí, vai trò của khâu “Phân tích nhu cầu” trong chu trình phát triển chương trình giáo dục
Không kể mô hình mục tiêu (The Aim Model) không đề cập tới việc phân tích nhu cầu trước khi xác lập mục tiêu của chương trình giáo dục, 6 mô hình còn lại, bằng cách gọi khác nhau đều xem việc phân tích nhu cầu, bối cảnh xã hội, các điều kiện của môi trường (hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp) trong đó chương trình giáo dục được thực thi là khâu đầu tiên, quan trọng nhất quyết định việc xác lập mục đích, mục tiêu đầu ra của chương trình giáo dục đó Các nhà khoa học đã đề cập tới nhiều vấn đề cần phân tích, như cơ sở triết học, cơ sở tâm lí học, nhu cầu của xã hội, nguyện vọng của người học v.v Và trong bài này gọi chung là khâu phân tích nhu cầu
Thực ra, trước khi thực hiện khâu phân tích nhu cầu cần khẳng định lại triết lí của giáo dục (hay cơ sở triết học của giáo dục) và mục đích (goal) của giáo dục Chúng tôi xem 2 vấn đề này đã được khẳng định trong “luật giáo dục”, nên không đề cập ở đây nữa.
Trước khi xác định những nội dung cần nghiên cứu trong khâu
“phân tích nhu cầu” cần xác định loại chương trình giáo dục Có 2 loại chương trình giáo dục:
- Chương trình giáo dục cho 1 khoá đào tạo (4-6 năm)
- Chương trình giáo dục cho 1 môn học
3.1 Phân tích nhu cầu cho chương trình giáo dục của 1 khoá đào tạo (4-6 năm)
Các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều nội dung cần nghiên cứu khi phân tích nhu cầu Có thể tóm lược trong 4 nội dung sau:
1) Xu thế phát triển của xã hội nói chung
2) Trình độ phát triển của công nghệ nói chung, công nghệ thông tin và truyền thông nói riêng, khả năng sử dụng thành tựu
Trang 11của công nghệ thông tin - truyền thông vào đào tạo và nghiên cứu ngành học
3) Xu thế phát triển của ngành học
4) Đặc điểm về người học trong xã hội đương đại
3.1.1 Xu thế phát triển của xã hội nói chung có thể tóm lược như sau
- Việt Nam đang hội nhập với thế giới trong bối cảnh nền kinh
tế toàn cầu hoá, khoa học, công nghệ có những tiến bộ nhảy vọt; Tri thức nhân loại tăng theo cấp số nhân và với sự hỗ trợ của Internet trở thành tài sản chung; Nhiều vấn đề mang tính toàn cầu đòi hỏi sự hợp tác của tất cả các nước (biến đổi khí hậu, bệnh dịch, an ninh lương thực v.v)
- Tình hình chính trị trong nước ổn định, các giá trị văn hoá, tinh thần được gìn giữ và phát huy
- Kinh tế Việt Nam được thừa nhận có tính thị trường đầy đủ
- Kinh tế tăng trưởng cao, những vẫn còn các yếu tố gây bất ổn
- Nhu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo ngày càng lớn, nhu cầu học đại học trong thanh niên ngày càng cao
- Giáo dục đại học, chuyên nghiệp, dạy nghề bước đầu được vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Nghị quyết “Đổi mới toàn diện và triệt để hệ thống giáo dục đại học Việt Nam” của Chính phủ bắt đầu phát huy tác dụng
- Bắt đầu hình thành những đặc trưng của một xã hội học tập, nơi con người được tạo điều kiện học tập suốt đời
3.1.2 Trình độ phát triển của công nghệ nói chung và của công nghệ thông tin và truyền thông nói riêng, khả năng sử dụng
Trang 12thành tựu của công nghệ thông tin - truyền thông vào đào tạo, nghiên cứu ngành học
Đây là một thành tố quan trọng tác động tới phát triển chương trình giáo dục, nhất là ở phần xác định mục tiêu đầu ra của chương trình giáo dục
a Máy tính
Máy tính cá nhân, máy tính nối mạng truy cập Internet, các phần mềm học tập, thí nghiệm ảo, các phần mềm xử lí số liệu v.v
b Các nguồn dữ liệu mở (online data systems)
c Bảng thông minh kết nối máy tính
d World Wide Web kết nối với xa lộ thông tin trên mạng
e Các thiết bị khác như Interactive Videos, Digital Camera kết nối máy tính, CD-Rom
3.1.3 Xu thế phát triển của ngành học trong bối cảnh của trình
độ phát triển
a Tính liên ngành
b Các loại công nghệ được sử dụng trong ngành
c Những công trình nghiên cứu mới nhất về ngành học
3.1.4 Đặc điểm của người học trong xã hội đương đại (Đối tượng chủ yếu là học sinh tốt nghiệp THPT)
Người học được nghiên cứu trong các lĩnh vực sau
a Nhu cầu về ngành học
b Nhu cầu về kĩ năng nghề nghiệp
c Nhu cầu phát triển cá nhân, liên nhân cách
d Nhu cầu rèn luyện các kĩ năng tư duy bậc cao
e Nhu cầu rèn luyện các kĩ năng hàn lâm cơ bản
Trang 13f Nhu cầu về các giá trị khoa học xã hội, nhân văn và tự nhiên
3.2 Phân tích nhu cầu cho chương trình giáo dục một môn học
Trong chu trình phân tích chương trình giáo dục một môn học, khâu phân tích nhu cầu đơn giản hơn
Đây là công việc quan trọng nhất không chỉ trong quá trình thiết kế chương trình môn học, mà còn rất quan trọng trong việc thực thi chương trình môn học đó Đây cũng là công việc đầu tiên mà người giảng viên cần phải làm nếu muốn trở thành người giảng viên giỏi.
Những vấn đề cần nghiên cứu, phân tích trong khâu phân tích nhu cầu để xác định mục tiêu môn học, bài học bao gồm:
1 Vị trí, vai trò của môn học trong cả chương trình khoá đào tạo
2 Sinh viên ở thời điểm học môn học (kiến thức nền, hứng thú, nhu cầu)
3 Yêu cầu sử dụng kiến thức môn học khi tốt nghiệp
4 Cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ có liên quan đến môn học Những dữ liệu thu được trong quá trình phân tích nhu cầu sẽ là
cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu (đầu ra) của chương trình khoá đào tạo hoặc chương trình môn học Đây cũng là điều kiện tiên quyết để khi tốt nghiệp sinh viên đã được trang bị những kiến thức, kĩ năng, năng lực cần và đủ để đáp ứng yêu cầu xã hội
Và với cách làm này, chương trình giáo dục xứng đáng được gọi là sản phẩm của thời đại
Tài liệu tham khảo
1 Kenneth T.Henson, 2001, Eastern Kentucky Uni, Curriculum
Planning.
2 Peter F Oliva, 2005, Developing the Curriculum (Fourth
Edition).
Trang 143 Jon Wiles, 2000, Josheph Bondi, Curriculum Development –
Aguide to Practice.
4 http://www.cdio.org