Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinhtế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dâncùng mối quan hệ khăng khít với tấ
Trang 1NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Sinh viên : Bùi Ngọc Phương
Lớp : CQ51/18.01
Giảng viên hướng dẫn : TS.Nguyễn Trọng Hoà
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ việc tìm hiểu các tài liệu liênquan đến đề tài
Tác giả luận văn
Bùi Ngọc Phương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ GIÁ DẦU THÔ, THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ 5
I Lý luận chung về thu ngân sách nhà nước 5
1 Ngân sách nhà nước: 5
1.1 Khái niệm: 5
1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước: 6
1.3 Vai trò của Ngân sách Nhà nước: 7
1.4 Chức năng của Ngân sách Nhà nước: 8
1.5 Bản chất của Ngân sách Nhà nước: 8
2 Thu Ngân sách Nhà nước: 8
2.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thu Ngân sách Nhà nước 8
2.1.1 Khái niệm: 8
2.1.2 Đặc điểm: 9
2.1.3 Các khoản thu Ngân sách Nhà Nước: 10
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước 12
II Tổng quan về dầu và thị trường xăng dầu 13
1 Khái niệm 13
1.1 Dầu thô 13
1.2 Xăng 14
2 Đặc điểm chung của các sản phẩm từ dầu 16
3 Đặc điểm của thị trường dầu thô 16
Trang 43.1: Đặc điểm thị trường dầu thô thế giới 16
3.2: Đặc điểm thị trường dầu thô Việt Nam 18
3.2.1 Tổng quan: 18
3.2.2 Những khó khăn và thuận lợi: 18
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU TỚI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 20
I Biến động trên thị trường dầu thô thế giới 20
II Thu NSNN hàng năm giai đoạn 2010- 2015 23
1 Thu NSNN giai đoạn 2010- 2015 23
2 Nhận xét 24
III Sử dụng mô hình để phân tích ảnh hưởng của giá dầu thô trung bình hàng năm đến kết quả thu NSNN hàng năm 27
1 Mô hình thực nghiệm 27
2 Lựa chọn các biến mô hình và cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân tích 27
3 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 28
4 Xác định độ trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 30
5 Kết quả hàm phản ứng đẩy 32
6 Kết quả hàm phân rã phương sai 33
7 Kết luận 33
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 35
I Dự báo diễn biến giá dầu 35
II Một số định hướng, mục tiêu của NSNN Việt Nam trong năm tới 35
1 Một số nhận định 35
2 Một số giải pháp giảm tác động của giá dầu đến thu NSNN 37
2.1 Giải pháp tình thế: 37
2.2 Giải pháp chiến lược: 39
PHẦN KẾT LUẬN 43
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC 47
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTNSNN Ngân sách nhà nước
NHNN Ngân hàng Nhà nước
BTC Bộ Tài Chính
OPEC Hiệp hội các nước xuất khẩu dầu mỏ
TCTK Tổng cục thống kê
COP Thu Ngân sách Nhà nước
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
VAT Thuế giá trị gia tang
VAR Mô hình vecto tự hồi quy
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trang 9Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh
tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dâncùng mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của hệ thống tài chính Ngânsách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho các chitiêu của Nhà nước, và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho sựổn định phát triển đồng đều giữa các thành phần trong nền kinh tế, và đảmbảo thu nhập cho người dân
Bên cạnh đó, những vấn đề bất cập trong cơ cấu thu Ngân sách Nhànước hiện nay đang có nguy cơ thiếu bền vững do cơ cấu thu Ngân sách Nhànước chưa hợp lý khi nguồn thu Ngân sách Nhà nước trước tiên và chủ yếudựa vào khoản thu từ các loại thuế, các loại phí và lệ phí, từ hoạt động khaithác tài nguyên và hoạt động xuất - nhập khẩu, những lĩnh vực phụ thuộc rấtnhiều vào biến động trên thị trường quốc tế, đồng thời làm cạn kiệt tài nguyênthiên nhiên (khoáng sản, dầu mỏ…)
Nửa cuối thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự bứt phá và chiếm lĩnh vị tríthống soái của dầu mỏ với nền công nghiệp và dịch vụ xã hội, bỏ xa nhiênliệu hóa thạch truyền thống là than đá Và cho đến nay dầu mỏ là một trongnhững nguồn nhiên liệu đầu vào quan trọng nhất trong quá trình sản xuất củamột nền kinh tế hiện đại
Trang 10Ngày nay, dầu mỏ được khai thác từ rất nhiều mỏ khác nhau, chúng phân
bố ở những nơi rất khác nhau về đặc điểm địa lý tự nhiên, bởi vậy mỗi loạidầu thô ở mỗi mỏ đều có sự khác biệt nhất định Theo tính toán của cácchuyên gia kinh tế năng lượng, dầu mỏ chiếm khoảng 40% cán cân nănglượng thế giới Với tốc độ tiêu thụ như hiện nay và trữ lượng dầu mỏ hiện có,nguồn năng lượng này sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt trong vòng vài chục nămnữa Thế kỷ XX - thế kỷ của dầu mỏ và loại nhiên liệu này không thể tái sinhđược cũng như chưa thể bị thay thế hoàn toàn bởi khí đốt hay các loại nhiênliệu khác như: điện, năng lượng hạt nhân, năng lượng gió, mặt trời, địanhiệt, bởi hơn 80% năng lượng hiện nay được tạo ra bởi dầu mỏ
Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thìviệc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho Ngânsách Nhà nước.Theo kinh nghiệm của các nước cho biết: nếu tỷ trọng xuấtkhẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì tỷsuất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh.Với cùng một điều kiệnphát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sảnlớn thì tỷ lệ động viên vào Ngân sách Nhà nước cũng lớn hơn.Tuy nhiên,trong những năm gần đây ( đặc biệt là những tháng cuối năm 2014 và đầunăm 2016) giá dầu lại có xu hướng giảm dẫn đến việc phải đối mặt với rấtnhiều tác động trực tiếp, gián tiếp đến ngân sách Nhà nước và đời sống kinhtế-xã hội Quan điểm chung cho thấy giá dầu càng giảm thấp bao nhiêu thìnhững xáo trộn đối với đời sống kinh tế-xã hội càng lớn bấy nhiêu.Điển hìnhnhư Việt Nam chúng ta, là một quốc gia chuyên xuất khẩu dầu thô, đồng thờicũng nhập khẩu dầu tinh, việc giá nguyên liệu biến động liên tục ảnh hưởngkhông nhỏ tới thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế của toàn bộ nền kinh tếViệt Nam
Trang 11Từ vấn đề trên, đòi hỏi cần phải có những phương hướng và biện pháp
để giảm những tác động tiêu cực đó Đó là lý do đề tài nghiên cứu “Ảnhhưởng của giá dầu đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” đượcthực hiện
2 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài:
2.1 Mục đích nghiên cứu.
- Tình hình biến động của giá dầu trên thị trường dầu mỏ thế giới và thịtrường dầu mỏ Việt Nam trong những năm gần đây và nguyên nhân dẫn đếnnhững biến động này
- Phân tích, đánh giá những tác động của việc giảm giá dầu đến nguồnthu Ngân sách Nhà nước
- Những mục tiêu và giải pháp cần thực hiện để nhằm giảm bớt các tácđộng đó
- Nêu lên quan điểm nhìn nhận vấn đề và mong muốn được đóng gópmột phần ý kiến của mình về sự biến động liên tục của giá dầu đã và đang gâyảnh hưởng rất lớn tới nguồn thu Ngân sách Nhà nước hiện nay
2.2 Ý nghĩa khoa học.
Bài nghiên cứu giúp người đọc hệ thống một cách tổng quát,thực tế nhất
về thị trường dầu mỏ và sự biến động về giá của chúng cũng như những tácđộng của giá dầu đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Biến động của giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến nguồn thu Ngân sáchNhà nước, tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự biến động đó và đưa ra giải phápkhắc phục, đồng thời dự báo sự biến động của giá dầu trong tương lai
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Trang 12Không gian nghiên cứu của đề tài là toàn bộ nền kinh tế ViệtNamvà một số khu vực khác trên thế giới (chủ yếu các nước thuộc tổ chứcOPEC); Thời gian nghiên cứu là năm 2010- 2015 Bài luận chỉ tập trungnghiên cứu đến giá dầu, mà không nghiên cứu sâu vào các nhân tố ảnh hưởngđến nguồn thu Ngân sách Nhà nước khác.
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Với mục đích nghiên cứu đã đề cập, bài nghiên cứu sẽ sử dụng cácbiện pháp sau:
4.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu.
Các thông tin, số liệu chủ yếu được thu thập từ các nguồn :
+ Tạp chí, truyền hình thời sự, báo,
+ Thông qua mạng Internet và sử dụng các từ khóa liên quan để đến cáctrang web cần thu thập thông tin
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin số liệu.
- Sử dụng phương pháp thống kê,dự báo
- Mô tả bằng biểu đồ
- So sánh giá dầu qua các năm và tác động của sự biến động đó đếnnguồn thu Ngân sách Nhà nước
5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài:
Đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về tình hình thực tế giá dầu hiện nay,sựtác động của chúng đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước và mức độ khả thi,khoa học của việc nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ TỔNG QUAN VỀ GIÁ DẦU THÔ, THỊ TRƯỜNG DẦU THÔ.
I Lý luận chung về thu ngân sách nhà nước.
1 Ngân sách nhà nước:
1.1 Khái niệm:
Ngân sách nhà nước vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một phạm trùlịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Cùng với thời gian, sựphát triển không ngừng của khoa học kinh tế cũng như của chính bản thânhoạt động kinh tế đã làm cho thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được quanniệm và giải thích ngày càng sâu sắc hơn Nếu như lúc đầu thuật ngữ “Ngânsách nhà nước” chỉ được hiểu một cách đơn thuần là bản dự trù các khoản thu
và chi tiêu mang tính chất công thì về sau thuật ngữ này đã được quan niệmđầy đủ và rõ ràng hơn , với ý tưởng coi ngân sách nhà nước như là công cụphân phối của cải vật chất trong tay nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh
tế và duy trì bộ máy quyền lực chính trị trong xã hội
Hiện nay, thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" đã và đang được sử dụng rấtphổ biến và rộng rãi không chỉ trong các diễn đàn các diễn đàn khoa học mà
cả trong đời sống thực tiễn, với ngụ ý đề cao ý thức chính trị của dân chúngtrong việc đóng thuế cho quốc gia để góp phần chia sẻ gánh nặng chi tiêu vớichính phủ Khởi đầu là Anh quốc áp dụng thể chế ngân sách nhà nước vào thể
kỷ 17, kế đến là Mỹ và Pháp, sau đó mô hình này lan rộng đến các nước khác.Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa
ra rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước tùy theocác trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu
Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế cổ điển: ngân sách nhà nước là mộtvăn kiện tài chính mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lậphàng năm
Trang 14Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềngân sách nhà nước Các nhà kinh tế Nga cho rằng: “Ngân sách nhà nước làbảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhànước” Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm “Ngân sách nhà nước là vănkiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, cácnghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyềnđịa phương, đơn vị công) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến vàcho phép.
Còn ở Trung Quốc: “Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu - chi tài chínhhàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”
Qua quá trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước, chúng tôi đã quyếtđịnh sử dụng định nghĩa của Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã đượcQuốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 cho bài nghiên cứu khoa học
như sau: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốcgia Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan
hệ tài chính quốc gia, cụ thể:
-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với công dân
-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp
-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội
-Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế
Các quan hệ trên mang năm đặc điểm sau:
Trang 15-Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lựckinh tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhànước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định.
-Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tàichính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước
-Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựngnhững lợi ích chung, lợi ích công cộng
-Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác.Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trungcủa nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đómới được chi dùng cho những mục đích đã định
-Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyêntắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
1.3 Vai trò của Ngân sách Nhà nước:
Ngân sách nhà nước là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính , cóvai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốcphòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhànước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý
vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội
Ngân sách nhà nước có những vai trò sau:
-Là công cụ huy động và cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo các nhucầu chi tiêu của nhà nước, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực công
-Là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế-xã hội
-Là công cụ để định hướng, kích thích sản xuất kinh doanh xác lập cơcấu kinh tế hợp lý của nền kinh tế quốc dân
Trang 16-Là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống độc quyền vàkiểm soát lạm phát
-Là công cụ để điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầnglớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội
1.4 Chức năng của Ngân sách Nhà nước:
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo kếhoạch nhà nước
- Thực hiện cân đối giữa các khoản thu - chi ( bằng tiền ) của Nhà nước
1.5 Bản chất của Ngân sách Nhà nước:
Ngân sách Nhà nước không thể thiếu được với mỗi Nhà nước Bản chấtcủa ngân sách là hệ thống các mối quan hệ về kinh tế phát sinh trong quá trìnhNhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính, nhằm đảm bảo yêu cầuthực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình.Bản chất của ngân sách nhà nước quyết định các chức năng của ngân sách nhànước
2 Thu Ngân sách Nhà nước:
2.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thu Ngân sách Nhà nước.
2.1.1 Khái niệm:
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra cáckhoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thànhnên quỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nướcdùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hìnhthành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước
Ở Việt Nam, đứng về phương diện pháp lý, thu ngân sách nhà nước baogồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhucầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệthống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá
Trang 17trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệtập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Thungân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vàongân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đốitượng nộp Theo Luật ngân sách nhà nước hiện hành, nội dung các khoản thungân sách nhà nước bao gồm: Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộptheo quy định của pháp luật; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhànước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; cáckhoản thu khác theo quy định của pháp luật Các khoản thu mang tính chấthoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại không tính vào thu ngân sách nhànước.
Vậy thu ngân sách nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc giagiữa nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằmgiải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triểncủa bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụkinh tế xã hội của nhà nước
2.1.2 Đặc điểm:
Thứ nhất, thu ngân sách nhà nước không thể được tiến hành một cách
tùy tiện mà phải theo khuôn khổ của pháp luật Để thực hiện hoạt động thungân sách, Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật quy định về hìnhthức thu cũng như nội dung thu Các văn bản pháp luật này sẽ một mặt tạonền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động thu ngân sách của Nhà nước, mặtkhác giới hạn quyền thu của Nhà nước
Thứ hai, thu ngân sách nhà nước nhằm huy động một bộ phận giá trị sản
phẩm xã hội, do vậy hoạt động này luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế củađất nước, với mức độ phát triển của nền kinh tế Cơ sở hoạt động chủ yếu củathu ngân sách nhà nước là giá trị các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản
Trang 18xuất ra từ các khu vực kinh tế Như vậy, chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội vàchỉ số tăng trưởng kinh tế là những chỉ tiêu chủ yếu chi phối tỷ lệ giá trị sảnphẩm xã hội mà Nhà nước có thể tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước Nóicách khác, đây là những yếu tố quan trọng nhất quyết định mức động viên vàongân sách nhà nước thông qua hoạt động thu ngân sách nhà nước Những yếu
tố khác cũng có ảnh hưởng nhất định tới mức độ tập trung các nguồn thu vàongân sách nhà nước, bao gồm: tiềm năng và thực tế khai thác tài nguyên thiênnhiên, chính sách chi tiêu của Chính phủ, quan hệ đối ngoại của Nhà nước vàbộ máy tổ chức hành thu
Thứ ba, thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế
pháp lý điển hình là bắt buộc và tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc đượcxem là chủ yếu Thông thường, cơ chế bắt buộc được áp dụng trong trườnghợp Nhà nước tiến hành tập trung các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí vàongân sách nhà nước còn cơ chế tự nguyện lại được Nhà nước áp dụng trongtrường hợp cần huy động các khoản tiền viện trợ của nước ngoài, của các tổchức quốc tế hay các khoản đóng góp tự nguyện khác của công chúng choNhà nước
Và cuối cùng thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc
hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu
2.1.3 Các khoản thu Ngân sách Nhà Nước:
Các khoản thu ngân sách nhà nước gồm nhiều loại, theo điều 2 Luậtngân sách nhà nước năm 2002, thu ngân sách nhà nước gồm các khoản: thu từthuế, phí, lệ phí; thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng gópcủa các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; và các khoản thu khác theoquy định của pháp luật
Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế do Nhà nước huy động từ các tổ
chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước Thu từ thuế là nguồn
Trang 19thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước Điều đó đượclý giải bởi thuế đánh vào hầu hết các hoạt động sản xuất, chế tạo, sửa chữa,chế biến, ; bởi thuế đánh vào cả các khoản thu nhập thường xuyên và bấtthường của những người có thu nhập cao; và bời thuế đánh vào cả hoạt độngtiêu dùng xã hội.
Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối
giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhànước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tínhpháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với vấn đề thu hồi mộtphần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình
Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụhành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân
Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước gồm tiền thu hồi vốn của Nhà
nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)đối với tổ chức, cá nhân; thu nhập của Nhà nước từ việc góp vốn vào các cơsở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổchức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước
Những khoản thu khác hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước gồm các
khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân như khoản đóng góp dưới hìnhthức tự nguyện và các khoản tiền huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quyđịnh của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ cácnước, của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài; các khoản thu khác theo quyđịnh của pháp luật như thu từ các di sản Nhà nước được hưởng, thu các khoảntiền phạt, tịch thu, thu hồi dự trữ nhà nước Mặc dù không phải là nhữngkhoản thu thường xuyên của ngân sách nhà nước nhưng những khoản thu nàycũng góp phần đáng kể vào việc cân đối thu – chi, đáp ứng nhu cầu chi tiêucủa Nhà nước
Trang 202.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu Ngân sách Nhà nước.
-Thu nhập GDP bình quân đầu người: Tổng GDP phản ánh quy mô của
nền kinh tế, từ đó quyết định đến tổng thu NSNN, còn GDP bình quân đầungười là một chỉ tiêu phản ánh trình độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước GDP bìnhquân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên củaNSNN Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát
ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm,tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế
-Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: Đây là chi tiêu phản ánh
hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của cácdoanh nghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khảnăng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đóđưa tới khả năng huy động cho ngân sách nhà nước Đây là yếu tố quyết địnhđến việc nâng cao tỷ suất thu ngân sách nhà nước Do vậy, khi xác định tỷsuất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh
tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn vềmặt tài chính cho các hoạt động kinh tế
-Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ
và khoáng sản): Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu tolớn cho Ngân sách Nhà nước Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷtrọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuấtkhẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh Với cùngmột điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ vàkhoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước cũng lớn hơn
Trang 21-Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Mức độ trang trải
các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổchức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, nhữngnhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịchsử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước Khi các nguồn tài trợ khác chochi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mứcđộ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên.Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của ngânsách nhà nước vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ
để bù đắp bội chi
-Tổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi
phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này Nếu tổ chức hệ thống cơ quanthuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thấtthu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu ngânsách nhà nước mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhànước
II Tổng quan về dầu và thị trường xăng dầu.
1 Khái niệm.
1.1 Dầu thô.
Dầu thô là chất sánh lỏng, màu nâu đen, không tan trong nước và nhẹhơn nước Là hợp chất hydrocacbon được khai thác lên từ lòng đất, thường ởthể lỏng và thể khí Ở thể khí, chúng bao gồm khí thiên nhiên và khí đồnghành Khí thiên nhiên là toàn bộ hydrocacbon ở thể khí khai thác từ giếngkhoan gồm cả khí ẩm và khí khô Khí đồng hành là khí tự nhiên nằm trongcác vỉ dầu dưới dạng mũ khí hoặc khí hòa tan và được khai thác đồng thời vớidầu thô.Trong bảng tuần hoàn, nguyên tố cacbon và hydro có đặc tính kỳ diệu
Trang 22là trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất khác nhau, chúng kết hợp và tạothành những hợp chất hydrocacbon khác nhau.
Khi tiến hành chưng cất dầu thô sẽ nhận được nhiều phân đoạn sảnphẩm, được phân biệt với nhau bởi nhiệt độ sôi, bởi thành phần hydrocacbon,độ nhớt, nhiệt độ nhớt, nhiệt độ chớp cháy, nhiệt độ đông đặc, và bởi nhiềutính chất khác có liên quan đến việc sử dụng Từ chưng cất có thể nhận đượccác sản phẩm sau:
Xăng: là sản phẩm thuộc phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 30 – 350 tới
1800C
Nhiên liệu phản lực: phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 120 – 2400C Nếu cóhàm lượng lưu huỳnh trong sản phẩm lớn, người ta phải tiến hành làm sạchnhờ xử lý bằng hydro
Dầu hảo: phân đoạn từ 150 -2800C hoặc 150 – 3500C (các loại dầu ítlưu huỳnh)
Diesel: phân đoạn từ 140 – 3600C Nếu hợp chất nhiều lưu huỳnh khửbằng hydro, nếu chứa nhiều hydrocacbon paraffin thì phải tiến hành tách n –paraffin
Mazut: phân đoạn cặn của quá trình chưng cất.
Dầu mỡ nhờn: phân đoạn từ 320 -4000C, 300 – 4200C, 400 – 4500C
Nhựa đường: là sản phẩm cặn cuối cùng của quá trình chưng cất các
sản phẩm dầu thô
Khí hóa lỏng(LPG): sản phẩm được tách ra từ khí (khí đồng hành).
Thành phần chính C3 – C4 Khí hóa lỏng thường được dưới dạng lỏng , chủyếu sử dụng trong sinh hoạt dân dụng còn khí thô thì được vận dụng chuyểnthẳng bằng đường ống đến các nhà máy tiêu thụ như nhà máy điện
1.2 Xăng.
Trang 23Xăng còn gọi là ét – xăng, là một loại dung dịch nhẹ chứa hydrocacbon,dễ bay hơi, dễ bốc cháy, được chưng cất từ dầu mỏ Xăng được sử dụng nhưmột loại nhiên liệu, dùng để làm chất đốt cho các loại động cơ đốt trong sửdụng xăng, chất dùng trong tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày như đun nấu,lòsưởi, bật lửa,…Dùng làm dung môi hòa tan một số chất, tẩy một số vết bámbẩn trên vải, kim loại,kính, nhựa,… Một số loại vũ khí như súng phunlửa,bom, mìn,… Xăng được chế biến từ dầu mỏ bằng phương pháp chưng cấttrực tiếp và Cracking, có tỷ trọng d15 =0.07 đến 0.75, dễ bay hơi, dễ cháy, cómùi đặc trưng, nhiệt độ sôi từ 35 – 2000C Xăng động cơ được dùng làmnhiên liệu cho động cơ đốt trong, kiểu bộ chế hòa khí( động cơ xăng) Hiện cómột số loại xăng phổ biến như sau:
Xăng Mogas 95: Có mùi, màu vàng, được sử dụng cho phương tiện có
tỷ số nén trên 9,5/l như các xe hơi đời mới, xe đua,… có trị số oocstan là 95
Xăng Mogas 92: Có mùi đặc trưng, màu xanh lá, được sử dụng cho
phương tiện có tỷ số nén dưới 9,5/l, có trị số oocstan là 92
Xăng Mogas 83: Có mùi đặc trưng, màu vàng, được sử dụng cho
phương tiện có tỷ số nén 8/l, có trị số ốctan là 83
Xăng sinh học E5: Xăng sinh học sử dụng Êtanol như là loại phụ gia
nhiên liệu pha trộn vào xăng thay phụ gia chì Xăng sinh học là hỗn hợp củaxăng A92 pha 5% Ethanol (ngoài ra hiện còn có xăng E10…)
Trang 24Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái quát về xăng dầu như sau:Xăng dầu
là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, dùng làm nhiên liệu gồm: xăng động cơ, dầu diesel,dầu hỏa, dầu mazut, nhiên liệu máy bay, các sản phảm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao gồm các laoij khí hóa lỏng.Xăng dầu là sản phẩm từ dầu mỏ với thành phần cơ bản là các loại cacbuahydro.Tùy theo công dụng,xăng dầu được chia thành các loại xăng,dầu hỏa thông dụng, nhiên liệu phản lực, nhiên liệu diesel,dầu bôi trơn,
…
2 Đặc điểm chung của các sản phẩm từ dầu.
Trang 25Xăng dầu rất dễ cháy, đặc biệt khí nén ở áp suất cao chuyển thành thểkhí Khi cháy chúng phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt Xăng dầu
là một loại hàng hóa được sử dụng rát rộng rãi trong cuộc sống và trong cácngành công nghiệp Xăng dầu được dùng để thắp sáng và tạo nhiệt, dùng chocác loại động cơ đốt trong, làm nhiên liệu cho động cơ nổ diesel, cho động cơphản lực Nhóm dầu nhờn dùng trong các động cơ nổ với mục đích làm mátđộng cơ, bôi trươn làm giảm ma sát cho các bộ phận và chi tiết chuyển độnglàm tăng tuổi thọ thiết bị Xăng dầu làm dung môi trong nhiều ngành côngnghiệp đặc biệt là công nghiệp sơn do có khả năng hòa tan nhiều chất hữu cơ.Xăng dầu là loại hàng hóa quan trọng vì:
- Xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng và chưa thể thay thế được trongsản xuất
- Là năng lượng phục vụ dân sinh, quốc phòng và an ninh
Do xăng dầu là hàng hóa quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cũng lànguồn thu rất lớn cho ngân sách quốc gia nên nhà nước đều có chính sách,chiến lược, và các biện pháp quản lý sản xuất, kinh doanh và dự trữ xăng dầu.Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có tầm quan trọng, có tác động mạnh mẽ tới
sự phát triển kinh tế và sựu ổn định xã hội của mỗi quốc gia Xăng dầu là yếu
tố đầu vào quan trọng của sản xuất, là loại năng lượng có hạn, không thẻ táisinh và chưa thể thay thế được Sự biến động của xăng dầu trên thị trường thếgiới ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh, GDP đặcbiệt nguồn thu ngân sách quốc gia
3 Đặc điểm của thị trường dầu thô.
3.1: Đặc điểm thị trường dầu thô thế giới.
Trang 26- Thị trường xăng dầu chịu tác động lớn từ các quan hệ chính trị quốc tế
và trong nước nên phải đặt trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế và chủtrương, đường lối đối ngoại của quốc gia Ở nhiều thời điểm khác nhau, mangtính chính trị, xung đột,…giá đầu trên thị trường thế giới biến động rất mạnh,các quốc gia lớn đều muốn có quyền kiểm soát dầu mỏ ở khu vực vùng vịnh.Các quốc gia lớn luôn sử dụng các chính sách cấm vận gây áp lực lên cácquốc gia có nguồn dầu mỏ lớn nhằm thâu tóm nguồn lợi của mình Xăng dầuđược coi như “vũ khí lợi hại” trong quan hệ chính trị - quân sự trên bình diệnquốc tế
- Thị trường xăng dầu phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế quốc tế và mỗiquốc gia Ví dụ năm 2008 khi khủng hoảng tài chính xảy ra đã khiến giá dầumỏ tăng từ 90 USD/thùng lên 147 USD/thùng sau đó tụt dốc xuống còn 34.64USD/thùng Nguyên nhân của biên động giá dầu quá lớn này là do nhu cầu sửdụng dầu mỏ trên toàn thế giới sụt giảm mạnh trong khi nguồn cung vẫn duytrì và có xu hướng tăng lên Trong khi đó, từ cuối năm 2014, thế giới chứngkiến sự sụt giảm nhu cầu năng lượng từ Trung Quốc và các nước mới nổi.Tiêu thụ năng lượng giảm tuyệt đối trong 3 quý liên tiếp trước khi hồi phụcnhẹ vào Q3/2015 và tiếp tục sụt giảm vào Q4/2015
- Theo Financial Times, giá trung bình một thùng dầu Brent trong năm
2012 là 109,3USD và giá dầu thô thế giói năm 2013 trên mức 100USD/ thùng Từ tháng 6/ 2014 giá dầu thô đã giảm hơn 30% bởi vì sự kết hợp của nguồncung dư thừa và nhu cầu tiêu thụ ở mức thấp
với nguồn cung quá đủ bởi sự bùng nổ của việc khai thác dầu thô đáphiến bằng sự kiện các công ty năng lượng Mỹ sử dụng công nghệ khoanngang và ép thủy lực để thu nguồn dầu thô từ các tầng đá phiến đã làm chogiá dầu thô giảm mạnh trong những năm gần đây
Trang 273.2: Đặc điểm thị trường dầu thô Việt Nam.
3.2.1 Tổng quan:
Việt Nam có nguồn dầu mỏ với trữ lượng khoảng 4,4 tỷ thùng, được xếpthứ 28 trong các quốc gia có trữ lượng dầu mỏ xác minh trên thế giới DầuViệt Nam là loại dầu ngọt, nhẹ, nhiều paraphin, là loại dầu có giá cao nhấttrong khu vực
Từ 1986, dòng dầu thô đầu tiên được khai thác tại mỏ Bạch Hổ Tháng 4năm 1987 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô Hiện nay Việt Nam xếp thứ 4trong khối Đông Nam Á về xuất khẩu dầu mỏ Việt Nam có thể sẽ duy trì sảnlượng khai thác ở mức khoảng 340.000 thùng/ ngày trong một vài năm tới.Sản lượng tại các mỏ:
Bạch Hổ trên 100.000 thùng/ngày
Sư Tử Đen 70.000 thùng/ ngày
Tê Giác Trắng 45.000 thùng/ ngày
Các mỏ khác 10-20.000 thùng /ngày
Khách hàng chủ yếu nhập dầu của Việt Nam: Nhật Bản, Các nhà máyloc dầu ở Singapore, …
80% sản lượng dầu Bạch Hổ cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất.Chất lượng dầu Việt nam cao nên thường dùng để pha trộn với các loạidầu khác nhằm nâng cao chất lượng dầu thô đầu vào của các nhà máy lọc dầuhoặc có thể làm nhiên liệu đốt trực tiếp ở các nhà máy điện của Nhật Bản.Dầu thô Việt Nam được giao cho PVOIL (Tổng công ty dầu) làm đại lýbán hoặc được ủy quyền để bán dưới hình thức đấu giá chào mua cạnh tranh(Invite to bid)
3.2.2 Những khó khăn và thuận lợi:
- Thuận lợi:
Trang 28+ Dầu mỏ Việt Nam được khai thác từ các mỏ vẫn luônhấp dẫn khách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín giao dịch.Dầu Bạch Hổ chiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩucủa Việt Nam.
+ Có hệ thống khách hàng truyền thống, gắn bó chặt chẽvới Công Ty Khai thác dầu trong mọi hoàn cảnh thăng trầm,có lúc thị trường dầu thô thế giới đóng băng nhưng dầu thôViệt Nam vẫn xuất khẩu đều tránh được hiện tượng đóng mỏ
Từ 2003, sản lượng Mỏ Bạch Hổ bắt đầu suy giảm, song lạiđược bổ sung bởi dầu khai thác từ mỏ Sư Tử Đen và đưa vàoxuất khẩu với sản lượng gần 70.000 thùng/ngày Sắp tới mỏ
Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng được đưa vào khai thác sẽ hứahẹn sự tăng trưởng cho kim ngạch xuất khẩu dầu thô ViệtNam
- Khó khăn:
+ Là mặt hàng đặc biệt, ngoài việc bị điều chỉnh bởicung cầu của thị trường thế giới, giá dầu còn bị chi phối bởinhững yếu tố thời tiết, biến động chính trị
+ Giống như những mặt hàng khác, dầu thô cũng vấpphải những cạnh tranh quyết liệt, nhất là đối với dầu mỏ ChâuPhi, Trung Đông giống chất lượng dầu của Việt Nam, nhưngđược chào bán với giá rẻ hơn 5USD /thùng, nên khách hàng bịlôi kéo
+ Tiềm năng, lượng dầu xuất khẩu của Việt Nam khônglớn, chỉ xếp thứ 50 trong số 56 nước xuất khẩu dầu thô, bìnhquân đầu người 2 thùng/người, các nước khác bình quân 50thùng/người
Trang 29+Một bất lợi của giá dầu cao, đối với kinh tế Việt Namphải nhập 100 % xăng dầu vì thế kim ngạch nhập khẩu tăng,nhà nước phải dùng doanh thu xuất khẩu bù cho lượng tăngnhập khẩu Như vậy nếu giá xăng dầu tăng, nguồn thu không
đủ bù chi