Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, thường dùng để chỉ những sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài người. Cho đến nay, người ta đã thống kê được hơn 400 định nghĩa về văn hóa, việc xác định định nghĩa này ít có sự đồng nhất, bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình nghiên cứu. Theo định nghĩa của UNESCO: “...Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ, xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành con vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân…” 3.
Trang 1CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN VÀ NHU CẦU HƯỞNG THỤ NGHỆ THUẬT BIỂU
DIỄN CỦA CÔNG NHÂN
1.1 Vai trò của văn hóa nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người
Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, thường dùng để chỉ những sản phẩm docon người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài người Cho đến nay, người
ta đã thống kê được hơn 400 định nghĩa về văn hóa, việc xác định định nghĩa này ít có
sự đồng nhất, bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mụcđích riêng phù hợp với vấn đề mình nghiên cứu
Theo định nghĩa của UNESCO: “ Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinhthần và vật chất, trí tuệ, xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhómngười trong xã hội, Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và nhữngtín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính vănhóa đã làm cho chúng ta trở thành con vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thứcđược bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên nhữngcông trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân…” [3]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “…Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộcsống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức làvăn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sựsinh tồn…” [27, tr.431]
Trang 2Trong cuốn Cơ sở Văn hóa Việt Nam của Giáo sư Trần Ngọc Thêm, tác giả đãđưa ra khái niệm văn hóa như sau: “…Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [36, tr.20].Nghệ thuật là gì? Cho đến nay, đã có rất nhiều nhà khọc từ phương Đông đếnphương Tây quan tâm đến câu hỏi này Mỗi thời đại, mỗi dân tộc và mỗi nhà khoa họclại có những quan điểm riêng về nghệ thuật Tựu trung lại, các nhà triết học, tâm lý họctrên thế giới đều cho rằng: nghệ thuật hướng đến cái đẹp, nảy sinh từ nhu cầu thiết yếucủa đời sống xã hội và nghệ thuật có những chức năng xã hội – thẩm mỹ riêng biệt.Nghệ thuật là một loạt nhận thức của con người bằng các phương tiện hình tượng Cáchình tượng nghệ thuật được sáng tạo theo các loại hình nhất định như: kiến trúc, điêukhắc, hội họa, đồ họa âm nhạc, văn học, sân khấu, điện ảnh không có một hình thứcnghệ thuật chung, chỉ có những loại hình nghệ thuật cụ thể với đối tượng phản ánhriêng, phương thức phản ánh riêng và có những tác động thẩm mỹ riêng Thông quacác loại hình nghệ thuật, nghệ thuật trở nên vô cùng phong phú, đa dạng.
Theo định nghĩa của Ts Tạ Văn Thành thì: “…Văn hóa nghệ thuật là một bộphận của sản xuất tinh thần, là thành tố trọng yếu nhất của văn hóa thẩm mỹ Văn hóanghệ thuật là sự phát triển những năng lực nghệ thuật của con người (nghệ sĩ và côngchúng), thể hiện ở hoạt động nghệ thuật nhằm sáng tạo và thụ cảm những giá trị nghệthuật…” [34, tr 46]
Văn hóa nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của conngười, là đỉnh cao của văn hóa thẩm mỹ con người Trung tâm của văn hóa nghệ thuật
là sự sáng tạo, lưu giữ và phát huy các giá trị nghệ thuật trong đời sống xã hội Văn hóanghệ thuật có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng nhận thức: Nghệ thuật là sự phản ánh, sự nhận thức của con người vềthế giới khách quan Nghệ thuật cho phép con người thâm nhập vào những quy luậtkhách quan của xã hội loài người Con người tìm hình thức biểu hiện của mình qua các
Trang 3âm thanh, đường nét, màu sắc, hình khối, động tác Qua sự biểu hiện của mình, conngười đã tìm cách phát hiện thế giới xung quanh mình và tìm ra những cảm xúc luồnsâu trong tâm khảm của con người như việc phát hiện ra những sở thích của mình, cáimình cho là đẹp, là cao cả, là cái bi, là cái hài hay những xúc động vui, buồn, sảngkhoái Nhờ nghệ thuật, con người đã nhân cách hóa tự nhiên và suy nghĩ về nhữngđiều chưa biết để khám phá nó, biến nó thành cái điều mình biết
- Chức năng giáo dục: Nghệ thuật có khả năng to lớn trong việc giáo dục tưtưởng, tình cảm, đạo đức cho con người Trong việc thực hiện chức năng này, nghệthuật có sự tác động qua lại với chính trị, triết học, đạo đức pháp quyền Thể hiện ở cácnội dung như: giáo dục các quan điểm thẩm mỹ đúng đắn, khoa học và tiến bộ; giáodục khả năng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật; Giáo dục các xúc cảm thẩm mỹtrong sáng và tốt đẹp dựa trên các hệ tiêu chí cơ bản: chân – thiện – mỹ; giáo dục cácthị hiếu lành mạnh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thị hiếu cá nhân và thị hiếu
xã hội; giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp và lý tưởng xã hội chân chính; giáo dụchoàn thiện các quan hệ xã hội thông qua giáo dục chính trị,tư tưởng, đạo đức trong tìnhyêu, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình đồng chí Do đó, trong xã hội có mâu thuẫn đốikháng giữa các giai cấp, nghệ thuật trở thành “vũ khí” đấu tranh giai cấp, như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, “Văn hóa nghệ thuậtcũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải đứng trong kinh tế vàchính trị…” [26, tr.4 80]
- Chức năng thẩm mỹ: Đây là chức năng giáo dục cái đẹp, giúp con người biếthưởng thụ, đánh giá và sáng tạo trên mọi mặt của cuộc sống theo quy luật cái đẹp, theotính chân – thiện – mỹ Sự tiếp xúc với nghệ thuật, giúp con người cùng sáng tạo, thứctỉnh và hình thành ở họ các tố chất nghệ thuật, phát triển nhu cầu thẩm mỹ, rèn luyệnthị hiếu thẩm mỹ và có óc tưởng tượng phong phú Tác phẩm nghệ thuật là một hệthống đặc thù những yếu tố kích thích được tổ chức có ý thức và có chuẩn bị trướcnhằm tạo nên một xúc cảm thẩm mỹ Tác phẩm nghệ thuật là một hệ thống đặc thù
Trang 4những yếu tố kích thích được tổ chức có ý thức và có chuẩn bị trước nhằm tạo nên mộtxúc cảm thẩm mỹ.
- Chức năng dự báo: Nghệ thuật tập trung tìm hiểu suy ngẫm về xã hội và conngười Người nghệ sĩ có khả năng phát hiện ra những đổi thay đang âm thầm diễn ratrong xã hội Điều đó giúp cho người nghệ sĩ có thể nhìn thấy những gì đang này sinhtrong số đó có những cái tốt, cái xấu, nắm được cái tốt để biểu dương và nắm cái xấu
để cảnh giác, đề phòng
- Chức năng giải trí: Đây là chức năng quan trọng nhất của nghệ thuật, bởi vì,thông qua nghệ thuật, con người vơi đi nỗi mệt nhọc trong cuộc sống, mang lại nhữngphút giây thoải mái, sảng khoái - nhất là đối với các loại hình nghệ thuật biểu diễn Qua
đó, con người có thể phát huy được những tiềm năng sáng tạo ở mỗi con người, làmcho những những tiềm năng, năng khiếu tiềm ẩn của con người có thể bộc lộ Điều đó,tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hài hòa và toàn diện của con người
- Chức năng liên kết: Nghệ thuật có khả năng tác động cả vào đời sống tình cảm
và lý trí của con người Sức mạnh chủ yếu của nghệ thuật là ở chỗ thông qua việc tácđộng tình cảm mà thuyết phục được lý trí Xu hướng chung của việc đánh giá thẩm mỹ
- nghệ thuật chính là sự liên kết các trạng thái tình cảm khác nhau, sự liên kết đóthường đặt trên cơ sở của lý tưởng thẩm mỹ và lý tưởng chính trị Lý tưởng thẩm mỹtiến bộ và nhân đạo là người bạn đồng hành của các cuộc cách mạng xã hội Nó có sứcmạnh liên kết các lực lượng xã hội, hướng vào thực hiện những mục tiêu chính trị - xãhội nhất định Ngược lại lý tưởng thẩm mỹ cũng có thể gây ra sự phân giải thẩm mỹ xãhội, rối loạn tình cảm tư tưởng của cộng đồng, làm tha hóa đời sống tinh của con ngườitrong xã hội
Với những chức năng như vậy, có thể khẳng định văn hóa nghệ thuật có vai trò
vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Văn hóa nghệ thuật ảnhhưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, nhận thức của con người, giúp con người pháttriển những phẩm chất của bản thân trở nên tốt đẹp hơn, đúng đắn hơn Văn hóa nghệ
Trang 5thuật là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi con người và nó có khả năng địnhhướng quan điểm, định hướng dư luận của xã hội.
Trong tư tưởng nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam là một dân tộcvăn hiến, có nền văn hóa nghệ thuật lâu đời Chính vì vậy, quan điểm của Hồ Chí Minhluôn hướng tới việc xây dựng một nền văn hoá - văn nghệ mới tiên tiến, phong phú, đadạng và đậm đà bản sắc dân tộc Theo Hồ Chí Minh, nền nghệ thuật dân gian cũng nhưnền nghệ thuật bác học có nhiều yếu tố hiện thực và nhân đạo sâu sắc Các tư tưởng vàtình cảm nhân đạo này gắn bó chặt chẽ với quan niệm cái thiện và cái ác, ý chí tự lập tựcường và tinh thần yêu nước sâu sắc Vì vậy, Hồ Chí Minh đã viết “…Mỗi dân tộc phảichăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật…” “…Văn hóa, văn nghệ cũng nhưmọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị…”; “…Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy…”[26, tr 482 – 486]
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa nghệ thuật trong đời sống tinh thầncủa con người và thấm nhuần tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa nghệthuật, Đảng cộng sản Việt Nam luôn đề cao vai trò của văn hóa nghệ thuật trong nhândân, đồng thời có những định hướng phát triển đúng đắn về công tác văn hóa nghệthuật phù hợp với tình hình mới, thể hiện rõ trong văn kiện của các kỳ Đại hội củaĐảng Cộng sản Việt Nam
1.2 Giới thuyết về nghệ thuật biểu diễn
1.2.1 Khái niệm “nghệ thuật biểu diễn”
Các tư tưởng mĩ học từ cổ chí kim luôn cố gắng giải thích đặc trưng thẩm mĩ củanghệ thuật bằng cách phân loại nghệ thuật Một số ý kiến dựa trên nhân tố khách quan,lấy đối tượng nghệ thuật để phân loại nghệ thuật, tiêu biểu trong số đó có Platon.Platon cho rằng: Nếu những đối tượng nhận thức không giống nhau thì sẽ có nhữngloại nghệ thuật không giống nhau Theo đó, Platon1 quan niệm có loại hình nghệ thuật
1 Nhà triết học cổ đại Hy Lạ , sinh sống ở khoảng 427-347 TCN
Trang 6“cao quý” và “thấp kém”, “hoàn hảo” và “không hoàn hảo” và ông coi hội họa, điêukhắc, sân khấu là thấp kém; âm nhạc, kiến trúc, thơ trữ tình là cao quý Tiếp đó, ông lạiphân chia nghệ thuật thành các loại “tạo hình”, biểu hiện”, “vật thể”, “phi vật thể” Một
số ý kiến khác lại phân chia nghệ thuật trên nhân tố chủ quan, đó là việc phân biệtnhững nghệ thuật cảm thụ bằng thị giác (điêu khắc, hội họa) với những nghệ thuật cảmthụ bằng thính giác (âm nhạc, thơ ca)
Mỗi loại hình nghệ thuật đều có sự kết hợp và đan xen của các đặc điểm khácnhau Vì vậy, không thể nói loại hình nghệ thuật nào là “thuần nhất” Do đó, dựa vàobản thân hiện thực được phản ánh, bản chất của hình tượng, bản chất tư duy hình tượng
và cảm thụ cảm tính - Lê Lưu Oanh cho rằng: “…Có thể phân chia nghệ thuật thànhnhiều loại hình như: Nghệ thuật tĩnh/ động, nghệ thuật không gian/thời gian, nghệ thuậtthị giác/thính giác, nghệ thuật tạo hình/biểu hiện, nghệ thuật vật thể/phi vật thể, nghệthuật ứng dụng/thuần túy, nghệ thuật biểu diễn/không biểu diễn…” [31, tr.95]
Theo TS NSND Lê Ngọc Canh: “…Nghệ thuật là một lĩnh vực, một bộ phận củavăn hóa, được hợp thành bởi nhiều thành tố thuộc hai yếu tố “động” và “tĩnh” và ôngchia nghệ thuật làm 2 loại: nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật tạo hình…” [8, tr.36].Vậy, nghệ thuật biểu diễn là gì?
Theo V Ki – Gi – Nốp: “…Loại hình nghệ thuật biểu diễn hay là nghệ thuậtđộng, nghệ thuật không gian là loại hình nghệ thuật gồm có các yếu tố hình ảnh đượcsắp xếp trước, sau theo thời gian Các tác phẩm không phải vật do bàn tay con ngườilàm ra mà là hoạt động của thân thể, bộ điệu, cử chỉ của tay chân trong hoạt cảnh, hayđiệu múa, “rung động” của giọng hát trong khi hát, các âm thanh trong âm nhạc phát ra
từ các nhạc cụ do bàn tay hoặc hơi của người tạo ra…” Bên cạnh đó, V Ki – Gi – Nốpcũng đưa ra một khái niệm tương đồng về nội dung nghệ thuật biểu diễn là nghệ thuậthoạt cảnh Ông cho rằng: “…Nghệ thuật hoạt cảnh là nhờ cử chỉ, điệu bộ, động tác củacác diễn viên có khả năng tạo nên hình ảnh nghệ thuật nhất định Thân thể chuyển
Trang 7thành động tác của họ giới thiệu cho người xem một “bức tranh” mang ý nghĩa về conngười…”[30, tr.41].
Nghị định số 79/2012/NĐ-CP giải thích một số thuật ngữ liên quan đến nghệthuật biểu diễn như sau: Biểu diễn nghệ thuật là trình diễn chương trình, tiết mục, vởdiễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn Loại hình nghệ thuật biểu diễnbao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịchcâm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ và các loại hìnhnghệ thuật biểu diễn khác [14, tr.1]
Trong bài viết Nghệ thuật biểu diễn: Khởi nghiệp bằng niềm đam mê của Nhómsinh viên ngành Nghệ thuật biểu diễn tại Úc và Ban nghiên cứu thông tin thị trườngviệc làm và tuyển dụng Đức Anh A&T cũng có giải thích về thuật ngữ nghệ thuật biểudiễn như sau: “…Nghệ thuật biểu diễn là loại hình nghệ thuật sử dụng không gian củacác loại hình sân khấu để thể hiện, truyền tải nội dung của các tác phẩm phi vật thể đếnvới công chúng Nghệ thuật biểu diễn thường được các nghệ sĩ biểu đạt thông qua các
cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, giọng nói theo các kịch bản đã định Tùy thuộc vào thể loại,phong cách và không gian sân khấu, các nghệ sĩ sẽ chọn cho mình một phương phápbiểu diễn để thể hiện tốt vai trò của mình…” [5]
Như vậy, nghệ thuật biểu diễn là loại hình nghệ thuật do các nghệ sĩ, ca sĩ biểudiễn trực tiếp trên sân khấu, trước công chúng nhằm truyền tải các tác phẩm văn hóaphi vật thể đến với công chúng thông qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, động tác, giọng điệucủa người nghệ sĩ, ca sĩ theo các kịch bản đã định Các tác phẩm của nghệ thuật biểudiễn, ngoài đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần và giải trí đa dạng của conngười, nó còn góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống của công chúng
1.2.2 Các loại hình nghệ thuật biểu diễn
Theo phân loại của TS Lê Ngọc Canh, nghệ thuật biểu diễn gồm các loại hìnhsau: 1 Nghệ thuật âm nhạc (gồm có các loại nhạc cụ), 2 Nghệ thuật âm thanh (hát sinhhoạt, hát lao động, hát tín ngưỡng, hát thính phòng, hợp xướng, ca khúc), 3 Nghệ thuật
Trang 8múa (múa sinh hoạt, múa lao động, múa tín ngưỡng, múa cung đình ), 4 Nghệ thuậtdiễn xướng (diễn xướng sinh hoạt, diễn xướng lao động, diễn xướng tín ngưỡng ), 5.Nghệ thuật sân khấu (chèo, tuồng, cải lương, kịch ) [8, tr 49-52].
Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 5/10/2012 của Chính phủ cho rằng: “…Loạihình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa rối, bài chòi,kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca, múa, nhạc, ngâm thơ, tấuhài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác…” [14, tr.1]
Thông tư số 03/2013/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 01 năm 2013 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định
số 79/2012/NĐ-CP cho rằng: Ngoài các loại hình nghệ thuật biểu diễn quy định tạiKhoản 2, Điều 2 của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP còn có khiêu vũ nghệ thuật, trìnhdiễn trong nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn đường phố…
Như vậy, nghệ thuật biểu diễn rất phong phú và đa dạng, gồm nhiều loại hìnhkhác nhau, cùng thông qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, động tác, giọng điệu của ngườinghệ sĩ, ca sĩ để truyền tải những tác phẩm văn hóa phi vật thể đến với công chúng Kết quả khảo sát sơ bộ về thực trạng hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của côngnhân khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương cho thấy, đa số công nhân làmviệc ở đây chủ yếu chỉ quan tâm đến các loại hình ca nhạc thuần túy, phổ biến như: dân
ca, nhạc kịch (cải lương, chèo, tuồng), nhạc trẻ, nhạc truyền thống cách mạng (nhạcđỏ), nhạc xưa (nhạc vàng, tiền chiến, trữ tình) Do đó, trong đề tài này chỉ tập trungnghiên cứu, phân tích nhu cầu hưởng thụ của công nhân khu công nghiệp Sóng Thầntrên các loại hình nghệ thuật mà mọi người quan tâm, hưởng thụ
1.3 Giới thuyết về giai cấp công nhân và nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công nhân
1.2.1 Khái niệm “công nhân”
Đề cập đến giai cấp công nhân, trong các tác phẩm của mình, Karl Marx và F.Engels đưa ra nhiều quan điểm trên nhiều phương diện khác nhau, nhìn chung có thể
Trang 9khái quát lại như sau: Giai cấp vô sản ra đời gắn liền với nền đại công nghiệp và pháttriển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, là sản phẩm của bản thân nềncông nghiệp Về nguồn gốc xã hội, giai cấp vô sản được tuyển mộ trong tất cả các giaicấp, tầng lớp xã hội; giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, ở địa vị là giai cấp
bị trị, làm thuê, bán sức lao động và tạo ra các giá trị thặng dư
Giống như nhận định của Karl Marx và F Engels, Hồ Chí Minh cho rằng, trong
xã hội bao gồm hai giai cấp: giai cấp bóc lột (những người sở hữu tư liệu sản xuất) vàgiai cấp bị bóc lột (những người không sở hữu tư liệu sản xuất, họ chỉ có sức lao độngcủa bản thân) Hồ Chí Minh quan niệm, giai cấp công nhân ở Việt Nam bao gồm tất cảnhững người không có tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động để sinh sống Bất luận
họ làm nghề gì, trong sản xuất công nghiệp hay sản xuất công nghiệp, thậm chí có cảnhững người là cố nông Tuy nhiên, chỉ riêng lực lượng công nhân công nghiệp – tức lànhững người lao động gắn với phương thức sản xuất công nghiệp mới “…hoàn toàn đạibiểu cho cái đặc tính của giai cấp công nhân…” “…Xét một cách tổng thể trên tất cảcác mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai tròlãnh đạo…”[28, tr 212]
Trong công trình nghiên cứu Giai cấp công nhân Việt Nam – Mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn của mình, TS Bùi Đình Bôn đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân nhưsau: “…Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và pháttriển cùng với cách mạng công nghiệp, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuấthiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiếntrong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quátrình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và tạo các quan hệ xã hội, động lực chínhcủa tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội…” [7, tr 16]
Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay, GS Dương Phú Hiệp cho rằng: “…giaicấp nhân Việt Nam hiện nay là giai cấp những người lao động chân tay và trí óc, hoạtđộng trong các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghiệp thuộc các loại hình: doanh
Trang 10nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Dùhoạt động trong bất kỳ thành phần kinh tế nào thì với tư cách người làm công ăn lương,
họ đều là chủ của đất nước, quyền lợi của họ được pháp luật nhà nước bảo vệ…” [21,
tr 4]
Theo Nghị quyết Trung ương Đảng khóa X, kỳ họp 20 diễn ra vào ngày28/1/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Giai cấp công nhân Việt Nam là mộtlực lượng to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc,làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp,hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp Bộ Chính trị cho rằng:Khái niệm giai cấp công nhân trình bày trên đây phù hợp với những quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với những đặc điểmmới của thời đại - thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tham khảo các quan điểm, khái niệm về giai cấp công nhân nêu trên, tác giả đưa
ra khái niệm công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như sau: Công nhân ViệtNam hiện nay là những người làm công ăn lương trong các khu công nghiệp, doanhnghiệp, xí nghiệp, các loại hình dịch vụ có tính chất công nghiệp Họ là những ngườitrực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất công nghiệp để sản xuất, tái sảnxuất ra các loại sản phẩm công nghiệp Giai cấp công nhân Việt Nam được nước Cộnghòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng củamình
1.2.2 Khái niệm “nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công nhân”
Theo các nhà tâm lý học thì khái niệm “nhu cầu” dùng để chỉ sự “đòi hỏi tất yếu
mà con người thấy được cần thỏa mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển”, “nhucầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện vàphương thức thỏa mãn quy định Khi nào đối tượng của nhu cầu có khả năng đáp ứngthì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy sự hoạt động của các cá nhân hay nhóm
xã hội” [40, tr 186- 187]
Trang 11Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu, nhu cầu nào lớn hơn thìchi chi phối nhu cầu khác và đòi hỏi con người phải đáp ứng nhu cầu đó Karl Marxkhẳng định: “…Bản thân các nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn Hoạt động và cáccông cụ để thỏa mãn đã có đươc đưa đến nhu cầu mới, và sự nảy sinh ra các nhu cầumới này là hành vi lịch sử đầu tiên…” [24, tr.40]
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, có thể chia ra làm 2loại sau: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Chỉ khi nhu cầu vật chất được đáp ứngthì nhu cầu tinh thần mới nảy sinh và ngược lại, khi nhu cầu tinh thần được đáp ứng thì
sẽ làm cho con người thấy thoải mái, thư giản tinh thần và tái tạo sức lao động saunhững giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi
Khi đề cập đến thuật ngữ “hưởng thụ”, mọi người thường nghĩ ngay đến hưởngthụ văn hóa, hưởng thụ cuộc sống Nhưng cho đến nay, gần như chưa có một địnhnghĩa, khái niệm “hưởng thụ” nào chính thức được để cập
Bản thân tác giả luận văn này cho rằng, thuật ngữ “hưởng thụ” rất đa nghĩa, đứng
ở góc độ này thì nó mang ý nghĩa này nhưng đứng ở góc độ khác thì nó lại mang ýnghĩa khác Ví dụ 1, có một người biết kiếm thật nhiều tiền và biết chi tiêu một cáchchính đáng cho bản thân bằng cách ăn ngon, mặc đẹp, đi du lịch, mua sắm, xem phim ởrạp, nghe nhạc ở phòng trà và xài hàng xịn nhằm phục vụ đời sống tinh thần củamình một cách tốt nhất thì được gọi là người biết hưởng thụ Ở góc độ này, từ hưởngthụ có nghĩa là tận hưởng (trực tiếp hay gián tiếp) những thành quả do bản thân mìnhlàm ra – tức là hưởng thụ cả vật chất lẫn tinh thần (mang nghĩa tích cực) Ví dụ 2, cónhững người, mặc dù kinh tế không khá giả để đến những nơi đắt tiền, nhưng anh taluôn dành thời gian rảnh rỗi của mình để làm những việc mà mình yêu thích như xemtivi, nghe nhạc, đọc sách báo, lên mạng để làm cho đời sống tinh thần trở nên phongphú, đa dạng và có ý nghĩa hơn thì cũng được gọi là người biết hưởng thụ cuộc sống.Mặc dù cũng mang tính tích cực như ví dụ 1, nhưng không phải hưởng thụ chính thànhquả mình làm ra mà hưởng thụ các sản phẩm văn hóa từ xã hội mạng lại và đó được
Trang 12gọi là hưởng thụ văn hóa (Ở đây, tác giả không bàn đến những lối sống chỉ biết hưởngthụ mang nghĩa tiêu cực như thích dùng hàng sang, ăn ngon, mặc đẹp nhưng lười laođộng, không biết kiếm tiền) Như vậy, hưởng thụ có nghĩa là tiếp nhận, tận hưởngnhững thành quả của bản thân mình hay từ người khác mang lại
Tổng hợp các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về nhu cầu hưởng thụ nghệthuật biểu diễn như sau: Nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn là đòi hỏi, mongmuốn, nguyện vọng được xem, được nghe, được thưởng thức những chương trình, tiếtmục thuộc các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn mà mình yêu thích, nhằm thỏa mãn nhucầu tinh thần của bản thân để tồn tại và phát triển, để làm cho đời sống tinh thần trởnên thi vị và ý nghĩa hơn Nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật hướng đến các giá trị chân –thiện – mỹ
Nghiên cứu nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của công nhân khu công nghiệp, cầnphải nghiên cứu về điều kiện vật chất, thời gian làm việc, đăc điểm tâm lý của côngnhân để tìm ra được giải pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của ngườicông nhân
1.2.3 Những đặc trưng cơ bản về nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của công nhân
Nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật nói chung và nghệ thuật biểu diễn nóiriêng là không thể thiếu với bất kỳ ai, thuộc thành phần nào, lứa tuổi nào trong xã hội.Bởi, ngoài việc mang đến cho con người những rung cảm nghệ thuật, nó còn góp phầnlàm giải tỏa căng thẳng, xả stress, mệt mỏi trong cuộc sống Đặc biệt, khi cuộc sốngcàng no đủ thì nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật càng nhiều hơn và ngày một nângcao hơn
Những người có điều kiện sống giống nhau, nhận thức giống nhau và lứa tuổigiống nhau thường có những xu hướng thưởng thức các loại hình nghệ thuật biểu diễngiống nhau Ví dụ, những người lớn tuổi thì thường có xu hướng thích xem những bộphim hoài cổ, các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống, các loại nhạc trữ tình,nhạc nhẹ dân ca; những người trẻ tuổi thì thích xem phim hành động của Mỹ, phim
Trang 13lãng mạn của Hàn Quốc và nghe các loại nhạc trẻ sôi động như rock, rap… ; nhữngngười có trình độ nhận thức cao thì thích nghe các loại nhạc bác học như giao hưởng,thính phòng, opera còn với những người có trình độ nhận thức thấp hơn thì thườngthích nghe các thể loại nhạc bình dân có lời hát đơn giản, dễ nghe và dễ thuộc.
Đặc điểm của công nhân ở Sóng Thần, Bình Dương đa phần là lao động phổthông, có điều kiện kinh tế khó khăn, thời gian làm việc nhiều, có trình độ học vấn thấpnên nhu cầu hưởng thụ văn hóa của họ cũng có những khác hơn so với các tầng lớp tríthức, “đại gia” trong xã hội
Do điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp, thời gian làm việc nhiềunên phần lớn công nhân không có hoặc không nghĩ đến những nhu cầu hưởng thụ vănhóa nghệ thuật “cao”, “sang” và bác học như: đến các trung tâm triển lãm tranh, tượngnghệ thuật; nghe nhạc ở các phòng trà, rạp hát đắt tiền, thưởng thức các dòng nhạc kinhđiển của thế giới như nhạc giao hưởng, thính phòng, opera…Nhu cầu hưởng thụ vănhóa nghệ thuật của họ chỉ dừng lại ở chỗ được xem, được nghe các chương trình biểudiễn trực tiếp tại các buổi văn nghệ quần chúng, các buổi biểu diễn nghệ thuật của cácgánh hát lưu động với giá vé không cao hay tại các buổi giao lưu văn nghệ ở trongcông ty, xí nghiệp…hay đơn giản hơn là chỉ cần nghe ca nhạc, cải lương, tuồng, chèotrên các phương tiện công nghệ thông tin có sẵn như ti vi, điện thoại, đầu đĩa, máy vitính…
Công nhân tại các khu công nghiệp Sóng Thần, Bình Dương đa phần là trẻ tuổi, ítvướng bận gia đình nên nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật rất lớn Đây là độ tuổisung mãn, khát khao được thể hiện mình nên có những định hình rõ nét trong xu hướnghưởng thụ văn hóa nghệ thuật như thích các loại nhạc trẻ trung, sôi động, phong cáchbiểu diễn hiện đại…Nhu cầu văn hóa nghệ thuật của công nhân khu công nghiệp ngàycàng cao, không chỉ dừng lại ở cấp độ hưởng thụ mà luôn vươn tới chiếm lĩnh ở cấp độsáng tạo, học tập và làm theo Các yếu tố như: độ tuổi, thời gian làm việc, mức thunhập, các phương tiện nghe nhìn sẵn có và các chương trình biểu diễn nghệ thuật trực
Trang 14tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của người côngnhân khu công nghiệp Sóng Thần.
Chính vì vậy, muốn thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ của công nhân khu công nghiệpSóng Thần thì phải hiểu được nhu cầu của họ, qua đó mới tổ chức được những chươngtrình biểu diễn cụ thể, phù hợp và thiết thực nhằm làm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụvăn hóa nghệ thuật của người công nhân trong giai đoạn hiện nay
1.4 Đặc điểm của công nhân Khu Công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương
Bình Dương là một tỉnh thuộc khu vực Nam bộ, có tọa độ địa lý 10o51' 46"
-11o30' Vĩ độ Bắc, 106o20'- 106o58' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phíaNam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnhTây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểmphía Nam Đến nay, Bình Dương có 39 khu công nghiệp và 9 cụm công nghiệp đanghoạt động, trong đó có khu công nghiệp Sóng Thần
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 3 khu công nghiệp cùng lấy tên là Sóng Thần,gồm: KCN Sóng Thần 1, KCN Sóng Thần 2 và KCN Sóng Thần 3 Sở dĩ có tên trùngnhau như vậy là vì các KCN này đều do ông Huỳnh Uy Dũng (Huỳnh Phi Dũng) làmchủ đầu tư Trong đó, KCN Sóng Thần 1 và Sóng Thần 2 có các đặc điểm tương đồngnhau về năm thành lập, vị trí địa lý, đặc điểm công nhân và các ngành nghề sản xuất,còn KCN Sóng Thần 3 mới thành lập và chưa đi vào hoạt động nên trong đề tài này chỉ
đề cập tới KCN Sóng Thần 1 và KCN Sóng Thần 2
Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và Sóng Thần 2 (sau đây gọi chung là KCN SóngThần) là 2 trong 3 khu công nghiệp được thành lập sớm nhất của tỉnh Sông Bé – nay làtỉnh Bình Dương (Sóng Thần 1 thành lập năm 1995, Sóng Thần 2 thành lập năm 1996
và VSIP thành lập năm 2006) Cho đến nay, KCN Sóng Thần đã xây dựng được chomình một thương hiệu nổi tiếng cả về quy mô sản xuất lẫn chất lượng phục vụ, thu hútđược nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến hợp tác làm ăn Hàng năm, khu côngnghiệp Sóng Thần đóng vào ngân sách nhà nước hàng chục triệu USD và giải quyết
Trang 15việc làm cho gần 100 ngàn công nhân lao động đến từ nhiều tỉnh, thành khác nhautrong cả nước.
Tọa lạc tại phường Tân Đông Hiệp, phường Dĩ An của thị xã Dĩ An, tỉnh BìnhDương – Khu công nghiệp Sóng Thần có vị trí khá chiến lược, gần các đầu mối giaothông và bến cảng (cách cảng Sài Gòn và Tân Cảng 12km, cách cảng Vũng Tàu100km, cách sân bay Tân Sơn Nhất 15 km, cách trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội
Tp Hồ Chí Minh, Tp Biên Hòa 15km, cách trung tâm Tp Vũng Tàu 100km; giáp vớituyến đường sắt Bắc – Nam và gần ga Sóng Thần) nên thuận tiên cho việc đi lại, vậnchuyển hàng hóa và phát triển kinh tế Khu công nghiệp Sóng Thần hoạt động trênnhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như: cơ khí chế tạo máy móc, thiết bị; côngnghiệp nhẹ (dệt may, da giày, chế biến gỗ ); công nghiệp thực phẩm (đồ ăn, uống ),vật liệu xây dựng đến kho bãi, điện, điện tử Khu công nghiệp Sóng Thần cũng đãxây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, với công suất đưa vào sử dụng lớn nênkhông gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn cho người lao động và dân cư trên địabàn khu công nghiệp
Theo số liệu điều tra của tác giả vào năm 2014, khu công nghiệp Sóng Thần 1 có
164 doanh nghiệp đang hoạt động với 50.849 công nhân lao động, trong đó có 94doanh nghiệp thành lập tổ chức Công đoàn (chiếm khoảng 57 %) với 45.582 công đoànviên (chiếm khoảng 90%) Tại khu công nghiệp Sóng Thần 2, có 104 doanh nghiệpđang hoạt động với 39.222 công nhân lao động, trong đó có 80 doanh nghiệp thành lập
tổ chức Công đoàn (chiếm khoảng 77 %) với 46.186 công đoàn viên (chiếm khoảng85%) Trong đó, lao động nữ chiếm hơn 65%
Một trong số những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của đội ngũ công nhân khu côngnghiệp Sóng Thần nói riêng và các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương nói chung làluồng lao động di cư từ các tỉnh thành khác đến, chiếm trên 70% [22, tr.1] Về cơ bản,công nhân khu công nghiệp Sóng Thần có thể chia làm 2 nhóm: nhóm công nhân laođộng phổ thông và nhóm công nhân làm việc văn phòng
Trang 16- Nhóm công nhân lao động phổ thông, chiếm đại đa số trong các công ty, xínghiệp, chiếm hơn 80% tổng số công nhân đang làm việc tại Khu công nghiệp SóngThần Những người này thường có trình độ học vấn thấp, chủ yếu là lao động chân tay,làm việc theo ca và thường xuyên phải làm việc tăng ca Do cuộc sống ở quê vốn khókhăn, vất vả nên tâm lý chung của những người này là không ngại cực khổ, cốt làm sao
để kiếm được càng nhiều tiền càng tốt Chính vì vậy, ngoài thời gian làm việc theo quyđịnh của Nhà nước, hầu hết công nhân làm việc tại khu công nghiệp Sóng Thần đềumuốn làm thêm ngoài giờ, họ gần như không quan tâm đến việc thư giản, nghỉ ngơicủa bản thân, nên có thể nói là đời sống tinh thần của nhóm công nhân này khá tẻ nhạt– nếu không muốn nói là rất thiếu thốn, nhàm chán
- Nhóm công nhân văn phòng: Có thể gọi nhóm này là công nhân lao động tríthức trong khu công nghiệp, bởi đại đa số họ đã được đào tạo qua các lớp chuyên mônnghiệp vụ chính quy hay không chính quy, với trình độ từ trung cấp lên đến đại học và
họ đảm nhiệm những công việc chính như: Quản lý, kế toán, kinh doanh, phụ tráchchuyên môn kỹ thuật Mặc dù không phải lao động vất vả như công nhân dưới xưởng,dưới các dây chuyền sản xuất nhưng áp lực công việc lại rất lớn và đời sống tinh thầncủa công nhân văn phòng cũng không khá hơn nhiều so với công nhân lao động phổthông Đội ngũ công nhân làm việc văn phòng chiếm rất ít so với lực lượng công nhânchung của khu công nghiệp, chưa đến 20%
Theo đánh giá của tác giả Nguyễn Văn Nam trong Báo cáo tổng kết đề tài “Xâydựng và phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình Dương – Thực trạng và giải pháp” chobiết “…Liên đoàn Lao động tỉnh cũng đã phối hợp các sở, ngành khác tổ chức các hoạtđộng giao lưu, thể thao, văn hóa văn nghệ giữa các doanh nghiệp ” Tuy nhiên, cũngtheo báo cáo này thì “…thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân, lao độnghiện nay vẫn còn thiếu thốn, điều kiện sống và môi trường làm việc còn gặp nhiều khókhăn, ăn ở chật vật ” [29, tr 23]
Trang 17Theo đánh giá của công trình Các giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của ngườilao động trong các khu công nghiệp tập trung ở Bình Dương do Trường Đại học BìnhDương thực hiện vào năm 2011: Công nhân khu công nghiệp có tuổi đời rất trẻ, xungmãn, ít vướng bận gia đình; trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, tay nghề thấp; cótinh thần cầu tiến cao; thời gian làm việc tăng ca nhiều nhưng mức thu nhập lại rấtkhiêm tốn; đời sống vật chất khá khó khăn; họ thường sống chung với bạn bè, ngườithân để giảm chi phí ăn, ở nên vật dụng cần thiết sử dụng hàng ngày khá đa dạngnhưng không phải hoàn toàn sở hữu cá nhân mà đôi khi là tài sản của tập thể sống cùngphòng trọ; mặc dù các khu công nghiệp đều cho rằng nhu cầu văn hóa, văn nghệ, tinhthần sau giờ làm việc của người dân là rất cần thiết nhưng chủ doanh nghiệp chưa quantâm đến việc đầu tư các thiết chế văn hóa phục vụ tinh thần của công nhân; do thời gianlàm việc nhiều nên thời gian giải trí ít
Như vậy, có thể nói: Đời sống của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần hiệnnay vẫn còn nhiều bất cập, họ phải làm tăng ca nhiều nhưng thu nhập chưa được cao,thời gian nghỉ ngơi ít, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của họ chưa được lãnh đạo khu côngnghiệp quan tâm đúng mức Người công nhân đến với văn hóa, nghệ thuật chủ yếuthông qua các chương trình ti vi, đầu đĩa, còn các chương trình biểu diễn nghệ thuậttrực tiếp như ca nhạc, sân khấu thì rất ít Mỗi năm, công nhân được xem ca nhạc trựctiếp vài ba lần do các Đoàn Nghệ thuật về biểu diễn hay công ty tổ chức vào dịp tổngkết cuối năm Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của côngnhân và tác động không nhỏ đến hiệu quả sản xuất của khu công nghiệp
Việc nghiên cứu nhu cầu hưởng thụ văn hóa nói chung và hưởng thụ nghệ thuậtbiểu diễn nói riêng của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần là rất cần thiết, qua đónắm bắt được nhu cầu của họ để có những giải pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầutinh thần của người công nhân, giúp họ cân bằng được tâm lý, giải tỏa căng thẳng, mệtmỏi và tái tạo sức lao động để làm việc tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu suất làm việc
Trang 18PHẦN TIỂU KẾT CHƯƠNG INội dung của Chương I, tác giả đi sâu vào phân tích vai trò của văn hóa nghệthuật trong đời sống tinh thần của con người; các giới thuyết về nghệ thuật biểu diễn,giai cấp công nhân và nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công nhân; phântích đặc điểm tâm lý của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần Để làm cơ sở lý luậnvận dụng vào nghiên cứu cho những vấn đề tiếp theo
Việc nghiên cứu chức năng của văn hóa nghệ thuật sẽ giúp chúng ta nhận thấyđược vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó trong đời sống tinh thần của mỗi conngười Như đã trình bày ở phần trên, văn hóa nghệ thuật tác động rất lớn đến tư tưởng,tình cảm, nhận thức của con người; giúp con người phát triển những phẩm chất tốt đẹp,thúc đẩy sự sáng tạo của mỗi người; là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi conngười và đặc biệt, văn hóa nghệ thuật có khả năng định hướng được quan điểm, dưluận trong xã hội… Do đó, nếu thực hiện tốt các chức năng của văn hóa nghệ thuật sẽgiúp con người định hình được lối sống, phong cách sống và làm đẹp thêm bức tranhmuôn màu của xã hội
Mặt khác, nghiên cứu đặc điểm của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần sẽgiúp chúng ta nắm bắt được hoàn cảnh, tâm lý của người công nhân, cũng như nắm bắtđược nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của người công nhân để từ đó có nhữnggiải pháp thiết thực và có hiệu qua, làm thỏa mãn nhu tinh thần của người công nhân,góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân trong xã hội
Trang 19CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NHU CẦU VÀ SỰ ĐÁP ỨNG NHU CẦU HƯỞNG THỤ NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN CỦA CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN, THỊ XÃ
THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1 Thực trạng hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công nhân Khu Công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương
Khoảng 10 năm trở lại đây, Bình Dương trở thành tỉnh có tốc độ phát triểncông nghiệp nhanh, mạnh hàng đầu trong cả nước Nhiều khu công nghiệp, khu chếxuất được quy hoạch xây dựng và đưa vào đầu tư khai thác, hàng ngàn nhà máy đi vàosản xuất ở mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề Về mặt tích cực, các khu công nghiệp, cáckhu chế xuất đã đem lại lợi ích kinh tế to lớn, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự pháttriển kinh tế của tỉnh và tạo điều kiện việc làm cho hàng trăm ngàn công nhân khôngchỉ trên địa bàn của tỉnh mà còn trong cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích vềkinh tế, từ các khu công nghiệp, khu chế xuất đã nảy sinh rất nhiều hạn chế về đời sốngcủa người lao động, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần
Về cơ sở vật chất, khi quy hoạch xây dựng Khu công nghiệp Sóng Thần, cácnhà quản lý đã không tính toán xây dựng cơ sở vật chất như trung tâm văn hóa, thể dụcthể thao, thư viện, nhà hát phục vụ các thiết chế văn hóa và nhu cầu giải trí của ngườicông nhân Nơi ăn chốn ở của người công nhân hoàn toàn ở những khu nhà trọ tự phát,nhỏ hẹp, tối tăm, ẩm thấp nằm san sát nhau tạo môi trường sống không sạch sẽ, tiềm ẩnnhiều nguy cơ về bệnh dịch Bên cạnh đó, quỹ thời gian của công nhân rất eo hẹp vàmức thu nhập cũng rất khiêm tốn Từ những khó khăn về vật chất đó dẫn đến thiếuthốn về đời sống tinh thần
Trang 20Khảo sát thực tế tình hình giải trí chung của công nhân khu công nghiệp SóngThần hiện nay cho thấy: có 54.2% thường xuyên xem tivi, 25% thường xuyên gặp gỡbạn bè, người thân; 12.5% thường xuyên tổ chức ăn uống; 9.7% thường xuyên chơigame, dùng internet; 9.7% thường xuyên đi chơi, mua sắm, chơi thể thao; 8.3% thườngxuyên đọc sách, báo; 6.9% thường xuyên đi xem ca nhạc, xem phim, nhạc hội, cảilương [Phụ lục I, bảng số liệu 1.1, tr 81] Mức độ người công nhân thưởng thức cácchương trình nghệ thuật biểu diễn là quá ít, vậy thực trạng hoạt động hưởng thụ cácchương trình nghệ thuật của người công nhân như thế nào? Các thể loại người ca múanhạc nào người công nhân yêu thích? Họ đánh giá chất lượng các thể loại đó ra sao vàtiếp cận bằng cách thức nào? Thực trạng qua khảo sát cho thấy:
2.1.1 Về loại hình nghệ thuật biểu diễn
Nghệ thuật biểu diễn bao gồm nhiều loại hình nhưng qua khảo sát 282 côngnhân gồm cả nam lẫn nữ, người chưa có gia đình và đã có gia đình, quê quán ở cả bamiền Bắc, Trung, Nam (đông nhất vẫn là người có quê ở Thanh Hóa, Nghệ An, một sốtỉnh phía Bắc) có độ tuổi từ 18 – 40 tuổi vào tháng 5/2014 cho thấy có 4 thể loại màngười công nhân biết, nghe, yêu thích gồm: Nhạc trẻ, Nhạc truyền thống cách mạng,Nhạc xưa (nhạc vàng, nhạc tiền chiến), dân ca và các loại hình sân khấu truyền thống(nhạc kịch) như chèo, tuồng, cải lương
Biểu đồ số 1: Mức độ xem các thể loại
Trang 21Biểu đồ 1 cho thấy mức độ yêu thích, hưởng thụ của người công nhân đối vớicác thể loại nhạc trong nghệ thuật biểu diễn như sau:
+ Nhạc trẻ: qua khảo sát, nhạc trẻ là thể loại nhạc mà công nhân khu côngnghiệp Sóng Thần yêu thích nhất với 68.1% số người lựa chọn [Phụ lục I, bảng số liệu1.2, tr 81] Đây cũng là loại nhạc được nghe, xem nhiều nhất với 70.4% số người đượchỏi trả lời thường xuyên nghe, xem qua nhiều phương tiện và trong nhiều thời giankhác nhau Là loại nhạc có tiết tấu sôi động, lời nhạc phù hợp với suy nghĩ, cảm xúccủa giới trẻ nên có tới 92% thường xuyên nghe nhạc trẻ là công nhân trẻ với độ tuổidưới 30 và độ tuổi cao nhất thường xuyên nghe nhạc trẻ cũng chỉ ở tuổi 33
Giới tính cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới mức độ nghe nhạc trẻ nhưng mứcchênh lệch không nhiều: 52% đối với nam và 48% đối với nữ Căn cứ theo tình trạnghôn nhân cho thấy tỉ lệ người đã kết hôn thường xuyên nghe nhạc trẻ ít hơn nhữngngười chưa kết hôn (42% so với 58%) Có tình trạng trên bởi lẽ thời gian nhàn rỗi củacông nhân chưa kết hôn nhiều hơn công nhân đã kết hôn nên mức độ xem, nghe của họcũng thường xuyên hơn
Là loại nhạc được yêu thích nhất, hình thức đến với người nghe cũng chủ yếuqua các phương tiện sẵn có như tivi, đầu đĩa, điện thoại Thỉnh thoảng, họ được tiếpxúc nghệ thuật biểu diễn tại các tụ điểm vui chơi như quán cà phê, hội chợ, các chươngtrình biểu diễn nghệ thuật lưu động, các buổi văn nghệ tại công ty hay trong các nhàhàng khi đi dự đám cưới
+ Nhạc xưa: Nhạc xưa bao gồm các thể loại nhạc vàng, nhạc tiền chiến, nhạctrữ tình Đây là dòng nhạc được yêu thích thứ hai sau nhạc trẻ với tỉ lệ yêu thích quakhảo sát là 20.8% Nhạc xưa có mức độ nghe ở mức trung bình với 29.2% thườngxuyên nghe, 44.4% thỉnh thoảng và 22.2% ít khi nghe Ở thể loại nhạc này, số người đã
có gia đình lại nghe nhiều hơn số người chưa có gia đình (52.4% so với 47.6%) Kếtcấu về tình trạng hôn nhân, về độ tuổi cho thấy đây là loại nhạc dành cho những người
“già” hơn, đằm hơn Giải thích về điều này, một nam công nhân tâm sự: “…mình bây
Trang 22giờ có tí tuổi rồi, không thể chạy theo các dòng nhạc mốt hiện nay nữa, ở nhà cũngkhông thể mở nhạc trẻ ồn ào, sôi động bởi nhà có trẻ nhỏ Với lại, nghe nhạc vàng để
dễ ngủ, chứ nhạc trẻ nhảy nhảy giật giật thế làm sao mà ngủ được…” [Phụ lục II, Biênbản phỏng vấn sâu số 2.4, tr 90] Nhưng trong dòng nhạc này người công nhân tậptrung vào một số chủ đề, những bài hát nói về lính, về tha hương, những đau thương,mất mát, những hoài vọng tình yêu và nhất là về cái nghèo như : Xuân này con không
về (bộ ba nhạc sĩ Trịnh – Lâm – Ngân), Dù anh nghèo (Tô Thanh Tùng), Đôi ngả chia
ly (Khánh Băng) Nhìn chung, nghiêng về cái mà người ta thường gọi là Nhạc sến.Dòng nhạc này được các nam công nhân thuộc các tỉnh miền Bắc, miền Trung ưachuộng hơn cả Một nam công nhân cho biết: “…Đây là loại nhạc mình được nghe rấtnhiều lúc nhỏ, lớn lên, cũng có thời gian mình thích nhạc trẻ, nhưng càng lớn lại càngthích nghe dòng nhạc này hơn [Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu số 2.4, tr 91]
+ Nhạc cách mạng: xuất hiện từ những năm đầu thập niên 30 thế kỷ XX, trong
xu thế của phong trào yêu nước, phong trào giải phóng dân tộc, nhạc cách mạng ra đời
đã vận dụng âm nhạc, ca hát như một công cụ tuyên truyền, cổ vũ tinh thần đấu tranhcủa quần chúng Hơn 8 thập kỷ qua, âm nhạc cách mạng đã làm rung động, xốn xangbao nhiêu trái tim con người Việt Nam đang sinh sống trên khắp mọi miền đất nước và
cả những người con Việt đang sống trên đất khách quê người Chính vì vậy, tuy khôngthể trả lời là thích nhất so với các dòng nhạc khác như Nhạc trẻ, Nhạc xưa nhưng nhạccách mạng luôn giành được sự quan tâm của công nhân với 48.6% người thỉnh thoảngnghe Có thể có người không đồng ý với nhận xét về mức độ quan tâm của công nhânvới dòng nhạc cách mạng bởi chữ “thỉnh thoảng” Nhưng nếu xét thêm những yếu tố
về thời gian của bản thân người công nhân hạn hẹp và so sánh với mức độ nghe nhạccách mạng với các thể loại nhạc khác như: Dân ca, nhạc kịch sẽ thấy được mức sựquan tâm của công nhân đối với nhạc cách mạng không phải là nhỏ Điều quan trọnghơn, khi nhắc tới nhạc cách mạng thì không người công nhân nào không biết và khôngthể không hát được một vài bài Nhất là trong cách cuộc vui như tất niên hàng năm, tất
Trang 23niên xóm trọ có tổ chức hát karaoke cùng nhau thì các bài nhạc hào hùng như “Nămanh em trên một chiếc xe tăng”, “Chiếc gậy Trường Sơn”, “Chào em cô gái LamHồng” … thường xuyên là sự lựa chọn của các “ca sĩ bất đắc dĩ”.
+ Dân ca: là thể loại nhạc xuất phát từ trong lao động thực tiễn, gắn bó với vănhóa và đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân ca có nhiều loạinhư: hát Quan họ ở Bắc Ninh, hát Xoan ở Phú Thọ, hát Ví dặm ở Nghệ An, Hà Tĩnh,Hát sắc bùa ở Quảng Nam, các câu hò, điệu lý ở miền Nam Kho tàng nhạc dân ca củadân tộc rất phong phú và chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật, là món ăn tinhthần Tuy nhiên, trong cuộc sống sôi động và gấp gáp hiện nay, những giai điệu khoanthai, nhẹ nhàng dường như ít thu hút được sự quan tâm của giới công nhân là nhữngcon người có tuổi đời trẻ, có thị hiếu thích các thể loại nhạc “sôi động” Chỉ có 11.1%thường xuyên nghe loại nhạc này, nhưng con số này cũng không chỉ ra rằng có 11.1%người thích nhạc dân ca mà qua khảo sát thực tế chỉ có 5.6% thực sự ưa thích Đây quảthực là con số khá khiêm tốn và là một dấu hiệu báo động đáng buồn cho sự quan tâmcủa giới trẻ đối với một thể loại nhạc mang nhiều tinh hoa của dân tộc
Bên cạnh mức độ quan tâm, yêu thích và nghe ít, công nhân cũng tỏ ra hạn chếtrong sự hiểu biết giữa các thể loại dân ca Hầu hết những người được hỏi đều biết đếnQuan họ nhưng những thể loại khác mang tính địa phương như Hò ví dặm, Hò giã gạo,
Hò khoan chỉ một số ít công nhân thuộc tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình biết,còn lại những thể loại phục vụ nghi lễ như Hát sắc bùa, Hát Xoan thì không ai biết
+ Các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống: bao gồm các thể loại nhưchèo, tuồng, cải lương Khảo sát thực tế cho thấy chỉ có 1.3% số người được hỏi yêuthích các thể loại này, trong khi đó có tới 64% số người được hỏi không biết ít nhấtmột trong các loại trên hoặc không phân biệt được từng thể loại Thực tế này khá đángbuồn nhưng lại khá dễ hiểu bởi các loại nhạc này đều là âm nhạc truyền thống mà hiệnnay không còn phổ biến Kết quả này có nguyên nhân hai chiều: Người biểu diễn vàngười tiếp nhận Thứ nhất là tần suất phát sóng của các chương trình trên tivi rất thấp
Trang 24Thứ hai nó chưa bao giờ được trình diễn ở Bình Dương mà chỉ ở các sân khấu lớn ở
Tp Hồ Chí Minh, bán với giá vé cao, phục vụ một lượng nhỏ Về phía người côngnhân, mức độ hiểu biết hạn chế nên họ không tiếp nhận được nội dung mà một vở nhạckịch truyền tải Có thể nói, hiện nay đây là loại hình nhạc “đẳng cấp”, chỉ có một số ítngười có thể hưởng thụ Trong các thể loại trên thì chèo, cải lương vẫn được sự đónnhận của các công nhân trên 30 tuổi (100%) bởi tuổi thơ của họ phần nào vẫn đượcnghe các loại hình trên, còn với công nhân độ tuổi nhỏ hơn, họ hoàn toàn không quantâm Và với tuồng là môn nghệ thuật khó, rất ít người biết và thích Với tất cả những lý
do trên, không ngạc nhiên khi kết quả khảo sát cho thấy 55.5% công nhân hầu nhưkhông nghe các thể loại nhạc sân khấu truyền thống trên
2.1.2.Về các yếu tố yêu thích trong một thể loại âm nhạc
Để biết được lý do mà và tiêu chí đánh giá chất lượng của một thể loại nhạccủa công nhân, chúng tôi tiến hành khảo sát ở 4 yếu tố tạo thành phong cách riêng củamột thể loại nhạc gồm: Giai điệu của bài hát, lời bài hát, các ca sĩ và phong cách biểudiễn của dòng nhạc đó Kết quả cụ thể như sau:
Biểu đồ số 2: Các yếu tố yêu thích ở các thể loại âm nhạc
Giai điệu Lời bài hát
Ca sĩ biểu diễn
Phong cách
46.9 30.6
18.3 6.1
53.3 26.7
6.7 13.3
28.7 25.7
40.6 5
56.9 26.6
13.2 3.3
27.6 34.5 30.7 7.2
Trang 25+ Giai điệu bài hát: Giai điệu là một dãy các nốt nhạc được sắp xếp theo mộttrật tự nhất định ở 1 số thể loại dân ca, hoặc hoàn toàn theo ý chủ quan của tác giả Mỗithể loại âm nhạc sử dụng giai điệu theo một cách khác nhau và chính giai điệu làm nênđặc trưng của từng loại nhạc Có lẽ vì vậy mà yếu tố giai điệu được công nhân đánh giá
là yếu tố quan trọng nhất khi yêu thích một thể loại nhạc nào đó [Phụ lục I, Bảng sốliệu 1.3, tr 81] Nhưng đi sâu vào khảo sát sẽ sự đánh giá của yếu tố giai điệu đối vớitừng thể loại nhạc có mức độ khác nhau Giai điệu hào hùng của các bài hát cách mạng
có sức lôi cuốn cao và nhận được sự đánh giá cao của công nhân với 56.9% Với nhữngngười yêu thích nhạc xưa thì chính sự trữ tình, nhẹ nhàng, sâu lắng, dễ đi vào lòngngười của các giai điệu làm họ càng thêm yêu mến dòng nhạc này (53.3%) Ở dòngnhạc trẻ, các giai điệu mạnh mẽ, sôi động, đa dạng của các thể loại nhạc rock, V-pophay các thể loại như “Dance remix” thường dùng trong các vũ trường cũng thu hútđược giới trẻ (46.9%) Bên cạnh đó, ở dòng nhạc này, “việc vận dụng nhiều yếu tố kỹthuật làm cho giai điệu của nhạc trẻ trở lên lạ lẫm, mới mẻ, phong cách, phù hợp vớithị hiếu ưa thích những cái mới, lạ, độc của giới trẻ…” một nam công nhân cho biết[Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu 2.1, tr.84] Tuy nhiên, với hai dòng nhạc còn lại làdân ca và nhạc kịch thì yếu tố giai điệu lại chiếm thứ yếu (28.7% đối với dân ca và27.6% đối với nhạc kịch) Điều này cũng xuất phát từ sự hiểu biết khá hạn chế củangười công nhân đối với từng thể loại nhạc như chia sẻ của một nữ công nhân: “…nghedân ca em chỉ thấy nó mượt mà, dễ nghe chứ thực sự đó là dân ca của vùng miền nào,cũng chỉ thấy mấy cô hát “í ì i” chứ có thấy nhạc gì mấy đâu?!” [Phụ lục II, Biên bảnphỏng vấn sâu 2.5, tr 92]
+Lời bài hát: Chiếm 31% [Phụ lục I, Bảng số liệu 1.3, tr.81] Lời bài hát là yếu
tố quan trọng thứ hai mà người công nhân để ý khi tiếp nhận một nhạc phẩm hay khiđánh giá một dòng nhạc Ở từng dòng nhạc riêng biệt, lời bài hát của nhạc trẻ nhậnđược nhiều sự lựa chọn nhất với 34.5%, 30.6% ở nhạc kịch, và ở các dòng nhạc kháccũng xấp xỉ 30% Lời bài hát là yếu tố quan trọng thứ hai không khó hiểu khi nó là một
Trang 26trong hai yếu tố cấu thành một nhạc phẩm Nếu giai điệu là nền nhạc thì lời bài háttruyền tải ý nghĩa của nhạc phẩm đó Nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu, chúng tôi thấy cóhai xu hướng dẫn tới sự đánh giá của người công nhân đối với lời bài hát Ở các dòngnhạc như nhạc cách mạng, dân ca, nhạc kịch, người công nhân lựa chọn bởi chính ca từsâu lắng, ý nghĩa, được trau chuốt và đã chứng tỏ được giá trị qua thời gian Ngược lại,
ở dòng nhạc xưa, những bài hát mà người công nhân lựa chọn nghe lại là những bàithường có nội dung ướt át, ủy mị, não nề, yếm thế, nặng tư tưởng chán đời Đáng báođộng hơn là ở dòng nhạc trẻ khi các ý kiến thường cho rằng: Lời bài hát của nhạc trẻrất dễ hiểu, rất teen, gần gũi với giới trẻ, diễn đạt rất “thật” tình cảm của mỗi người, rất
“thật” tình huống của từng sự việc Những ca từ mà giới trẻ cho là “hay” đó thực ratheo đánh giá của giới chuyên môn, của những người có một chút trình độ và có cáinhìn khách quan thì nó rất nhạt, nhảm, thậm chí có thể gọi là thảm họa Chủ đề thườngthấy nhất ở nhạc trẻ là về tình yêu với vốn ca từ rất hạn chế như: yêu, đau khổ, hạnhphúc, chia tay, anh và em, bước đi lặp đi lặp lại và có chăng sự khác nhau ở chỗ đảo
từ, đảo thứ tự trong mỗi bản nhạc Những bài hát trên diễn đạt một cách xuồng sã, hờihợt thứ tình cảm cũng xuồng sã, hời hợt của giới trẻ như “Anh không đòi quà” (OnlyC), ”Giống anh nhưng không phải là anh” (Hamlet Trương Anh) “Người ấy và tôi emchọn ai” (Lưu Chí Vỹ) Bên cạnh đó còn có những bài hát có ca từ phản cảm cũng dễdàng trở thành “hot”, được mở thường xuyên trong các quán cà phê, được rỉ tai nhau vànghêu ngao hát trong giới công nhân như “Nói dối” (Lê Bá Vĩnh), “Trái tim siêu nhânGao” (Hoàng AXN) Những bài hát trên hoàn toàn “phi nghệ thuật”, đi ngược lại cácgiá trị chân, thiện, mỹ và bởi nghệ thuật có chức năng định hướng nhận thức, nếukhông kịp thời điều chỉnh sẽ định hướng một xu hướng nghệ thuật lệch lạc trong giớicông nhân
+ Ca sĩ biểu diễn: Theo đánh giá chung thì ca sĩ là yếu tố thứ ba người côngnhân để ý tới hoặc góp phần vào sự yêu thích của họ đối với mỗi dòng nhạc Cũng nhưđối với các tiêu chí khác, ở mỗi dòng nhạc, sự đánh giá của người công nhân đối với
Trang 27Ca sĩ biểu diễn trong dòng nhạc đó có sự khác nhau qua hai xu hướng Xu hướng thứnhất đặc biệt đánh giá cao tầm quan trọng của người biểu diễn, diễn xuất ở hai dòngnhạc là dân ca (40.6%) và nhạc kịch (30.7%) Trong khi đó ở các dòng nhạc còn lại,người công nhân đánh giá khá thấp tầm quan trọng của ca sĩ đối với các dòng nhạc.Nếu liên hệ với thực trạng các ca sĩ hiện nay ta thấy sự đánh giá của người công nhânphản ánh một thực tế khá đúng đang tồn tại Nếu ở dân ca, nhạc kịch, nhạc cách mạng,muốn thành danh, người nghệ sĩ phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài và có mộtquá trình cống hiến vì nghệ thuật thực thụ Chia sẻ của một nữ công nhân yêu thíchdòng nhạc dân ca càng làm sáng tỏ thêm điều này: “…Hát nhạc dân ca phải là người đãhát dòng nhạc này lâu năm, được đào tạo đúng chuyên ngành; nhiều ca sĩ mới sau nàycũng tập tành hát nhưng nghe không đúng, không vừa tai nên em không chọn nghe”.[Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu 2.5, tr 92] Trong khi đó hiện nay, đặc biệt là ở thịtrường nhạc trẻ, chưa khi nào có nhiều chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc nhưvậy Hệ quả của nó là một loạt những người tự phong hoặc được lăng xê lên thành ca
sĩ, muốn nhanh chóng trở thành “sao” Bên cạnh đó cũng có rất nhiều diễn viên muốnlấn sân sang mảng ca nhạc nhưng thực chất để khoe ngoại hình Chính vì vậy, ở dòngnhạc trẻ, có tới 66.7% là nam công nhân đánh giá cao yếu tố Ca sĩ trong khi đó đối với
nữ công nhân chỉ có 33.3% người chọn yếu tố này
+ Phong cách biểu diễn: chỉ chiếm 5.6% [Phụ lục I, Bảng số liệu số 1.3, tr 81].Phong cách biểu diễn là yếu tố người công nhân ít coi trọng nhất ở tất cả các dòngnhạc Với dân ca hay nhạc vàng, yếu tố này không được coi trọng là điều dễ hiểu bởi
ca sĩ hát hầu như chỉ đi đi lại lại trên sân khấu hoặc nơi diễn chứ hầu như không cóđộng tác minh họa Nhưng ở nhạc trẻ thì đây lại là một thực tế đáng buồn Một thực tếhiện nay là ở thị trường nhạc Việt, các ca sĩ Việt chỉ mới bắt chước, học theo phongcách biểu diễn từ các ca sĩ nước ngoài qua băng đĩa, các vũ đoàn lớn Hơn nữa, chưa aichịu khó dàn dựng hẳn một tiết mục vũ đạo cho từng ca khúc Chính vì vậy, phần lớn
Trang 28phong cách biểu diễn của họ cứ na ná nhau và rất nhàm chán Vì vậy từ nhận thức đếnđánh giá của người công nhân về tiêu chí này chưa có phản ứng tích cực
2.1.3 Về hình thức tiếp cận nghệ thuật biểu diễn
Qua thực tế khảo sát cho thấy, công nhân KCN Sóng Thần tiếp cận các loạihình nghệ thuật biểu diễn dưới nhiều hình thức khác nhau Ở cách thức gián tiếp, họ cóthể xem trên tivi, điện thoại, băng đĩa hoặc máy tính Bên cạnh đó, công nhân cũng cóthể hưởng thụ trực tiếp tại các buổi trình diễn lưu động của các đoàn nghệ thuật, cácchương trình văn hóa văn nghệ tổ chức tại công ty, tại quán cà phê, nhà hàng Cụ thểnhư sau:
Biểu đồ số 3: Cách thức tiếp cận các chương trình nghệ thuật biểu diễn
Xem
trên t
ivi, điện th
Xem tại qu
c chư
ơng trình n
hạc hội 0.0%
+Xem qua ti vi, băng đĩa, máy vi tính, điện thoại:
Có tới 80.6% số người được hỏi trả lời họ thường xuyên xem các chương trìnhbiểu diễn nghệ thuật qua tivi, điện thoại trong khi đó tỉ lệ ở các hình thức khác là27.8% đối với phương tiện băng đĩa, máy tính Tivi, điện thoại là hai phương tiện chủyếu để người công nhân thưởng thức các chương trình nghệ thuật cũng là điều dễ hiểubởi đây là hai phương tiện phổ biến nhất mà người công nhân sở hữu (80.5% đối vớitivi và 70% đối với điện thoại di động có thể nghe nhạc, nghe radio) Nó cũng đáp ứng
Trang 29được các yếu tố về thời gian, mức thu nhập và sự tiện dụng Với giá cả của tivi có loạichỉ từ 1 triệu đồng và điện thoại loại trên 1triệu đồng đã có thể nghe nhạc được hiệnnay người công nhân có thể tiết kiệm và mua hai phương tiện trên không quá khó khăn.Đặc biệt, hiện nay ở một số khu trọ, chủ nhà thường cho người ở trọ gắn chung đườngtruyền cáp và mỗi tháng chỉ đóng phụ thêm từ 20 nghìn đồng – 30 nghìn đồng Cáckênh truyền hình phong phú cũng là nhân tố tích cực để làm phong phú thêm đời sốngtinh thần của người công nhân.
Qua khảo sát, so sánh với khu công nghiệp khác như khu công nghiệp BàuBàng (huyện Bàu Bàng) số hộ gia đình có tivi chỉ chiếm 50%, thấp hơn hẳn so với Khucông nghiệp Sóng Thần Cơ sở dẫn tới thực trạng này là do Khu công nghiệp SóngThần là Khu công nghiệp lâu năm trong tỉnh, tại Khu công nghiệp có rất nhiều côngnhân có thâm niên Do vậy họ tổ chức cuộc sống bài bản hơn so với công nhân một sốkhu công nghiệp khác trong tỉnh
Có 27.8% thường xuyên, 22.2% thỉnh thoảng và 13.9% số người ít khi xem cácchương trình ca múa nhạc qua băng đĩa, máy tính Tuy băng đĩa, máy tính có thể chongười nghe lựa chọn được thể loại, chương trình mà người nghe ưa thích hoặc muốnnghe, cũng đáp ứng về yếu tố thời gian nhưng lại vượt quá mức thu nhập của đa phầncông nhân, nhất là đối với phương tiện máy vi tính Tuy nhiên, hiện nay với việc giá cảngày càng leo thang, đồng tiền mất giá khiến những chi tiêu trong gia đình phải hạnchế lại Tiền mua sắm, điện, nước là những khoản đầu tiên phải cắt giảm Chính vì lẽ
đó mà hình thức nghe bằng các phương tiện máy tính, đầu đĩa cũng không phổ biếntrong đa số công nhân
Công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần thưởng thức các chương trình nghệthuật biểu diễn chủ yếu qua các phương tiện có sẵn phản ánh sự nghèo nàn trongthưởng thức, sự eo hẹp trong quỹ thời gian và đúng tầm mức độ quan tâm của ngườicông nhân với hình thức giải trí khá phổ biến này Không có thời gian và với mức thunhập hiện tại, người công nhân buộc phải lựa chọn hình thức phù hợp nhất là qua
Trang 30phương tiện tivi, điện thoại Nhưng các chương trình ca nhạc phát trên tivi cũng vàomột khung giờ nhất định và thường không trùng vào khung giờ nghỉ ngơi là sau 20h30’của người công nhân vì thế mức độ tiếp cận đã hẹp càng thêm hạn chế Bên cạnh đó họcũng không được nghe các thể loại mà họ yêu thích, chủ yếu phụ thuộc vào chươngtrình phát sóng của đài truyền hình Điều này ảnh hưởng tới tâm lý, tới sự định hìnhtrong phong cách nghe nhạc của người công nhân, họ dễ có tâm lý thỏa hiệp, chươngtrình nào cũng được, phát gì thì nghe nấy: “Tụi em đi làm về thì đã trễ, bật tivi lên cóchương trình nào thì coi chương trình ấy, ca nhạc cũng vậy Nhiều khi gặp chươngtrình mình không thích nhưng cũng xem đại cho xong, cho vui cửa vui nhà” – chịNg.Th M, công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần chia sẻ [Phụ lục II, Biên bản phỏngvấn sâu 2.2, tr 87].
+Xem ở quán cà phê, nhà hàng: ở khu vực dân cư quanh Khu công nghiệpSóng Thần có một số quán tổ chức dưới dạng hát cho nhau nghe nhưng không nhiều,diện tích lại nhỏ hẹp, chỉ có thể đáp ứng được một lượng khán giả khiêm tốn Hìnhthức này cũng chỉ thu hút một lượng nhỏ nam công nhân và những người chưa có giađình và là kênh tiếp xúc rất hạn chế
+ Xem trực tiếp tại các chương trình nhạc hội: Thực tế qua khảo sát cho thấythực trạng công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần có không thường xuyên đi xem cácchương trình biểu diễn nghệ thuật trực tiếp(có 2.8% thường xuyên, 27.8% thỉnh thoảng
và tới 30.6% ít khi) Mức độ xem trực tiếp của người công nhân không đồng đều ở cácthể loại mà hầu như chỉ tập trung vào nhạc trẻ (70.8%), nhạc cách mạng (20.8%) và cácchương trình tổng hợp (12.5%) Đi sâu vào tìm hiểu chúng tôi thấy một thực tế mức độxem các chương trình nghệ thuật trực tiếp quan hệ mật thiết với mức độ tổ chức biểudiễn trực tiếp của các chương trình ở các thể loại Các chương trình nhạc trẻ được xemnhiều nhất đơn giản bởi vì đây là thể loại nhạc được tổ chức nhiều nhất thông qua cácchương trình nhạc hội hay các chương trình ca nhạc đi kèm bán hàng giới thiệu sảnphẩm Tương tự, đối với dòng nhạc cách mạng là dòng nhạc thường được tổ chức vào
Trang 31những dịp lễ, tết tại khu trung tâm hành chính thị xã Dĩ An Thời gian này người côngnhân được nghỉ và thường tổ chức đi chơi Nơi vui chơi hầu như duy nhất của côngnhân Khu công nghiệp Sóng Thần là khu Trung tâm hành chính thị xã Dĩ An nên khutrung tâm này trong những dịp lễ tết luôn đông nghẹt người Sẵn có các chương trìnhbiểu diễn, lại miễn phí nên số người xem rất đông Bên cạnh đó, Đoàn ca múa nhạc dântộc tỉnh Bình Dương cũng thường tổ chức lưu diễn ở các khu phố nên cơ hội để ngườicông nhân thưởng thức các tiết mục ca múa nhạc trực tiếp khá cao.
Các chương trình tổng hợp: là các chương trình biểu diễn gồm cả ca, múa nhạccác thể loại và kịch nói tuyên truyền Thể loại chương trình này thường được Đoàn camúa nhạc dân tộc tỉnh Bình Dương áp dụng và đi biểu diễn ở các khu phố Chươngtrình chất lượng, miễn phí và mang nội dung giáo dục, tuyên truyền nên thu hút được
sự quan tâm của công nhân Lý do mà người công nhân không xem trực tiếp cácchương trình tổng hợp lại nằm ở khâu tuyên truyền còn khá yếu nên chỉ có một lượngnhỏ công nhân đi ngang qua, thấy có chương trình thì ghé xem chứ chưa tạo thànhđược một phong trào
2.2 Nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công nhân KCN Sóng Thần
Từ những phân tích trên ta thấy thực trạng hoạt động hưởng thụ nghệ thuậtbiểu diễn của công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần còn nhiều hạn chế Sự hạn chếnày xuất phát từ nhiều nguyên nhân thuộc khách quan và chủ quan Một vài năm trở lạiđây, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, với sự cải tiến của các phương tiện truyềnthông, các chương trình giải trí nói chung, chương trình biểu diễn nghệ thuật nói riêng
có nhiều khởi sắc và người công nhân có nhiều cơ hội tiếp cận hơn Vậy nhu cầu củacông nhân với các chương trình nghệ thuật biểu diễn như thế nào? Chúng tôi tiến hànhkhảo sát trên ba mặt
2.2.1 Về nhu cầu hưởng thụ các thể loại nhạc
Trang 32Biểu đồ số 4: Nhu cầu hưởng thụ các loại nhạc
Phụ lục I, bảng số liệu 1.4 cho thấy, nhu cầu chung lớn nhất của người côngnhân đối với hoạt động hưởng thụ các chương trình nghệ thuật biểu diễn là không đổivới 44.6% và ở từng thể loại nhạc thì nhạc trẻ có tỉ lệ cao nhất với 51%, ở các thể loạicòn lại cũng chiếm tỉ lệ khá cao, đều trên 30% Một thực tế cho thấy là mức độ hưởngthụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần ởmức khá thấp, vậy nguyên nhân do đâu người công nhân đa phần bằng lòng với thực tếhiện tại, không muốn hưởng thụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật nhiều hơn? Tìmhiểu vấn đề này chúng tôi thấy nhu cầu thiết yếu hơn đối với họ là tăng thu nhập, hạnchế chi tiêu Mà cách thức đơn giản nhất để tăng thu nhập trong suy nghĩ của ngườicông nhân lại là muốn tăng ca thêm bởi: “…chỉ có tăng ca mới là cách tăng thu nhậpthiết thực nhất chứ mấy cái như tăng lương đó khó lắm chị ơi”, một nữ công nhân màchúng tôi gặp thật thà chia sẻ [Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu 2.2, tr.86] Nhữngkhó khăn vật chất của cuộc sống hiện tại đã dẫn đến những suy nghĩ không mấy lạcquan về cái gọi là đời sống tinh thần, là chất lượng cuộc sống Không mong muốnthưởng thức nhiều hơn cũng một phần phản ánh sự thiếu quan tâm của giới công nhân
Trang 33đối với các chương trình biểu diễn nghệ thuật và cho đây là thứ yếu trong cuộc sốnghàng ngày
Tuy nhiên, theo khảo sát chung, mong muốn được thưởng thức nhiều hơn cácchương trình nghệ thuật biểu diễn trong giới công nhân Khu công nghiệp Sóng Thầncũng ở mức cao thứ hai với 32.2% Giải thích cho lý do muốn thưởng thức nhiềuchương trình biểu diễn nghệ thuật hơn, đa phần công nhân đều trả lời vì thấy cácchương trình ca nhạc ngày càng phong phú, hấp dẫn, nhiều ca sĩ trẻ, đẹp mới nổi lên.Bên cạnh đó, nhiều chương trình ca nhạc trên tivi ngày càng được đầu tư công phu, kỹcàng, mang tính giải trí cao như Vietnam got talen, Giọng hát Việt, Vietnam Idol thường phát vào những ngày cuối tuần cũng thu hút được sự quan tâm của một lượngkhá lớn công nhân
Tác dụng đầu tiên và lớn nhất của âm nhạc đối với đời sống con người đó làchức năng giải trí, giúp con người giải tỏa căng thẳng, xua tan mệt mỏi Thông qua âmnhạc con người vơi đi nỗi mệt nhọc trong cuộc sống, mang lại những phút giây thoảimái, sảng khoái Qua đó, con người có thể tái tạo lại sức lao động, phát huy đượcnhững tiềm năng sáng tạo ở mỗi con người Đối với công nhân, bên cạnh những tácdụng to lớn đối với cuộc sống con người nói chung, âm nhạc còn là người bạn thânthiết của họ sau những giờ lao động căng thẳng, nặng nhọc Quả thật, với cường độ laođộng cao, thời gian nhàn rỗi hạn hẹp, các hình thức giải trí nghèo nàn thì lựa chọn tốtnhất của họ là âm nhạc [Phụ lục I, bảng số liệu 1.1 tr 81]cho thấy các hình thức nhưđọc sách, giao lưu bạn bè, đi chơi, mua sắm, các hoạt động thể dục thể thao củangười công nhân rất ít, trong khi xem tivi lại chiếm hầu hết thời gian rảnh rỗi của họ.Một nhóm nữ công nhân tâm sự: “…tụi em đi làm xa quê, xa gia đình, bạn bè, buồnlắm chị ạ Công việc làm thì nhiều nhưng cũng mong nhiều việc để làm, vào công tyvui hơn Chị thấy đấy, ngày nghỉ tụi em tranh thủ gọi điện về nhà nói chuyện với cha
mẹ cho đỡ nhớ nhà, còn lại muốn hết buồn thì chỉ có nghe nhạc…” [Phụ lục II, Biênbản phỏng vấn sâu 2.5, tr 92] Nhóm mong muốn tăng mức thưởng thức các chương
Trang 34trình biểu diễn nghệ thuật rơi vào nhóm công nhân trẻ và hầu hết chưa lập gia đình Họtìm tới âm nhạc như một người bạn và là cầu nối liên kết với thế giới bên ngoài sinhđộng, phong phú hơn.
Công việc càng căng thẳng, nhu cầu nghe nhạc của người công nhân càng lớn.Nhưng hiện tại thời gian không cho phép người công nhân được nghe nhạc cũng nhưxem các chương trình biểu diễn nghệ thuật nhiều, nhất là vào những tháng cao điểmkhi cường độ lao động rất khẩn trương, gấp rút, công nhân chỉ đủ thời gian để đáp ứngcác nhu cầu tối thiểu là ăn, phần còn lại họ phải tranh thủ ngủ để tái tạo lại sức laođộng Vì vậy người công nhân mong muốn được nghe nhạc trong thời gian lao độnghoặc trong thời gian nghỉ ngơi giữa hai buổi làm việc
2.2.2 Nhu cầu về chất lượng ở các dòng nhạc
Qua khảo sát cho thấy nhu cầu về tất cả các yếu tố trong chất lượng ở các dòngnhạc đều tăng, cụ thể như sau:
Yếu tố mà người công nhân muốn tăng chất lượng nhất là chất lượng ca sĩ biểudiễn với 37.5% Ở từng thể loại cụ thể thì nhạc trẻ được đòi hỏi cao nhất với 37%, sau
đó là ở dòng nhạc xưa với 22.2% [Phụ lục I, bảng số liệu 1.5, tr 82] Từ nhu cầu muốntăng chất lượng ca sĩ biểu diễn trong hai dòng nhạc trẻ và nhạc xưa càng khẳng địnhmột thực tế chất lượng ca sĩ của hai dòng nhạc này chưa cao và chưa nhận được sựđánh giá cao của giới công nhân Đại đa số công nhân được hỏi chỉ có thể kể được vàicái tên đã khá thành danh như: Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Hồ Ngọc Hà hay một vài
ca sĩ “nổi đình nổi đám” trong thời điểm hiện tại như MTP Sơn Tùng, nhóm nhạc HKT
và thậm chí là “ca sĩ” Lệ Rơi Theo đánh giá chung của công nhân, nhất là các nữcông nhân, họ đặc biệt phản cảm với lối ăn mặc ngày càng trở lên lố lăng của một loạt
ca sĩ nữ “…ăn mặc phản cảm, chỉ toàn nhảy nhót, hát cũng không ra hát, thấy giốngnhư là hét hơn” [Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu 2.5, tr.92] một nữ công nhân bứcxúc Đã qua rồi thời ca sĩ khi hát chỉ đi lại trên sân khấu, công nhân rất hưởng ứngphong cách trẻ trung, những màn vũ đạo đẹp của ca sĩ hiện nay nhưng ca sĩ cũng phải
Trang 35biết hát chứ không chỉ mỗi biết nhảy và hát hay, nhảy đẹp là nhu cầu chung của côngnhân đối với ca sĩ hiện nay Ở các dòng nhạc khác như dân ca và nhạc cách mạng, đánhgiá chung của người công nhân đối với các giọng ca “lão luyện” rất tốt nhưng hiện nay
có không ít ca sĩ trẻ cũng muốn lấn sân sang dòng nhạc này và có cách thể hiện mới.Song giọng hát của họ không cho phép thể hiện hết được chất hào hùng, mạnh mẽ củadòng nhạc này mà chính những vũ đạo thêm vào lại làm hỏng ấn tượng của người xem.Nhu cầu của công nhân đối với ca sĩ họ được xem biểu diễn trực tiếp trong những lầnđại nhạc hội cao gấp đôi so với các ca sĩ biểu diễn trên truyền hình Bởi các ca sĩ nàythường là các ca sĩ nhái tên của những ca sĩ nổi tiếng mà ông bầu “làm chiêu” đăngquảng cáo hấp dẫn để thu hút người xem
Nhu cầu của người công nhân về chất lượng lời bài hát, Giai điệu bài hát cũngtăng so với chất lượng hiện tại (29.5% với giai điệu và 24% với lời bài hát) và dòngnhạc mà người công nhân muốn tăng chất lượng nhất vẫn là nhạc trẻ [Phụ lục I, bảng
số liệu 1.5, tr.82] Cũng không khó hiểu khi người công nhân giành nhiều sự đánh giácủa mình với nhạc trẻ bởi đó là dòng nhạc mà họ nghe nhiều nhất, quan tâm nhiều nhất
và nó cũng tác động đến đời sống tinh thần nói chung của họ nhiều nhất Công nhân cóthể yêu thích nhất, nghe nhiều nhất nhạc trẻ nhưng không hẳn họ chấp nhận hoàn toàntất cả mọi nhạc phẩm của nhạc trẻ hoặc nhạc trẻ cho ra nhạc phẩm nào họ sẽ nồng nhiệtđón nhận nhạc phẩm đó Thực tế cho thấy nhiều bài hát thuộc dòng nhạc trẻ hiện nayviết theo kiểu “mì ăn liền”, vay mượn một nhạc phẩm nổi tiếng nào đó rồi chế thêmthành của mình Thị trường nhạc hiện nay cũng khá phổ biến tình trạng các bài hát cópnhặt giai điệu, ca từ của nhau thành ra rất nhiều bài cứ na ná giống nhau, một màu, đơnđiệu, nhàm chán Nhưng thực tế cũng cho thấy rằng những bài hát thị trường đó ngườinghe nói chung, công nhân nói riêng chỉ nghe để mà nghe và nó cũng chỉ “hot” trongmột thời gian ngắn chứ không đọng lại trong lòng người nghe Âm nhạc nói riêngmang trong mình những giá trị chân, thiện, mỹ; những sản phẩm âm nhạc không mangnhững giá trị trên không có giá trị và qua thời gian sẽ dễ dàng bị đào thải Rất nhiều bài
Trang 36hát được sáng tác bởi những nhạc sĩ trẻ, cũng là những đề tài quen thuộc về tình yêu,tình mẫu/phụ tử, về cuộc sống và vẫn lay động được hàng triệu con tim của khán giảtrên cả nước như Nhật ký của mẹ (Nguyễn Văn Chung), Bà tôi (Nguyễn Vĩnh Tiến),Giấc mơ trưa (Giáng Son)
2.2.3.Nhu cầu về cách thức thưởng thức
Nhu cầu giải trí chỉ có thể biểu hiện thông qua các hoạt động giải trí, nhu cầu
về cách thức hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn cũng không nằm ngoài khuôn khổ đó Cónhững nhu cầu sẽ thực sự tăng cao khi có điều kiện Tuy nhiên, trong nhiều trườnghợp, do sự chi phối về nhiều phương diện mà những nhu cầu đó không thể đáp ứngđược nên nhu cầu đó nằm ngoài vùng mong muốn, ngoài tầm suy nghĩ của người côngnhân
Theo kết quả khảo sát cho thấy, nhu cầu về cách thức thưởng thức nghệ thuậtbiểu diễn ở mọi phương diện đều tăng Có 12.2% công nhân trả lời muốn xem cácchương trình ca múa nhạc thông qua phương tiện tivi, điện thoại hơn [Phụ lục I, bảng
số liệu 1.5, tr.82] Số này nằm trong nhóm những người chưa có phương tiện tivi, mỗilần muốn coi chương trình họ đều phải đi coi nhờ Đó là khi rảnh rỗi, trong thời giancao điểm, tăng ca nhiều, ai cũng bận bịu và hạn hẹp về thời gian nên đi xem nhờ tivi rấthạn chế Một phần nữa là những người muốn nghe nhạc trong giờ làm việc trong công
ty Thực tế, một số công ty điện tử có không gian yên tĩnh có thể vừa nghe nhạc vừalàm việc Có những chương trình ca nhạc theo yêu cầu rất được người công nhân mến
mộ thường phát vào buổi chiều và người công nhân rất muốn được nghe chương trìnhnày
Có 21.5% số người trả lời muốn thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệthuật thông qua máy tính, đầu đĩa [Phụ lục I, bảng số liệu 1.6, tr.83] Điều này chứng tỏnhu cầu về hưởng thụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật tăng lên cả về số lượng vàchất lượng Máy tính và đầu đĩa là những phương tiện giúp người nghe có thể tiếp cậnnhiều thể loại trong các chương trình biểu diễn nghệ thuật và có thể nghe, xem thể loại
Trang 37mà mình thích vào bất cứ thời gian nào trong ngày Tuy nhiên, máy tính còn là phương
tiện khá xa lạ với công nhân nên họ hầu như không có ý định sẽ mua sắm Thực tế cho
thấy những người hiện nay sở hữu máy tính nghe nhạc, xem các chương trình biểu diễn
nghệ thuật nhiều hơn và nhu cầu của họ cũng cao hơn những người không có máy tính
Có 66.3% số người được hỏi trả lời mong muốn được thưởng thức nhiều hơnnữa các chương trình biểu diễn nghệ thuật trực tiếp [Phụ lục I, bảng số liệu 1.6, tr.83]
Chỉ số này không những chỉ ra sự hạn chế trong hoạt động thưởng thức nghệ thuật biểu
diễn trực tiếp mà còn chỉ ra sự hạn chế rất lớn của các thiết chế phục vụ cho nhu cầu
thưởng thức các chương trình nghệ thuật biểu diễn trực tiếp Xét theo mối quan hệ giới
tính, có số nam công nhân muốn thưởng thức các chương trình biểu diễn tại các quán
cà phê nhiều hơn công nhân nữ (64.8% so với 35.2%) và cũng nhiều hơn tại các
chương trình nhạc hội (58.3% so với 41.7%) Nhu cầu của thanh niên chưa lập gia đình
cũng lớn hơn người đã lập gia đình (57.5% so với 42.5%) Đặc biệt, người công nhân
rất quan tâm đến các chương trình biểu diễn nghệ thuật công ty đứng ra tổ chức hoặc tổ
chức trong công ty Nhu cầu của họ đối với các chương trình này tăng gấp đôi thực tế
(54.3%)
Người công nhân không tới xem các chương trình biểu diễn trực tiếp được,
nguyên nhân chủ yếu là họ không có thời gian Nguyên nhân thứ hai đó là điều kiện
kinh tế Trong khi giá cả mọi thứ đều leo thang một cách chóng mặt, đến các nhu cầu
như ăn, mặc người công nhân còn rất hạn chế nói chi đến giành ra một khoản tiền từ
20.000 – 50.000đ cho một buổi biểu diễn ca nhạc Họ cân nhắc một cách thực tế rằng:
“…50.000đ đó có thể mua thức ăn cả ngày hoặc mua thêm vài hộp sữa, một vài món
đồ chơi cho con” [Phụ lục II, Biên bản phỏng vấn sâu 2.2, tr 86] nên khi có các
chương trình nhạc hội về biểu diễn có thể có rất nhiều người tới nhưng ít người mua vé
vào coi mà chỉ đứng ngoài nghe ké hoặc đứng ngoài tán gẫu để “hưởng ứng” không
khí Nhưng với chương trình do công ty đứng ra tổ chức lại khác Người công nhân sẽ
có thời gian để xem, nghe hoặc trực tiếp tham gia Tâm lý người công nhân thoải mái
Trang 38hơn và sự gắn bó, giao lưu giữa các công nhân trong công ty cũng tăng lên Có 34% trả
lời mức độ thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệ thuật của họ sẽ tăng lên nếu
công ty, công đoàn, khu công nghiệp đứng ra tổ chức nhiều chương trình biểu diễn cho
công nhân hơn Chương trình đó có thể đơn thuần biểu diễn hoặc có sự giao lưu, tương
tác giữa các công nhân, giữa công nhân và người biểu diễn
2.3 Thực trạng việc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công
nhân Khu Công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương
Trong đề mục này, chúng tôi sẽ tổng kết một số nhận định của chính quyền, công
đoàn và lãnh đạo công ty về vai trò của nghệ thuật trình diễn đối với đời sống người
lao động Và, qua số liệu khảo sát thực tế tại Khu công nghiệp Sóng Thần I, II chúng
tôi sẽ phân tích khả năng cung ứng nghệ thuật trình diễn của các cơ quan, tổ chức
chuyên môn, đồng thời đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế để qua đó
phân tích những nguyên nhân làm tiền đề cho việc xây dựng những giải pháp mang
tính thực tiễn
2.3.1.Nhận định của chính quyền, công đoàn và lãnh đạo công ty về vai trò các
hoạt động nghệ thuật biểu diễn đối với đời sống tinh thần người lao động
Nghệ thuật nói chung và nghệ thuật trình diễn nói riêng có vai trò rất lớn trong
việc xây dựng và phát triển đội ngũ công trong bối cảnh hiện nay Ngoài việc phát triển
các kỹ năng sản xuất, Đảng và nhà nước cũng rất chú trọng đến việc phát triển phẩm
chất đạo đức, giáo dục tư tưởng cho các thế hệ công nhân Trong đó, cách tuyên truyền
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước bằng con đường sân khấu
hóa là một trong những cách làm mang lại hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, nó còn giúp
cho người lao động giảm được những căng thẳng trong cuộc sống, thúc đẩy quá trình
tái tạo sức lao động
Nghệ thuật biểu diễn với vai trò giáo dục tư tưởng,chính trị, truyền thống: Nghệthuật biểu diễn có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với việc bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm cho người lao động, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
Trang 39Trong những năm gần đây, lĩnh vực này có sự chuyển biến rất sôi động theo cơ chế thịtrường, đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề, nhất là trong cơ chế quản lý.
Hoạt động nghệ thuật biểu diễn góp phần giáo dục, định hướng về thẩm mỹ, lốisống của người xem, nhất là giai cấp công nhân – giai cấp luôn phải chịu áp lực rất lớn
từ tần suất lao động và hiệu quả công việc Đây cũng là một trong những phương tiệnbiểu đạt truyền thống văn hóa, hình ảnh con người Việt Nam, góp phần tích cực trongviệc giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa
Trước sự phát triển của xã hội thì vai trò của các hoạt động biểu diễn lại càngquan trọng hơn khi thực hiện chức năng tuyên truyền kịp thời những chủ trương,đường lối chính sách, phát luật của Đảng và Nhà nước một cách sinh động, đến với giaicấp công nhân, người lao động, một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, dễlàm…Nhằm góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, hòa chung với sựphát triển của đất nước
Các chương trình biểu diễn luôn thực hiện nhiệm vụ bám sát các chủ trương,chính sách của Đảng và những vấn đề có tính thời sự khác Tuyên truyền chủ yếu bằnghình thức nghệ thuật, tuỳ vào từng nội dung, để có chương trình nghệ thuật phù hợp
Cụ thể như: tuyên truyền về tác phong công nghiệp cho công nhân, các cụm vấn đề antoàn lao động, phòng cháy, chữa cháy, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hoá và xây dựng nếp sống văn minh đô thị trong việc cưới, việc tang và lễhội, tuyên truyền về Luật phòng chống Bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật antoàn giao thông, tuyên truyền về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh
Hoạt động của các đoàn nghệ thuật biểu diễn nhà nước và tư nhân trong nhữngnăm qua đã góp phần thúc đẩy phát triển phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng, xâydựng đời sống văn hoá tinh thần ngày càng phong phú, lành mạnh; thực hiện tốt côngtác cổ vũ, vận động lao động công nhân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của
Trang 40Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ công nhân “vừa hồng, vừachuyên” đảm nhận tốt sứ mệnh xây dựng và kiến thiết đất nước.
Nghệ thuật biểu diễn với vai trò giải trí, giảm stress và tái tại sức lao động:Qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học về đời sống công nhân của các học giả(tiêu biểu như công trình của TS Phạm Đình Nghiệm, TS Nguyễn Thị Út,…), cácphân tích chuyên môn của các nhà quản lý và qua các số liệu khảo sát tại Sóng Thần,chúng ta có thể nhận định: Đời sống tinh thần của người công nhân còn rất nghèo nàn,các hình thức giải trí rất hạn chế và đơn điệu, nhiều công nhân hầu như không tiếp cậnđược với bất kỳ kênh thông tin giải trí nào; họ thường rơi vào tình trạng bị ức chế vềmặt tâm – sinh lý và bị stress kéo dài…Nếu các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đếnđược với công nhân đầy đủ và thường xuyên hơn thì nó sẽ góp phần quan trọng vàoviệc giải quyết các vấn đề về ức chế tâm lý, giải tỏa buồn phiền, căng thẳng, thúc đẩyquá trình tái tạo sức lao động tốt hơn và hiệu suất lao động sẽ cao hơn
Công nhân Khu công nghiệp Sóng Thần đã và đang làm việc trong điều kiện hếtsức căng thẳng Hầu hết các công ty đều tăng ca ít nhất là 2h/1 ngày, mỗi tuần tăng ca
từ 2 ngày đến 4 ngày/1 tuần, nhiều công ty tăng ca cả tuần khi có đơn hàng hoặc dịpgần Tết, chính vì vậy sau giờ tan ca công nhân chỉ còn đủ thời gian để ăn, ngủ, nghỉ;ngày chủ nhật họ cũng giành phần nhiều thời gian để ngủ bù…Nếu có thời gian họcũng ngại ra đường, ngại đi xem ca nhạc hay hội chợ vì vừa mất tiền, vừa phải đi xachỗ trọ, cuộc sống của công nhân (đặc biệt là các công nhân nữ) chủ yếu gắn liền vớicông xưởng, các khu chợ trời công nhân và không gian chật hẹp của phòng trọ Đây làmôi trường phù hợp để lối sống tự kỷ, khép kín, lối suy nghĩ bi quan phát triển và đangtrở thành một xu hướng phổ biến
Các hoạt động nghệ thuật biểu diễn (cả nhà nước, tư nhân) cần có những điềuchỉnh phù hợp để công nhân có điều kiện tham gia nhiều hơn như việc linh động cácđịa điểm biểu diễn, không nhất thiết biểu diễn ở các điểm cố định như: sân khấu ngoàitrời Khu hành chính Dĩ An hay Rạp hát Dĩ An, sân và hội trường Phòng văn hóa thị