Tìm hiểu hiện trạng Căn cứ vào các vấn đề đang nổi cộm trong thực tế giáo dục ở địa phương như những khó khăn, hạn chế trong dạy và học làm ảnh hưởng đến kết quả dạy và học giáo dục của
Trang 1PHÒNG GD&ĐT THỊ XÃ BA ĐỒN
TRƯỜNG TH QUẢNG LỘC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Quảng Lộc, ngày 30 tháng 1 năm 2018
BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁOVIÊN
Module TH30: Hướng dẫn áp dụng nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng ở tiểu học trong điều
kiện thực tế ở Việt Nam Module TH35: GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1 Xác định đề tài
2 Tìm hiểu hiện trạng
Căn cứ vào các vấn đề đang nổi cộm trong thực tế giáo dục ở địa phương như những khó khăn, hạn chế trong dạy và học làm ảnh hưởng đến kết quả dạy và học giáo dục của lớp mình, trường mình, địa phương của mình:
Ví dụ:
Hạn chế trong thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá;
Hạn chế, yếu kém trong sử dụng thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học;
Chất lượng, kết quả học tập của học sinh ở một số môn học còn thấp (ví dụ: môn Toán ; Tiếng Việt …);
Học sinh chán học, bỏ học;
Học sinh yếu kém, HS cá biệt trong lớp/ trường;
Sự bất cập của nội dung chương trình và SGK đối với địa phương
Trong rất nhiều vấn đề nổi cộm của thực tế giáo dục ở địa phương, chúng ta chọn một vấn đề để tiến hành NCKHSPƯD nhằm cải thiện, thay đổi hiện trạng, nâng cao chất lượng
Ví dụ:
Làm thế nào để giảm số học sinh bỏ học…?
Làm thế nào để tăng tỉ lệ đi học đúng giờ đối với số học sinh hay đi học muộn?
Làm thế nào để nâng cao kết quả học tập của học sinh học kém môn Toán ?
Làm thế nào để giúp học sinh lớp 1 học tốt hơn môn Tiếng Việt?
Sau khi chọn vấn đề nghiên cứu chúng ta cần tìm hiểu liệt kê các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong thực trạng và chọn một nguyên nhân để tìm biện pháp tác động
Ví dụ:
Nguyên nhân của việc học sinh học kém môn toán là:
Trang 2 Do chương trình môn toán chưa phù hợp với trình độ của học sinh;
Phương pháp dạy học sử dụng trong môn toán chưa phát huy được tính tích cực của HS;
Điều kiện, đồ dùng, thiết bị dạy học Toán chưa đáp ứng;
Phụ huynh HS chưa quan tâm đến việc học của con em mình;
Từ các nguyên nhân trên, ví dụ ta chọn nguyên nhân thứ hai để nghiên cứu, tìm biện pháp tác động
2 Tìm các giải pháp thay thế
Khi tìm các giải pháp thay thế nên tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo các kinh nghiệm của đồng nghiệp và các tài liệu, bài báo, SKKN, báo cáo NCKH có nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của mình Đồng thời suy nghĩ, điều chỉnh, sáng tạo tìm ra các biện pháp tác động phù hợp, có hiệu quả
Ví dụ: Giải pháp thay thế cho nguyên nhân thứ hai ở trên là:
Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn toán
3 Xác định vấn đề nghiên cứu
Sau khi tìm được giải pháp tác động ta tiến hành xác định vấn đề NC, câu hỏi cho vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Với ví dụ trên ta có tên đề tài là:
– Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn toán sẽ nâng cao kết quả học tập môn toán của HS tiểu học (lớp 2A trường TH Quảng Lộc; thị xã Ba Đồn tỉnh Quảng Bình)
– Nâng cao kết quả học tập môn toán cho HS thông qua việc sử dụng PP trò chơi (lớp 2A trường TH Quảng Lộc; thị xã Ba Đồn tỉnh Quảng Bình)
Với đề tài này chúng ta có các câu hỏi cho vấn đề nghiên cứu sau:
– Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn toán có nâng cao kết quả học Toán cho HS tiểu học không?
Giả thuyết của Vấn đề nghiên cứu trên là: Có, sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán sẽ nâng cao kết quả học Toán cho HS tiểu học
1 Lựa chọn thiết kế:
– Thiết kế 1: Thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với nhóm duy nhất
Là thiết kế đơn giản, dễ thực hiện, đặc biệt đối với giáo viên tiểu học Bởi vì thiết kế này không làm ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học của lớp/trường, có thể sử dụng học sinh của cả lớp, tất cả học sinh đều được tham gia vào nhóm nghiên cứu Hơn nữa với thiết kế này, ngoài việc thu thập dữ liệu qua bảng hỏi/ bài kiểm tra, người NC dễ quan sát nhận biết sự thay đổi qua hành vi, thái độ cña HS…
Tuy vậy, thiết kế này chứa đựng nhiều nguy cơ ảnh hưởng, kết quả kiểm tra sau tác động tăng lên so với trước tác động có thể do một số yếu tố khác (ví dụ như học sinh có kinh nghiệm hơn trong việc làm bài kiểm tra; tâm trạng của người sử dụng công cụ đo ở những thời điểm khác nhau nên kết quả khác nhau,
Trang 3…) Do đó, nếu sử dụng thiết kế này thì nên kết hợp căn cứ vào kết quả của bộ phiếu hỏi/bài kiểm tra và qua quan sát, lập hồ sơ cá nhân
Ví dụ đề tài: “Tác động của việc học sinh THCS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp học đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ môn Toán” (do GV Singapore thực hiện) Ở đề tài này, nhóm NC đã tiến hành khảo sát trước tác động và sau tác động (qua bảng phiếu hỏi và qua nhật kí của học sinh) về hành vi của học sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ trong học tập môn Toán đối với tất cả học sinh tham gia vào quá trình nghiên cứu
– Thiết kế 2: Thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
Thiết kế này sử dụng 2 nhóm nguyên vẹn (toàn bộ 2 lớp học sinh) có sự tương đương để làm nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
Đây là thiết kế mang tính thực tế, dễ thực hiện đối với giáo viên, đặc biệt là giáo viên THCS, THPT Song đối với giáo viên tiểu học thì sẽ gặp khó khăn Bởi mỗi giáo viên chỉ dạy học trong một lớp (trừ giáo viên các môn đặc thù: Mĩ thuật, Âm nhạc…)
Ví dụ đề tài “Nâng cao kết quả học tập các bài học về không khí thuộc chủ đề “Vật chất và năng lượng” cho học sinh thông qua việc sử dụng một số tệp có định dạng FLASH và VIDEO CLIP trong dạy học” (HS lớp 4 trường tiểu học Quảng Lộc do GV trường TH Quảng Lộc Thị Xã Ba Đồn thực hiện) Nhóm
NC chọn 2 lớp: lớp 4A làm nhóm thực nghiệm và lớp 4B làm nhóm đối chứng Hai nhóm có sự tương đương nhau về khả năng học tập và tỉ lệ giới tính
– Thiết kế 3: Thiết kế kiểm tra trước tác động và sau tác động đối với các nhóm được phân chia ngẫu nhiên
Yêu cầu bắt buộc là các nhóm ngẫu nhiên phải đảm bảo sự tương đương
Có thể tạo lập 2 nhóm ngẫu nhiên ở các lớp khác nhau hoặc có thể phân lớp thành 2 nhóm ngẫu nhiên nhưng vẫn phải đảm bảo sự tương đương Đây là một thiết kế hiệu quả nhưng rất khó thực hiện, vì nó ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của lớp học
Ví dụ đề tài: “Nâng cao khả năng đánh giá và khả năng giải toán cho học sinh lớp 8 thông qua việc tổ chức cho học sinh đánh giá chéo bài kiểm tra môn Toán” (HS lớp 8 trường thực hành sư phạm Quảng Ninh) nhóm nghiên cứu: chia lớp (trong lớp có 30 em HS) thành 2 nhóm, mỗi nhóm 15 HS Trình độ của học sinh trong 2 nhóm được xem là tương đương trên cơ sở lựa chọn từ kết quả học tập do giáo viên
bộ môn đánh giá Nhóm nghiên cứu tổ chức kiểm tra trước tác động và sau tác động cho cả nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
– Thiết kế 4: Thiết kế chỉ kiểm tra sau tác động đối với các nhóm được phân chia ngẫu nhiên Không cần khảo sát/kiểm tra trước tác động vì các nhóm đã đảm bảo sự tương đương (căn cứ vào kết quả học tập của học sinh trước khi tác động) Người NC chỉ kiểm tra sau tác động và so sánh kết quả
Ví dụ đề tài: “Tăng kết quả giải bài tập toán cho học sinh lớp 5 thông qua việc tổ chứ cho học sinh học theo nhóm ở nhà” (trường tiểu học Quảng Lộc Thị xã Ba Đồn) nhóm nghiên cứu đã: phân chia lớp (lớp
có 24 học sinh) thành 2 nhóm ngẫu nhiên (đảm bảo sự tương đương), mỗi nhóm 12 học sinh và chỉ kiểm tra sau tác động để so sánh kết quả của 2 nhóm
– Thiết kế cơ sở AB/thiết kế đa cơ sở AB
Trang 4Trong lớp học/trường học nào cũng có một số học sinh được gọi là ” HS cá biệt” Những HS này thường
có các biểu hiện khác thường như không thích tham gia vào các hoạt động tập thể; không thích học; thường xuyên đi học muộn; bỏ học hoặc hay gây gổ đánh nhau; kết quả học tập yếu kém…Vậy làm thế nào để có thể thay đổi thái độ, hành vi, thói quen không tốt của học sinh? Đây là một câu hỏi đặt ra cho
GV và CBQLGD trong nhà trường NCKHSPƯD có thể giúp chúng ta giải quyết những trường hợp cá biệt đó Ta có thể sử dụng thiết kế cơ sở AB/ thiết kế đa cơ sở AB
Thực hiện nghiên cứu theo thiết kế này ta cần tìm hiểu nguyên nhân của các biểu hiện “cá biệt” trên
cơ sở đó tìm giải pháp tác động nhằm thay đổi thái độ, hành vi và những thói quen xấu của HS Sau đó
ta tiến hành ghi chép kết quả của hiện trạng (quá trình diễn ra trong một thời gian nhất định) trước khi tác động (gọi là giai đoạn cơ sở “A”) Tiếp theo, ta thực hiện tác động và ghi chép quá trình diễn biến kết quả (gọi là giai đoạn tác động “B”) Khi ngừng tác động, căn cứ vào kết quả ghi chép để xác định sự thay đổi mà tác động đem lại Có thể tiếp tục lặp lại giai đoạn A và giai đoạn B thì gọi là thiết kế ABAB, giai đoạn mở rộng này có thể khẳng định chắc chắn hơn về kết quả của tác động
Thiết kế này có thể thực hiện trong nghiên cứu một hoặc một số học sinh Khi thực hiện nghiên cứu trên
2 hoặc nhiều học sinh, nếu có sự khác nhau về thời gian của giai đoạn cơ sở A thì được gọi là thiết
kế đa cơ sở AB.
Ví dụ đề tài: “Tăng tỉ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập bằng việc sử dụng thẻ báo cáo hàng ngày” (xem trong phần phụ lục)
II.Đo lường – thu thập dữ liệu:
Một số lưu ý:
Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu (các câu hỏi của vấn đề nghiên cứu), giả thuyết nghiên cứu để xác định công cụ đo lường phù hợp đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị;
Chỉ đo lường những vấn đề cần nghiên cứu;
Không đưa ra những nhận định kết luận về kết quả không được đặt ra ở phần đo lường
VÝ dô vÒ ®o lường – thu thập dữ liệu những nội dung không liên quan:
Vấn đề NC đặt ra là: sử dụng phương pháp học qua trò chơi “ai tính nhanh” sẽ làm tăng khả năng giải toán cho học sinh lớp 3… nhưng trong đo lường thì lại đo cả sự hứng thú học toán của học sinh
Ví dụ về không đo lường – thu thập đầy đủ dữ liệu cho các vấn đề định nghiên cứu:
Vấn đề NC đặt ra là “Sử dụng phương pháp sắm vai nhằm rèn luyện kĩ năng nói tiếng Anh và sự hứng thú học môn Tiếng Anh cho học sinh…” Nhưng chỉ có công cụ đo và thu thập dữ liệu sự thay đổi về kĩ năng, không có công cụ đo hứng thú Trong kết luận có nhận định là “sử dụng phương pháp …đã làm tăng hứng thú học tập môn Tiếng Anh…”
– Độ giá trị và độ tin cậy
Các dữ liệu thu thập được cần đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy
Độ tin cậy là tính nhất quán giữa các lần đo khác nhau và tính ổn định của dữ liệu thu được
Độ giá trị là tính xác thực của dữ liệu thu được, các dữ liệu có giá trị là phản ánh trung thực của các yếu
tố được đo
Trang 5Độ giỏ trị và độ tin cậy chớnh là chất lượng của dữ liệu.
– Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu
Cú 3 phương phỏp kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu đú là:
Kiểm tra nhiều lần: Cựng một nhúm NC tiến hành kiểm tra hai hoặc nhiều lần vào cỏc khoảng thời
gian khỏc nhau, nếu dữ liệu đỏng tin cậy, điểm số của cỏc bài kiểm tra cú sự tương đồng hoặc tương quan cao;
Sử dụng cỏc dạng đề tương đương: Cựng một bài kiểm tra nhưng được tạo ra hai dạng đề khỏc nhau
Cựng một nhúm sẽ thực hiện cả hai bài kiểm tra trong một thời điểm Tớnh độ tương quan điểm số của hai bài kiểm tra để xỏc định tớnh nhất quỏn của hai dạng đề;
Chia đụi dữ liệu: Phương phỏp này sử dụng cụng thức trờn phần mềm Excel để kiểm chứng độ tin cậy
của dữ liệu Đối với cỏc địa phương cú đủ điều kiện sử dụng CNTT thỡ nờn sử dụng PP này Cỏc địa phương khụng cú điều kiện sử dụng CNTT thỡ sử dụng một trong cỏc PP trờn
1 Phõn tớch dữ liệu
Như đó đề cập ở phần trỡnh bày trờn, ở cỏc địa phương cú đủ điều kiện về CNTT nờn sử dụng thống
kờ (sử dụng cỏc cụng thức cú sẵn trong bảng Excel, internet) để phõn tớch dữ liệu Trong điều kiện khụng cú phương tiện CNTT cú thể sử dụng cỏch tớnh điểm trung bỡnh cộng của nhúm thực nghiệm và nhúm đối chứng, so sỏnh kết quả chờnh lệch giữa cỏc nhúm để rỳt ra kết luận về kết quả của tỏc động, trả lời cho cõu hỏi nghiờn cứu và giả thuyết nghiờn cứu
Vớ dụ:
Đề tài “Tăng tỉ lệ hoàn thành bài tập và độ chớnh xỏc trong giải bài tập (cho 2 học sinh lớp 3 David và Jeff) bằng việc sử dụng thẻ bỏo cỏo hàng ngày” ở nghiên cứu này khụng cú phộp kiểm chứng nào được sử dụng để kiểm tra kết quả tác động, chỉ quan sỏt đường đồ thị do giỏo viờn ghi chộp rồi đưa ra kết luận về kết quả của tỏc động
Đề tài: “Tỏc dụng của việc kết hợp sử dụng ngụn ngữ cơ thể với lời núi, tranh ảnh để giải nghĩa
từ ngữ trừu tượng trong dạy học mụn Tiếng Việt lớp 3 (trường Tiểu Quảng Lộc)
Nhúm nghiờn cứu đưa ra giả thuyết: Kết hợp sử dụng ngụn ngữ cơ thể kết hợp với lời núi, tranh ảnh để giải nghĩa động từ trừu tượng làm cho kết quả học tập mụn Tiếng Việt của học sinh tốt hơn (HS lớp 3 trường Tiểu học Quảng Lộc)
Bảng thống kờ điểm kiểm tra đầu ra (sau 3 thỏng tỏc động):
HS
Điểm/ số học sinh đạt điểm
Tổng số điểm
Điểm
trung binh
Lớp 3A
(Lớp thực
nghiệm)
Trang 6(lớp rốn chữ) 85 5,66
Bảng So sỏnh điểm trung bỡnh của bài kiểm tra sau tỏc động
Lớp 3B
(lớp rốn chữ)
Kết quả kiểm tra đầu vào của 2 nhúm đối chứng và thực nghiệm tương đương nhau Sau tỏc động, kết quả điểm trung bỡnh mụn Tiếng Việt của nhúm thực nghiệm cao hơn nhúm đối chứng là 1,34 điểm, cú thể kết luận tác động có kết quả, giả thuyết đặt ra là đỳng
– Đề tài: “Tỏc động của việc HS hỗ trợ lẫn nhau đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ của HS THCS trong lớp học mụn Toỏn” (Koh Puay Koon, Lee Li Li, Siti Nawal, Tan Candy & Tan Jing Yang, Trường THCS Dunman, Singapo)
Trong đề tài này, nhúm nghiờn cứu đo hành vi của HS bằng một hệ thống cõu hỏi và so sỏnh kết quả trước và sau tỏc động bằng tỉ lệ phần trăm (số HS lựa chọn cõu trả lời “đồng ý”) để xỏc định sự tiến bộ của học sinh
Bảng: Tổng hợp kết quả “Tự nhận thức về hành vi thực hiện nhiệm vụ”
Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ
3 Tụi khụng lóng phớ thời gian ngồi chờ GV hướng dẫn hoặc phản hồi. 16,2% 16,7% 50% 73,3%
5 Tụi khụng ngồi đếm thời gian đến khi kết thỳc giờ học. 29,7% 61,1% 53,3% 73,3%
Qua bảng trờn cho thấy, kết quả tỏc động được thể hiện ở số phần trăm của cõu trả lời của HS Trước tỏc động số phần trăm thấp hơn kết quả phần trăm sau tỏc động Như vậy cú thể kết luận tỏc động đó cú kết quả và chấp nhận giả thuyết đưa ra là đỳng
2 Đỏnh giỏ đề tài nghiờn cứu:
3 Mục đớch
Trang 7Đánh giá đề tài NCKHSPƯD là đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài, khẳng định giải pháp tác động
là phù hợp có hiệu quả Tuỳ thuộc vào kết quả của đề tài có thể phổ biến cho giáo viên trong trường, trong huyện, trong tỉnh hoặc giáo viên toàn quốc tham khảo và áp dụng Đồng thời qua đánh giá,
GV/CBQL và đồng nghiệp có cơ hội nhìn lại quá trình, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác D&H/ QLGD và công tác nghiên cứu, tìm ra hướng giải quyết mới cho vấn đề nghiên cứu tiếp theo, góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng giáo dục ở các địa phương nói riêng cả nước nói chung
2 Cách tổ chức đánh giá
– Trong thời gian tới đây, NCKHSPƯD sẽ là hoạt động thường xuyên của giáo viên được thực hiện ở các phạm vi khác nhau trong môn học, lớp học, trường học, cấp học Tuỳ thuộc vào cấp độ quản lý để tổ chức đánh giá Ví dụ:
– Ở trường phổ thông do Hội đồng chuyên môn tổ chức đánh giá
– Ở trường sư phạm do Hội đồng khoa học của trường tổ chức đánh giá …
– Hội đồng đánh giá, căn cứ vào các tiêu chí đánh giá để đánh giá, xếp loại đề tài Những đề tài có kết quả tốt cần được biểu dương, khen ngợi kịp thời, coi đây là một tiêu chí quan trọng để xếp loại giáo viên giỏi, giáo viên có thành tích xuất sắc…Đồng thời động viên, khuyến khích GV/CBQL tích cực chuẩn bị cho các nghiên cứu tiếp theo Phổ biến kết quả cho GV trong trường và các trường khác học tập, áp dụng
3 Công cụ đánh giá đề tài NCKHSPƯD
Công cụ đánh giá các đề tài NCKHSPƯD được xây dựng nhằm giúp cho GV/CBQL có đủ cơ sở để đánh giá các đề tài NCKHSPƯD của đồng nghiệp, đồng thời GV/CBQL người thực hiện nghiên cứu có
cơ sở tự đánh giá đề tài nghiên cứu của chính mình Trên cơ sở đó tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm, thúc đẩy hoạt động NCKHSPƯD ngày một hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
A Mục tiêu:
– Nắm được những vấn đề lí luận cơ bản về công tác chủ nhiệm lớp và yêu cầu đối với người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp ở tiểu học trong giai đoạn hiện nay
– Hiểu vị trí, vai trò quan trọng của GVCN đối với lớp chủ nhiệm trong phát triển giáo dục toàn diện học sinh trong giai đoạn hiện nay;
– Có kĩ năng lập hồ sơ chủ nhiệm lớp
– Hiểu và phân tích được nhiệm vụ chung của GVCN cần thực hiện trong năm học;
– Có mối quan hệ tốt với Ban giám hiệu, đồng nghiệp, phụ huynh, Ban đại diện cha mẹ học sinh và cộng đồng
– Có kĩ năng phân tích thực hiện nhiệm vụ chủ nhiệm thông qua các bài học kinh nghiệm bản thân
Trang 8B GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1 Giáo viên chủ nhiệm với công tác quản lý và giáo dục học sinh trong các giờ học chính khóa:
Như chúng ta đã biết, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho học sinh Như vậy, để giáo dục học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp cần tổ chức tốt các hoạt động
và thu hút các em tham gia một cách tích cực nhất Trong trường tiểu học cần tổ chức tốt các hoạt động sau đây:
Học tập là hoạt động quan trọng nhất của học sinh, để giúp cho lớp học tập tốt, giáo viên chủ nhiệm lớp phải chú ý:
Rèn cho học sinh thói quen đi học đầy đủ, đùng giờ, bằng các biện pháp cụ thể sau:
– Giáo viên chủ nhiệm có mặt thường xuyên tại lớp 10 phút trước giờ học mỗi ngày, đặc biệt là những ngày đầu tuần
– Tổ chức 15 phút “ Ôn bài” đầu giờ học mỗi ngày Ôn bài là biện pháp giúp nhau ôn tập nhanh, chuẩn
bị sẵn sàng cho ngày học mới Truy bài đầu giờ còn là biện pháp khắc phục tình trạng đi học muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài
– Thành lập đội “Sao đỏ” của lớp để theo dõi thi đua giữa các tổ và tham gia trực tuần với các lớp trong trường
Rèn cho học sinh thói quen tích cực tham gia học tập bằng các biện pháp sau:
– Tổ chức thi đua giữa các tổ trong lớp, ghi lại số lần tham gia phát biểu ý kiến trong các giờ học
– Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày
– Tổ chức cho học sinh trao đổi về phương pháp đọc sách, ghi chép và sử dụng tài liệu và thảo luận trên lớp
– Nêu gương những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc biệt những học sinh nghèo học giỏi – Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học tập
2 Giáo viên chủ nhiệm với các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tiết cháo cờ, hoạt động của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM
1 Với Tiết chào cờ đầu tuần:
Sau tiết sinh hoạt dưới cờ (tiết đầu tuần), các GVCN nắm danh sách các học sinh (HS) vắng có phép, không phép, đi trễ, hoặc vi phạm nội quy lớp học để GVCN làm việc với các em, quán triệt nội quy hoath động của lớp… Bởi vì trong giờ này, ngoài những vấn đề “thời sự” liên quan đến nhà trường và học sinh, thầy cô còn cung cấp cho học sinh những bài học đạo đức Khi trong lớp có học sinh nào gặp hoàn cảnh khó khăn là thầy cô gợi ý cho lớp thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp một bạn vượt khó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chuyện kỷ luật trong lớp, việc thi đua nội bộ lớp, việc đánh giá học sinh cũng được giáo viên hướng dẫn thực hiện một cách nhẹ nhàng và chân tình
Trang 91 Với hoạt động của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM:
Phối hợp với Tổng phụ trách trong hoạt động Đội – Sao: – Mỗi tiết học hiệu quả hơn nếu nề nếp lớp học tốt Bởi vậy, cần phối hợp với ban thi đua yêu cầu chấm điểm về nề nếp lớp học và trao đổi các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp
– Trong sinh hoạt 15 phút, GVCN định hướng cho các em phụ trách sao (HS 4-5) đến giao lưu chi đội các lớp bằng một số hoạt động giao tiếp hàng ngày đơn giản; hay kiểm tra bảng cửu chương, kỹ năng tính toán, thi vẽ tranh Vậy là chỉ 15 phút sinh hoạt Sao đầu buổi học các em được rèn rất nhiều kỹ năng nhờ vào anh chị phụ trách Sao
3 Giáo viên chủ nhiệm với công tác quản lý và giáo dục học sinh 2 buổi/ ngày
Dạy học cả ngày, GVCN có cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy phân hoá HS, có thời gian bù đắp lỗ hổng kiến thức cho HS yếu, có điều kiện tốt nhất để phát triển năng lực tư duy cho HS khá giỏi Ngoài
ra, dạy học cả ngày, GV có thể tạo những sân chơi thật bổ ích cho việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh Lâu nay, trong dạy học GV đã thực sự đổi mới từ việc chọn nội dung, hình thức, thời lượng, đồ dùng dạy học, cách đánh giá,… cho phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục (GD)
Trong giai đoạn hiện nay, công tác chủ nhiệm lớp ngày càng đòi hỏi sự dày công của người giáo viên hơn nữa; bởi trong một xã hội đang phát triển, mặt trái của kinh tế thị trường có tác động đến việc hình thành nhân cách của học sinh, bên cạnh đó để mưu sinh nên không ít phụ huynh đã giao phó việc giáo dục con cái cho nhà trường Vì vậy, thầy cô giáo chủ nhiệm giống như người cha, người mẹ thứ hai của các em Chính vì thế mà công tác chủ nhiệm đòi hỏi ở các thầy, cô phải có nhiều kinh nghiệm và sự hy sinh cao cả
* Công tác chủ nhiệm lớp là hệ thống những kế hoạch, những biện pháp mà người giáo viên đã đưa ra nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện tốt những nhiệm vụ của mình do nhà trường, Đoàn, Đội đưa
ra Bao gồm:
– Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp
+ Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn
+ Học sinh khuyết tật
+ Học sinh cá biệt về đạo đức
+ Học sinh yếu
+ Học sinh có những năng lực đặc biệt
– Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra
– Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh
– Đầu tư, tổ chức các phong trào trong nhà trường
– Nêu gương và khen thưởng
4 Vấn đề phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với Ban đại diện cha mẹ học sinh
– Giáo viên chủ nhiệm là người nắm rõ mọi chủ trương, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, do đó trở thành “nhịp cầu” trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường với Ban đại diện cha mẹ học sinh Mặt khác, thu nhận thông tin, ý kiến, nguyện vọng của cha mẹ học sinh để báo lại với lãnh đạo nhà trường
Từ đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh Sự phối hợp giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh với giáo viên chủ nhiệm được thực hiện có tổ chức theo kế hoạch chung của nhà trường bằng những cuộc họp định kỳ Thông qua những cuộc họp này, giáo viên chủ nhiệm ngoài việc truyền đạt chủ trương, thông báo của nhà trường, còn trực tiếp báo cáo với cha mẹ học sinh về thực trạng của lớp, tình hình học tập, tư cách đạo đức của từng học sinh Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải bám sát, gần gũi, có trách nhiệm và tình thương để có những nhận xét, đánh giá phân minh nhất đối với từng đối tượng – điều này sẽ giúp phụ huynh học sinh tin tưởng đối với việc giáo dục của nhà trường và kịp thời chấn chỉnh việc học và tác phong đạo đức học sinh
Trang 10– Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn chủ động liên hệ mời phụ huynh đến trường hoặc giáo viên chủ nhiệm đến nhà trao đổi riêng, bàn bạc giải pháp giáo dục và khắc phục những sai phạm của học sinh
– Mỗi lớp đều có ban chấp hành chi hội, giáo viên chủ nhiệm tham vấn với ban chấp hành chi hội nhằm
có những hành động thiết thực để động viên, quan tâm đúng mức với mọi hoạt động của lớp, của trường Mặt khác, để nắm bắt những hành động sát thực của học sinh ở trường, lớp, giáo viên chủ nhiệm mời đại diện chi hội cùng tham gia sinh hoạt lớp, tiếng nói động viên, căn dặn của phụ huynh học sinh cũng có tác dụng tích cực trong việc giáo dục đạo đức học sinh, đây cũng là cơ hội gặp gỡ để phụ huynh học sinh trao đổi những suy nghĩ, mong muốn của gia đình trong việc giáo dục Sự phối hợp chặt chẽ đó sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm hiểu cặn kẽ hơn từng đối tượng học sinh và có phương pháp phù hợp cho từng đối tượng (đặc biệt là những học sinh cá biệt, có hành vi, lối sống lệch chuẩn)
– Gia đình là nơi đầu tiên và có trách nhiệm cao hơn cả trong việc hình thành nhân cách học sinh Song
có những gia đình thiếu kiến thức sư phạm nên đi ngược lại với mục tiêu giáo dục của nhà trường Do
đó, giáo viên chủ nhiệm có liên hệ, trao đổi với phụ huynh học sinh thì mới thống nhất được phương pháp giáo dục hiệu quả
5 Giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục học sinh cá biệt
a Thưc trạng vấn đề
Từ thực tiễn của nhà trường, hiện nay học sinh cá biệt, chưa ngoan không phải là phổ biến nhưng ở trường nào cũng chịu ảnh hưởng bởi đối tượng học sinh này đối với phong trào chung của lớp, chúng gây ảnh hưởng thường xuyên đến kết quả thi đua của bạn bè toàn lớp Nhìn chung những biểu hiện của các em là chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội Bên cạnh còn có nhiều nguyên nhân khác gây ra:
b Nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt:
– Các em đi học do gia đình ép buộc
– Do tác động của xã hội, bị bè bạn không tốt lôi kéo
– Sự kích động của phim ảnh, các trò trơi bạo lực từ game
– Chưa có sự quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái
– Do gia đình khá giả, chỉ biết cung cấp tiền cho con mà không quan tâm đến kết quả học tập của con mình, dẫn đến tính ỷ lại
– Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải làm thêm giúp gia đình nên thường xuyên bỏ học, học lực sa sút
– Do cho mẹ ly hôn, dẫn đến buồn chán
– Do lớp học có quá nhiều học sinh yếu, kém…
Bên cạnh cũng có thể một số nguyên nhân xuất phát từ giáo viên như:
* Đối với giáo viên bộ môn: