1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài: TRUYỀN THÔNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRUNG QUỐC VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

109 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các trang báo mạng đã truyền tải thể hiện đường lối, chính sách của Trung Quốc trong vấn đề xung đột biển Đông và tạo ra những ảnh hưởng nhất định như tạo ra nhiều luồng dư luận khác nha

Trang 1

ĐÔNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

(Nghiên cứu trường hợp Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo)

Người thực hiện: Phạm Thị Nhung Sinh viên : Ngành Trung Quốc học Đại học KHXH&NV – ĐHQGHN

Hà Nội, 2013

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc 3

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5

3 Giới thuyết vấn đề, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

: 10

: 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của đề tài 12

7 Kết cấu khóa luận 12

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 , HẢ ỐI VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG 13

1.1 Nhận thức của Trung Quố ạng điện tử ết sách ngoại giao 13

1.1.1 Đối với Nhân dân nhật báo 17

1.1.2 Đối với Hải Nam nhật báo 19

1.2 Phương thức truyền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc về vấn đề xung đột biển Đông 20

1.2.1 So sánh số lượng, nội dung thể hiện và tần số các sự kiện 20

1.2.1.1 So sánh về số lượng bài báo 20

1.2.1.2 So sánh nội dung thể hiện 21

1.2.1.3 So sánh về tần số các sự kiện chủ yếu 26

Trang 3

CHƯƠNG 2 TÁC ĐỘNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRUNG QUỐC

TỚI NHẬN THỨC DƯ LUẬN 29

2.1 Tác động tới dư luận trong nước 29

2.2 Tác động tới dư luận ngoài nước 34

2.3 Tác động tới quan hệ Việt – Trung 37

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG XỬ CỦA VIỆT NAM TRƯỚC

TRUYỀN THÔNG TRUNG QUỐC 41

3.1 Nhìn nhận lại tình hình phát triển của báo mạng Việt Nam 41

3.2 Một số giải pháp ứng xử của Việt Nam đối với truyền thông Trung Quốc 43 3.2.1 Đối với cơ quan quản lý báo chí 43

3.2.2 Đối với cán bộ làm công tác truyền thông 44

3.2.3 Đối với công tác định hướng dư luận 47

KẾT LUẬN 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 64

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Biển Đông là một vùng biển được xác định trữ lượng dầu mỏ khoảng 1,2km3, ước tính tổng khối lượng khoảng 4,5km3 Trữ lượng khí gas tự nhiên ước tính khoảng 7500km3[61] Đây còn là vùng biển chiếm một phần ba toàn

bộ đa dạng sinh học biển trên thế giới, đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới có ý nghĩa vô cùng quan trọ

đối với mỗi quốc gia Hơn nữa, biển Đông có vị trí quan trọng và chiến lược về hàng hải quốc tế cho nên nó cũng chính là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột nhất và trở thành điểm nóng tiềm tàng về an ninh của khu vực Châu

Á – Thái Bình Dương như ông Pitsuwan có nhận định Biển Đông có nguy cơ trở thành Palestine của Châu Á [62]

, xung đột trên biển Đông đã xuất phát từ rất sớm Chúng tôi tạm tính từ mốc tháng 3 năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông Trung Quốc đã cử một đội đến khảo sát và đến tháng 6 năm 1909 thì cử Đô Đốc Lý Chuẩn tới quần đảo Hoàng Sa [63] Xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục leo thang khi ngày 1/7/1947 Bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố thu hồi lại các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền trên quần đảo này, rồi đến năm 1948, Trung Quốc đưa ra bản đồ ―Đường lưỡi bò‖ bao gồm gần hết biển Đông Đặc biệt trong những năm gần đây, những tranh chấp, xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng trở nên căng thẳng bắt đầu

từ sự kiện 3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm nhập vào lãnh hải Việt Nam cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam trong ngày 26 tháng 5 năm 2011 Cũng

vì lí do này nên chúng tôi quyết định lấy mốc thời gian từ năm 2011 để tiến hành nghiên cứu đề tài này

Trang 5

3 Hơn nữa, trong những năm gần đây, những chính sách của Trung Quốc về biển Đông, đặc biệ ng Internet, đã làm cho xung đột trên biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam ngày càng căng thẳng hơn Các trang báo mạng đã truyền tải thể hiện đường lối, chính sách của Trung Quốc trong vấn đề xung đột biển Đông và tạo ra những ảnh hưởng nhất định như tạo ra nhiều luồng dư luận khác nhau, lợi dụng niềm tin của dư luận để thực hiện ý đồ lấn chiếm biển Đông, hay xây dựng chủ nghĩa dân tộc của mình,…Trong khi đó, truyền thông báo mạng của Việ

ốc trong vấn đề xung đột biển Đông nên chưa có những phản ứng hợ

, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề nghiên cứu về “truyền thông của

báo mạng điện tử Trung Quốc với vấn đề xung đột Biển Đông từ năm 2011 đến nay” làm đề tài nghiên cứ

2 Lịch sử nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi tập trung và chủ yếu vào những xung đột gần đây nhất về biển Đông Vì vậy, trong phần lựa chọn lịch sử vấn đề này chúng tôi chủ yếu xoay quanh những công trình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp tới vấn đề xung đột biển Đông như những luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ nghiên cứu về vấn đề ngoại giao truyền thông, đặc biệt là truyền thông trong xung đột biển Đông của các học giả Trung Quốc và Việt Nam

Trên cơ sở điểm luận 87 tài liệu, trong đó có 52 tài liệu tiếng Việt, 35 tài liệu tiếng Trung Trong 34 tài liệu tiếng Trung có 10 tài liệu là các luận

Trang 6

văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ về vấn đề ngoại giao truyền thông của Trung Quốc chúng tôi bước đầu dựng lên bức tranh tổng quan về nghiên cứu về vấn

đề nghiên cứu này như sau:

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc

Ở Trung Quốc tình hình nghiên cứu về ―ngoại giao truyền thông‖ cũng

có khá nhiều học giả, và thường là các luận văn thạc sỹ hoặc tiến sỹ Tuy nhiên, nghiên cứu vấn đề truyền thông ở Biển Đông không có nhiều, chủ yếu

là các nghiên cứu ảnh hưởng, vai trò của truyền thông trong ngoại giao

Hướng nghiên cứu thứ nhất chủ yếu phân tích ảnh hưởng của báo mạng điện tử với chính sách ngoại giao Trong các tài liệu chúng tôi sưu tầm

được, chủ yếu là nghiên cứu ảnh hưởng của truyền thông, các mạng điện tử tới các quyết sách ngoại giao của Trung Quốc Tiêu biểu là luận văn thạc sỹ

của Hàn Tự, Đại học Ngoại giao nghiên cứu về “ảnh hưởng của các báo

mạng Internet tới chính sách ngoại giao của Trung Quốc” – luận văn bảo vệ

tháng 6 năm 2011, luận án tiến sỹ của Ngô Lập Tân – trường Trung ương

Đảng Trung Quốc nghiên cứu về ―ảnh hưởng của phương tiện truyền thông

Trung Quốc với truyền thông quốc tế” bảo vệ tháng 7 năm 2011,…Trong

luận văn của tác giả Hàn Tự đã tiến hành phân tích vai trò, mối quan hệ giữa các báo mạng Internet và chính sách ngoại giao Tác giả cũng tiến hành phân tích các phương thức tác động của báo mạng Internet tới các quyết sách ngoại giao, sau đó phân tích và tổng kết lại những ảnh hưởng của báo mạng đối với chính sách ngoại giao Còn trong luận án tiến sỹ của tác giả Ngô Lập Tân này chủ yếu đề cập đến những vấn đề như mối quan hệ giữa truyền thông quốc tế

và dư luận, nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của truyền thông Trung Quốc với truyền thông quốc tế, Trong luận án này, tác giả đã phân tích khá sâu và rộng các vấn đề liên quan đến dư luận, truyền thông Trung Quốc và truyền

Trang 7

thông quốc tế, giới thiệu cho các độc giả cách nhìn mới hơn về truyền thông nói chung

Hướng nghiên cứu thứ hai là nghiên cứu ảnh hưởng của báo mạng Trung Quốc đối với từng khu vực địa chính trị cụ thể Đó là luận văn liên

quan đến truyền thông ở biển Đông – luận văn thạc sỹ của Liễu Lôi – Đại học

ngoại giao về ―tác dụng và vai trò của các phương tiện truyền thông chính

thống của Trung Quốc đối với vấn đề xung đột Biển Đông – dựa trên quan điểm tác dụng của việc truyền tải tín hiệu‖ – bảo vệ tháng 5 năm 2012 Trong

luận văn này tác giả đã tiến hành khảo sát, thống kê trong 2 năm là 2010 và

2011 trên 2 báo mạng chính thống của Trung Quốc là Nhân dân nhật báo và

Tân Hoa Xã Thông qua việc thống kê, nghiên cứu phân tích các bài tin trên Tân Hoa Xã và Nhân dân nhật báo làm rõ những tác dụng truyền tải mà các

nhà báo đã phát huy được tác dụng của truyền thông chính thống Trung Quốc trong vấn đề xung đột ngoại giao ở biển Đông Tác giả đã đi phân tích nguyên nhân, tác dụng và lợi ích quốc tế của báo mạng truyền thông chính thống Trung Quốc trong xung đột ngoại giao Tác giả cũng kết hợp với tình hình phát triển của dư luận quốc tế để tìm ra hướng đi cho dư luận trong và ngoài nước Luận văn này đã chỉ ra khá rõ vai trò của truyền thông chính thống Trung Quốc trong xung đột ngoại giao, đưa ra những hướng tiếp cận mới cho giới nghiên cứu Ngoài ra, cũng còn một nghiên cứu nữa là nghiên cứu về

―những tác động ảnh hưởng của công chúng đối với chính sách ngoại giao

của Trung Quốc ở Trung Đông” của học giả Vương Tịnh – Đại học ngôn ngữ

quốc tế Thượng Hải năm 2012….Trong luận văn này tác giả tiến hành phân tích lịch sử tác động của dư luận tới chính sách ngoại giao của Trung Quốc ở Trung Đông thông qua các sự kiện,…để chứng minh dư luận đã tác động như thế nào tới chính sách ngoại giao

Có thể nói rằng, những nghiên cứu về ngoại giao truyền thông của Trung Quốc khá nhiều, đặc biệt trong thời gian gần đây khi quan hệ giữa

Trang 8

Trung Quốc và các nước trong khu vực ngày càng phức tạp thì cũng ngày càng thu hút được giới nghiên cứu Trung Quốc Tuy nhiên, có thể khái quát rằng hầu như các nghiên cứu này chỉ đứng trên góc độ là nghiên cứu về quốc gia mình, chứ chưa đứng trên góc độ là người nghiên cứu quốc tế Vì vậy, cũng có một số cách nhìn còn bị hạn chế

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, những nghiên cứu về truyền thông có tương đối nhiều Tuy nhiên, nếu nói nghiên cứu về truyền thông của Trung Quốc nói chung và ảnh hưởng của truyền thông Trung Quốc trong vấn đề xung đột biển Đông thì chưa có Hiện nay, vấn đề biển Đông đang là vấn đề được đông đảo người dân Việt Nam quan tâm Đáp ứng nhu cầu đó, ở Việt Nam cũng đã có Trung tâm nghiên cứu biển Đông trực thuộc Viện nghiên cứu Trung Quốc và Viện biển Đông trực thuộc Bộ Ngoại Giao với website chính thức mang tên

nghiencuubiendong.vn Ở cả Trung tâm nghiên cứu biển Đông và Viện biển

Đông đều có rất nhiều nghiên cứu về biển Đông và trên mọi lĩnh vực Các bài

nghiên cứu được đăng tải trên website nghiencuubiendong.vn với số lượng

nhiều và nội dung phong phú, cấp nhật tin tức khá nhanh như chuyên mục

“Tin tức tuần” thì cập nhật những tin tức mới nhất trong tuần về vấn đề liên

quan tới biển Đông bằng cả tiếng Anh và tiếng Trung Ngoài ra, trong website này còn cung cấp nhiều bài viết của các học giả trên thế giới quan tâm tới vấn

đề biển Đông như bài viết “Biển Đông: ảo tưởng và thực tế‖ của Đại sứ

Rodolfo Severino, nguyên Tổng thư ký ASEAN, phân tích 10 vấn đề mà ông cho là ảo tưởng đang tồn tại xung quanh vấn đề tranh chấp biển Đông [64],

hay bài viết “Biển Đông trên khía cạnh pháp lý”của GS.TS Hasjim Djalal tập

trung phân tích các chủ đề: Khía cạnh pháp lý; bản chất của tranh chấp, các bên tranh chấp và công cụ pháp lý áp dụng để giải quyết tranh chấp tại biển Đông [65]

Trang 9

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có một số trang web khác quan tâm đến các

vấn đề tranh chấp, xung đột ở biển Đông như:website biendong.net, website

biendong.vntime.vn Trong những website này cũng đăng tải nội dung liên

quan đến biển Đông khá đầy đủ và nhanh chóng Trong hai website này cũng cung cấp những thông tin mới về biển Đông, các hồ sơ tư liệu về biển Đông, hay môi trường sinh thái ở biển Đông cũng được quan tâm,… Tuy nhiên, theo như những quan sát của chúng tôi thì hầu như không các nghiên cứu về truyền thông của Trung Quốc nói chung và báo mạng điện tử của Trung Quốc nói riêng thì khá ít

Những nghiên cứu về truyền thông của Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay khá ít và chỉ thấy một vài bài viết về truyền thông của Trung Quốc đăng

trên báo chứ chưa có nghiên cứu ở cấp độ luận văn Nổi bật như có bài viết:

Giới truyền thông với vấn đề biển Đông của Hải Nam – nhà nghiên cứu về

châu Á và Thái Bình Dương đăng trên website của mattran.org của Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bài viết khá sắc sảo và có cái nhìn tổng quan về truyền thông trong và ngoài nước đối với vấn đề biển Đông: Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể như việc dư luận Philippin phản ứng trước hành động của Trung Quốc trên các tờ báo của Philippin như thế nào hay báo chí Việt Nam phản ứng thế nào trước hành động của Trung Quốc, chỉ ra những hành động của truyền thông Trung Quốc,…hay như việc một số cơ quan báo chí né tránh hay lợi dụng vấn đề biển Đông để tạo lợi nhuận cho mình

Ngoài ra, trên các tin tức trên báo mạng Việt nam, chúng ta chỉ thấy báo chí Việt Nam đưa tin các hành động của Trung Quốc trên biển Đông hay bình luận về một số hành động của truyền thông Trung Quốc, bình luận về các bài báo của Trung Quốc chứ chưa có những nhận định, nghiên cứu sâu về truyền thông của Trung Quốc thực chất đang làm gì, vì vậy, giới truyền thông Việt Nam chưa đưa ra được những giải pháp trước cách ứng xử của truyền

Trang 10

thông Trung Quốc Hơn nữa truyền thông của Việt Nam còn khá yếu, nhất là trong vấn đề xung đột biển Đông

ững nghiên cứu của các học giả đi trước ở cả Trung Quốc

và Việt Nam về nghiên cứu truyền thông với vấn đề biển Đông như về cách thống kê, phân loại các bài báo, cách phân tích các bài báo cũng như tổng hợp, chỉ ra những ảnh hưởng của các báo đó đối với dư luận Trung Quốc,…Tuy nhiên, qua lịch sử nghiên cứu trình bày ở trên, chúng ta cũng vẫn thấy nghiên cứu về truyền thông Trung Quốc với vấn đề xung đột biển Đông mới chỉ nghiên cứu báo mạng trung ương, chưa nghiên cứu về các báo mạng địa phương hoạt đông như thế nào trong vấn đề này Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đi trước, điểm mới trong nghiên cứu này đó là chúng tôi tiến hành nghiên cứu, so sánh không chỉ có báo mạng trung ương mà còn tổng hợp,

phân tích so sánh với báo của địa phương (Hải Nam nhật báo) để từ đó làm

sáng tỏ những cách thức được hai báo sử dụng như thế nào đề truyền tải thông tin về vấn đề xung đột biển Đông

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này, hi vọng sẽ mang lại một hướng nhìn mới cho truyền thông Việt Nam trong vấn đề xung đột biển Đông và hi vọng giới truyền thông Việt Nam hiểu rõ được phần nào truyền thông của Trung Quốc trong ngoại giao nói chung và xung đột biển Đông nói riêng, từ đó có những giải pháp ứng xử tốt trước những hành động của truyền thông Trung Quốc

3 Giới thuyết vấn đề, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

1 Về giới thuyết của đề tài: Khái niệm về truyền thông tương đối rộng

và nhiều, hơn nữa truyền thông nói chung bao gồm rất nhiều lĩnh vực Trong khi đó, đối tượng chúng tôi nghiên cứu trong đề tài lại là báo mạng điện tử Vì

Trang 11

vậy, chúng tôi sẽ chỉ đưa ra về khái niệm thuật ngữ Các phương tiện truyền

thông đại chúng Thuật ngữ Các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass

Media hay Mass Communication) bao gồm: sách, báo, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu, báo chí điện tử phát trên mạng Internet [6,9],…Đây cũng chính

là một kênh quan trọng và có hiệu quả nhất của truyền thông Đối tượng của truyền thông đại chúng là đông đảo quần chúng xã hội, không phân biệt là giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Hơn nữa, phương tiện truyền thông

có ảnh hưởng rất lớn đối với ngoại giao như chính sách ngoại giao, truyền thông tác động đến tính phụ thuộc và tính độc lập của chính phủ Còn chính phủ có thể lợi dụng và kiểm soát truyền thông Ngoại giao truyền thông là một loại hình mới, nó hỗ trợ cho quan hệ với ngoại giao hiện đại, truyền thông đại chúng không ngừng phát triển và nó tác động đến ngoại giao trong các vấn đề quốc tế

Trong lịch sử phát triển xã hội, xung đột và việc xảy ra xung đột là điều không tránh khỏi Hơn nữa, khi mà xã hội ngày càng phát triển, cùng với việc tranh giành lợi ích về kinh tế, chính trị thì số vụ xung đột trên thế giới không ngừng gia tăng Vì vậy, việc nghiên cứu về xung đột giữa các nước cũng được giới học giả quan tâm nhiều hơn Những tiền đề của thuyết xung đột được xác lập bởi N Macchiavelli (nhà tư tưởng Ý, 1469-1527), Hobber (nhà triết học Anh, 1588-1679) và Charles Darwin (nhà sinh học Anh, 1809-1882) Thế nhưng, những người được coi là đã tạo nên nền tảng kinh điển cho thuyết xung đột chính là Các Mác (nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, 1818-1883), Marx Weber (nhà xã hội học Đức, 1864-1920) và Georg Simmel (nhà

xã hội học Đức, 1858-1918) Các thuyết xung đột này nhấn mạnh vai trò của xung đột, thừa nhận xung đột tồn tại khách quan, dưới mọi cấp độ, nhất là xung đột giữa các cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và giữa các quốc gia

Nghiên cứu lịch sử cho thấy, xung đột biển Đông diễn ra khá sớm Các tranh chấp chủ quyền trên biển Đông giữa các quốc gia trong khu vực diễn ra

Trang 12

từ sau thế chiến thứ hai Ban đầu các quốc gia tranh chấp vì vị trí chiến lược của biển Đông Đối với Trung Quốc, biển Đông nói chung cũng giống như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí quan trọng do nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là một vùng chiến lược quan trọng, là cổng của Trung Quốc lục địa đi ra thế giới bên ngoài Đối với Nhật Bản thì biển Đông

là con đường huyết mạch, không chỉ nối với Đông Nam Á mà cả với Trung Đông và châu Âu Từ sau khi Công ước Liên hiệp Quốc về Luật Biển 1982 quy định vùng đặc quyền kinh tế, thì tầm quan trọng của việc khai thác tài nguyên, đặc biệt là đánh cá và khai thác dầu khí là nguyên nhân bổ sung cho mục đích tranh chấp của các quốc gia có quyền lợi ở biển Đông Tuy nhiên, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trên biển Đông đã xảy ra từ khá sớm và nó thật sự bắt đầu từ năm 1974 trở đi, những vụ đụng độ về chủ quyền trên biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn

2 Về đối tượng nghiên cứu của đề tài: chủ yếu là hai trang báo mạng

điện tử của Trung Quốc là : Nhân dân nhật báo (đại diện cho báo mạng Trung ương) và Hải Nam nhật báo (đại diện cho báo mạng địa phương) của Trung

Quốc Chúng tôi tiến hành thống kê, tổng hợp và phân tích các bài báo trên hai báo này từ năm 2011 đến ngày 15/4/2013

3 Về phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong nghiên cứu này, chúng tôi

chỉ tập trung vào tìm hiểu nội dung các bài báo có liên quan đến vấn đề xung đột biển Đông được đăng tải trên hai trang web của hai báo này Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo thêm một số tài liệu tiếng Việt có liên quan đến lĩnh vực truyền thông

Tuy nhiên, đây là lĩnh vực nghiên cứu khá mới ở Việt Nam nên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng bị hạn chế bởi tài liệu và ngôn ngữ

Trang 13

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

:

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu vào 3 mục tiêu sau:

thông, đặc biệt là các trang báo mạng điện tử của Trung Quốc trong vấn đề xung đột Biển Đông

- Thứ hai, chỉ ững ảnh hưởng, tác động của hai báo mạng trên trong việc truyền thông về vấn đề xung đột biển Đông đối với dư luận của Trung Quốc cũng như nước ngoài như thế nào

- Thứ ba, trên cơ sở hiểu được cách thức hoạt động của báo mạng điện

tử Trung Quốc, đưa ra một số gợi ý giải pháp ứng xử cho truyền thông Việt Nam trong vấn đề xung đột biển Đông

Trang 14

- ền thông của báo mạng điện tử Trung Quốc đưa ra một số đề xuất ứng xử cho truyền thông

Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phương pháp nghiên cứ

ờng hợp là Nhân dân nhật báo và Hải Nam

nhật báo để tiến hành nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: phương pháp phân tích tổng hợp

là phương pháp thông qua sự tương đồng của một vấn đề trung tâm, có thể tiến hành phân tích các tài liệu, đối tượng có nguồn gốc tư liệu không giống nhau, so sánh kết quả định lượng từ các mẫu của các đối tượng khác nhau, từ

đó tìm ra sự khác biệt giữa chúng Và cuối cùng sẽ tổng kết lại vấn đề, chỉ ra những điểm mới phát hiện trong vấn đề Chúng tôi dùng phương pháp này để phân tích các bài báo trên hai báo mạng có nội dung xoay quanh vấn đề xung đột biển Đông, từ đó tổng hợp về số lượng bài báo, nội dung các bài báo

thuộc nội dung là đưa tin hay là bài bình luận,…

- Phương pháp so sánh:

ạng trung ương và báo địa phương của Trung Quốc trong phương thức hoạt dộ

ển Đông là gì?, Vì vậ

ại những bài báo có nội dung liên quan

đến xung đột biển Đông rồi sau đó tổng hợp các vấn đề của đề tài

Trang 15

6 Đóng góp của đề tài

Chúng tôi hi vọng thông qua đề tài này có thể đóng góp phần nào hiểu biết của mình đối với nghiên cứu biển Đông, đưa ra những hướng nhìn mới

mẻ cho Việt Nam khi tiếp cận về vấn đề này

những cách nhìn khái quát nhất về báo mạng Trung Quốc, qua đó rút ra những lý thuyết chung về cách thức mà Trung Quốc đã sử dụng để truyền thông trong vấn đề xung đột biển Đông

- Về mặt thực tiễn: Đề tài cũng cung cấp những nghiên cứu, những cái

nhìn mới nhất về truyền thông của Trung Quốc nói chung và báo mạng điện

tử Trung Quốc nói riêng trong vấn đề xung đột biển Đông Qua đó cũng cung cấp thêm một nguồn tư liệu mới cho những nghiên cứu tiếp theo về nghiên cứu biển Đông

Về quan hệ ngoại giao hai nước Việt Nam – Trung Quốc: Chúng tôi hi vọng thông qua nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần cung cấp một lượng kiến thức về Trung Quốc để Việt Nam có thể hiểu Trung Quốc và có những chính sách hợp lí trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền Việt Nam

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và Phụ lục khóa luận được chia làm 3 chương với nội dung chính của các chương như sau:

Chương 1: Vai trò và phương thức truyền thông của Nhân dân

nhật báo, Hải Nam nhật báo đối với vấn đề đến xung đột biển Đông

Chương 2: Tác động của báo mạng điện tử Trung Quốc tới nhận

thức dư luận

Chương 3: Một số giải pháp ứng xử của Việt Nam trước truyền

thông Trung Quốc

Trang 16

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

, HẢ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT BIỂN ĐÔNG

1.1 Nhận thức của Trung Quố ạng điện tử ết sách ngoại giao

Đầu những năm 90 của thế kỉ 20, mạng truyền thông mới bắt đầu xâm nhập vào thị trường Trung Quốc, nhưng phải đến giữa những năm 90 nó mới nhận được sự quan tâm của Đảng và chính phủ Trung Quốc Ra đời muộn hơn báo in, báo nói nhưng gắn liền với băng thông rộng cơ sở hạ tầng kĩ thuật cao, tin tức cập nhật, nội dung phong phú, hình thức sinh động nên báo điện

tử Trung Quốc đã thu hút được một số lượng lớn bạn đọc Theo số liệu thống

kê mới nhất của Trung tâm điều tra, thống kê phát triển mạng Trung Quốc báo cáo tháng 1 năm 2013, tính đến cuối tháng 12 năm 2012, Trung Quốc có

khoảng 564 triệu người sử dụng Internet [66]

Qua con số thống kê trên đã chứng tỏ mạng Internet ở Trung Quốc cực

kỳ phát triển và phát triển với tốc độ chóng mặt Trong các Đại hội của Đảng cộng sản Trung Quốc đều xác định rõ ràng vai trò của truyền thông chính là công cụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Trung Quốc Báo mạng điện tử ngày càng có vai trò quan trọng, là phương tiện truyền thông hữu hiệu nhất để tuyên truyền cho chính sách ngoại giao, đường lối, chính sách phát triển của Đảng cộng sản Trung Quốc

Trang 17

Đặc biệt trong Đại hội Đảng lần thứ 18 vừa diễn ra, Tập Cận Bình – Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khóa 18

đã công bố công khai các ý tưởng và chính sách để phát triển các phương tiện truyền thông Trong đó, các phương tiện truyền thông chính thống phải là

công cụ thể hiện các quyết sách ngoại giao Trung Quốc Đặc biệt, khi Trung

Quốc coi ―Đường lưỡi bò‖ là lợi ích cốt lõi thì Nhân dân nhật báo – đại diện cho trung ương và Hải Nam nhật báo – đại diện cho địa phương có lợi ích

liên quan trực tiếp đến của hai quần đảo cần phải sử dụng truyền thông như một công cụ của chính quyền Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh, các phương tiện truyền thông chính thống này cần lấy tiêu chí ―nhanh, ngắn, thực tế, mới‖ [51] làm tiêu chí phát triển để tạo ra luồng gió mới cho truyền thông

Lấy tiêu chí đó, ngay đầu năm mới, Nhân dân nhật báo có đưa tin trong năm mới (2013), Nhân dân nhật báo sẽ cố gắng nói sự thật, việc thật, để bài

viết có chất lượng, hợp lí, ngôn ngữ gần gũi, hấp dẫn người đọc, khả năng hiển thị và hợp lí với người đọc, là một dịch vụ thực sự cho người đọc

Trong nghiên cứu này,,chúng tôi sẽ nghiên cứu theo hai loại hình báo

mạng ở Trung Quốc, đó là báo mạng trung ương (trường hợp Nhân dân nhật

báo, ) và báo địa phương (trường hợp Hải Nam nhật báo, ) để thấy cách thức

Trung Quốc áp dụng cho hai loại hình báo này trong vấn đề tuyên truyền biển Đông

Hai báo mạng trên đều là những báo mạng chính thống của Trung Quốc Bởi vậy, nó cũng đã sớm được quan tâm, định hướng cho việc phát triển của mình Hiện nay, ở Trung Quốc chưa có một khái niệm hoàn chỉnh và chính xác về truyền thông chính thống nhưng có thể khái quát ở một số điểm theo

Tân Hoa Xã trong ― Nghiên cứu về sức ảnh hưởng và hiệu quả của dư luận”,

Trang 18

thành quả nghiên cứu được công bố năm 2004 [21,4-5] cho rằng truyền thông chính thống có 6 tiêu chuẩn:

Thứ nhất, là cơ quan ngôn luận của Đảng, chính phủ và nhân dân,

truyền thông báo chí khó có thể so sánh bởi vị trí độc quyền và ảnh hưởng đặc biệt, đại diện cho sự uy quyền của chủ trương, ý chí và tiếng nói của Đảng, chính phủ và đa số quần chúng nhân dân, cộng đồng trong và ngoài nước

Thứ hai, thể hiện hình thái ý thức chính thống trong truyền thông xã hội

cùng giá trị quan chính thống, là hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa, thích hợp với giá trị quan, duy trì và hướng dẫn phát triển xã hội chủ đạo theo con đường của Đảng cộng sản Trung Quốc, phải có sức ảnh hưởng lớn

Thứ ba, phải có độ tin cậy lớn Căn cứ dựa trên những hành động và

suy nghĩ, đưa ra những báo cáo và bình luận giành được sự quan tâm của quần chúng nhân dân Phân tích và đánh giá, trích dẫn các thông tin truyền tải truyền thông trong và ngoài nước

Thứ tư, phải cùng với việc báo cáo tình hình chính trị trong nước và

quốc tế, kinh tế, văn hóa và xu hướng chủ yếu của các lĩnh vực khác, là lịch

sử ghi lại bối cảnh phát triển

Thứ năm, các nhà báo phải là những người đại diện cho quần chúng

nhân dân các giới trong xã hội

Thứ sáu, phải là trang báo có số lượng phát hành lớn, thính giả nhiều,

số lượng tiêu thụ, có ảnh hưởng lớn đối với công chúng

Trong thời kì lịch sử mới, số lượng và chất lượng của các phương tiện truyền thông chính thống đã xuất hiện và có những thay đổi to lớn Tuy nhiên, thuộc tính và vị trí chính trị của nó thì không có thay đổi nhiều Vì vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhấn mạnh, bản chất của Đảng chính là sự biểu hiện tập trung Tính chất báo chí của Đảng chính là sự tập trung thể hiện sự nghiệp báo chí Lý Trường Xuân - Ủy viên thường vụ Bộ chính trị của Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc cùng với tổng biên tập trường truyền

Trang 19

thông của trung ương Đảng một lần phát biểu đã chỉ ra rằng việc giai cấp tư sản cho rằng tuyên truyền tin tức trên những tờ báo chính là những ―công cụ

xã hội‖, ―quyền lực thứ tư‖, phản đối việc quản lí tin tức, thực chất là việc phủ định nguyên tắc tin tức của Đảng, phủ nhận tính chất của các phương tiện thông tin là cơ quan ngôn luận của Đảng và nhân dân, phủ nhận công tác lãnh đạo của Đảng đối với thông tin Lý Trường Xuân đã chỉ ra rằng mục đích cuối cùng của giai cấp tư sản là làm nhầm lẫn tư tưởng của mọi người, hủy hoại Đảng và Nhà nước Trung Quốc

Bản chất của báo chí chính là sự khách quan, là cơ quan ngôn luận của nhân dân Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, giới lãnh đạo Trung Quốc đã khai thác triệt để tính chính trị của báo chí, sử dụng báo chí là công cụ để tuyên truyền cho đường lối, sức mạnh của Đảng cộng sản Trung Quốc Vì vậy, Tập Cận Bình, Lý Trường Xuân hay giới lãnh đạo của Trung Quốc đã nhận thức rất rõ về đặc trưng của báo chí và họ đã biến báo chí trở thành một công cụ hữu hiệu của chính quyền từ trung ương cho tới địa phương Đặc biệt đối với vấn đề xung đột biển Đông, Trung Quốc đã thực sự biến truyền thông trở thành công cụ ―quyền lực thứ tư‖, Trung Quốc đã biến từ việc trên lịch sử pháp lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt nam và Trung Quốc không hề có chủ quyền trên hai quần đảo này, đến nay với việc sử dụng phương tiện truyền thông, Trung Quốc đã tuyên truyền từ cái không thể thành

có thể với nhân dân trong nước về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Còn với dư luận quốc tế Trung Quốc dường như

đã mặc định rằng Trung Quốc có chủ quyền trên hai quần đảo trên Báo mạng điện tử Trung Quốc đã tuyên truyền làm sai lệch thông tin về biển Đông, tạo

ra những dư luận không tốt, gây hiểu nhầm và kích động chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc

Trang 20

1.1.1 Đối với Nhân dân nhật báo

Trong bối cảnh chính trị và thể chế của Trung Quốc, truyền thông đã sớm được xác định vai trò quan trọng trong chính trị cũng như ngoại giao của

Trung Quốc Chúng tôi tiến hành khảo sát trường hợp Nhân dân nhật báo làm đại diện tiếng nói của Trung ương vì Nhân dân nhật báo là tờ báo đại diện

cho cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng cộng sản Nhân dân Trung Quốc

Nó có tầm quan trọng rất lớn và dành được sự quan tâm của đông đảo dư luận trong và ngoài nước

Nhân dân nhật báo có lịch sử bề dày là công cụ truyền tải những

đường lối, quyết sách của Đảng cộng sản Trung Quốc Đặc biệt, từ khi Nhân

dân nhật báo được mở rộng quy mô trở thành trang mạng lớn – là cơ quan

ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc thì nó càng phát huy vai

trò chính trị của mình Do đó, Nhân dân nhật báo có một vị trí quan trọng

trong báo mạng điện tử Trung Quốc

Hiện nay, báo mạng Nhân dân nhật báo sử dụng 15 ngôn ngữ, 16 loại

văn bản khác nhau, có khoảng hơn 70 cơ sở trong và ngoài nước Mỗi ngày mỗi giờ luôn cập nhật những thông tin mới nhất và phong phú Những nội dung của báo luôn được công khai phát hành gồm các nội dung phát biểu trên

Nhân dân nhật báo và Nhân dân nhật báo hải ngoại Nhân dân nhật báo là tờ

báo có ảnh hưởng khá lớn ở Trung Quốc và trên thế giới, vì vậy số liệu của báo này có thể nói là khá chính xác

Bài phát biểu của chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày 20 tháng 6 năm 2008,

trong chuyến thăm nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Nhân dân nhật báo đã khẳng định sự quan tâm đặc biệt của Trung ương Đảng Trung Quốc tới Nhân

dân nhật báo Nhân dân nhật báo đã luôn truyền đạt đúng những tư tưởng,

đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Trung Quốc và có vai trò quan trọng

Trang 21

trong công cuộc cải cách và xây dựng đất nước Đặc biệt từ sau cải cách đến

nay, Nhân dân nhật báo đã tuyên truyền sâu rộng hệ thống lí luận Chủ nghĩa

xã hội mang đặc sắc Trung Quốc Hơn nữa Nhân dân nhật báo luôn phát huy

tốt vai trò của mình đối với việc định hướng tư tưởng của nhân dân và định

hướng công chúng dư luận Nhân dân nhật báo là bộ mặt của Trung ương

Đảng Trung Quốc, vì vậy Hồ Cẩm Đào đã chỉ ra rằng sự nghiệp phát triển của Nhân dân nhật báo phải theo đi định hướng của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, yêu cầu mọi thông tin cần phải có tính chuẩn xác, nhanh nhạy, phải làm tốt công việc là mối liên hệ giữa Đảng cộng sản Trung Quốc với nhân dân, thúc đẩy sự phát triển hòa hợp của xã hội [67] Trong bài phát biểu

này, ông cũng đưa ra nhiệm vụ phát triển trong thời gian tới cho Nhân dân

nhật báo:

Thứ nhất, phải luôn luôn tuân thủ theo nguyên tắc của Đảng, định

hướng cho dư luận

Thứ hai, phải lấy nhân dân làm gốc, tăng cường mối liên hệ giữa các

bài tin tức, tăng tính hấp dẫn cho các bài báo

Thứ ba, Nhân dân nhật báo phải không ngừng đổi mới, nâng cao tính

hiệu quả và phù hợp để định hướng dư luận

Thứ tư, phải không ngừng mở rộng báo mạng chính thống mà phải

thành lập các báo mạng mới, tạo ra nhiều định hướng cho dư luận

Thứ năm, ông nhấn mạnh Nhân dân nhật báo phải việc xây dựng đội

ngũ, bồi dưỡng nhân tài để làm tốt công tác tuyên truyền đường lối của Đảng

Trang 22

1.1.2 Đối với Hải Nam nhật báo

Đối với vấn đề xung đột biển Đông, Hải Nam nhật báo với tư cách

trang mạng Internet đại diện của Hải Nam – tỉnh có tranh chấp trực tiếp với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã thể hiện rất mạnh mẽ các quan điểm bảo vệ cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc Vì vậy, mọi thông tin liên quan đến xung đột ở biển Đông sẽ được trang báo này cập nhật liên

tục, nhanh chóng, kèm theo rất nhiều bình luận Hải Nam nhật báo hoạt động

với phương châm tuân thủ nguyên tắc của một báo chính trị, tuân thủ định

hướng dư luận, Hải Nam nhật báo là trang báo đưa tin về xung đột biển Đông

với lượng bài tương đối nhiều

Hải Nam nhật báo là một nhánh đưa tin tức nằm trong hệ thống đưa tin

của mạng biển Đông Trung Quốc bao gồm Nam quốc đô thị báo, Hải Nam

nhật báo, pháp chế thời báo, Nam đảo báo chiều, chứng khoán đạo báo và báo

mạng biển Đông Vì vậy, thông tin cũng khá nhanh nhạy về những vần đề liên quan đến Hải Nam

Thông qua nhận thức của Trung Quốc đối với vai trò của báo mạng điện tử trong vấn đề xung đột biển Đông có thể thấy, chính phủ nước này rất chú trọng với việc biến báo mạng thành một công cụ tuyên truyền nhằm tạo dựng nhận thức dư luận có lợi cho Trung Quốc trong vấn đề biển Đông Thông qua các trang mạng Internet, Trung Quốc đã xây dựng niềm tin đối với nhân dân của mình về chủ quyền của họ trên biển Đông Việc tạo dựng dư luận này một mặt biện minh cho các hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, mặt khác, còn kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan làm tổn hại nghiêm trọng tới tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước

Trang 23

1.2 Phương thức truyền thông của những bài báo của báo mạng Trung Quốc về vấn đề xung đột biển Đông

Trong quá trình thống kê, phân loại chúng tôi đã tiến hành so sánh các bài báo liên quan đến vấn đề xung đột biển Đông của hai báo trên với ba tiêu chí: so sánh số lượng các bài báo có nội dung liên quan đến vấn đề xung đột biển Đông của hai báo mạng trên từ năm 2011 đến 15/04/2013; so sánh nội dung thể hiện của các bài báo Trong nội dung thể hiện sẽ chia làm ba lĩnh vực: thông tin, phỏng vấn và bình luận; so sánh tần số các sự kiện chủ yếu Trong đó bao gồm: trao đổi cấp cao, các bài viết của nhà báo (nguồn tin chính

thức từ Hải Nam nhật báo và nguồn tin chính thức từ Nhân dân nhật báo) và

các hoạt động khác

1.2.1 So sánh số lượng, nội dung thể hiện và tần số các sự kiện

1.2.1.1 So sánh về số lượng bài báo

Biểu đồ 1: Tình hình số lượng bài báo trên Hải Nam nhật báo về vấn

đề xung đột biển Đông trong 3 năm 2011, 2012 và 4 tháng đầu năm 2013

Trang 24

Biểu đồ 1 cho thấy, trong 3 năm 2011 – 2013 số lượng bài báo viết về xung đột biển Đông tăng đột biến vào năm 2011 Sở dĩ như vậy vì, năm 2011

là thời điểm xung đột biển Đông diễn ra và nó có nhiều biến động nhất trong quan hệ hai nước Việt – Trung

Trong biểu đồ 2, chúng ta cũng thấy, Nhân dân nhật báo cũng có thời

điểm đăng tải số lượng bài báo nhiều nhất vào tháng 6, 7, 8 của năm 2011 Còn trong năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013, số lượng bài khá ít và hầu như

là không có bài

Biểu đồ 2: Tình hình số lượng bài báo trên Nhân dân nhật báo về vấn

đề xung đột biển Đông trong 3 năm 2011, 2012 và 4 tháng đầu năm 2013

1.2.1.2 So sánh nội dung thể hiện

Trên cơ sở căn cứ phân loại theo thông tin, phỏng vấn và bình luận,

biểu đồ 3 dưới đây cho thấy, trong hơn 2 năm qua, các tin của Hải Nam nhật

báo chủ yếu được đăng tải dưới hình thức là bình luận (65 bài), bài đưa tin

(57 bài), phỏng vấn (7 bài) Trong khi đó, Nhân dân nhật báo bài đưa tin

chiếm số lượng nhiều nhất (69 bài), bình luận (40 bài) và phỏng vấn (34 bài)

Trang 25

Biểu đồ 3: Các nội dung thể hiện của báo mạng Hải Nam nhật báo về vấn đề

xung đột biển Đông trong giai đoạn 2011 – 4/2013

Điều khác biệt giữa Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo theo chúng tôi chính là cách thức thể hiện nội dung Nhân dân nhật báo chủ yếu bài đưa tin, trong khi đó Hải Nam nhật báo là bài bình luận

Biểu đồ 4: Các nội dung thể hiện của báo mạng Nhân dân nhật báo về vấn đề xung đột biển Đông trong giai đoạn 2011 – 4/2013

Trang 26

Là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung

Quốc, Nhân dân nhật báo thu hút một lượng lớn độc giả trong và ngoài Trung Quốc Khi tìm hiểu kĩ những tin tức mà Nhân dân nhật báo đưa ra thì các

thông tin này thường là thông báo về các hành động của Việt Nam và một số nước khác có chủ quyền ở biển Đông như Philippin Do đó, những thông tin của báo mạng này đưa ra thường có tác động mạnh tới việc tạo dựng nhận thức của dư luận Dưới đây là một số nội dung đưa tin về xung đột biển Đông của báo này:

Trang 27

Bảng 1: Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Nhân dân nhật báo trong vấn đề xung đột biển Đông

Tên bài Ngày đăng Nội dung

Người phát ngôn Bộ

Ngoại giao: cho biết

phản đối hành động

khai thác dầu khí của

Việt Nam tại vùng

biển nước ta

30/05/2011 “Việt Nam đã thực hiện hoạt động khai

thác dầu khí gây thiệt hại quyền lợi và quyền tài phán của Trung Quốc tại vùng biển Nam Trung Hoa Trái với sự nhất trí của hai nước trong vấn đề biển Nam Trung Hoa Trung Quốc bày tỏ phản đối với hành động trên Hành động của Trung Quốc là hoàn toàn bình thường thực thi pháp luật biển để giám sát các hoạt động trong vùng biển thuộc thẩm quyền của Trung Quốc”

[68]

Người phát ngôn Bộ

ngoại giao: Trung

Quốc luôn cam kết

duy trì hòa bình và

ổn định ở biển Đông

04/06/2011 “Trung Quốc luôn cam kết duy trì hòa

bình và ổn định ở biển Đông Việc tàu Trung Quốc bắn cảnh cáo ngư dân Việt nam là hoàn toàn không đúng sự thật”

[69]

Bộ ngoại giao: Yêu

cầu Việt Nam dừng

những hoạt động

xâm phạm ở Nam Sa

10/06/2011 ―Việt Nam đã tiến hành những hành

động khai thác dầu khí phi pháp ở vùng biển Nam Sa,…vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc‖ [70]

Những bài mang tính chất đưa tin được đăng tải liên tục trên Nhân dân nhật báo, tuy nhiên, từng câu chữ trong những bài tin đều mang tính chất cáo buộc

Trang 28

Việt Nam, áp đặt là Việt Nam đã là người xâm phạm tới chủ quyền, lãnh thổ Trung Quốc

Đối với Hải Nam nhật báo, chủ yếu là các bài bình luận nói về các

hành động của Việt Nam hay một số nước khác xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc là không thể chấp nhận được, hay chủ yếu các bài nói về tài nguyên ở biển Đông, lợi ích mà biển Đông mang lại

Bảng 2 Một số dẫn chứng về nội dung thể hiện của Hải Nam nhật báo trong vấn đề xung đột biển Đông

Tên bài báo Ngày

đăng

Nội dung thể hiện

Người phát ngôn Bộ

Ngoại giao: Việt

Nam trong việc lựa

chọn bầu cử ―đại

biểu quốc hội‖ cho

quần đảo Nam Sa

của Trung Quốc

11/05/2011 ―Trung Quốc có chủ quyền không thể

tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa và vùng biển liền kề Bất kỳ hành động đơn phương mà nước khác thực hiện ở quần đảo Nam Sa là vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, là bất hợp pháp và không hợp lê, không phù hợp với tinh thần của tuyên bố về cách ứng

xử của các bên ở biển Đông‖.[ 87] Trung Quốc dựa vào

tài nguyên biển Nam

Trung Quốc để phát

triển kinh tế biển

04/09/2012 ― Biển Hải Nam là một vùng biển có vị

trí quan trọng, nằm trong vùng biển Nam Trung Quốc để củng cố, bảo vệ quốc phòng…có tài nguyên dồi dào, tiềm năng lớn phát triển,…‖[88]

Đó chính là một số điểm khác biệt mà chúng ta dễ dàng nhận thấy giữa hai báo mạng trung ương và địa phương ở Trung Quốc Một báo đưa những

Trang 29

thông tin có khả năng kích động dư luận, khơi gợi tinh thần dân tộc trong mỗi

người dân Trung Quốc (Nhân dân nhật báo), còn một báo lại đưa ra, gợi mở

những lợi ích mà Trung Quốc có thể có do biển Đông mang lại Đó chính là một trong những chiêu thức đã được giới truyền thông Trung Quốc tận dụng triệt để

1.2.1.3 So sánh về tần số các sự kiện chủ yếu

So sánh về tần số các sự kiện chủ yếu bao gồm 3 dạng: trao đổi cấp cao giữa hai nước; nguồn tin chính thức từ báo; đưa tin các hoạt động liên quan đến biển Đông

So sánh biểu đồ 5 và 6 chúng ta có thể thấy sự khác biệt giữa cách truyền thông tin giữa hai báo mạng trên như sau:

Đối với Hải Nam nhật báo phương thức chủ yếu là nguồn tin chính thức từ báo Biểu đồ 5 cho thấy, nguồn tin chính thức từ Hải Nam nhật báo

chiếm 66% số bài viết trong hơn 2 năm qua, số tin tức trao đổi cấp cao chỉ

chiếm có 11% Trong khi đó Nhân dân nhật báo số lượng tin liên quan đến

trao đổi cấp cao giữa các bên chiếm 24% tổng số bài viết, cao gấp 2,2 lần so

với Hải Nam nhật báo

Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đều mang những đặc điểm

của báo mạng chính thống Trung Quốc Trong thời gian xảy ra xung đột, hai báo mạng này luôn đăng tải các sự kiện một cách dày đặc nhằm tạo dựng dư

luận Tuy nhiên, điểm khác giữa hai báo trên là Nhân dân nhật báo với tư

cách là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc thường đưa thông tin các sự kiện, các thông tin trao đổi cấp cao bởi độ khuếch đại lớn của nó không chỉ ở Trung Quốc mà còn trên thế giới Còn trang mạng địa phương

Hải Nam nhật báo tiếp tục đưa lại tin tức của Nhân dân nhật báo kèm theo

Trang 30

những bài bình luận nhấn mạnh hơn quan điểm có lợi cho Trung Quốc trong vấn đề xung đột biển Đông

Biểu đồ 5: Biểu đồ thể hiện các kiểu sự kiện chủ yếu mà Hải Nam nhật báo đưa tin về vấn đề xung đột biển Đông từ năm 2011 đến tháng 4 năm 2013

Biểu đồ 6: Biểu đồ thể hiện các kiểu sự kiện chủ yếu mà Nhân dân nhật báo đưa tin về vấn đề xung đột biển Đông từ năm 2011 đến tháng 4 năm 2013

Tiểu kết:

Trang 31

Thông qua phân tích, so sánh nhiều góc độ khác nhau của các loại tin

đăng tải trên hai mạng có thể thấy, Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo

có số lượng đưa tin mạnh và tần suất liên tục trong thời điểm xảy ra xung đột

Về bản chất, Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đều là công cụ tuyên

truyền của trung ương cũng như địa phương, trong mỗi tin đều thể hiện quan điểm cứng rắn của Trung Quốc về lợi ích và chủ quyền của họ tại biển Đông Đồng thời, các tin về phát ngôn của Trung Quốc đưa ra thường mang tính chất cáo buộc, hay chỉ trích các hành động của Việt Nam trên biển Đông Những thông tin này một mặt đi ngược lại sự thật lịch sử, cơ sở pháp lý và Công ước Luật Biển quốc tế 1982 Mặt khác, nó cũng đi ngược lại tính chất khách quan, trung thực và tôn trọng sự thật của báo chí Có thể thấy khá rõ,

dù là trang mạng của trung ương hay địa phương, hai báo này luôn làm công

cụ tuyên truyền của Trung Quốc trong việc phủ nhận, thay đổi sự thật nhằm phục vụ cho những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc tại biển Đông Điều này đã tác động tiêu cực tới dư luận trong và ngoài Trung Quốc, kích động tâm lý thù địch trong nước đối với nhân dân Việt Nam, gây tổn hại quan hệ giữa hai nước Đây cũng chính là nội dung cơ bản mà chúng tôi sẽ tiếp tục bàn tới ở chương 2

Trang 32

CHƯƠNG 2

TÁC ĐỘNG CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRUNG QUỐC

TỚI NHẬN THỨC DƯ LUẬN

2.1 Tác động tới dư luận trong nước

―Dư luận xã hội chính là phản ứng của các nhóm xã hội khác nhau trước những sự kiện, vấn đề thời sự Những sự kiện, vấn đề thời sự đó lại chính là đối tượng phản ánh của báo chí [8,31] Bởi vậy, trong xã hội hiện đại, phần lớn dư luận xã hội được châm ngòi từ báo chí Dư luận xã hội cũng chính là một sản phẩm cơ bản, quan trọng của báo chí khi tác động vào các thiết chế và nhận thức xã hội Dư luận xã hội có cả yếu tố chân lý được nhận thức, chứa đựng sự thật của đời sống hiện thực

Trên các trang báo mạng của Trung Quốc cũng đã sử dụng triệt để tác dụng của báo chí để tạo ra những luồng dư luận, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, lấy niềm tin của nhân dân về vấn đề biển Đông

Đối với dư luận trong nước, có thể Trung Quốc đã đạt được ý đồ của mình trong việc tuyên truyền chủ quyền ở biển Đông Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, báo mạng điện tử có sức ảnh hưởng rất lớn đối với công chúng

dư luận Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, báo mạng ngày càng hoàn thiện hơn về chất lượng nội dung, hình ảnh phong phú, dễ dàng gây ấn tượng với người đọc Lợi thế này đã khiến báo mạng đã thu hút được số lượng lớn công chúng dư luận quan tâm với mỗi sự kiện, và khi có dư luận nó sẽ tác động đến nhiều chính sách của đất nước, đặc biệt là chính sách ngoại giao Có rất nhiều sự kiện vừa mới phát sinh, nhưng các mẩu tin nhỏ của các phương tiện truyền thông truyền tin tức đi một cách nhanh chóng và nó có những tác động nhất định đối với người đọc

Trang 33

Từ những kết quả thống kê đã nêu trong chương I, chúng tôi nhận thấy, phần lớn nội dung thông tin được đăng tải trên hai mạng đều có điểm chung là truyền thông một chiều với quan điểm Trung Quốc luôn là nạn nhân bị Việt Nam ức hiếp Kiểu truyền thông một chiều này đã tác động mạnh tới dư luận Trung Quốc tạo nên một làn sóng phản đối, thậm chí thù hận người dân Việt Nam Đây chính là một trong những tác nhân đẩy chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc dâng cao

Báo chí truyền thông, đặc biệt là truyền thông trên mạng Internet là một lĩnh vực trên truyền thông đại chúng đòi hỏi sự cởi mở, khách quan, bám sát

và phản ánh chân thực cuộc sống Thế nhưng, một số thông tin của hai mạng

Nhân dân nhật báo và Hải Nam nhật báo đã đi ngược lại nguyên tắc trên, đưa

ra các thông tin làm tổn hại nghiêm trọng tới tính chất khách quan của vấn đề xung đột biển Đông Những kiểu phân tích thông tin như: Trung Quốc sẽ ra sao nếu như mất biển Đông hay như những thông tin giật gân nhằm kích động người dân trong vấn đề biển Đông, trong khi đó lại bưng bít thông tin, không đưa ra được những căn cứ chứng minh yêu sách ―Đường lưỡi bò‖ hay chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông Hệ quả là những kiểu phân tích trên đã nhen nhóm ngọn lửa thù địch trong lòng người dân Trung Quốc với dân tộc Việt Nam Vì vậy, khi xung đột biển Đông xảy ra, trên các diễn đàn đã xuất hiện hàng loạt những lời lẽ kích động, khiêu chiến và phát động một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam như: trên một số website có những lời bình luận ―trong các cuộc chiến tranh, Trung Quốc không nên ủng hộ Việt Nam, người Việt Nam là động vật máu lạnh‖ [71], hay như trên một trang web khác đã tiến hành thăm dò xem Trung Quốc có nên sử dụng vũ lực tại xung đột biển Đông không, kết quả là 80% dân số Trung Quốc đồng ý sử dụng và muốn đánh Việt Nam [72]

Như trong đợt tháng 6 -7 năm 2011, khi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đang ở trong giai đoạn căng thẳng, số lượng các bài báo đưa tin cũng

Trang 34

tăng lên đột biến Theo thống kê của chúng tôi, nếu như trong tháng 4/2011

và tháng 5/2011 số lượng bài báo nói về xung đột biển Đông lần lượt là 3 và 4 bài thì đến tháng 6, số lượng bài là 11 và đến tháng 7 số lượng bài đã lên đến đỉnh điểm là 22 bài trong một tháng (xem thêm phần phụ lục 1) Với số lượng

tin tăng mạnh như vậy, Nhân dân nhật báo đã làm cho dư luận xoay quanh

vấn đề biển Đông trở nên ―nóng‖ hơn bao giờ hết Vào thời điểm này, sự nóng lên của trào lưu phản đối Việt Nam đã châm ngòi cho hàng loạt các lời bình luận tiêu cực, có khả năng kích động chủ nghĩa dân tộc và bùng nổ chiến tranh giữa hai nước Việc thiếu minh bạch trong việc cung cấp thông tin do chịu sự chi phối mạnh mẽ của các quyết sách ngoại giao nước lớn đã vô hình chung biến trang mạng Internet Trung Quốc trở thành công cụ chính trị đắc lực của chính quyền trong việc tạo nên dư luận xã hội, ủng hộ những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc mà quên đi sự thật lịch sử và những cam kết của Trung Quốc với Việt Nam đối với những vấn đề liên quan tới lãnh thổ trên biển

Tùy theo từng thời điểm khác nhau, giới truyền thông Trung Quốc công

bố nhiều hay ít tin – bài thể hiện quan điểm ủng hộ Trung Quốc, lấn át Việt Nam và mở rộng kiểm soát biển Đông Như trong năm 2009, nhân sự kiện 20 năm Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt nam, giới truyền thông Trung Quốc đã tung ra hàng trăm bài viết trên báo in và báo mạng Nhiều bài viết rất hằn học và điều này càng được thể hiện rõ hơn trong các bài báo tháng

6 năm 2011 Trong tháng 6 năm 2011 cùng với việc đưa tin liên tục trên các trang báo và các phương tiện thông tin đại chúng thì một làn sóng phản đối Việt Nam, ủng hộ chiến tranh đã dấy lên ở Trung Quốc Có thể nói chủ nghĩa dân tộc đã được khơi dậy, nhen nhóm trong lòng người dân Trung Quốc Trong lúc tâm lý dân tộc của một bộ phận người dân Trung Quốc đang dâng cao, thì việc các trang web thường xuyên có những bài báo khiêu khích, buộc tội Việt Nam kèm theo những comment tiêu cực như đã nêu ở trên, rõ ràng đã

Trang 35

tác động không nhỏ tới những phản ứng tiêu cực tại Trung Quốc Điều đó lý giải vì sao vào thời điểm này trên hàng loạt blog của Trung Quốc thường có bài viết là Việt Nam là kẻ phản bội, phải đánh cho Việt Nam một bài học…Thậm chí, ngày 8 tháng 6 năm 2011, hàng loạt các website của Việt nam đã bị tấn công, để lại các thông điệp bằng tiếng Trung, hình ảnh quốc kỳ

và cả quốc ca của Trung Quốc [73]

Hình ảnh các trang web Việt Nam bị các hacker Trung Quốc tấn công.(nguồn:vietnamnet.vn)

Vài ngày sau, con số trang web của Việt Nam bị tấn công lên tới 1500 website [74], bao gồm cả website của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Ban quản trị Trung tâm dữ liệu Hoàng Sa, trang web của các cơ quan, đơn vị

bộ ngành có tên miền gov.vn, trung tâm Biên Phiên dịch Quốc gia thuộc Bộ

ngoại gia Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam, các công cụ tìm kiếm, và của cả các doanh nghiệp Đây được cho là hành động trả đũa của hacker Trung Quốc sau khi các website của họ bị hacker Việt Nam tấn công vào ngày 2 tháng 6

Trong những ngày đầu tháng 6 năm 2011, theo phản ứng dây chuyền, hầu hết các báo chí Trung Quốc cũng đã lên tiếng cảnh báo các nước láng

Trang 36

giềng Châu Á ngừng tìm kiếm dầu ở gần quần đảo Trường Sa Đồng thời, yêu cầu Việt Nam dừng lại những hành động gây hấn ở biển Đông Hơn nữa với kiểu đưa tin trên, họ khẳng định Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ nước nào không liên quan tới vấn đề biển Đông can thiệp vào tranh chấp, và phản đối quốc tế hóa vấn đề biển Đông Việc ủng hộ Trung Quốc còn thể hiện khi giới truyền thông nước này tập trung nói về biển Đông để hướng dư luận ít quan tâm đến những vấn đề phức tạp ở Trung Quốc Tuy nhiên, đó cũng chính là những thách thức mà Trung Quốc đang phải đối mặt khi mắc kẹt giữa lợi ích ngoại giao giữa Trung Quốc và các nước trên biển Đông và lợi ích năng lượng của Trung Quốc ở biển Đông Ví dụ như ngày 29 tháng 6 năm

2011, khi người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc có bài phát biểu:

―Trung Quốc ủng hộ các nước có liên quan thông qua đàm phán hòa bình,

hợp tác hữu nghị để giải quyết vấn đề biển Đông” được đăng trên Nhân dân Nhật Báo đã thu hút hơn 1.050.000 người đọc [75] Trong khi đó, ngày 15

tháng 7 năm 2011 – người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung Quốc cho biết:

―đàm phán trực tiếp giữa các bên có liên quan giải quyết vấn đề tranh chấp

biển Đông‖ [84] Trong bài phát biểu này, người phát ngôn Hồng Lỗi có nhấn

mạnh muốn các bên có liên quan trực tiếp (hai nước) giải quyết vấn đề xung đột biển Đông Như vậy có thể thấy, Trung Quốc không nhất quán trong lời nói, khi thì Trung Quốc muốn đàm phán giữa các bên liên quan, nhưng trên thực tế, Trung Quốc chỉ chấp nhận đàm phán trực tiếp giữa Trung Quốc và một nước khác chứ không hề có các ―nước liên quan‖ như Trung Quốc đã từng phát ngôn trước đây

Trong chiến lược ngoại giao của mình, Trung Quốc luôn nêu cao chủ trương cùng nhau giải quyết tranh chấp bằng hòa bình Nhưng hành động trên thực tế của Trung Quốc lại luôn đi ngược với lời nói….Vì vậy, chính những chiến lược này đã đẩy Trung Quốc vào một tình thế khó khăn đó: việc phải giải quyết một lúc nhiều mâu thuẫn giữa việc thúc đẩy hình ảnh phát triển hòa

Trang 37

bình với việc thực thi chính sách quyết đoán tại biển Đông; giữa việc duy trì

cơ hội chiến lược cho phát triển và nhu cầu vươn ra ngoài, nhất là về hải quân; giữa việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước Asean, không để các nước Asean đi với Mỹ, với nhu cầu kiểm soát ―Đường lưỡi bò‖ Bởi vậy, việc lãnh đạo Trung Quốc đã lãnh đạo giới truyền thông, định hướng cho công chúng dư luận Trung Quốc, khơi gợi lòng tự tôn dân tộc, khơi gợi chủ nghĩa dân tộc trong dư luận

Các trang báo mạng Trung Quốc bên cạnh việc tuyên truyền, nói xấu Việt Nam trong vấn đề xung đột biển Đông thì các báo này cũng có nhiều bài

viết về tài nguyên biển Đông Như trên Hải Nam nhật báo, có rất nhiều bài

nói về tài nguyên của biển Đông như nhiều bài đã giới thiệu cho công chúng biết những giá trị của biển Đông như tiềm năng về khoáng sản, thủy hải sản, tiềm năng du lịch Hình ảnh về biển Đông cũng được tích cực giới thiệu, làm

mở rộng sự chú ý và hiểu biết trong dư luận Cũng chính vì lẽ đó, biển Đông

và những vấn đề của biển Đông cũng được bạn đọc quan tâm nhiều hơn Biển Đông được biết đến với những giá trị nổi bật như về khoảng sản và du lịch Cũng vì đó mà thị trường du lịch Trung Quốc cũng có những chuyển biến Theo như thống kê của báo du lịch Hải Nam tính đến thời điểm 13/1/2013 Hải Nam đã đón 2.937.200 lượt khách đến [76]

2.2 Tác động tới dư luận ngoài nước

Giới truyền thông có trách nhiệm phản ánh các vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là những nội dung mang tính thời sự, dó đó gần đây biển Đông là một vùng tranh chấp quốc tế căng thẳng được giới truyền thông quan tâm hàng đầu

Trước những tin tức mà Trung Quốc đưa ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã có tác động sâu sắc đến đông đảo dư luận không chỉ trong

Trang 38

và ngoài nước Và chính những thông tin này đã tác động đến đối tượng đầu tiên là giới truyền thông Việt Nam và quốc tế, thứ hai là tác động đến công chúng dư luận Việt Nam

Nhìn chung, giới truyền thông của Việt Nam và quốc tế đều phản ứng việc Trung Quốc gây căng thẳng ở biển Đông Tùy theo loại hình truyền thông mà mức độ lợi ích từng cơ quan truyền thông có nhiều hay ít những tin – bài phê phán Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam và tranh chấp biển với Philippin

Báo chí Việt Nam tuy rất kiềm chế nhưng đã rất bất bình trước những hành vi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển của Việt Nam gần đây Và thật sự bất bình hơn nữa trước những cách đưa tin của báo mạng Trung Quốc một cách sai sự thật, làm cho công chúng dư luận trong và ngoài nước có những suy nghĩ sai lầm về Việt Nam và báo chí Việt Nam

Trong thời gian gần đây, như trên trang web Dantri.com có rất nhiều tin

– bài như: Phải có biện pháp mạnh mẽ trước sự lấn tới của Trung Quốc đăng ngày 27/03/2013 [77], hay như tin Trung Quốc tung tin “vịt” về hạm đội tàu

chiến ở Biển Đông đăng ngày 3/4/2013 [78],… Trên các báo Vietnamnet, Vnexpress, hay báo Thanhnien cũng có nhiều bài đăng trước những sự kiện,

hành vi của Trung Quốc ở biển Đông như: Trung Quốc sẵn sàng tăng cường

diễn tập trên biển Đông, đăng ngày 3/4/2013 [85], quân đội Trung Quốc sẽ doạt động mạnh trên biển [86], Những bài tin này cũng đã thu hút được khá

nhiều sự quan tâm của dư luận Việt Nam

Việc làm của giới truyền thông Trung Quốc đã tác động không tốt đến quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước Đông Nam Á Một số bài báo của các nước đã lên tiếng phản đối trước hành động của Trung Quốc

Trang 39

Vấn đề biển Đông phức tạp, bản chất sâu sa là tham vọng của Trung Quốc Nhưng vấn đề biển Đông đã được một số nước tranh thủ để có vai trò như: Nhật Bản, Ấn Độ và một số nước khác Đối với cơ quan truyền thông tranh thủ tình hình biển Đông để bán báo, tăng lượng người truy cập báo điện

tử hoặc theo dõi các kênh phát thanh, truyền hình thì đó là việc đương nhiên Chẳng hạn, một số hãng truyền thông lớn, trong đó có Reuters ghi nhận các

vụ va chạm xảy ra thường xuyên hơn trên biển và các nước Đông Nam Á… Reuters còn đưa nhiều tin khác thể hiện khả năng cập nhật thông tin và có bình luận sắc sảo

Cũng có một số cơ quan truyền thông đưa tin-bài nhiều về biển Đông nhằm hướng sự quan tâm của dư luận về khu vực này…

Ngoài tác động tới giới truyền thông nước ngoài còn một tác động khác không thể không nhắc đến do truyền thông Trung Quốc mang lại, đó chính là tác động đến đông đảo công chúng dư luận nước ngoài, đặc biệt là dư luận Việt Nam

Trước những hành động của Trung Quốc và giới truyền thông Trung Quốc, trước hết đã tác động tới một bộ phận không nhỏ của dư luận Việt Nam – chính là đông đảo thanh niên Việt Nam Đây là những thành phần thường xuyên sử dụng báo mạng điện tử và cũng là thành phần chủ yếu dễ bị những tin tức của báo mạng tác động nhất Bởi vì, họ sẽ thường xuyên tiếp xúc được những tin tức mới nhất, đây cũng là thành phần dễ bị kích động nhất Chính vì vậy, ở Việt Nam cũng đã xảy ra một số vụ biểu tình chống Trung Quốc như

vụ biểu tình ngày 9 tháng 12 năm 2007 phản đối việc Trung Quốc lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa nhằm quản lý quần đảo Trung Sa, Hoàng

Sa và Trường Sa [79] Sau đó, ngày 16/12/2007 biểu tình tiếp tục diễn ra Đặc biệt trong tháng 6 năm 2011, một loạt các cuộc biểu tình hòa bình chống Trung Quốc đã diễn ra tại hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phản đối hoạt

Trang 40

động của Trung Quốc tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng như yêu sách đường chín đoạn của Bắc Kinh tại biển Đông

Theo như chúng tôi thống kê thì trong năm 2011 Việt Nam đã có nhiều cuộc biểu tình hòa bình chống Trung Quốc vào các ngày 05/06, 12/06, 19/06, 03/07, …Hơn nữa, cũng trong thời gian này thì nhều trang mạng của Trung

Quốc, một số webside của chính phủ Trung Quốc với trang có đuôi gov.cn đã

bị các hacker Việt Nam đột nhập, đánh phá và gửi lên đó các thông điệp khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa Đến ngày 9 tháng 6 năm 2011, một số trang web như của chính quyền thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang vẫn còn tê liệt [80]

2.3 Tác động tới quan hệ Việt – Trung

.Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ trước đến nay luôn có những giai đoạn thăng trầm Trước khi xảy ra những tranh chấp chủ quyền biển đảo do phía Trung Quốc đơn phương gây ra, hai nước đã từng nỗ lực đẩy mạnh quan

hệ Những năm đầu thế kỷ 21, quan hệ hai nước tương đối tốt đẹp Từ năm

1995 đến tháng 7/2006 Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành 11 vòng đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề trên biển [81] Trong các cuộc gặp giữa 2 Trưởng Đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt – Trung thời gian gần đây, hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hoà bình giải quyết vấn đề biển Đông phù hợp với quan hệ hữu nghị hai nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển 1982 và tinh thần DOC ký giữa Trung Quốc và ASEAN Trong quá trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề biển Đông, hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như nghiên cứu khoa học, môi trường biển, tìm kiếm

cứu nạn, khí tượng thủy văn

Ngày đăng: 05/05/2018, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w