Mô phỏng bài toán giếng cát xử lý nền đất yếu bằng bài toán phẳng tương đương
Trang 1MÔ PHỏNG BàI TOáN GIếNG CáT Xử Lý NềN ĐấT YếU THEO SƠ Đồ BàI TOáN PHẳNG TƯƠNG ĐƯƠNG
NGUYễN THị BíCH HạNH*
NGUYễN HồNG NAM**
Simulation of sand drain problemfor soft soilimprovement/ treatment by using the equivalent plane model.
Abstract: Simulation of field sand problem by using equivalent plane sketched model has been applied to a practical work by Hir and others,1992; Indraratna and Redana 1997 Simulation result showed that using this method could save operation time, reduced stable land subsidence and residual pore water pressure Studies on the parameters indicated that the deeper the sand drain the less stable the subsidence and residual pore water pressure as well Also the distance between the sand drains increased making increasing in stable subsidence and the impact
of the drain's diameter is not reemarkable Also increasing in smear zone could make the pore water pressure go up( kx =10ky).
1 ĐặT VấN Đề
Khi xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông có
kích thước lớn như: cống, trạm bơm, đường, sân bay trên
nền đất yếu thì việc xử lý nền móng là hết sức cần thiết
Trong những trường hợp như vậy, yêu cầu đặt ra khi thi
công công trình là phải rút ngắn thời gian lún của nền để
sau khi hoàn thành việc xây dựng và đưa công trình vào sử
dụng thì độ lún gây ra tiếp đó không vượt quá giới hạn cho
phép theo quy phạm thiết kế
Giếng cát là một phương pháp đơn giản xử lý nền nhưng đạt hiệu qủa về mặt kỹ thuật và kinh tế Đối với bài toán thiết kế giếng cát, hầu hết các phương pháp tính hiện nay đều dựa vào lời giải bài toán cố kết thấm của giếng đơn, nhờ các công thức kinh nghiệm (Barron, 1948; Hansbo, 1981) Tuy nhiên, lời giải bài toán giếng đơn có hạn chế khi xem xét một số vấn đề, ví dụ ảnh hưởng của chiều sâu giếng
Để giải bài toán thực tế, phương pháp phần tử hữu hạn đang được sử dụng rộng rãi giải bài toán cố kết thấm ghép đôi Tuy nhiên, lời giải bài toán hệ thống giếng không gian còn rất hạn chế, chủ yếu do thời gian tính toán dài Cách phân tích phổ biến hiện nay trên thế giới là chuyển bài toán không gian về bài toán phẳng tương đương (Hird và nnk, 1992;
* Bộ môn Kỹ thuật công trình, Trường đại học
Lâm nghiệp
Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội
Điện thoại: 0913533282
Email: hanh_dhln@yahoo.com.vn
** Bộ môn Địa kỹ thuật, Trường Đại học Thủy lợi
Trang 2Indraratna và Redana, 1997) Tại Việt Nam, phân
tích bài toán giếng cát theo mô hình bài toán phẳng
tương đương còn rất hạn chế (Trịnh Minh Thụ và
nnk, 2006)
Mục đích của bài báo này chủ yếu đề cập đến việc
mô phỏng bài toán giếng cát không gian theo sơ đồ
bài toán phẳng tương đương nói trên Ngoài ra, ảnh
hưởng tham số như đường kính giếng, khoảng cách
giếng, chiều sâu giếng, độ xáo trộn do quá trình thi
công cũng được khảo sát chi tiết
2 BàI TOáN PHẳNG TƯƠNG ĐƯƠNG
Để giải bài toán thực tế, người ta thường chuyển
bài toán không gian đối xứng trục về bài toán phẳng
tương đương, sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn
Hird và nnk (1992), Indraratna và Redana (1997) đã
phân tích bài toán biến dạng phẳng tương đương cho
giếng đơn dựa trên lý thuyết của Hansbo (1981)
Độ cố kết trung bình theo phương ngang tại chiều
sâu z trong trường hợp biến dạng phẳng được tính
như sau:
)
8 exp(
1 1
p
hp o
hp
T u
u
U
Trong đó:
điểm tính toán t;
0
điểm ban đầu;
Thp: nhân tố thời gian đối với sự thoát nước
ngang trong trường hợp biến dạng phẳng;
2
4B
t
C
w v
h h
m
k C
(p: tham số xét đến sự xáo trộn của đất xung
quanh giếng và sức cản của giếng.
w h s
h p
q
k z H z s
k
k s
n
4
3 ln
Trong đó:
w
r
R
n ;
w
s
r
r
s
R là bán kính ảnh hưởng của giếng cát rw: bán kính giếng cát
rs: bán kính vùng xáo trộn s: độ xáo trộn
qw: lưu lượng riêng của giếng;
z: độ sâu xem xét
H: chiều sâu giếng cát;
kh: hệ số thấm theo phương ngang của đất nền ks: hệ số thấm của đất theo phương ngang trong vùng xáo trộn
mv: hệ số nén thể tích
(w: trọng lượng riêng của nước
Theo sơ đồ bài toán phẳng tương đương (Hình 1),
có thể giả thiết tại cùng một thời điểm với cùng một tải trọng tác dụng thì độ cố kết trung bình của đất
h
U =U hp
Nếu bán kính ảnh hưởng của mỗi giếng cát (R) trong sơ đồ đối xứng trục bằng độ rộng (B) trong sơ
đồ biến dạng phẳng (Hình 1) ta có:
bw = rw; bs = rs
Trang 3r w
r s
b w
2B
vùng đất xáo trộn xung quanh giếng cát giếng cát
e
a, Sơ đồ đối xứng trục b, Sơ đồ biến dạng phẳng
Hỡnh 1 Sơ đồ bài toỏn phẳng tương đương
(Indraratna và Redana, 1997)
Trong đú, bw là nửa chiều rộng của giếng cỏt; bs là
nửa chiều rộng của vựng đất bị xỏo trộn xung quanh
giếng Trường hợp nếu khụng xột sức cản của giếng,
hệ số thấm trong vựng xỏo trộn của đất xung quanh
giếng cú thể được tớnh theo biểu thức sau (Hird và
nnk, 1992):
4
3 ln ln
3
2
s k
k s n
k k
s h
h hp
(5)
Trường hợp khụng xột sức cản của giếng và sự xỏo trộn của đất xung quanh giếng ta cú cụng thức đơn giản dưới đõy (Hird và nnk, 1992)
75 0 ) ln(
67 0
n k
k
h
hp
3 Mễ PHỏNG BàI TOỏN GIếNG CỏT Xử Lý NềN CễNG TRỡNH THựC Tế
3.1 Đặc điểm cụng trỡnh
Cụng trỡnh chỉnh trị đờ hạ lưu sụng Tắc – Quỏn Trường – Khỏnh Hoà bao gồm một đoạn đờ cần xử lý nền, nằm trờn lớp bựn sột ở trạng thỏi dẻo chảy cú chiều dày lớn Chỉ tiờu cơ lý của lớp đất nền yếu như sau: ( = 47.3 %, (( = 17.1 kN/m3, (k = 11.8 kN/m3, ( = 2.65, e = 1.299, G = 95.3 %, ( = 7010’, c = 6.8 kN/m2, a = 0.178 cm2/
kg, k = 5.443x10-4 m/ngày (Cụng ty tư vấn và chuyển giao cụng nghệ thuỷ lợi, 2005)
Để tăng nhanh tốc độ cố kết của đất nền, phương ỏn
xử lý nền bằng giếng cỏt đó được đề xuất và so sỏnh lựa chọn Cỏc giếng cỏt được bố trớ theo sơ đồ lưới tam giỏc đều Cỏc thụng số thiết kế giếng cỏt được cho trong Bảng
1
Bảng 1 Cỏc thụng số thiết kế giếng cỏt
Trang 46 Hệ số cố kết thấm theo phương ngang Cr = 2Cv = 0.016274 (cm2/s)
3.2 Mụ phỏng bài toỏn
Bài toỏn cố kết giếng cỏt xử lý nền đờ Quỏn
Trường được mụ phỏng theo sơ đồ bài toỏn phẳng
tương đương (Hird và nnk, 1992)
Hai trường hợp mụ phỏng được xem xột là: cụng
trỡnh đắp trờn nền đất chưa được xử lý và đắp trờn
nền được xử lý bằng hệ thống giếng cỏt
Đối với trường hợp cụng trỡnh đắp trờn nền được
xử lý bằng hệ thống giếng cỏt, sự xỏo trộn của giếng
do quỏ trỡnh thi cụng gõy ra cũng được xem xột
Chỳ ý rằng sức cản của giếng khụng được xem
xột trong nghiờn cứu này
Quỏ trỡnh đắp đờ được thực hiện theo từng giai
đoạn (Hỡnh 2, 3) Chiều cao đắp 3.5m, bề rộng
mặt đường 10m và số lớp đất đắp là 4 lớp
0 100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000 1100 1200
0,0
0,5
1,0
1,5
2,0
2,5
3,0
3,5
4,0
Gđ 7 Gđ 6
Gđ 5
Gđ 4
Gđ 3
Gđ 2
Gđ 1
Các giai đoạn thi công Nền đắp ch a đ ợc xử lý
Thời gian đắp (ngày)
Hỡnh 2 Sơ đồ cỏc giai đoạn thi cụng đờ
(trường hợp nền tự nhiờn)
Mực nước ngầm được giả thiết ngang cao trỡnh mặt đất tự nhiờn
Do bài toỏn đối xứng nờn chỉ cần xột một nửa bài toỏn Bài toỏn được mụ phỏng theo sơ đồ bài toỏn biến dạng phẳng, sử dụng lưới phần tử hữu hạn bao gồm cỏc phần tử tam giỏc 15 điểm nỳt (Hỡnh 4, 5) Phần mềm Plaxis, Hà Lan (Brinkgreve, 2002) được sử dụng mụ phỏng bài toỏn cố kết
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 0,0
0,5 1,0 1,5 2,0 2,5 3,0 3,5 4,0
Gđ 7 Gđ 8 Gđ 6
Gđ 5 Gđ 4
Gđ 3 Gđ 2
Gđ 1
Các giai đoạn thi công
PA cọc cát: d=30cm, L=150cm
Thời gian đắp (ngày)
Hỡnh 3 Sơ đồ cỏc giai đoạn thi cụng đờ
(trường hợp nền được xử lý bằng giếng cỏt)
Mụ hỡnh vật liệu Mohr-Coulomb được ỏp dụng đối với đất nền, đất đắp và giếng cỏt Cỏc thụng số mụ hỡnh đối với đất nền và đất đắp được thể hiện trong Bảng 2 (nền tự nhiờn) và Bảng 3 (nền được xử lý bằng giếng cỏt)
Trang 5Hình 4 Lưới phần tử hữu hạn
(trường hợp nền tự nhiên)
Hình 5 Lưới phần tử hữu hạn
(trường hợp nền được xử lý bằng giếng cát)
Chú ý rằng vì không có số liệu thí nghiệm hệ số thấm theo phương ngang kx nên có thể giả thiết kx=2.5ky, trong đó ky là hệ số thấm theo phương đứng Giả thiết góc nở ( = 0, hệ số Poisson ( = 0.35 đối với đất nền và đất đắp
Bảng 2.Chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất trong trường hợp chưa xử lý nền
TT
Vật
liệu
(w (kN/m3)
(bh (kN/m3)
kx (m/ngày)
ky (m/ngày)
E (kN/m2)
c (kN/m2)
( (độ)
( (độ)
(
Bảng 3 Chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất trong trường hợp nền được xử lý
TT
(kN/m3)
(bh (kN/m3)
kx (m/ngày)
ky (m/ngày)
E (kN/m2)
c (kN/m2)
( (độ)
( (đ
Điểm nghiên cứu A(0; -7.48m) A(0; -7.48m)
Trang 62 Đất nền 17.10 17.18 9.991x10-4 5.443x10-4 1033 6.8 7.17 0 0.35
Trong Bảng 3, hệ số thấm ngang kx (=khp)
của lớp đất nền được xác định theo công thức (6)
3.3 Kết quả mô phỏng
So sánh kết quả tính toán độ lún ổn định, áp
lực nước lỗ rỗng lớn nhất và thời gian cố kết giữa
trường hợp không xử lý nền và xử lý nền bằng
giếng cát được thể hiện trong Bảng 4
Bảng 4 So sánh kết quả tính toán giữa 2 trường hợp (giai
đoạn đắp đến cao trình +3.5m)
Trong Bảng 4, Uy là chuyển vị lớn nhất theo
phương đứng; U là áp lực nước lỗ rỗng dư lớn
nhất; t90 là thời gian để đất nền đạt được độ
cố kết 90% tại điểm nghiên cứu (Hình 4 và 5)
Kết quả tính toán tại giai đoạn đắp đ ến cao
trình +3.5m cho thấy: Trong trường hợp chưa
xử lý nền, áp lực nước lỗ rỗng dư đạt giá trị lớn
nhất 25.16 kPa tại điểm nằm ngay dưới đáy
công trình (Hình 6) áp lực nước lỗ rỗng dư lớn
có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến sự ổn định
của công trình Trong trường hợp nền đã được
xử lý bằng giếng cát, giá trị áp lực nước lỗ
rỗng dư giảm xuống còn 15.84 kPa và vị trí của
nó đã nằm xa đáy công trình nên sẽ ảnh hưởng
không nhiều đến sự ổn định của công trình (Hình 7) Mặt khác, Bảng 4 cho thấy so với trường hợp chưa xử lý nền, với Uy = 78 cm, t90 = 270 ngày thì rõ ràng phương án xử lý n ền bằng giếng cát đã tiết kiệm thời gian thi công công trình rất nhiều Phương án xử lý nền bằng giếng cát đã mang lại hiệu quả cao cho công trình
Hình 6 Đường đẳng áp lực nước lỗ rỗng dư
(giai đoạn đắp đến cao trình +3.5m, trường hợp
chưa xử lý nền)
Trang 7Hình 7 Đường đẳng áp lực nước lỗ rỗng dư
(giai đoạn đắp đến cao trình +3.5m, trường hợp xử
lý nền bằng giếng cát)
3.4 Nghiên cứu tham số
Lời giải bài toán giếng cát phụ thuộc rất lớn các
yếu tố như: sơ đồ bố trí giếng cát, kích thước giếng
cát, đặc tính đất nền
Việc nghiên cứu tham số giúp lựa chọn các thông số
thiết kế giếng cát hiệu quả Từ đó có thể tìm được
phương án thiết kế tối ưu, đặc biệt, khi số liệu thí
nghiệm thực tế không đầy đủ
ảnh hưởng của các tham số như chiều sâu giếng,
khoảng cách giếng và đường kính giếng đến độ lún
của công trình được phân tích
ở đây giếng cát được bố trí theo sơ đồ lưới tam
giác đều, bỏ qua ảnh hưởng của sự xáo trộn và sức
cản của giếng
3.4.1 ảnh hưởng của chiều sâu giếng
ảnh hưởng của chiều sâu giếng cát đối với độ lún của
công trình được phân tích bằng cách thay đổi chiều sâu
giếng H = 5, 7, 10, 15m, trong khi không thay đổi các thông
số khác (dw = 0.3m, L = 1.5m)
Kết quả phân tích cho thấy chiều sâu giếng tăng
làm giảm độ lún, giảm thời gian cố kết của nền công
trình (Hình 8) và giảm sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng (Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2008) Các điểm nghiên cứu tính lún có toạ độ (0,-3.6m)
3.4.2 ảnh hưởng của khoảng cách giếng
ảnh hưởng của khoảng cách giếng cát đối với độ lún của nền được phân tích bằng cách thay đổi khoảng cách giữa các tim giếng L = 1.2, 2.0, 2.5m, trong khi không thay đổi các thông số khác (dw = 0.3m, H = 7m) Kết quả phân tích cho thấy khi khoảng cách giếng cát tăng sẽ làm tăng độ lún ổn định của nền công trình Tuy nhiên, chênh lệch độ lún giữa phương án L=1.2 m và L=2.0m không đáng kể (Hình 9) Các điểm nghiên cứu tính lún đối với các phương án L=1.2, 2.0 và 2.5m nằm trên đường tim đê, có độ sâu tương ứng Z=-3.29, -3.57 và -3.01m
-0,7 -0,6 -0,5 -0,4 -0,3 -0,2 -0,1 0,0
H = 5m
H = 7m
H = 10m
H = 15m
U y
Thêi gian (ngµy)
Hình 8 So sánh độ lún ổn định giữa các phương án
chiều sâu giếng khác nhau
Trang 80 200 400 600 800 1000 1200
-0,7
-0,6
-0,5
-0,4
-0,3
-0,2
-0,1
0,0
L = 1.2m
L = 2.0m
L = 2.5m
Thêi gian (ngµy)
Hình 9 So sánh độ lún ổn định giữa các phương án
khoảng cách giếng khác nhau
3.4.3 ảnh hưởng của đường kính giếng
ảnh hưởng của đường kính giếng cát đối với độ lún
của nền được phân tích bằng cách thay đổi giá trị đường
kính giếng dw = 0.2, 0.3, 0.5m, trong khi không thay đổi
các thông số khác (L = 1.5m, H = 7m) Các điểm nghiên
cứu tính lún đối với các phương án dw=0.2, 0.3 và 0.5m
nằm trên đường tim đê, có độ sâu tương ứng Z=3.57,
-3.01 và -3.29m Hình 10 cho thấy, nhìn chung sự thay
đổi đường kính giếng ảnh hưởng không đáng kể đến độ
lún ổn định công trình
3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng xáo trộn của giếng
do quá trình thi công
Nghiên cứu ảnh hưởng xáo trộn của giếng đối với
độ lún của nền và sự thay đổi áp lực nước lỗ rỗng dư
được xét trong bài toán phẳng tương đương, áp dụng
đối với công trình xử lý nền đê Quán Trường Chỉ
tiêu cơ lý của các lớp đất được lấy theo Bảng 3 Hệ
số thấm trong vùng xáo trộn của đất xung quanh
giếng được tính theo công thức (5), bỏ qua sức cản
của giếng
Các thông số mô phỏng như sau:
L = 2.5m, H = 15m; dw = 0.3m; De = 1.05L =
2.625m; n = De/dw = 8.75
Chú ý rằng vì không có số liệu thí nghiệm hệ số
thấm theo phương ngang nên ta giả thiết hai trường
hợp: kx=2.5ky= 1.361x10-3 (m/ngày) và kx=10ky= 5.443x10-3 (m/ngày), trong đó ky là hệ số thấm theo phương đứng (ky= 5.443x10-4 (m/ngày)
Để xét ảnh hưởng xáo trộn của giếng, ta thay đổi giá trị độ xáo trộn từ s = 1 (không xáo trộn) cho đến s= 4, 5, 6 trong khi giữ nguyên các thông số khác (L
= 2.5m, H = 15m, dw = 0.3m)
Kết quả phân tích cho thấy khi kx=2.5ky, ảnh hưởng xáo trộn đối với sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng là nhỏ (Hình 11) Tuy nhiên, khi kx = 10ky, độ xáo trộn tăng làm tăng đáng kể áp lực nước lỗ rỗng (Hình 12), có thể gây bất lợi đến sự ổn định và thời gian thi công công trình
Kết quả phân tích sự xáo trộn của giếng nói trên phù hợp với kết quả của Redana & nnk (2000) Mặt khác, ảnh hưởng của sự xáo trộn đến độ lún
ổn định không lớn (Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2008)
-0,7 -0,6 -0,5 -0,4 -0,3 -0,2 -0,1 0,0
Uy
Thêi gian (ngµy)
dw = 0.2m
dw = 0.3m
dw = 0.5m
Hình10 So sánh độ lún ổn định giữa các phương án
đường kính giếng khác nhau
Trang 90 10 20 30 40 50 60 70
0
2
4
6
8
10
12
14
16
s = 1
s = 4
s = 5
s = 6
Thêi gian (ngµy)
Hình 11 So sánh biến thiên áp lực nước lỗ rỗng lớn
nhất tại các giai đoạn đắp khi độ xáo trộn s =1, 4,
5, 6 (Trường hợp kx=2.5ky)
0
2
4
6
8
10
12
14
16
s = 1
s = 4
s = 5
s = 6
2 )
Thêi gian (ngµy)
Hình 12 So sánh biến thiên áp lực nước lỗ rỗng lớn
nhất tại các giai đoạn đắp khi độ xáo trộn s =1, 4,
5, 6 (Trường hợp kx=10ky)
4 KếT LUậN
Mô phỏng bài toán giếng cát theo sơ đồ bài toán
phẳng tương đương (Hird và nnk, 1992) được thực
hiện đối với công trình thực tế xử lý nền đê Quán
Trường Kết quả mô phỏng cho thấy: giải pháp
giếng cát có thể rút ngắn thời gian thi công, giảm độ
lún ổn định, giảm sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng dư
so với trường hợp công trình được đắp trên nền
không được gia cố
Ngoài ra, nghiên cứu tham số về ảnh hưởng của chiều sâu, khoảng cách và đường kính giếng đến độ lún của nền công trình, theo sơ đồ bài toán phẳng tương đương nói trên, cho thấy:
- Chiều sâu giếng cát tăng có thể làm giảm độ lún
ổn định của nền, giảm sự gia tăng áp lực nước lỗ rỗng và giảm thời gian thi công công trình;
- Khoảng cách giếng cát tăng có thể làm tăng độ lún ổn định của nền; tuy nhiên, chênh lệch độ lún giữa các phương án nghiên cứu là nhỏ;
- Đường kính giếng cát ảnh hưởng không lớn đến
độ lún ổn định của nền công trình
Nghiên cứu ảnh hưởng xáo trộn của giếng do quá trình thi công cho thấy: độ xáo trộn của giếng ảnh hưởng rõ rệt đến trị số áp lực nước lỗ rỗng khi kx=10ky Khi có xáo trộn, áp lực nước lỗ rỗng tăng đáng kể, ảnh hưởng bất lợi đến sự ổn định công trình
và thời gian thi công công trình
TàI LIệU THAM KHảO
1 Công ty tư vấn và chuyển giao công nghệ thuỷ lợi (2005) Hồ sơ thiết kế công trình chỉnh trị hạ lưu sông Tắc-Quán Trường
2 Nguyễn Thị Bích Hạnh (2008) Nghiên cứu biện pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc cát, Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, Khoa Công trình, Trường Đại học Thuỷ lợi
3 Trịnh Minh Thụ, Nguyễn Công Mẫn, Hoàng Việt Hùng, Nguyễn Hồng Nam, Phạm Huy Dũng, Nguyễn Quang Tuấn (2006), Nghiên cứu thiết kế, đề xuất giải pháp thi công cọc cát xử lý nền đất yếu các công trình thủy lợi, Thuyết minh Đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội
4 Barron, R A (1948) Consolidation of fine-grained soils by drain wells Proc ASCE, Paper No
2346, pp 718-742
Trang 105 Brinkgreve, R B J (2002) Plaxis 2D-Version
8 Manual, Balkema
6 Hansbo, S (1981) Consolidation of fine-grained soils by prefabricated drains Proc 10th Int Conf Soil Mech., Stockholm, Vol 3, Paper 12/22
pp 677-682
7 Hird, C C., Pyrah, I C., Russell, D (1992) Finite element modeling of vertical drains beneath embankments on soft ground Geotechnique, 42 (3),
pp 499–511
8 Indraratna, B., and Redana, I W (1997) Plane strain modeling of smear effects associated with vertical drains J Geotech Eng., ASCE, 123(5), pp.474 - 478
9 Redana, I W., Indraratna, B., Salim, W., Balasubramaniam, A S (2000) Modeling of the behaviour of sand drains installed at a Naval Dockyard, Thailand, Proceedings of Coastal Geotechnical Engineering in Practice, Nakase & Tsuchida (eds), Balkema, Rotterdam, pp 357 – 362
Người phản biện: PGS.TS Nguyễn Hữu Thái