1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quyền thừa kế theo luật dân sự Việt Nam

46 188 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 111,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 32, Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc

Trang 1

CHƯƠNG 3 QUYỀN THỪA KẾ

3.1 Khái niệm về quyền thừa kế

3.1.1 Khái niệm thừa kế

Cùng với quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế phát sinh gắn liền với sự hình thành và phát triểncủa xã hội loài người Thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết chongười còn sống theo huyết thống, truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc Ngườihưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tậpquán mà hệ trước để lại Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh củapháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định

Nghiên cứu về nguồn gốc vấn đề thừa kế, có thể kết luận thừa kế là một vấn đề thuộc phạmtrù lịch sử, phạm trù kinh tế và phạm trù pháp lý

Thừa kế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Ngaydưới chế độ mẫu quyền trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người, khi mà xã hội chưa có

sự phân chia giai cấp, chế độ sở hữu còn dưới dạng cộng đồng nguyên thuỷ, chỉ là những công cụlao động thô sơ và những vật phẩm tự nhiên thì vấn đề thừa kế đã được đặt ra Lúc đó thừa kếđược phát sinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ Ph.Ăngghen viết:

“Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ theo tập tục thừa kếnguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lạitrong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫntrao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộcvới người mẹ”

Theo tiến trình phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, năngsuất lao động ngày càng được nâng cao, từ đó xuất hiện sự dư thừa sản phẩm Những người cóquyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm củariêng Chính sự phân hóa giàu nghèo này đã làm phát sinh những mâu thuẫn mới và dẫn đến sự rađời của nhà nước Khi nhà nước và pháp luật ra đời, quan hệ sở hữu tư nhân đã được xác lập Đếnthời điểm này, khi một người chết đi thì tài sản của họ không để lại cho cộng đồng nữa mà để lạicho một số người nhất định Những người này có thể được xác định theo nguyện vọng trước đócủa người chết hoặc theo pháp luật Nói cách khác, lúc này, quá trình dịch chuyển di sản từ mộtngười đã chết cho một người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của nhà nước, phù hợp vớilợi ích của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị thông qua bộ máy nhà nước, ban hành các quyđịnh để điều chỉnh các quan hệ trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điềukiện chuyển dịch tài sản và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản

Tóm lại, thừa kế có thể được hiểu là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho một chủ

thể - có thể là cá nhân, tổ chức, theo ý chí của người để lại di sản hoặc theo các quy tắc của xãhội, mà mỗi chế đó xã hội khác nhau có những quy tắc khác nhau do điều kiện kinh tế, chính trị -

xã hội, quyết định

3.1.2 Khái niệm quyền thừa kế

Trang 2

Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý, là căn cứ phát sinh một quan hệ pháp luật, quan hệ

sở hữu

Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịchchuyển tài sản của người chết cho những người khác theo ý chí của người đó khi còn sống hoặctheo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệcác quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Hiểu theo nghĩa hẹp, là quyền dân sự cụ thể của cánhân trong việc để lại di sản và hưởng di sản thừa kế cùng với quyền kiện hay không kiện yêucầu chia di sản thừa kế,

Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong đó các chủ thể có những quyền

và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tàisản của mình cho người khác Những người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc khôngnhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Đối tượng của thừa kế là các tài sản ,quyền tài sản thuộc quyền của người chết để lại ( trong một số trường hợp người để lại tài sản cóthể chỉ để lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản) Tuy nhiên, một số quyền tài sản gắn liền vớinhân thân người đã chết không thể chuyển cho những người thừa kế ( tiền cấp dưỡng, tiền lươnghưu…) vì pháp luật quy định chỉ có người đó mới có quyền được hưởng

Tóm lại, về mặt pháp lý, quyền thừa kế được hiểu là quyền của cá nhân được để lại tài sản

của mình cho người khác hưởng sau khi chết và quyền của chủ thể được hưởng di sản của ngườikhác để lại Quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật với các quy định cụ thể vềtrình tự, thủ tục, điều kiện chuyển dịch tài sản của người chết sang người còn sống

Điều 32, Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”; Và tại Điều 609, BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”.

3.1.3 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu

Quyền thừa kế và quyền sở hữu đều là những phạm trù pháp lý, song song tồn tại trongcùng một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Giữa chúng có mỗi liên quan mật thiết và chặt chẽ,mỗi phạm trù là tiền đề và cũng chính là hệ quả đối với nhau Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ

đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt mình thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xácđịnh quan hệ sở hữu

Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau song song tồn tại bên nhauthì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữu cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết vớinhau Thông qua việc quy định hình thức sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó pháp luật quyđịnh cho họ các quyền năng trong lĩnh vực thừa kế Nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ sởcho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế

Trang 3

Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội tư bản - những xã hội dựa trên chế độ sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất, thì pháp luật về thừa kế là một trong những công cụ pháp lý quan trọng

để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác và củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, một chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất chủyếu như đất đai, núi rừng, sông, hồ, Thừa kế là sự kế thừa thành quả lao động của cá nhân giađình và các giá trị văn hoá của thế hệ này đối với thế hệ khác, nên pháp luật về thừa kế, trước hếtnhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động, thành quả lao động của họ được chuyển sang chonhững người thừa kế của họ

Quyền thừa kế là thừa hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà Nhà nước cho phép chuyểndịch Công dân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho ngườikhác, Nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và tiếp nhận thừa kế của công dân (trừtrường hợp quy định tại Điều 621, BLDS 2015) Mặt khác, Nhà nước khuyến khích công dânbằng sức lao động của mình tạo ra nhiều của cải cho xã hội, làm giàu cho gia đình, đất nước; gópphần xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

3.1.4 Bản chất của quyền thừa kế

Thừa kế là sự kế quyền tổng hợp của những người sống đối với quyền, nghĩa vụ của người

đã khuất Việc kế quyền toàn bộ hay một bộ phận quyền, nghĩa vụ do người chết để lại còn phụthuộc vào các quy định của pháp luật và ý chí của người để lại di sản, người hưởng di sản Quyềnthừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật của các quốc gia côngnhận Tuy vậy, trong mỗi chế độ xã hội khác nhau thì sự quy định cũng khác nhau, tùy thuộc vàotính chất của chế độ sở hữu trong xã hội đó

Quyền thừa kế có quan hệ chặt chẽ với quyền sở hữu, hình thức sở hữu quyết định việcthừa kế trong xã hội, vì vậy quyền thừa kế mang bản chất giai cấp sâu sắc Trong chế độ phongkiến và tư bản, giai cấp bóc lột chiếm hữu những tư liệu sản xuất của xã hội; di sản họ để lại chocon cháu không những là những quyền lực về kinh tế mà còn cả quyền lực về chính trị để duy trì

sự áp bức, bóc lột của những giai cấp đó đối với nhân dân lao động Trong các xã hội có các chế

độ sở hữu khác nhau, thừa kế là một trong những phương thức để củng cố và phát triển chế độ sởhữu đó

Sự kế thừa, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác là quy luật khách quan, nhưng các quan

hệ thừa kế ở mỏi chế độ xã hội được giải quyết như thế nào là do chủ quan con người quyết định.Quyền sở hữu cá nhân là cơ sở khách quan việc thừa kế Trong điều kiện nước ta hiện nay, quyềnthừa kế còn là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển các quan hệ hôn nhân giađình, bảo vệ lợi ích của những người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khảnăng lao động; bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua đó gópphần bảo đảm quyền sở hữu chính đáng mọi cá nhân trong xã hội

Pháp luật của Nhà nước ta bảo vệ những lợi ích cơ bản của công dân trên cơ sở bảo vệ lợiích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa bỏ những tàn tích của xã hội thựcdân phong kiến để lại, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, làm cho nhân dân lao động yên tâm laođộng, sản xuất ra nhiều của cải vật chết cho xã hội Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm coi gia

Trang 4

đình là tế bào của xã hôi, phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của các thành viên trong gia đình và

sự ổn định của từng gia đình Mặt khác, thông qua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần trách nhiệmcủa các thành viên đối với gia đình Xác định diện những người thừa kế cũng như phương thứcchia di sản thừa kế trong pháp luật về thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các chứcnăng vai trò xã hội của nó

Do đó, quyền thừa kế vừa mang bản chất giai cấp sâu sắc vừa mang rõ nét tính xã hội.

3.2 Sơ lược quá trình phát triển pháp luật thừa kế của Việt Nam

3.2.1 Sơ lược về pháp luật thừa kế của chế độ phong kiến Việt Nam

Ở nước ta pháp luật thành văn về thừa kế đã có từ rất sớm Đáng chú ý là các bộ luật củacác triều đại phong kiến như Bộ luật Hồng Đức (1843), Bộ luật Gia Long (1815) đã chứa đựngnhiều quy định về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Trong luật Hồng Đức quy địnhcác con (con trai, con gái, con nuôi) đều có quyền thừa kế của cha mẹ Điều 390 Bộ luật Hồng

Đức quy định: “Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hỏa trong chúc thư”

Thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng khi không có di chúc (Điều 388) hoặc có chúc thư nhưngchúc thư vô hiệu (Điều 366) Còn Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái

mà chú trọng đến quyền lợi của con trai Vấn đề thừa kế theo di chúc được đề cập như Điều 388

quy định: “Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần của mình”.

Xét về mặt nội dung, các quy định về thừa kế trong luật Hồng Đức và Gia Long tương đốichặt chẽ và đầy đủ

Thời kỳ Pháp thuộc, ở Việt Nam áp dụng các bộ luật sau: Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 vàHoàng Việt Trung Kỳ hộ luật 1936 Trong các bộ luật này đều có quy định về thừa kế theo dichúc và thừa kế theo pháp luật

3.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đã khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa Một nhà nước non trẻ cùng một lúc phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp vềchính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước lúc này là phải bảo vệ, củng

cố thành quả cách mạng, kể cả những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự Để làm được điều đó,Nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật Ngày 22/5/1950, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 97/

SL để sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật cũ, quy định một số nguyên tắc mới để ápdụng trong điều kiện của nên dân chủ nước ta Riêng trong lĩnh vực thừa kế, bằng Sắc lệnh 97,pháp luật về thừa kế ở Việt Nam đã có những nguyên tắc hết sức tiến bộ, phá vỡ sự cổ hủ, lỗi thờitrong pháp luật về thừa kế trước đó: quy định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; contrai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha mẹ; chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên cóquyền xin chia di sản; con cháu hoặc vợ, chồng của người chết cũng không bắt buộc phải nhậnthừa kế của người ấy; các chủ nợ của người chết không có quyền đòi nợ qua số di sản để lại,

Những nội dung trên của Sắc lệnh số 97 đã cụ thể hoá Điều 9, Hiến pháp năm 1946 “Đàn

bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” và Điều 12, Hiến pháp 1946 “Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Có thể thấy rằng, Sắc lệnh 97 đã đảm bảo quyền

Trang 5

bình đẳng về thừa kế của công dân Tư tưởng tiến bộ này cho đến ngày nay vẫn còn được giữnguyên ý nghĩa chủ đạo trong việc hình thành và vận dụng các quy định của pháp luật về thừa kếnói riêng và pháp luật dân sự nói chung.

Để hướng dẫn Tòa án các cấp thống nhất trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế, Bộ Tưpháp đã ban hành Thông tư số 1742 ngày 18/9/1956 Nội dung Thông tư quy định rõ: “Vợ hoặcchồng của người chết có quyền thừa kế ngang với các con, vợ lẽ và con nuôi chính thức củangười để lại di sản có quyền thừa kế như vợ và con đẻ của người đó Vợ góa của người để lại disản đều có quyền thừa kế di sản của chồng và hưởng di sản ngang với các thừa kế cùng hàngkhác” Quy định trên đã củng cố nguyên tắc “người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ”

mà Sắc lệnh 97 đã quy định

3.2.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Điều 19 Hiến pháp 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” và Điều 16 Luật HNGĐ 1959 “vợ và chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau”; “các con có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quy định nói chung và trong lĩnh vực hưởng thừa kế nói riêng” (Điều 19)

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác xét xử, trong phạm vi chức năng của mình, Tòa ánnhân dân tối cao đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn cụ thể để Toà án các cấp có sự thốngnhất chung về đường lối xét xử các tranh chấp trong lĩnh vực thừa kế: Thông tư 594/NCPL ngày27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp về thừa kế, Thông tư 02/TATC ngày2/8/1973 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ

Ngoài ra ở miền Nam, còn có Bộ luật của chính quyền Sài Gòn (1972) đã quy định khá cụthể về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật nhằm bảo vệ các quyền lợi chính đáng củangười được hưởng di sản thừa kế

Vấn đề thừa kế trong giai đoạn 1945 – 1980 tuy cơ bản vẫn tiếp tục duy trì theo ba bộ phápđiển là Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và Pháp quy giản yếu (1873) nhưng lại mang một nộidung mới rất tiến bộ, hướng tới việc xóa bỏ những quan niệm lạc hậu, tư tưởng trọng nam khinh

nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, bình đẳng mọi công dân trong lĩnh vực thừa kế

3.2.4 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm nay

Để phù hợp tình hình mới trong sự thay đổi sâu sắc mọi mặt của đất nước, kỳ họp thứ 7 củaQuốc Hội khoá VI đã chính thức thông qua bản Hiến pháp mới của nước ta Hiến pháp 1980 là cơ

sở, nền tảng cho bước phát triển mới của pháp luật về thừa kế Tại Điều 27 Hiến pháp 1980 quy

định “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở

tư liệu sản xuất, pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của công dân”.

Để phục vụ cho công tác xét xử giải quyết tranh chấp về thừa kế, đồng thời bổ sung một sốvấn đề cho phù hợp với quy định của Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét

xử, ngày 24/7/1981 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 để hướng dẫn giải quyếtcác tranh chấp về thừa kế Thông tư 81 là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liênquan đến thừa kế Thông tư đã quy định nhiều vấn đề như: di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc,thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế, Đặc biệt, lần đầu tiên Thông tư quy định về

Trang 6

những trường hợp những người tuy được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật hoặc di chúc nhưnglại không có quyền hưởng di sản thừa kế do người đó có hành vi trái phap luật xâm phạm đếnquyền thừa kế của người khác Bên cạnh đó, Thông tư còn bào vệ quyền lợi của cha me, con cáichưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động khi di chúc củangười để lại di sản không cho họ hưởng Những người này được ưu tiên hưởng ít nhất 2/3 suấtthừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Ngoài ra Thông tư 81 còn quy định trong trường hợp những người thừa kế lẫn nhau chếtcùng một thời điểm hoặc không thể xác định ai chết trước thì không ai được thừa kế của ai, di sảncủa người nào chia cho thừa kế của người đó Mặt khác, nếu các con dâu, rể, con cháu sốngchung trong gia đình, người nào có đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển khối tài sảnchung thì khi bố mẹ, ông bà chết trước được tính chia một phần tương xứng với công sức đónggóp của người đó với danh nghĩa là người có quyền lợi chung

Có thể nói Thông tư 81 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định khá chi tiết về thừa kế tronggiai đoạn này, là văn bản được áp dụng chung thống nhất trong cả nước, đóng vai trò là căn cứpháp lý để giải quyết các tranh chấp về thừa kế Tuy nhiên, Thông tư 81 còn có những hạn chếnhất định, chưa thật sự bảo đảm quyền của những người thừa kế Trước tình hình đó, đòi hỏi phải

có một văn bản pháp luật chuẩn mực hơn, có nội dung đầy đủ và hoàn chỉnh hơn để điều chỉnhcác quan hệ về thừa kế

Tiếp đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành, quy định một số điều liênquan đến quyền thừa kế của vợ, chồng

Khắc phục những hạn chế của Thông tư 81, ngày 30/8/1990 Hội đồng nhà nước Cộng hòaXHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10/9/1990 Pháp lệnh thừa

kế gồm 38 điều, chia làm 6 chương, trong đó đã xác định được những nguyên tắc cơ bản của thừa

kế, về quyền bình đẳng thừa kế của công dân, thừa kế theo di chúc, diện và hàng thừa kế, thờihiệu yêu cầu chia di sản thừa kế,

Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn xét xử cho thấy pháp lệnh này đã

đi vào cuộc sống, về cơ bản vẫn phù hợp với thực trạng các quan hệ thừa kế hiện nay, bảo đảmđược quyền thừa kế của công dân được các tầng lớp nhân dân đồng tình, chấp nhận

Để đáp ứng với sự biến đổi, phát triển không ngừng của xã hội, cũng như khắc phục nhữngnội dung còn thiếu và chưa phù hợp với đời sống thực tế của các văn bản pháp luật trong lĩnh vựcdân sự nói chung và thừa kế nói riêng, ngày 28/10/1995, Quốc Hội khoá IX kỳ họp thứ 8 đãthông qua Bộ luật Dân sự đầu tiên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và có hiệu lực từngày 01/07/1996 Thừa kế được quy định tại Phần thứ tư BLDS năm 1995, kế thừa hầu hết cácquy định của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 Ngoài ra bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vựcthừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và thành viên của hộ gia đình Cóthể khẳng định, các quy định về thừa kế trong BLDS 1995 là một bước tiến quan trọng trong quátrình lập pháp ở Việt Nam, nhằm khắc phục kịp thời sự thiếu tập trung, không đầy đủ của phápluật về thừa kế được quy định trước đó, góp phần bảo vệ các quyền dân sự và lợi ích hợp pháp

Trang 7

của cá nhân trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng XHCN.

Quyền thừa kế tiếp tục được khẳng định trong phần thứ tư BLDS năm 2005 và mới đâynhất là BLDS 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, về cơ bản vẫn giữ nguyên nội hàm nhưtrong quy định BLDS 1995 nhưng có một số sửa đổi, bổ sung để khắc phục vướng mắc khôngphù hợp với thực tế trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế trong thời gian qua

3.3 Các nguyên tắc của quyền thừa kế

Nguyên tắc về thừa kế là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trìnhxây dựng và áp dụng pháp luật về thừa kế nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc xâydựng và áp dụng pháp luật về thừa kế Những nguyên tắc này được áp dụng chung cho cả haihình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Những nguyên tắc pháp luật về thừa kế ở Việt Nam có thể kể đến cụ thể như sau:

3.3.1 Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước bảo hộ Với

tư cách là một tổ chức quyền lực chi phối toàn xã hội, Nhà nước có đủ các điều kiện về mặt pháp

lý và quyền lực để đảm bảo quyền thừa kế của các chủ thể trong xã hội được thực thi Nhà nướcban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh về vấn đề thừa kế, xây dựng các thiết chế xã hộibảo đảm cho việc thực thi các quyền trong quan hệ thừa kế, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết cáctranh chấp về thừa kế, không ngừng nâng cao và bảo vệ lợi ích của người lao động, bảo vệ lợi ích

cộng đồng Cụ thể, Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” Thể chế hóa quy định này và trên tinh thần kế thừa BLDS

2005, BLDS 2015 đã dành 54 điều luật (từ Điều 609 đến Điều 662) để quy định về vấn đề thừa

kế Bên cạnh đó, thừa kế còn được điều chỉnh trong các văn bản pháp luật khác như: Luật Đấtđai, Luật Hôn nhân và gia đình,

Nhà nước đảm bảo cho mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình,đều có quyền để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật Điều quan trọng là mỗi cánhân đều có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Thậm chí là quyền từ chối disản thừa kế

Mặt khác, để bảo vệ và thúc đẩy quan hệ thừa kế phát triển, Nhà nước còn tạo điều kiện thuậnlợi để chủ thể tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và đảm bảo cho mọi công dân cóquyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất Đặc

biệt là “tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị giới hạn về số lượng, giá trị”1 Không aiđược tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu hợp pháp của người khác trừ trường hợp thật cần thiết

vì an ninh quốc phòng, lợi ích của Nhà nước thì Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồithường theo quy định của pháp luật Do đó tất cả mọi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cánhân sẽ trở thành di sản thừa kế khi người đó chết, được nhà nước tôn trọng và pháp luật bảo vệ

3.3.2 Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế

Trang 8

Bình đẳng là nguyên tắc Hiến định Khoản 1, Điều 16 Hiến Pháp 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Trên cơ sở đó, BLDS 2015 quy định tại Khoản 1, Điều 3:

“Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản” Từ sự quy định mang tính khái quát đó, nên trong chế định riêng về thừa kế, BLDS đã xác định rõ: “Cá nhân có quyền lập

di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, vợ và chồng có địa vị bình đẳng trong gia đình Với tưcách là đồng sở hữu tài sản chung hợp nhất đối với tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn

nhân thì: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”2 Vợ, chồng được thừa kế tài sản của nhau và đều thuộc hàng thừa

kế thứ nhất khi hưởng di sản thừa kế theo pháp luật Khi một bên chết trước, bên còn lại đượchưởng di sản thừa kế của người chết Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung đượcchia đôi theo quy định của pháp luật về thừa kế Quy định này đã xóa bỏ hệ tư tưởng lạc hậu củachế độ phong kiến, đó là tư tưởng tôn ti, thế thứ, tư tưởng trọng nam khinh nữ, tam tòng “tại giatòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” tồn tại trong xãhội Việt Nam hàng ngàn năm

Nguyên tắc này khẳng định, trong quan hệ thừa kế, không phân biệt các con là nam hay nữ,trong giá thú hay ngoài giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân

sự, họ đều được hưởng một phần di sản thừa kế theo pháp luật Pháp luật còn quy định con nuôi

có các quyền và nghĩa vụ như con đẻ trong việc nhận di sản thừa kế

Ngoài ra, Việt Nam với 54 dân tộc cùng tồn tại và phát triển, các dân tộc đều bình đằng vớinhau, không phân biệt, mỗi dân tộc có nền văn hóa và bản sắc độc đáo khác nhau, có tiếng nói,chữ viết riêng cho nên bình đẳng còn thể hiện trong quy định mọi người được quyền dùng tiếngnói, chữ viết của dân tộc mình trong việc lập di chúc định đoạt di sản thừa kế, bảo đảm cho việc

để lại di sản đúng với ý chí đích thực của người đó, vừa thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc.Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật vềthừa kế ở Việt Nam Nó không những phản ánh chế độ chính trị nói chung mà điều quan trọng lànhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế, tạo được sự đoàn kết tốtgiữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững

3.3.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di sản

Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng, một mặt đã ghi nhận sự bảo hộ của pháp luật đối vớiquyền về thừa kế, mặt khác nó còn thể hiện một cách đầy đủ nhất các quyền dân sự chủ quan củamỗi cá nhân trong việc định đoạt toàn bộ tài sản của mình

Trong quan hệ dân sự nói chung, quyền định đoạt của chủ thể được thể hiện thông qua việccác chủ thể tham gia các quan hệ dân sự một cách hoàn toàn tự nguyện vì lợi ích của chính mình,phù hợp với điều kiện của mình

Trang 9

Đối với cá nhân người để lại di sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản củamình, quyền định đoạt của cá nhân được thể hiện qua các nội dung sau:

Một là, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai mình

muốn, dành một phần di sản của mình vào việc thờ cúng hoặc di tặng cho cá nhân, tổ chức theo ýchí của mình Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở, cưỡng ép, đe doạ ngườilập di chúc

Hai là, có quyền truất thừa kế của người thừa kế theo pháp luật của mình không cần lý do.

Ba là, có quyền phân chia di sản theo ý chí của mình cho những người được chỉ định trong

Ý chí của người có tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọng nhưng quyền định đoạt của

họ không phải là tuyệt đối Trong một số trường hợp, pháp luật có quy định về quyền của ngườithừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một ngườithừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không đượcngười lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con thành niên mà không có khả năng lao động; trừtrường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc là những người không có quyền hưởng di sản theo quyđịnh của pháp luật

Như vậy, quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc không nằm ngoài khuôn khổ củapháp luật

Ngoài ra, quyền định đoạt của người để lại di sản được thể hiện không những trong việc lập

di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà còn thể hịên ngay trong việc họ không lập di chúc để địnhđoạt tài sản để lại sau khi họ chết Đây cũng là một cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việckhông lập di chúc để định đoạt tài sản của họ, mà chỉ để lại di sản của họ cho những người cóquyền thừa kế theo pháp luật

Đối với người có quyền hưởng di sản, quyền tự định đoạt được thể hiện ở chỗ người đượchưởng di sản thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế nếu việc từ chối đó không nhằm trốntránh một nghĩa vụ về tài sản của mình đối với chủ thể khác và phải thực hiện theo đúng trình tự,thủ tục mà pháp luật đã quy định Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời làngười thừa kế theo pháp luật thì việc thể hiện ý chí của người đó có thể xảy ra các trường hợpsau:

Một là, chỉ từ chối hưởng di sản thừa kế theo di chúc mà không từ chối hưởng di sản thừa

kế theo pháp luật;

Hai là, từ chối hưởng di sản thừa kế theo pháp luật mà không từ chối hưởng di sản thừa kế

theo di chúc;

Trang 10

Ba là, từ chối cả hưởng di sản thừa kế theo di chúc và hưởng di sản thừa kế theo pháp luật;

3.3.4 Củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự, đó là: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” (Khoản 1, Điều 7, BLDS 2015)

Từ truyền thống đoàn kết trong gia đình, từ mục đích của chế độ hôn nhân và gia đình nước tanhằm xây dựng những gia đình dân chủ hoà thuận, hạnh phúc trong đó mọi người đoàn kết,thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ Tinh thần đoàn kết tương trợ giữa những người trong gia đìnhcần được giữ vững ngay cả khi những người trong gia đình chết và vấn đề thừa kế được đặt ra.Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định diện và hàng thừa kế theo phápluật dựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân trong việc bảo vệ quyền lợi của người

đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

3.4 Một số quy định chung về thừa kế

3.4.1 Người để lại di sản thừa kế

Người để lại di sản thừa kế là cá nhân chết hoặc bị tòa án tuyên bố chết có tài sản thuộcquyền sở hữu hợp pháp để lại sau khi chết

Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, pháp luật thừa kế nước ta quy định người để lại

di sản thừa kế chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều kiện nào (thành phần xã hội,mức độ năng lực hành vi, ) Người để lại di sản có thể là người để lại di sản thừa kế theo di chúchoặc để lại di sản thừa kế theo pháp luật

Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở… Khi còn sống

họ có có quyền đưa các loại tài sản này vào lưu thông dân sự và có quyền lập di chúc cho ngườikhác hưởng tài sản của mình sau khi chết, người hưởng di sản có thể là cá nhân có quan hệ thânthích, cũng có thể là người không có quan hệ thân thích với người để lại di sản, thậm chí là tổchức hoặc nhà nước

Trường hợp người để lại di sản lập di chúc để định đoạt tài sản của mình thì phải đáp ứng

đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Để di chúc hợp pháp, người lập di chúc phải đápứng các điều kiện sau:

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; Người từ

đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc ngườigiám hộ đồng ý về việc lập di chúc;

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ,cưỡng ép;

Chủ thể lập di chúc là người định đoạt tài sản của mình thông qua hành vi pháp lý đơnphương của họ Vì vậy, điều kiện về độ tuổi và năng lực trí tuệ của cá nhân người lập di chúc làđiều kiện tiên quyết trong việc xác định di chúc có giá trị pháp lý hay không có giá trị pháp lý

Trang 11

Trong trường hợp công dân có tài sản thuộc sở hữu riêng, không lập di chúc để định đoạttài sản của mình thì tài sản này sẽ chia theo quy định của pháp luật.

Chủ thể khác không phải là cá nhân (pháp nhân, cơ quan, tổ chức khác không phải là phápnhân) chỉ tham gia vào quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng di sản thừa kế theo dichúc

3.4.2 Người thừa kế

Người thừa kế là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật hoặcvừa hưởng di sản theo di chúc, vừa hưởng di sản theo pháp luật Người thừa kế theo di chúc cóthể là cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc nhà nước Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cánhân và phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đối với người để lại di sản

*Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra vàcòn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

Quan hệ nhận di sản thừa kế là một quan hệ pháp luật dân sự, do vậy cá nhân phải là ngườicòn sống để thể hiện được quyền nhận hay từ chối hưởng di sản Cá nhân chưa được sinh ra thìchưa được coi là chủ thể của quan hệ xã hội cũng như quan hệ pháp luật dân sự nhưng pháp luậtquy định họ vẫn được hưởng di sản thừa kế nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kếnhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Qui định này nhằm bảo vệ quyền thừa kếcủa cá nhân, bảo vệ quan hệ huyết thống trong quan hệ thừa kế

Nhưng làm thế nào để xác định một đứa trẻ sinh ra sau bao lâu thì được xem là còn sống đểđược quyền hưởng thừa kế? 01 phút? 01 giờ hay bao lâu? Về vấn đề này hiện nay chưa có quyđịnh cụ thể, tuy nhiên chúng ta có thể xác định dựa trên giấy khai sinh của trẻ.Giấy khai sinh làloại giấy tờ tùy thân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người đểxác nhận về mặt pháp lý sự hiện diện của cá nhân đó, chứng nhận cá nhân đó đã được sinh ra(Điều 4, Luật Hộ tịch 2014) Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Giấy khaisinh thường có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, thông tin về ngày, tháng, năm sinh, thông tin vềgiới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán thông tin về quan hệ cha, mẹ, con hoặc các thông tin cơbản khác tùy theo quy định đặc thù của từng quốc gia Giấy khai sinh khác với giấy chứng sinh

do Cơ sở y tế (bệnh viện, trạm xá ) nơi trẻ em sinh ra cấp Nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thìgiấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng (nhân chứng) Trongtrường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh

là có thật

Đối với một con người, khi có Giấy khai sinh (hộ tịch gốc) người đó đã được coi là mộtcông dân coi như có đủ mọi quyền và nghĩa vụ theo pháp luật đối với nhà nước và xã hội Giấykhai sinh còn có ý nghĩa, giá trị trong suốt cuộc đời của mỗi người, đặc biệt trong việc chứngminh độ tuổi, quan hệ cha mẹ và con cái hay chứng minh quyền thừa kế tài sản

Điều 15, Luật Hộ tịch 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.”

Trang 12

Bên cạnh đó, tại khoản 3, Điều 30 BLDS 2015 quy định: “Trẻ em sinh mà sống được từ 24giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử, nếu sinh ra và sống dưới hai mươi bốn giờthì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”

Như vậy, có thể thấy rằng giấy khai sinh chính là bằng chứng để xác định trẻ em sinh vàcòn sống để được hưởng quyền thừa kế

Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, khi mà việc mang thai hộ và sinh con bằng kỹ thuật hộtrợ sinh sản ngày càng phát triển, thì quyền thừa kế của trẻ được sinh ra bằng thụ tinh ống nghiệm

và mang thai hộ sẽ được giải quyết như thế nào?

Thứ nhất, đối với trường hợp trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hộ trợ sinh sản

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặcthụ tinh trong ống nghiệm (Khoản 21, Điều 3, Luật HN và GĐ năm 2014)

Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ

được áp dụng theo quy định tại Điều 88 Luật HN và GĐ năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ

có thai trong thời kỳ hôn nhân Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”

Như vậy, đối với cặp vợ, chồng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì căn cứ xác địnhcha, mẹ, con được xác định trên nguyên tắc suy đoán pháp lý, đó là căn cứ vào thời kỳ hôn nhâncủa cha mẹ Từ quy định này đã phát sinh vướng mắc, đó là, trong trường hợp đang tiến hành kỹthuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết hoặc trường hợp đứa con được sinh ra từ tinh trùng củangười chồng đã chết, đứa trẻ sinh ra đã quá 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ cóđược xác định là con chung của vợ, chồng không? Trường hợp này hiện pháp luật chưa có quyđịnh cụ thể Nếu theo nguyên tắc quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014,thì đứa trẻ trongtrường hợp này không phải con chung của vợ, chồng! Tuy nhiên, thực tế đứa trẻ đó mang huyếtthống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự mong muốn của người đãkhuất Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽảnh hưởng lớn đến quyền lợi của đứa trẻ, như quyền thừa kế di sản của người cha để lại

Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” Như vậy, chỉ trong trường hợp đứa trẻ được sinh

ra bằng kỹ thuật hộ trợ sinh sản trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân thì đứa trẻmới được hưởng di sản thừa kế

Thứ hai, đối với trường hợp mang thai hộ

Mang thai hộ (vì mục đích nhân đạo) là việc bên mang thai hộ tự nguyện, không mang mụcđích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh conngay khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; bằng cách lấy noãn của người vợ và tinh trùng củangười chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người tự nguyện mangthai để người này sinh con (Khoản 22, Điều 3, Luật HN&GĐ 2014)

Trang 13

Về nguyên tắc, thừa kế theo pháp luật khi cha hoặc mẹ chết thì con ruột sẽ được hưởngthừa kế Con ruột này phải được xác lập theo quy định của pháp luật và phải được pháp luật thừanhận.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vìmục đích nhận đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra(Điều 94, Luật HN&GDD2014) Căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vìmục đích nhân đạo dựa trên yếu tố huyết thống, thời kỳ hôn nhân của người mang thai hộ Đứatrẻ này có thể thuộc trường hợp sinh con trong thời kỳ hôn nhân nhưng sự kiện sinh đẻ khôngphải do người vợ thực hiện mà do người khác thực hiện

Con sinh ra bằng phương pháp mang thai hộ xét về yếu tố huyết thống mang huyết thôngcủa bên nhờ mang thai hộ Vì xét theo điều kiện kiện nhờ mang thai hộ thì: người chồng phải cótinh trùng, người vợ phải có noãn đảm bảo chất lương thụ tinh Bên mang thai hộ chỉ là phát triểnnuôi dưỡng phôi, vì vậy trẻ sinh ra sẽ không mang huyết thống của bên mang thai hộ

Từ những quy định của pháp luật nói trên thì trẻ sinh ra bằng phương pháp mang thai hộchỉ được hưởng thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ mình (tức là bên nhờ mang thai hộ) mà khôngmặc nhiên được hưởng thừa kế từ bên nhận mang thai hộ (mặc dù đó là người “sinh” ra mình).Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của phápluật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ (Khoản 3, Điều 98, Luật HN&GDD2014)

Trẻ sinh ra bằng phương pháp mang thai hộ chỉ được thừa kế bên nhận mang thai hộ khi:

- Người mang thai hộ để lại di chúc định đoạt di sản cho trẻ sinh ra bằng phương phápmang thai hộ Mọi công dân đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho bất cứ ai.Người lập di chúc có quyền chỉ định người hưởng di sản là người thân thích có quan hệ huyếtthống, hôn nhân, nuôi dưỡng với mình hoặc bất kỳ cá nhân tổ chức nào Chính vì vậy khi ngườimang thai hộ để lại di chúc thể hiện ý chí cho trẻ sinh ra bằng mang thai hộ thì pháp luật sẽ bảo

hộ quyền đứa trẻ

- Người mang thai hộ nhận trẻ mà mình sinh ra làm con nuôi Theo quy định của pháp luậthiện hành thì con đẻ hay con nuôi đều được hưởng quyền thừa kế của bố mẹ mình Xuất phát từyếu tố nuôi dưỡng pháp luật hiện hành đưa con nuôi là hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ nuôi.Tuy nhiên để được hưởng thừa kế thì đứa trẻ và người mang thai hộ phải được pháp luật thừanhận có quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi Hơn nữa, cha, mẹ nuôi không truất quyền thừa kế của connuôi, cũng như con nuôi không bị tước quyền hưởng thừa kế theo quy định pháp luật thì lúc nàycon nuôi mới được hưởng thừa kế theo pháp luật bố mẹ nuôi

*Người thừa kế không phải là cá nhân phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.Người thừa kếkhông phải là cá nhân có thể là pháp nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức khác không phải làpháp nhân

Người hưởng thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi disản thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhận di sản nhằmtrốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác Xuất phát từ tầm quan trọng

Trang 14

của việc từ chối di sản, khi một người thừa kế từ chối nhận di sản sẽ ảnh hưởng đến quyền củanhững người thừa kế khác, nên pháp luật muốn đảm bảo từ chối phải minh bạch, công khai, rõràng về ý chí

Vấn đề này đã được đề cập trong BLDS 2005: “Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản

Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày

mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế”

Tuy nhiên, quy định trên đã tồn tại nhiều bất cập Chính vì vậy, khi ban hành BLDS 2015,các nhà làm luật đã có sự sửa đổi cần thiết để khắc phục những điểm bất hợp lý và thời hạn từchối nhận di sản quá ngắn của BLDS 2005 Theo đó, BLDS 2015 quy định thủ tục từ chối nhận

di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến những người quản lý di sản, những người thừa kếkhác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết Quy định này ngắn gọn, đơn giản vàphù hợp hơn BLDS 2005, người từ chối nhận di sản sẽ lập thành văn bản thể hiện rõ ý chí củamình và gửi văn bản này đến chủ thể luật yêu cầu Nhưng ngược lại, quy định này lại đưa ra thờihạn quá dài, không xác định cụ thể và có thể ảnh hưởng đến những người thừa kế khác (nhất lànhững người thừa kế thuộc hàng thừa kế tiếp theo nếu họ muốn được hưởng thừa kế trong trườnghợp người thừa kế từ chối nhận di sản) cũng như người thứ ba Với thời hạn như hiện nay, tính ổnđịnh sẽ không cao và đây là mặt trái của việc sửa đổi về thời hạn từ chối nhận di sản

3.4.3 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

3.4.3.1 Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Thời điểm mở thừa kế là thờiđiểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mởthừa kế do Tòa án xác định

Việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý Cụ thể:

Thứ nhất, thời điểm mở thừa kế là căn cứ để xác định những người thừa kế của người đã

chết, vì theo quy định của pháp luật người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thờiđiểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trướckhi người để lại di sản chết, nếu là tổ chức phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Nếu nhữngngười có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng lại chết cùng thời điểm thì họ không được hưởng

di sản của nhau, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652, BLDS 2015: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản

mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Thứ hai, xác định thời điểm mở thừa kế nhằm xác định chính xác tài sản, quyền và nghĩa

vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm có những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu Kể

từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế của người đã chết có quyền và nghĩa vụ tài sản dó

Trang 15

người chết để lại Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại chỉ trong phạm

vi di sản thừa kế, tương ứng với tỷ lệ mà họ nhận được, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Quyđịnh này thể hiện sự tiến bỏ trong hoạt động lập pháp, xóa bỏ tàn tích của xã hội cũ với nhữngquy định hà khắc, bóc lột người nghèo như: nợ truyền từ đời này sang đời khác, cha không trả hết

nợ thì con trả, con không trả hết thì cháu trả,

Thứ ba, xác định thời điểm mở thừa kế là xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc Theo

quy định tại Khoản 1, Điều 643 BLDS 2015, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế Thôngthường, sau khi một hành vi thực hiện xong sẽ làm phát sinh một quan hệ, tuy nhiên với hành vilập di chúc, di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật khi có sự biến pháp lý xảy ra là người lập di chúcchết

Thứ năm, xác định thời điểm mở thừa kế là cơ sở để xác định thời hiệu yêu cầu chia di sản

thừa kế (khởi kiện hoặc không) và thời hiệu hưởng quyền đối với di sản Khác với BLDS 2005khi quy định thời hiệu yêu cầu Tòa chia di sản thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế ápdụng chung cho mọi loại tài sản thì ở BLDS 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sảnđược kéo dài 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa

kế Đây là điểm mới tích cực của BLDS 2015, tạo cơ hội cho người thừa kế có thể khởi kiện nhờTòa án giải quyết tranh chấp về phân chia di sản trong thời hạn dài hơn, bảo đảm quyền sở hữutài sản và quyền thừa kế của những người thừa kế

3.4.3.2 Địa điểm mở thừa kế

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác địnhđược nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn

di sản Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, phường, thịtrấn) Pháp luật quy định địa điểm mở thừa kế vì ở nơi đó thường phải tiến hành những công việcnhư: kiểm kê ngay tài sản của người đã chết; xác định những ai là người thừa kế theo di chúchoặc theo pháp luật, người từ chối nhận di sản Hơn nữa trong trường hợp có tranh chấp thìTAND nơi mở thừa kế có thẩm quyền giải quyết

Trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi khác nhau, do đó pháp luật quyđịnh điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản Trong trường hợp khôngxác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn disản

3.4.4 Di sản thừa kế

Theo quy định tại Điều 612, BLDS 2015 di sản bao gồm: Tài sản riêng của người chết,phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác Như vậy, di sản thừa kế là toàn

bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết, quyền về tài sản của người đó Tài sản

là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất độngsản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Tuy nhiên, nếunghĩa vụ về tài sản của người chết để lại lớn hơn hoặc ngang bằng với giá trị di sản của người này

để lại thì khi đó sẽ không còn di sản để chia thừa kế

Trang 16

Việc xác định đúng di sản thừa kế góp phần đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia disản, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế.

Di sản thừa kế bao gồm:

3.4.4.1 Tài sản riêng của người chết

Tài sản riêng của người chết được xác định khi người đó còn sống, có quyền sở hữu tài sảncủa mình một cách độc lập, tự mình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo ý chí riêng củamình mà không bị ràng buộc vào ý chí của người khác và chỉ tuân theo pháp luật

Pháp luật thừa nhận cá nhân có quyền có tài sản riêng ngay cả trong thời kỳ hôn nhân.Trong quan hệ vợ chồng thì tài sản riêng của vợ, chồng được xác định gồm tài sản mà mỗi người

có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhânmàngười có tài sản riêng không có ý định sắp nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng thì tài sản

đó vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng; tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ,

chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập

hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng

Tài sản riêng của vợ hoặc chồng còn được xác định trong trường hợp vợ, chồng đã có thỏathuận bằng văn bản chia tài sản chung hoặc yêu cầu tòa chia tài sản chung khi có lý do chínhđáng thì phần tài sản của vợ hoặc chồng được chia là tài sản riêng của mỗi người Trong trườnghợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tàisản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợchồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật, gồm: (Nghị định126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đìnhnăm 2014)

- Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ

- Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc

cơ quan có thẩm quyền khác

- Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãingười có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng

3.4.4.2 Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác

Trong thực tế, có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn để cùng sản xuất, kinhdoanh, nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người (đồng sở hữu với một khốitài sản nhất định) Nếu một trong các dồng sở hữu chết thì di sản thừa kế của người chết là phầntài sản thuộc sở hữu của người đó góp chung trong khối tài sản chung Tài sản chung trong khốitài sản chung với người khác còn bao gồm: phần tài sản của người chết trong những tài sản đượcthừa kế chung, tặng cho chung, tài sản chung theo phần của con cái với bố mẹ, tài sản chung theophần của người đang sinh sống như vợ chồng với người khác,

Khác với hình thức sở hữu chung theo phần, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làtài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng (Khoản 2, Điều 33 Luật HNGĐ 2014) Vợ,chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền

Trang 17

ngang nhau trong việc chiếm đoạt, sử dụng, định đoạt tài sản chung Vì vậy, khi một bên chếttrước, phần di sản của người đó được xác định là ½ giá trị trong tổng giá trị tài sản chung hợpnhất vợ chồng.

3.4.4.3 Quyền về tài sản do người chết để lại

Đó là các quyền dân sự được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do bồi thường thiệthại mà trước khi chết họ đã tham gia quan hệ này: quyền đòi nợ, quyền đòi lại tài sản cho thuêhoặc cho mượn, quyền chuộc lại tài sản đã thế chấp, cầm cố, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng, Ngoài ra, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp cũng là di sản thừa kế Tuynhiên, các quyền về tài sản gắn liền với nhân thân của người chết (quyền hương trợ cấp, tiềnlương hưu) không là di sản thừa kế

Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, Nhà nước là người quản lý toàn bộ đất đai và giaocho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Nhằm tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức đầu tưcông sức vào sản xuất, Nhà nước cho phép cá nhân có năm quyền, trong đó có quyền để lại thừa

kế quyền sử dụng đất Tùy loại đất khác nhau mà quyền thừa kế cũng được quy định khác nhau.Việc quy định quyền tài sản là di sản thừa kế do người chết để lại góp phần bảo vệ nhữngquyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường tinh thần trách nhiệm của các chủ thể khitham gia các quan hệ pháp luật dân sự

3.4.5 Người quản lý di sản

Trong quá trình thừa kế di sản, công việc quản lý di sản là rất quan trọng và không thểthiếu Sau khi người để lại di sản qua đời, chủ thể của quyền sở hữu đối với tài sản không còntrong khi những người thừa kế chưa xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể trong khối di sản.Mặt khác, theo phong tục thì việc chia di sản không tiến hành ngay khi người để lại di sản chết,

mà khối di sản cần phải được quản lý, bảo quán, tránh mất mát, hư hỏng Chính vì vậy, pháp luật

có quy định cụ thể về vấn đề quản lý di sản của người để lại di sản

Người quản lý di sản thừa kế là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những ngườithừa kế đề cử ra để quản lý di sản của người chết để lại Trường hợp di chúc không chỉ địnhngười quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đangchiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cửđược người quản lý di sản Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa cóngười quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý

3.4.5.1 Quyền của người quản lý di sản

*Người quản lý là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoảthuận cử ra hoặc người quản lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phân công có cácquyền sau đây:

- Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sảnthừa kế;

- Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế

- Được thanh toán chi phí bảo quản di sản

Trang 18

*Người quản lý trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và nhữngngười thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý disản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản cócác quyền sau đây:

- Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặcđược sự đồng ý của những người thừa kế;

- Được thanh toán chi phí bảo quản di sản

Người quản lý di sản phải bỏ thời gian, công sức thậm chí phải chi phí tiền của để bảo quản

di sản thừa kế Vì vậy khi chia di sản thừa kế phải thanh toán các chi phí mà người bảo quản disản đã bỏ ra Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thìngười quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý

3.4.5.2 Nghĩa vụ của người quản lý di sản

*Người quản lý là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoảthuận cử ra hoặc người quản lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phân công có cácnghĩa vụ sau đây:

- Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đangchiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sảnbằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

- Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

- Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

- Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế

*Người quản lý trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và nhữngngười thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý disản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản cócác nghĩa vụ sau đây:

- Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sảnbằng các hình thức khác

- Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

- Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

- Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầucủa người thừa kế

3.4.6 Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm

Những người có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng chết cùng một thời điểm hoặc đượccoi là chết cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước, người nào chết sau thìkhông được hưởng di sản thừa kế của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người

đó được hưởng trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 BLDS 2015 Pháp luậtquy định như vậy là để việc chia di sản thừa kế được tiến hành bình thường, không ảnh hưởng

Trang 19

đến quyền lợi của những người thừa kế khác, bảo đảm sự công bằng và củng cố tình đoàn kết giađình.

3.4.7 Những người không được hưởng di sản

Người không có quyền hưởng di sản là những người có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạmthuần phong, mỹ tục, trái luân thường đạo lý và xâm phạm nghiệm trọng đến người để lại di sản.Pháp luật không cho những người có những người này được hưởng di sản thừa kế của người đểlại thừa kế Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãinghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm củangười đó;

Pháp luật luôn bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mọi công dân nhưng những côngdân có hành vi trái pháp luật thì tư cách chủ thể của họ vị hạn chế hoặc đình chỉ theo quy địnhcủa pháp luật

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc giữa cá nhân với cá nhân khi còn sống không chỉ là nhữngtruyền thống văn hóa, đạo đức của xã hội mà còn được pháp luật quy định cụ thể trong Luật Hônnhân và gia đình

Phổ biến nhất là các quan hệ nuôi dưỡng giữa cha-con, mẹ-con, anh, chị em ruột đối vớinhau; ông bà nội, ngoại với các cháu; vợ, chồng đối với nhau Nghĩa vụ cấp dưỡng gắn liền vớithân nhân cá nhân, không thể chuyển dịch cho người khác và cũng không thể phân chia như cácnghĩa vụ dân sự khác Vợ chồng có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả nănglao động và ngay cả khi đã ly hôn mà bên kia yêu cầu và được Toàn án chấp nhận

Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản không những phảichịu trách nhiệm hình sự mà còn bị tước đoạt quyền thừa kế do hành vi cố ý vi phạm nghĩa vụ đótheo quy định của pháp luật

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởngmột phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

Người thừa kế khác được hiều là người có quyền hưởng di sản trong cùng hàng thừa kế vớingười có hành vi bị kết án là cố ý giết người thừa kế khác Người thừa kế khác cũng có thể làngười thừa kế ở hàng thừa kế liền kề tiếp theo với hàng thừa kế của người có hành vi phạm tộitrong trường hợp có người thừa kế thế vị

Tuy nhiên, cần phải phân biệt người bị kết án hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa

kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởngvới hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhưng không nhằm mục đích hưởnglợi về di sản thừa kế Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khácnhưng không nhằm mục đích hưởng lợi về di sản thừa kế thì không bị tước quyền hưởng di sảnthừa kế

Trang 20

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập dichúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phầnhoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định đoạt tài sản của mình cho ngườithừa kế sau khi họ qua đời Ý chí của người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện, tự do định đoạttài sản của mình cho người thừa kế được chỉ định Người lập di chúc phải hiểu được mình địnhđoạt tài sản như thế nào? Cho ai? Tại sao như thế này mà không như thế khác? Vì vậy, hành vicản trở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật, người có hành vi cản trở sẽ bị tướcquyền thừa kế của người để lại di sản

Tuy nhiên, pháp luật luôn tôn trọng và đề cao quyền tự định đoạt đối với tài sản của mìnhcủa các chủ thể trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ thừa kế nói riêng Do đó, khoản 2

Điều 621 BLDS 2015 đã quy định: “Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”.

Với quy định trên, pháp luật thừa kế Việt Nam hiện hành đã thể hiện rõ bản chất nhân đạo

và phù hợp với quan niệm của nhân dân ta là tha thứ cho những hành vi theo quy định của phápluật là phạm pháp nhưng trên phương diện của quan hệ xã hội thông thường, người có hành vi viphạm pháp luật vẫn được những người thân thích của mình tha thứ Đây là bài học mang đậm nétnhân văn cao cả giúp cho những người có hành vi trái pháp luật thông qua hành động nhân ái củangười để lại di sản mà tự tu dưỡng, tự cải tạo để trở thành người hữu ích cho xã hội

3.4.8 Thời hiệu thừa kế

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì quyền dân sự đượcxác lập, nghĩa vụ dân sự được miễn trừ hoặc quyền khởi kiện chấm dứt Đối với mỗi loại quan hệdân sự khác nhau thì thời hiệu cũng được quy định khác nhau Trong quan hệ thừa kế, thời hiệukhởi kiện được quy định như sau:

- Thời hiệu yêu cầu chia di sản (khởi kiện hoặc không): 30 năm đối với bất động sản, 10năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế

BLDS 2015 đã kéo dài thời hiệu đối với di sản là bất động sản so với BLDS 2005 khi chỉquy định là 10 năm, tạo sự tương thích với quy định của BLDS về xác lập quyền sở hữu theo thờihiệu do chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật về mặt thời gian Tuy nhiên việc áp đặt thờihiệu cho yêu cầu chia di sản đã dẫn tới sự mâu thuẫn với chính các quy định của BLDS về quản

lý (Điều 216), sử dụng (Điều 217), định đoạt (Điều 218) và chia tài sản chung (Điều 219) khikhông có quy định nào buộc các chủ sở hữu tài sản chung phải phân chia tài sản trong một thờihạn nhất định

Vấn đề tiếp theo là số phận di sản hết khi hết thời hiệu sẽ được xử lý như thế nào? Mộtđiểm mới nổi bật của BLDS 2015 so với BLDS 2005 là bổ sung quy định giải quyết hệ quả khihết thời hiệu yêu cầu chia di sản

Khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản

đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

Trang 21

(i) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của

BLDS “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”

(ii) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu

- Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của ngườikhác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

- Thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người quá cố để lại là 03 năm, kể từ thờiđiểm mở thừa kế

Việc quy định về thời hiệu thừa kế nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người thừa

kế hoặc người có liên quan Đồng thời còn nhằm bảo vệ trật tự công bằng xã hội, cân bằng lợi íchgiữa các chủ thể có quyền thừa kế với lợi ích xã hội, nhằm bảo đảm sự ổn định các quan hệ dân

sự, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài

Trong cuộc sống còn có những di chúc không nhằm chuyển tài sản của người lập do chúccho những người thừa kế nhất định mà là thể hiện ý nguyện nào đó của người lập di chúc, nhưcăn dặn các con, các cháu phải đoàn kết, cố gắng học tập, chăm chỉ lao động và giúp đỡ lẫn nhautrong lúc khó khăn, phải thăm nom mồ mả tổ tiên Những loại di chúc này không nhằm định đoạttài sản cho người thừa kế nhưng có ý nghĩa nhất định đối với người còn sống Xét về ý nghĩa củaquan hệ thừa kế, những di chúc này không thuộc loại di chúc được luật dân sự điều chỉnh vànhững tranh chấp có thể có trong quan hệ xã hội này không được giải quyết bằng khởi kiện raTòa án mà dựa trên cơ sở sự thỏa thuận, hòa gải giữa các bên Tuy nhiên, tính chất và nội dungcủa loại di chúc này không thể xác định là trái pháp luật mà là loại di chúc đề cập đến nghĩa vụ tựnhiên, pháp luật không điều chỉnh hậu quả pháp lý của nghĩa vụ tự nhiên đó

Di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm chuyển tài sản của người lập di chúccho những người thừa kế sau khi người lập di chúc chết Di chúc có những đặc trưng sau:

- Di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc

Ý chí đơn phương này thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết Người lập di chúc không có nghĩa vụphải trao đổi với người thừa kế về nội dung di chúc Người lập di chúc phải tự nguyện , không bị

đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị sự

Trang 22

chi phối nào của người khác Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịchdân sự về thừa kế theo di chúc.

Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện người lập di chúc toàn quyềnđịnh đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm tàisản thuộc sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc

có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc

Bất kỳ sự can thiệp nào ảnh hưởng đến sự tự nguyện của người lập di chúc trong việc lập dichúc thì đều có thể làm cho di chúc trở nên vô hiệu

- Di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác sau khi người lập di chúc chết

Nếu như các hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các chủ thể nhằm chuyểndịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại nhằm chuyển dịch tài sản của người lập

di chúc cho người thừa kế theo di chúc khi người đó chết Trong trường hợp những người đượcngười có tài sản chỉ định hưởng di sản sau khi ngươi có tài sản chết nhưng đã nhận tài sản trongkhi người có tài sản đó còn sống thì trong trường hợp này không phải là thừa kế theo di chúc mà

đã mang tính chất của quan hệ hợp đồng tặng cho Việc phân biệt thừa kế theo di chúc và nhận tàisản tặng cho là rất cần thiết, đó là căn cứ để giải quyết những tranh chấp có liên quan

Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập di chúc, do vậy ý định của ngườilập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết có thể không thực hiệnđược do tài sản được định đoạt không còn vào thời điểm mở thừa kế hoặc những người thừa kếđược chỉ định trong di chúc đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đềukhông có quyền hưởng, từ chối quyền hưởng di sản, thì mục đích nhằm chuyển tài sản củangười lập di chúc cho người thừa kế không đạt được

Ngoài ra, nội dung di chúc còn nhằm định đoạt di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng, giaonghĩa vụ cho người thừa kế và đôi khi cũng thể hiện ý định truất quyền hưởng di sản của ngườithừa kế theo pháp luật

- Di chúc là một giao dịch pháp lý trọng hình thức

Đối với các giao dịch dân sự, hình thức không phải là điều kiện bắt buộc trừ trường hợpluật có quy định Riêng đối với di chúc, hình thức là điều kiện bắt buộc để di chúc có hiệu lựcpháp luật Mặt khác, vì di chúc là hành vi pháp lý đơn phương mang tính cá nhân tuyệt đối nênchỉ có thể do cá nhân trực tiếp lập ra mà không thể được lập thông qua người đại diện Hợn nữa,

di chúc thường dễ bị người khác giả mạo, hoặc có thể di chúc được lập do bị người khác cưỡng

ép, lừa dối, hoặc gây ảnh hưởng Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành rất chú trọng đếnhình thức di chúc và thủ tục lập di chúc Di chúc được lập không tuân thủ hình thức, thủ tục dopháp luật quy định thì đương nhiên vô hiệu

- Di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết

Khoản 1 Điều 643 BLDS 2015 quy định: “ Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”.

Khi người lập di chúc còn sống di chúc có phù hợp với các quy định của pháp luật về hình thức

và nội dung , thì di chúc cũng chưa phát sinh hiệu lực Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực ( khingười lập di chúc chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền nào

Trang 23

đối với tài sản mà họ sẽ được hưởng Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc chođến khi người lập di chúc chết.

- Trong lúc còn sống, bất kỳ lúc nào, người lập di chúc cũng có quyền sửa đổi, bổ sung,thay thế hoặc hủy bỏ di chúc

Trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt bằng di chúc, pháp luật quy định người lập

di chúc khi còn sống và còn minh mẫn, sáng suốt, bất kỳ lúc nào cũng có quyền thay đổi quyếtđịnh về việc lập di chúc, nếu thấy quyết định đó không phù hợp Việc thay đổi quyết định về việclập di chúc có thể được thực hiện thông qua các hành vi như thay đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ

di chúc Việc thay đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc cũng do người lập di chúc đơn phươngquyết định, không lệ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai, kể cả người được chỉ định trong di chúc trước

đó cũng như trong di chúc mới Nếu người chết để lại nhiều di chúc có nội dung mâu thuẫn nhauthì chỉ di chúc hợp pháp sau cùng có hiệu lực

3.5.1.2 Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là một hình thức thừa kế quan trọng của chế định quyền thừa kế Thừa kếtheo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyếtđịnh của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo

di chúc là chỉ định người thừa kế và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụtài sản,

3.5.2 Người lập di chúc

*Người lập di chúc là người có tài sản muốn định đoạt tài sản của mình cho người kháchưởng sau khi chết Họ thể hiện ý chí của bản thân thông qua việc lập di chúc Pháp luật khôngquy định cá nhân có thể lập bao nhiêu bản di chúc, nhưng nếu một người lập nhiều bản di chúcthì chỉ bản di chúc cuối cùng có hiệu lực pháp luật

Người lập di chúc chỉ có thể là cá nhân nhưng không phải mọi cá nhân đều có thể tự mìnhlập di chúc để định đoạt tài sản nếu không có năng lực để lập di chúc Pháp luật hiện hành quyđịnh năng lực lập di chúc của cá nhân như sau:

- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tự mình lập di chúc

Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có quyền thực hiện cáchành vi dân sự hợp pháp và phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, trong đó có hành vilập di chúc Thông qua di chúc, người lập di chúc tự định đoạt tài sản của mình cho người khácvới ý chí hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha,

mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc và di chúc của người này phải lập thành vănbản Như vậy, pháp luật cho phép người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập

di chúc nếu đáp ứng được một số điều kiện luật định: (i) di chúc đó phải được lập thành văn bản

và (ii) phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của họ

Cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thường không có tài sản và đangđược cha mẹ hoặc người khác nuôi dưỡng nhưng cũng có cá nhân trong độ tuổi này có khốilượng tài sản do được tặng cho hay cá nhân tạo lập do lao động trong các tổ chức kinh tế, dịch vụ

Ngày đăng: 04/05/2018, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w