Tình hình thế giới tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường về ngoại giao giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế hàng đầu của mỗi quốc gia, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh, có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, môi trường hoà bình. Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong tiến hành công cuộc Đổi mới với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Việt Nam đã và đang hợp tác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để cùng nhau giải quyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, … Những nỗ lực của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với bạn bè ở khu vực và quốc tế. Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hợp tác quốc tế, độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc… Chính vì những lý do trên em chọn đề tài nghiên cứu “ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ SAU NĂM 1986 ĐẾN NAY” . 2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: Mục đích: Thông qua quá trình xác định chính sách đối ngoại theo đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam, khẳng định sự nhạy cảm chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng đã kịp thời đổi mới chính sách đối ngoại phù hợp với chính sách đối nội và xu thế thời đại để hội nhập với cộng đồng quốc tế vì hoà bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển. Nhiệm vụ: + Trình bày những cơ sở dẫn đến sự xác định chính sách đối ngoại theo đường lối đổi mới + Trình bày các giai đoạn phát triển của đường lối đối ngoại đổi mới, cái mới, cái sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại đổi mới. + Thông qua việc phân tích những thành tựu, tồn tại khẳng định chủ trương “độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá” quan hệ quốc tế là quyết sách đúng đắn, nhạy bén của Đảng, từ đó bước đầu nêu lên những kinh nghiệm thực hiện chính sách đối ngoại. 3.Phương pháp nghiên cứu: Theo phương pháp luận sử học, đồng thời dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và kết hợp chặt chẽ các phương pháp lịch sử với so sánh, thống kê nhằm làm nổi bật những thắng lợi trong đường lối chính sách đối ngoại của Đảng gần 20 năm qua 4.Phạm vi nghiên cứu ( cục dạng thời đại và nội dung): Chính sách đối ngoại của Đảng là một đề tài rộng khoá luận đề cập tới những vấn đề sau.Thời gian và không gian đề cập là từ năm (1986 – đến nay) ở Việt Nam. Đây là thời kỳ Đảng lãnh đạo và tiến hành đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết của đất nước và đáp ứng xu thế thời đại. PHẦN NỘI DUNG 1. MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VÀ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ LÀ ĐÒI HỎI KHÁCH QUAN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ XU THẾ CHUNG CỦA THẾ GIỚI. 1.1 Nền tảng của việc mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. 1.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chính sách đối ngoại Giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bì
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:
Tình hình thế giới tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường
về ngoại giao giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Toàn cầu hoá tiếptục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước Các quốc gia lớn nhỏđang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế Hoà bình, hợptác và phát triển vẫn là xu thế hàng đầu của mỗi quốc gia, phản ánh đòi hỏi bứcxúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển
Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớnmạnh, có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, môitrường hoà bình Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong tiếnhành công cuộc Đổi mới với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếptục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đaphương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: “ViệtNam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồngthế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Nam đã và đang hợptác chặt chẽ với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực để cùng nhau giảiquyết những thách thức chung như dịch bệnh truyền nhiễm, đói nghèo, tội phạmxuyên quốc gia, ô nhiễm môi trường, buôn lậu ma túy, … Những nỗ lực củaViệt Nam thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của mình đối với bạn bè ở khu vực
và quốc tế Việt Nam sẽ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinhthần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hợp tác quốc tế, độc lập tự chủ và địnhhướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc…
Chính vì những lý do trên em chọn đề tài nghiên cứu “ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ SAU NĂM 1986 ĐẾN NAY”
2.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
* Mục đích:
Thông qua quá trình xác định chính sách đối ngoại theo đường lối đổi mới
toàn diện đất nước của Đảng cộng sản Việt Nam, khẳng định sự nhạy cảm
chính trị, kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng đã kịp thời đổi mới chínhsách đối ngoại phù hợp với chính sách đối nội và xu thế thời đại để hội nhập vớicộng đồng quốc tế vì hoà bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển
Trang 2* Nhiệm vụ:
+ Trình bày những cơ sở dẫn đến sự xác định chính sách đối ngoại theođường lối đổi mới
+ Trình bày các giai đoạn phát triển của đường lối đối ngoại đổi mới, cái
mới, cái sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại đổi mới.+ Thông qua việc phân tích những thành tựu, tồn tại khẳng định chủ trương
“độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá” quan hệ quốc tế là quyết sáchđúng đắn, nhạy bén của Đảng, từ đó bước đầu nêu lên những kinh nghiệm thựchiện chính sách đối ngoại
3.Phương pháp nghiên cứu:
Theo phương pháp luận sử học, đồng thời dựa vào phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và kết hợpchặt chẽ các phương pháp lịch sử với so sánh, thống kê nhằm làm nổi bật nhữngthắng lợi trong đường lối chính sách đối ngoại của Đảng gần 20 năm qua
4.Phạm vi nghiên cứu ( cục dạng thời đại và nội dung):
Chính sách đối ngoại của Đảng là một đề tài rộng khoá luận đề cập tới nhữngvấn đề sau.Thời gian và không gian đề cập là từ năm (1986 – đến nay) ở ViệtNam Đây là thời kỳ Đảng lãnh đạo và tiến hành đổi mới toàn diện nhằm đápứng những yêu cầu cấp thiết của đất nước và đáp ứng xu thế thời đại
PHẦN NỘI DUNG
Trang 31 MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VÀ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ LÀ ĐÒI HỎI KHÁCH QUAN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ XU THẾ CHUNG CỦA THẾ GIỚI.
1.1 Nền tảng của việc mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chính sách đối ngoại
Giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững.Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổchức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnhthổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đedọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượnghòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.Củng cố và tăng cườngquan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lậpdân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới Tiếp tục mở rộng quan hệ với cácđảng cầm quyền
Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linhhoạt, sáng tạo và hiệu quả” Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động củanhân dân thế giới, tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tácvới các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội.Chủđộng tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn sàng đối thoại vớicác nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền.Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn
đề “dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội
bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chínhtrị của Việt Nam
Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vớicác thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, phục vụ lợi ích đất nướclàm mục tiêu Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phùhợp với chiến lược phát triển đất nước Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các
Trang 4hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Thúc đẩy quan hệ hợptác toàn diện có hiệu quả với các nước ASEAN, châu Á – Thái Bình Dương…Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi, bổsung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định
và minh bạch
Phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế Xúc tiến thương mại đầu tư, pháttriển thị trường, sản phẩm và thương hiệu mới Khuyến khích các doanh nghiệpViệt Nam hợp tác liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư
ra nước ngoài.Đẩy mạnh công tác văn hoá – thông tin đối ngoại, góp phần tăngcường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước Đàotạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng vềchính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩmchất tốt.Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại với sựtham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nướcđối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại củaĐảng, Nhà nước và nhân dân; chính trị và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốcphòng và an ninh; thông tin trong và ngoài nước
1.1.2 Truyền thống ngoại giao của dân tộc
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam luôn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, gian khổ Qua những thăng trầm ấy, ngoại giao Việt Nam đã từng bước được hình thành và phát triển, vừa mang đậmbản sắc dân tộc, vừa kết tinh những tinh hoa của nhân loại để tạo nên một bản sắc riêng của nền ngoại giao Việt Nam
Ngoại giao Việt Nam truyền thống bắt nguồn từ ý chí đấu tranh kiên cườngcho độc lập, tự do của dân tộc với nhiều tấm gương điển hình như Lý ThườngKiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi… và nhiều bài học sâu sắc và bổ ích vềquan hệ với lân bang, ứng xử trong đối ngoại… Đó còn là lòng mong muốn hòabình, hòa hiếu, thủy chung, xuất phát từ bản chất nhân văn sâu sắc và truyềnthống yêu chuộng hòa bình vốn có của người Việt… Lịch sử đấu tranh bất khuấtchống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã mang lại cho ngoại giao ViệtNam tính chiến đấu cao, bản chất hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung,
“lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”
Trang 5Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyềnthống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một
“binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhànước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia
Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các nước tiến hành các hoạt động ngoại giaodưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng quy tụ lại thành hai loại chính là ngoạigiao nhà nước và ngoại giao nhân dân Ngoại giao nhà nước là mối quan hệ giữachính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà lãnh đạo củacác nước Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán hoặc cơ quan đại diệnngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại diện cho chính phủ ởnước sở tại Ngoại giao nhân dân là một hình thức hoạt động quan hệ đối ngoại
do các tổ chức, các đoàn thể, hoặc cá nhân thuộc nhiều lĩnh vực tiến hành,không mang tính chất chính thức của Chính phủ
Hoạt động của ngoại giao nhân dân là phát huy “sức mạnh mềm” của mộtnước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực hiện chính sách đối ngoại màchính phủ nước đó đề ra Ngoại giao nhân dân là lực lượng quan trọng của mặttrận ngoại giao và ưu thế của ngoại giao nhân dân là có thể đi đầu, có thể đitrước tại những nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chínhthức của nhà nước chưa có điều kiện triển khai
Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phươngchâm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ranhững điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng,hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc.Người từng nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý,chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh củachính nghĩa” Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp củatoàn dân, mà còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn
Trang 6không nhỏ vào bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước ngàycàng phồn thịnh.
1.2 Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước và xu thế của thế giới 1.2.1 Đòi hỏi bức thiết của tình hình trong nước
Năm 1975 nước ta hoàn toàn giải phóng, tổ quốc hòa bình, thống nhất cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắnglợi vĩ đại Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựuquan trọng Chiến tranh vừa kết thúc thì nước ta phải tập trung vào công cuộckhắc phục hậu quả nặng nề của hơn 30 năm chiến tranh, thì lại xảy ra hai cuộcchiến là chiến tranh biên giới Tây Nam với Campuchia, và cuộc chiến biên giớiphía Bắc với Trung Quốc Hai cuộc chiến này đã làm suy giảm tiềm lực của đấtnước Bên cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng những âm mưu thâm độc pháhoại nước ta Đại hội Đảng lần V (3-1982) nhận định “Nước ta đang ở trong tìnhthế vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại nhiềumặt” Mặt khác do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa
xã hội trong thời gian ngắn đã dẫn đến những khó khăn về kinh tế xã hội
1.2.2 Đòi hỏi bức thiết của tình hình thế giới
Trong khi đó trên thế giới, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoahọc – công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh mẽ;Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới;
xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn của các nướclớn Với thắng lợi của cách mạng Việt Nam và các nước Đông Dương, hệ thống
xã hội chủ nghĩa đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triểnmạnh Đảng ta nhận định: Hệ thống nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnhkhông ngừng; phong trào độc lập dân tộc và phong trào cách mạng của giai cấpcông nhân đang trên đà phát triển mạnh Tuy nhiên, đến giữa thập kỉ 70, tìnhhình kinh tế – xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện sự trì trệ và mất ổnđịnh Trong các nước xã hội chủ nghĩa cũng xuất hiện những mâu thuẫn bấtđồng, Đông Nam Á cũng đã có những chuyển biến mới Sau năm 1975, Mỹ đãrút quân khỏi Đông Nam Á lục địa: khối quân sự SEATO tan rã; ngày 24 – 2 –
1976, các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (gọitắt là hiệp ước Bali), mở ra cục diện hòa bình hợp tác trong khu vực
Trang 72: QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG CÁC QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI
2.1 Thực trạng đối ngoại của Đảng, Nhà nước trước đổi mới.
Nội dung đường lối đối ngoại của Đảng
Đại hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) xác định nhiệm vụ đối ngoại là “Rasức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn nhữngvết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ởnước ta” Trong quan hệ với các nước, Đại hội IV chủ trương củng cố và tăngcường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủnghĩa; bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào – Campuchia;sẵn sàng, thiết lập phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khuvực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với tất cả cácnước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi
Từ giữa năm 1978, Đảng đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đốingoại như: chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô là ḥn
đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; nhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo
vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễnbiến phức tạp; chủ trương góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình,
tự do, trung lập và ổn định; đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982)xác định: Công tác đối ngoại phải trởthành một mặt trận chủ động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chínhsách của các thế lực hiếu chiến mưu toan chống phá cách mạng nước ta.Về quan
hệ với các nước, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện vớiLiên Xô là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chínhsách đối ngoại của Việt Nam; xác định quan hệ đăc biệt Việt Nam-Lào-Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dân tộc; kêu gọi cácnước ASEAN hãy cùng các nước Đông Dương đối thoại và thương lượng đểgiải quyết các trở ngại; nhằm xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình và
ổn định; chủ trương khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sởcác nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình; chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệbình thường về mặt nhà nước, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, với tất cả cácnước không phân biệt chế độ chính trị
Thực tế cho thấy ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn(1975-1986) là xây dựng quan hệ hợp tác.Từ năm 1975 đến năm 1977, nước ta
đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước; ngày 15-9-1976, Việt Nam
Trang 8tiếp nhận ghế thành viên chính thức Qũy tiền tệ quốc tế (IFM); ngày 21-9-1976,tiếp ghế thành viên chính thức Ngân hàng thế giới (WB); ngày 23-9-1976, gianhập Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); ngày 20-9-177, tiếp nhận ghế thànhviên Liên hợp quốc; tham gia tích cực các hoạt động trong phong trào khôngliên kết… Kể từ năm 1977, một số nước tư bản mở quan hệ hợp tác kinh tế vớiViệt Nam.Với các nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á: Cuối năm 1976,Philippin và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệngoại giao với Việt Nam.
Những kết quả đối ngoại trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạngViệt Nam Sự tăng cường hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa và
mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với cả các nước hệ thống chủ nghĩa đã tranhthủ được nguồn viện trợ đáng kể, góp phần khôi phục đất nước sau chiến tranh;việc trở thành thành viên chính thức của Qũy tiền tệ quốc tế; Ngân hàng thếgiới; Ngân hàng phát triển châu Á và thành viên chính thức của Liên hợp quốc,tham gia tích cực vào các hoạt động của Phong trào không liên kết, đã tranh thủđược sự ủng hộ, hợp tác của các nước , các tổ chức quốc tế đồng thời phát huyđược vai trò của nước ta trên trường quốc tế Việc thiết lập quan hệ ngoại giaovới các nước trong tổ chức ASEAN đã tạo thuận lợi để triển khai các hoạt độngđối ngoại trong giai đoạn sau, nhằm xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vựchòa bình, hữu nghị và hợp tác
Hạn chế và nguyên nhân.
Nhìn tổng quát, từ năm 1975- 1986, quan hệ hợp tác của Việt Nam gặpnhững khó khăn trở ngại lớn Nước ta bị bao vây, cộ lập trong đó đặc biệt từcuối thập kỷ 70 đến thế kỷ XX, lấy cớ “ sự kiện campuchia” các nước ASEAN
và một số nước khác thực hiện bao vây, cấm vận Việt Nam…
Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, là do trong quan hệ đối ngoại giaiđoạn này chúng ta chưa nắm bắt được xu thế chuyển từ đối đầu sang hòa hoãn
và chay đua kinh tế trên thế giới Do đó, đã tranh thủ được các nhân tố thuận lợitrong quan hệ quốc tế phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sauchiến tranh; không kịp thời đổi mối quan hệ đối ngoại phù hợp với tình hình.Nguyên nhân những hạn chế về đối ngoại của Việt Nam giai đoạn ( 1975 -1986)
đã được Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ ra là “ bệnh chủ quan, duy ý chí, lốisuy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”
2.2 Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ (1986-1995) 2.2.1 Đổi mới chính sách đối ngoại (1986 -1991)
Trang 9Hoạt động mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam được bắt đầu từ năm
1986 Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị khóa V (tháng 7/1986) chủ trương chuyển
từ đối đầu sang đối thoại, đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình Đến Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng nhấn mạnh : “Ra sức kết hợp sức mạnh của dântộc với sức mạnh của thời đại, giữ hòa bình ở Đông Dương, góp phần giữ vữnghòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợicho sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc…” Hòa bình ởkhu vực và thế giới có quan hệ gắn kết với nhau, thế giới có hòa bình thì các khuvực mới có hòa bình và ngược lại Đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI (tháng 12-1986) của Đảng đề ra chính sách đối ngoại phù hợp với yêucầu thực tiễn phát triển đất nước Đại hội khẳng định: “Đảng và Nhà nước takiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị” Về quan hệ vớicác nước khu vực Đông Nam Á: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng cácnước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiếtlập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoàbình, ổn định và hợp tác” Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là “…tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc”… và “cần hoà bình để phát triển kinh tế” Nghị quyết củaĐại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoạigiao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới,không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữunghị, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới
Nó trở thành tư tưởng chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới và hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời là một dấu mốc quan trọng trongtiến trình từng bước gia nhập ASEAN của Việt Nam
Trên cơ sở đổi mới tư duy đối ngoại, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu vànhững chính sách đối ngoại lớn Mục tiêu của ngoại giao Việt Nam lúc này làhòa bình và phát triển Đảng và Nhà nước ta quyết tâm giải quyết vấn đềCampuchia, từ đó giải quyết vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc,ASEAN và Hoa Kỳ
Từ giữa những năm 80, các nước lớn và ASEAN đi vào hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Campuchia Đại hội VI đã khẳng định “chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải
Đường lối xây dựng hệ thống đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trang 10quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xâydựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác” Nghị quyết số
13 của Bộ Chính trị (khóa VI 20/5/1988) là mốc khởi đầu của quá trình đổi mới
tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại của Đảng ta Nghị quyết khẳng định
nước ta “lại càng có những cơ hội lớn để có thể giữ hòa bình và phát triển vềkinh tế” và xác định “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủmạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiềukhả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” Nghịquyết 13 của Bộ Chính trị thay chủ trương 10 năm trước tăng cường liên minh 3nước Đông Dương làm đối trọng với các nước ASEAN Ngược lại, chúng takhẳng định không đối lập nhóm 3 nước Lào, Việt Nam, Campuchia, xã hội chủnghĩa với nhóm ASEAN, tư bản chủ nghĩa
Nghị quyết nêu rõ chúng ta cần có chính sách toàn diện với Đông Nam Á,trước hết là tăng cường quan hệ hợp tác về nhiều mặt với Indonexia, phá vỡ bếtắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học –
kỹ thuật, văn hóa với các
nước trong khu vực, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hữunghị và hợp tác Đặc biệt nghị quyết cũng nhắc lại lời cảnh báo của nghị quyết
32 khóa V về nguy cơ tụt hậu xa hơn “nếu chúng ta lại để lỡ những cơ hội lớn
đó thì sẽ gặp những thách thức mới và sẽ bị thua kém về mọi mặt so với nhiềunước trên thế giới” Ra sức tranh thủ sự đồng tình của thế giới, làm thất bại âmmưu cô lập ta về kinh tế và chính trị; lợi dụng sự phát triển của khoa học – kỹthuật, đồng thời tranh thủ vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế
Thực hiện chủ trương trên, ta đã mời ngoại trưởng Indonexia sang thăm và
ký Thông cáo chung Việt Nam – Indonexia tại thành phố Hồ Chí Minh ngày29/07/1987, vừa khai thông quan hệ song phương, mở đường cho xu thế đốithoại, hợp tác giải quyết vấn đề Campuchia Việt Nam đã từng bước rút quânkhỏi Campuchia từ 1984 – 1989 Như vậy vấn đề Campuchia đi dần vào giảipháp hòa bình Trước những tiến triển mới đó, các nước ASEAN bắt đầu pháttriển quan hệ song phương với Việt Nam, hoan nghênh Việt Nam tham gia vàohợp tác khu vực Tháng 12/1987, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 họptại Manila ( Philipin ) Tổng thống Philipin C.V Akinô tuyên bố không coi ViệtNam là mối đe dọa đối với Philipin Tiếp đó tháng 2/1989 Bộ trưởng Ngoại giaoPhilipin tuyên bố “ không chống lại việc Việt Nam gia nhập ASEAN” Còn thủtướng Thái Lan Chatichai, khi lên cầm quyền tháng 8/1988, đã đưa ra chủ
Trang 11trương “ Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” Chính sách trêncủa Thái Lan đã được thủ tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6/1989) Thực hiệnđường lối đổi mới do Đại hội Đảng VI, Nhà nước ta cũng luôn khẳng định lậptrường của Việt Nam là được chung sống hoà bình với các nước trong khu vực,sẵn sàng hợp tác để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ổnđịnh và phát triển Tháng 1/1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo châu Á –Thái Bình Dương tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộngsản Việt Nam Nguyễn Văn Linh một lần nữa nhấn mạnh: Việt Nam sẵn sàngphát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước trong khu
vực.Tại Hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á” Những phát biểu
trên một lần nữa nhấn mạnh quan điểm trước sau như một của Đảng và Nhànước ta trong vấn đề gia nhập ASEAN Quan hệ Việt Nam – ASEAN đã đượcđẩy mạnh trong năm 1989 và các năm tiếp theo Sự kiện chính trị nổi bật vàquan trọng nhất trong quan hệ hai bên đó là Tổng thống Indonexia Xuhacto,nguyên thủ của một nước ASEAN đầu tiên, thăm hữu nghị chính thức Việt Namtháng 10/1990 Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng lần lượt thăm hữu nghị chính thứcIndonexia, Vương quốc Thái Lan và Cộng Hòa Singapore từ ngày 24/10 đến ngày 01/11/1991
Kể từ giai đoạn này, các nước ASEAN tách dần khỏi lập trường của TrungQuốc về vấn đề Campuchia, vượt qua chính sách bao vây cấm vận của Hoa Kỳđối với Việt Nam để đi vào cải thiện quan hệ với Việt Nam – Đông Dương.Buôn bán hai chiều Việt Nam – ASEAN đã tăng từ 107 triệu đô la Mỹ năm
1985 lên 740 triệu đô la Mỹ năm 1991
Chúng ta đã giải quyết được vấn đề Campuchia trên cơ sở giữ vững một sốthành quả của cách mạng Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc,khai thông quan hệ với các nước ASEAN tạo dựng tiền để để ta tham gia tổchức này nhằm xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác đểphát triển, từng bước cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ từ đó có điều kiện tăngcường quan hệ với Nhật Bản và các nước phương Tây khác Những thành tựuđối ngoại thời kỳ đầu đổi mới này sẽ tạo đà cho những thắng lợi lớn hơn thời kỳtiếp theo
2.2.2 Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ (1991-1995)
Quan hệ Việt Nam – ASEAN bắt đầu có những chuyển biến tích cực, và việcHiệp định Pari về Campuchia được ký kết tháng 10/1991 đánh dấu chấm dứt của
Trang 12“ thời kỳ Campuchia trong quan hệ Việt Nam – ASEAN , mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ hợp tác của cả hai bên”.
Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh nên lợi ích lớn nhất của đất nướclúc này là duy trì hòa bình, ổn định khu vực, tạo dựng một môi trường quốc tế
và khu vực thuận lợi cho công cuộc đổi mới, cải thiện đời sống nhân dân, đưađất nước đi lên theo kịp với nhịp độ phát triển chung của các nước trong khuvực và trên thế giới Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6-1992) đã ra Nghịquyết xác định nhiệm vụ công tác đối ngoại, tư tưởng chỉ đạo chính sách đốingoại, các phương châm xử lý các vấn đề quan hệ quốc tế; đề ra chủ trương mởrộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cả
về chính trị, kinh tế, văn hóa…, trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi, bảo vệ vàphát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóadân tộc… Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII là văn kiện đánh dấu sự hình
thành đường lối đối ngoại của Đảng ta cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.
Lãnh đạo ta và lãnh đạo các nước ASEAN liên tiếp tiến hành các chuyếnviếng thăm lẫn nhau, góp phần gia tăng sự hiểu biết và tin cậy Ta và các nướcnày đã ký hàng chục hiệp định cấp chính phủ tạo cơ sở pháp lý cho việc pháttriển hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật Các nước ASEANtrở thành bạn hàng quan trọng, chiếm khoảng 30% hàng xuất – nhập khẩu của
ta, kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 1,6 tỷ USD năm 1991 lên 2,7 tỷ USDnăm 1994 Các nước thành viên ASEAN cũng chiếm hơn 20% tổng số đầu tưnước ngoài vào Việt Nam Giữa Việt Nam và các nước này cũng từng bướcthương lượng giải quyết những vấn đề tồn tại Chúng ta đã thỏa thuận vớiMalaysia cùng khai thác vùng chồng lấn và hồi hương người Việt di tản TháiLan tiếp tục giải quyết thuận lợi việc cho Việt kiều ngập quốc tịch, khai thông
sự hợp tác về sông Mekong, lập quỹ khu vực, duy trì viện trợ linh hoạt hơntrong đàm phán về vùng chồng lấn, thỏa thuận về lập lại trật tự trên Vịnh TháiLan Chúng ta cũng kiên trì thúc đẩy đàm phán phán về thềm lục địa vớiIndonexia
Tháng 07/1992, Việt Nam đã tham gia Hiệp ước Bali, trở hành quan sát viêncủa ASEAN Với tư cách là quan sát viên ASEAN , từ năm 1992 ,Việt Nam đãđược mời tham dự các cuộc họp hàng năm Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giaoASEAN Từ tháng 2/1993, Việt Nam đã tuyên bố “sẵn sàng tham gia ASEANvào thời điểm thích hợp” Điều này đã được các nước ASEAN, dư luận khu vực
Trang 13và quốc tế đánh giá cao Đáp lại ,các nước ASEAN tuyên bố “ muốn Việt Namsớm gia nhập ASEAN” Tháng 10/1993, chúng ta tuyên bố chính sách 4 điểmđịnh hướng quan hệ với ASEAN Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEANlần thứ 27 tại Băng cốc 1994, các nước ASEAN đã nhất trí tuyên bố sẵn sàngcông nhận Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN Ngày 28/07/1995,tại Banda Xeri Beegaoan (Vương quốc Bruney) lễ kết nạp Cộng Hòa Xã HộiChủ Nghĩa Việt Nam thành thành viên thứ 7 của ASEAN đã được tổ chức trọngthể Quốc Hội nước ta cũng gia nhập Liên minh Quốc hội ASEAN (AIPO).Hộinghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) và Đại hội VIII
(tháng 6-1996) của Đảng đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,
rộng mở, đa dạng hóa quan hệ với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất cảcác nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.Năm năm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới trên mặt trận đối ngoại, ViệtNam đã giữ vững được môi trường hòa bình, phá được thế bị bao vây cấm vận
về kinh tế và cô lập về chính trị, đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc –nước láng giềng lớn và Hoa Kỳ – cường quốc số 1 thế giới, gia nhập ASEAN và
đã mở rộng quan hệ với hầu hết các nước ở khắp năm châu ( riêng từ 1991 –
1995 Việt Nam đã lập thêm quan hệ ngoại giao với 42 nước , nâng tổng số cácnước có quan hệ ngoại giao với ta lên 160 nước ) Điều này cho thấy, vị trí, vaitrò và uy tín của Việt Nam ngày một nâng cao ở khu vực và thế giới
2.3 Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ (1996-đến nay): 2.3.1.Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ (1996-2004):
Tại đại hội lần thứ VIII (6-1996), Đảng tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tácquốc tế, nhiều mặt với nhiều nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực vàquốc tế Đồng thời chủ trương “ xây dựng nền kinh tế mở” và “đẩy nhanh quátrình kinh tế khu vực và thế giới”
Đại hội xác định rõ hơn quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác, chủtrương đối ngoại của Đại hội VIII có đặc điểm mới so với đại hội VII như:
Mở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền và các Đảng khác
Quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệvới các tổ chức phi chính phủ
Lần đầu tiên, trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đảng đưa ra chủtrương “Thử nghiệm để tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương, khóa VIII 1997), đề ra chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp